Phong Thủy Đại Tướng Sư

Lượt đọc: 3674 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Nguồn gốc của nhai táng

❊ ❊ ❊

Nhai táng là một tập tục an táng người chết trong các hang đá hoặc trên vách đá, cũng là một hình thức của phong táng, tức là lộ thiên táng.

Đây là một phương pháp mai táng cổ xưa lưu hành tại các vùng dân tộc thiểu số ở Tây Nam Trung Quốc, bao gồm huyền quan táng (quan tài treo) và nhai động táng (táng trong hang vách đá).

Người xưa đặt quan tài lên những nền đá được đục đẽo trên vách núi, hoặc đục lỗ trên vách đá dựng đứng rồi đóng chêm gỗ vào, sau đó đặt quan tài lên trên chêm gỗ, hoặc đưa quan tài vào trong các hang đá tự nhiên, trên vách đá khắc đủ loại hoa văn, minh văn, v.v.

Nhai táng là một tập tục an táng thi thể người trong hang đá hoặc trên vách đá, là một loại hình của phong táng, tức lộ thiên táng.

Tập tục nhai táng đã thịnh hành từ sớm trong một bộ phận người dân các dân tộc Bộc, Việt, Ba, Liêu, Hán thời cổ đại tại Trung Hoa.

Cuốn "Lâm Hải Thủy Thổ Chí" đã có ghi chép về nhai táng. Nhai táng tại Trung Hoa chủ yếu bắt đầu từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc. Đến tận thời cận đại, một bộ phận người Tráng, người Bố Y, người Miêu, người Dao, người Ngật Lão, cũng như một bộ phận người Miêu ở phía tây nam Quý Châu và người Y Mỹ thuộc tộc Cao Sơn ở Lan D屿, Đài Loan hiện nay vẫn duy trì hình thức nhai táng.

Nhai táng còn gọi là huyền quan táng, là một tập tục đặc thù của các dân tộc Bộc Việt cư trú rộng rãi ở miền Nam Trung Hoa thời cổ đại.

Phương pháp táng này là tận dụng các khe đá tự nhiên hoặc cọc gỗ nhân tạo để treo quan tài lên vách đá cheo leo, hoặc đặt quan tài vào trong các hang đá tự nhiên hay hang đá do con người đục đẽo.

Địa điểm huyền quan táng đều được chọn ở những vách đá cao, dựng đứng đối diện với sông ngòi. Quan tài sử dụng thường là dạng hình thuyền, chiều dài từ hai đến ba mét, rộng khoảng hơn nửa mét, hình dáng giống như một chiếc thuyền, chia làm ba phần: đầu, đuôi và khoang. Đầu và đuôi vểnh lên, khoang là nơi đặt quan tài chính để an táng thi thể.

Theo học giả Lăng Thuần Thanh, nhai táng tại Trung Hoa chủ yếu chia thành hai khu vực lớn. Khu vực phía đông nam nằm ở ba tỉnh Cám, Chiết, Mân, ví dụ như nhai táng ở núi Võ Di và núi Lan Can, tương truyền là di tích của Sơn Việt, Âu Việt, Mân Việt, thuộc về Bách Việt cổ đại. Nhai táng ở phía tây nam Trung Hoa là di tích do nhóm người này để lại.

Tập quán sinh hoạt của dân tộc Bộc Việt cổ đại đã gây ảnh hưởng sâu sắc đến hình thức mai táng của họ.

Nhìn bao quát các loại quan tài nhai táng tại Trung Hoa, dù kiểu dáng không ít nhưng quan tài hình thuyền là hình chế điển hình thời kỳ đầu.

Từ tình hình khai quật cho thấy, dù quan tài nhai táng ở khu vực đông nam không rõ nét hình thuyền bằng khu vực tây nam, nhưng tất cả đều được đục từ thân cây gỗ tròn xẻ đôi, toàn bộ quan tài cực kỳ giống một chiếc độc mộc chu. Đây cũng là một loại thuyền, là hình thái nguyên thủy của thuyền.

Người Bộc Việt cổ sinh thời giỏi dùng thuyền, sau khi chết lấy thuyền làm quan tài để an táng là chuyện tự nhiên. Tình huống tương tự cũng xuất hiện ở người Samoa và người Ueno ở Nam Thái Bình Dương.

Vì họ là dân đảo, không có thuyền thì không thể sống, nên dùng chính con thuyền mà người chết sử dụng lúc sinh thời làm dụng cụ mai táng.

Do đó, quan tài hình thuyền hẳn là bắt nguồn từ thuyền độc mộc.

Vậy thì, việc dùng thuyền thay quan tài có liên quan gì đến tín ngưỡng linh hồn của người Bộc Việt cổ?

Thực ra, họ coi thuyền là vật tải để linh hồn quy cố hương.

Dùng thuyền làm quan tài là sản phẩm từ tín ngưỡng linh hồn của người Bộc Việt.

Trong mắt họ, những con thuyền gắn bó mật thiết với cuộc đời sẽ chở linh hồn họ trở về quê cũ, hoặc đi đến một thế giới mỹ mãn khác.

Quan tài thuyền có khi bên trong còn có quan tài gỗ, quan tài thuyền đóng vai trò như quách (lớp vỏ ngoài của quan tài).

Vừa có hòm chứa thi thể, lại vừa có lớp vỏ quan tài thuyền bên ngoài, điều này chứng minh mạnh mẽ rằng ngoài tác dụng là quan tài thông thường, người Bộc Việt cổ còn phú cho nó chức năng vận chuyển linh hồn.

Đưa vong hồn đến một nơi thích hợp, không để nó quấy nhiễu người sống, không gây rối người sống, cách tốt nhất là dẫn vong hồn về với tổ tiên.

Quan điểm của người Bộc Việt cổ về việc dùng thuyền thay quan tài để đưa linh hồn về nơi xuất phát của tổ tiên có thể đối chiếu với tập tục "Hồn chu" (thuyền linh hồn) của các dân tộc phương nam thời cổ đại. Hồn chu và nhai táng đều lấy thuyền bè làm công cụ để người chết trở về với tổ tiên. Điểm khác biệt là Hồn chu vận chuyển linh hồn, do chim bay dẫn đường; còn nhai táng là trực tiếp đưa thi thể vào các hang đá trên vách núi cheo leo.

Có thể cho rằng, quan tài thuyền là một hình thức cổ xưa hơn của Hồn chu.

Dụng cụ mai táng có nhiều loại: táng thi thể thường dùng quan tài gỗ, quan tài đá, quan tài gốm và túi vải; táng xương cốt hoặc tro cốt thường dùng hộp nhỏ, hòm nhỏ và vò gốm. Một số nơi nhai táng còn kèm theo tranh vách đá, hưởng đường (nhà thờ cúng) hoặc tượng gỗ. Địa điểm nhai táng, có nơi chỉ đặt một hai bộ quan tài, có nơi đặt hàng chục bộ. Một số quan tài tại cùng một địa điểm là do cùng tộc hoặc cùng làng chọn ngày cử hành nghi lễ rồi táng cùng lúc, có nơi lại là táng dần dần, đợi khi đầy một hang lại chọn nơi khác.

Trong giới phong thủy có một truyền thuyết thượng cổ về nhai táng.

Tương truyền, thời thượng cổ, thủy tổ của người Xa là Bàn Hồ Vương kết hôn với tam công chúa của Cao Tân Đế, sinh được ba trai một gái. Cả nhà di cư đến núi Phượng Hoàng để săn bắn làm nông.

Vì Bàn Hồ Vương là tinh tú giáng thế, sinh không chạm đất, chết không chạm thổ, nên sau khi ông qua đời, con cháu đã dùng bánh xe và dây thừng đưa quan tài vào trong hang đá trên vách núi cheo leo của núi Phượng Hoàng.

Đời đời truyền nối về sau, hình thành nên tập tục huyền quan táng của người Xa cổ đại.

Chữ "Xa" (畲) trong dân tộc Xa, thời cổ viết là chữ "Xế" (輋), cũng bao hàm ý nghĩa của câu chuyện này: Trên núi Phượng Hoàng, có một nhân vật lớn qua đời, dùng bánh xe treo quan tài lên hang đá trên vách núi để an táng.

Nếu Tô Cửu tiến vào trong hang đá này, sẽ phát hiện ra sự dao động khí trường tỏa ra từ hang đá đó mang một cảm giác hơi quen thuộc.

Không sai, chính là sự dao động khí trường tương tự với thi thể hạn thi (thây ma khô) trong ngôi mộ tại nơi sát sư địa Quỷ Môn ở bãi đất trống kia.

Tuy nhiên, Tô Cửu hiện tại vẫn chưa tiến vào đây.

Nếu Tô Cửu đến đây và nhìn thấy tất cả những điều này, trong lòng chắc chắn sẽ kinh ngạc không thôi.

Tại tỉnh HN này, gần nơi đó của Hoa Hạ vậy mà lại có nhai táng.

Điểm này, bản thân nó đã không phù hợp với lẽ thường.

Chỉ là lúc này, Tô Cửu và Lưu Lương Kiện không hề ở đây.

---❊ ❖ ❊---

Cửa hang tối đen như mực, Tô Cửu và Lưu Lương Kiện đang đi trong đường hầm dưới lòng đất.

Không sai, chính là như vậy.

Trong đường hầm dưới lòng đất tối đen như mực.

Lưu Lương Kiện cầm đèn chiếu sáng cường độ cao đã chuẩn bị từ trước, bước đi trong đường hầm dưới lòng đất.

“Tô đại ca, không ngờ lối vào đường hầm này lại nằm ở ngay chỗ đá núi này! Cơ quan này bố trí thật là xảo diệu.” Lưu Lương Kiện đi theo phía sau Tô Cửu, lên tiếng nói.

“Cản Thi Phái trong giới phong thủy quá mức thần bí, người ngoài đều tưởng rằng Cản Thi Phái chỉ biết luyện thi, thực ra thứ họ biết nhiều không kể xiết. Thuật cơ quan trong giới phong thủy, Cản Thi Phái có thể xếp vào hàng đầu. Theo tôi được biết, e rằng chỉ có thuật cơ quan của nhất mạch Lỗ Ban mới có thể vượt qua họ.”

Tô Cửu bình thản nói, những thông tin này đều là những gì cậu biết được từ chiếc la bàn vàng trong tâm trí mình.

Cản Thi Phái kế thừa thuật vu, trong thuật vu có một nhánh phụ là thuật cơ quan khôi lỗi, đương nhiên, đối với một loại thuật cơ quan như thế này, họ chắc chắn phải tinh thông.

Người trong giới phong thủy không biết rõ điều này, nhưng Tô Cửu lại biết.

“Tô đại ca, sao anh lại biết rõ như vậy!” Nghe Tô Cửu nói thế, Lưu Lương Kiện chậm rãi hỏi một câu, hơi có chút nghi hoặc.

“Tôi thấy trong điển tịch gia truyền thôi.” Tô Cửu tùy tiện đáp lời.

“Ồ!”

Lưu Lương Kiện nghe Tô Cửu nói vậy, lập tức nghĩ đến sự truyền thừa của nhà họ Tô, nên cũng không còn nghi hoặc gì khác nữa.

Hai người chậm rãi tiến bước trong đường hầm dưới lòng đất.

Rất nhanh, đã đến vị trí của mộ thất chính. (Còn tiếp.)

[DeepSeek phụ dịch] ChuongId:630
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »