Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1579 | 1 Đánh giá: 2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
thời phục hưng i xoay quanh leonardo petrarch và boccaccio

Thời kỳ Trung cổ chuyển sang thời Phục hưng khi, vào ngày Thứ Sáu Tốt Lành năm 1327, trong một nhà thờ ở Avignon nơi Giáo hoàng đang ngự* Francesco Petrarch nhìn thấy Laura di Sade, người mà vẻ đẹp thanh nhã được nhân lên gấp đôi bởi sự khiêm nhường, khiến ông chẳng nhớ được bất cứ vẻ đẹp thần thánh nào ngoại trừ vẻ thần thánh của cô.

Cô bình thản tiếp nhận sự hâm mộ của nhà thơ ấy, và chỉ đáp lại sự say mê của ông bằng dấu hiệu của sự khước từ. Trong suốt 26 năm sau đó, ông đã soạn ra 207 bài thơ - tất cả đều về cô - với âm hưởng tinh mỹ nhất mà người ta chưa bao giờ biết tới, ngay cả ở ngôn ngữ tinh mỹ nhất trong các ngôn ngữ. Hãy lắng nghe:

In qual parte del ciel, in quale idea

Era l’essempio, onde Natura tolse

Quel bel viso leggiadro, in ch’ella volse

Mostrar qua giú quanto lassú potea?

Qual ninfa in fonti, in solve mai qual dea,

D’pro fino a l’aura sciolse?

Quando un cor tante in sé vertuti accolse?

Benché la somma è di mia morte rea.

Per divina bellezza indarno mira

Chi gli occhi de costei già mai non vide

Come soavemente ella gli gira,

Non sa come Amor sana, a come ancide,

Chi non sa come dolce ella sospira,

E come dolce parla, e dolce ride.

Ai sẽ dịch cho giai điệu ấy đây? Trong tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha, nguyên âm đã khuất phục được phụ âm; trong tiếng Anh và tiếng Đức, nguyên âm bị áp đảo bởi phụ âm. Nhưng dù thế nào, bản dịch của Joseph Auslander vẫn đẹp một cách lộng lẫy:

In what bright realm, what sphere of radiant thought,

Did Nature find the model whence she drew

That delicate dazzling image where we view

Here on this earth what she in heaven wrought?

What fountain-haunting nymph, what dryad sought

In groves, such golden tresses ever threw

Upon the gust? What heart such virtues knew?

Though her chief virtue with my death is fraught

He looks in vainfor heavenly beauty, he

Who never looked upon her perfect eyes,

The vivid blue eyes burning brilliantly

He does not know how Love yields and denies;

He only knows who knows how sweetly she

Can talk and laugh, the sweetness of her sighs.

Bản dịch tiếng Việt:

Từ mảnh đất tươi sáng nào, trong vùng rực rỡ nào của tư duy,

Mà Mẹ Thiên nhiên tìm thấy được hình mẫu, để từ đó người rút ra

Hình tượng sáng chói thanh tú, trong đó chúng ta nhìn được

Những gì bà tạo ra trên thiên đường, nhưng hiển hiện ngay trên cõi trần này?

Nữ thần sông núi ngự ở suối nguồn nào, nữ thần rừng nào đang tìm kiếm

Trong những khu rừng nhỏ, những bím tóc vàng óng ánh ấy,

Cứ thế mãi mãi bay trong cơn gió? Những phẩm hạnh ấy biết đến trái tim nào đây? -

Dù phẩm hạnh cốt yếu của nàng chứa đầy cái chết của tôi

Anh ta tìm kiếm vẻ đẹp tuyệt trần trong vô vọng, anh ta

Người không bao giờ nhìn vào đôi mắt hoàn mỹ của cô ấy,

Đôi mắt xanh dương sống động, bùng cháy rực rỡ -

Anh ta không biết tình yêu khuỵu ngã và phủ nhận như thế nào;

Anh ta chỉ biết người nào biết đến sự ngọt ngào

Mà cô ấy tạo ra khi nói và cười, sự ngọt ngào của những hơi thở dài của cô.

Những bài thơ của Petrarch, sự nhạy cảm của ông với vẻ đẹp ở phụ nữ, thiên nhiên, văn chương, và nghệ thuật đã cất lời thay cho một tâm trạng căn bản đậm chất Ý, và cuộc truy cầu một cách say mê và việc dịch những bản thảo của văn minh cổ đại khiến ông được các nhà thơ và các giám mục trên toàn Tây Âu yêu mến.

Ở Rome, vào ngày 8 tháng Tư năm 1341, một đoàn người gồm các thanh niên và nghị viên đã hộ tống Petrarch tới các bậc thềm của đồi Capitol, và ở đó người ta đội một vương miện nguyệt quế lên đầu ông. Kể từ ngày đó, các vị vua và các giáo hoàng hân hạnh đón tiếp ông trong cung điện của họ, với tư cách bậc quân vương đương nhiệm của văn chương châu Âu. Boccaccio xếp ông ngang hàng với các “bậc cổ nhân danh tiếng lừng lẫy”, và đất Ý tuyên bố rằng Virgil đã một lần nữa tái sinh.

Khi ấy, bản thân Boccaccio 28 tuổi. Ông sinh ra ở Paris, là kết quả ngoài chủ định của một “tình hữu nghị” (entente cordiale) giữa cha ông, một thương nhân người Florence, và một cô thiếu nữ người Pháp theo chủ nghĩa tự do. Có lẽ chính sự ra đời không nằm trong kế hoạch và nguồn gốc nửa Gaul đã ảnh hưởng đến cá tính và phong cách của ông.

Năm 1331 - 4 năm sau con ngây ngất của Petrarch khi nhìn thấy Laura - Boccaccio phải lòng một người con gái trong khi đi lễ ở một nhà thờ tại Naples. Cô gái ấy là Maria do Aquino, được biết đến với lòng mộ đạo và mái tóc vàng óng ánh quyến rũ. Ông gọi cô là Fiametta - Ngọn lửa Nhỏ - và khắc khoải mong chờ giây phút được dâng mình cho ngọn lửa ấy. Trong suốt 5 năm, ông theo đuổi cô bằng thơ ca và văn xuôi. Cô để ông chờ đợi cho đến khi những hầu bao của những người khác cạn sạch, và chấp nhận ông cho đến khi hầu bao của chính ông cạn sạch. Boccaccio rời Naples và định cư ở Florence

Tại đó, vào năm 1348, Đại Dịch Cái Chết Đen ập đến, và giết chết nửa dân số 100.000 người của thành phố này. Tác phẩm Mười ngày (Decameron) của Boccaccio bắt đầu với một màn mô tả rùng mình về cái chết: gần như mọi gia tộc ở Florence đều phải chịu định mệnh nhìn thấy hết người này đến người khác trong gia tộc chết đi, phải nhìn những người nhiễm bệnh rời khỏi nhà để ra đi và chết trên phố như một kẻ vô danh. Boccaccio khởi đầu cốt truyện của Mười ngày bằng trận đại dịch ấy: bảy cô gái trẻ, có quan hệ ruột thịt hoặc là hàng xóm của nhau, họp mặt ở nhà thờ và nhất trí rời Florence cùng nhau, với những người hầu của họ, và ở lại một biệt thự nào đó nơi miền quê cho đến khi trận đại dịch qua đi. Như một cách dễ chịu để giảm bớt sự nhàm chán, họ mời ba người bạn nam đi cùng. Họ dừng lại tại một lâu đài rộng rãi ở miền quê, và định giết thời gian bằng cách mỗi ngày để mỗi người trong số họ kể một câu chuyện. Bởi họ liên tục ở cùng nhau trong 10 ngày, họ kể 100 câu chuyện. Vì thế, Boccaccio đặt tên tuyển tập này là Decameron, một từ trong tiếng Hy Lạp mang nghĩa “mười ngày” (deka hemerai). Một số truyện trong các truyện dài này mang đậm chất nhục dục thô thiển, chẳng hạn như truyện về Masetto cường tráng, người coi sóc cả một nữ tu viện; một số là các câu chuyện về tình yêu đầy phẩm hạnh, chẳng hạn như câu chuyện về Griselda đầy kiên nhẫn; một số có hàm ý triết học, chẳng hạn như truyền thuyết về ba chiếc nhẫn quý giá ngang nhau, biểu tượng của các tôn giáo Do Thái, Cơ Đốc, và Mohammed. Chúng ta hiểu rằng Boccaccio đại diện cho một tầng lớp trung lưu đang mất dần niềm tin vào Cơ Đốc giáo thuần túy, thậm chí cả niềm tin vào quy tắc luân lý của Cơ Đốc giáo.

Vì thế, ngay từ thuở sơ khai, Phục hưng đã thể hiện thái độ ủng hộ những niềm vui sướng và những thử thách của thế giới trần tục này thay vì những khoái cảm giả tạo, huyễn hoặc của một thiên đường sau khi qua đời. Phục hưng phục hồi không chỉ văn chương của thời kỳ cổ đại, mà còn cả cuộc truy cầu sự tự do mang tư tưởng khoái lạc chủ nghĩa của nó. Nó phần nào là một cuộc giải phóng, mang tư tưởng đa thần, của các giác quan sau một nghìn năm của những nguyên tắc đạo đức luân lý dựa trên những niềm tin vào thế lực siêu nhiên.

FLORENCE DƯỚI THỜI GIA TỘC MEDICI: 1378 - 1492

Nền tảng kinh tế

Nhưng việc tạo ra Phục hưng đòi hỏi không chỉ việc hồi sinh những giá trị của văn minh cổ đại. Trước tiên, nó cần đến tiền bạc - tanh-mui-tiền của giai cấp trung lưu trưởng giả: lợi nhuận từ những người quản lý điêu luyện và lao động hèn kém; từ những hành trình viễn dương đầy bất trắc tới phương Đông, và những chuyến đi gian khổ để vượt qua dãy Alps, để mua rẻ và bán đắt; từ những khoản tính toán, đầu tư, và cho vay cẩn trọng; từ lợi nhuận và cổ tức tích lũy cho đến khi có thể tạo ra đủ giá trị thặng dư, có thể sẽ được tiêu tốn vào những khoái cảm nhục dục, vào việc mua chuộc các nghị viên, các lãnh chúa, và các cô tình nhân, để rồi trả công cho một Michelangelo hay một Titian để họ chuyển của cải thành cái đẹp, và xức mùi hương của nghệ thuật vào cả một đống tiền.

Tiền bạc là gốc rễ của tất cả các nền văn minh. Những khoản ngân sách của các thương gia, chủ nhà bằng, và Giáo hội được dùng để chi trả cho các bản thảo hồi sinh giá trị của văn minh cổ đại. Những bản thảo ấy không phải là yếu tố chủ đạo giải phóng tâm trí và giác quan của thời Phục hưng, mà chính là tư tưởng thế tục xuất phát từ sự vùng lên của các tầng lớp trung lưu, chính là sự lớn mạnh của các viên đại học, của tri thức và triết học, việc tâm trí được mài giũa sắc bén một cách thực tế nhà nghiên cứu lịch sử và luật pháp, việc mở mang tâm trí qua hiểu biết rộng hơn về thế giới. Trong sự nghi ngờ những giáo điều của tín ngưỡng được các thế hệ trước truyền lại, và nhìn thấy giới tăng lữ có tư tưởng hưởng thụ chẳng kém gì những người không có chức sắc trong Giáo hội, trí thức người Ý rũ bỏ những ràng buộc câu thúc về trí tuệ và đạo đức; các giác quan đã được khai phóng của anh ta tìm thấy cảm giác vui sướng vô ưu từ tất cả những hiện thân của cái đẹp trong tự nhiên, phụ nữ, nam giới, và nghệ thuật; và sự tự do mới này của anh ta khiến anh ta trở nên sáng tạo để tạo ra một thế kỷ đáng kinh ngạc (1434-1534) trước khi nó hủy hoại anh ta với những hỗn loạn về luân lý, chủ nghĩa cá nhân bị phân rã, và sự khuất phục của cả quốc gia. Phục hưng là phần chuyển tiếp giữa hai dòng quy niệm này.

Tại sao miền Bắc đất Ý lại là vùng đầu tiên trải nghiệm lần thức giấc mùa xuân này? Bởi vì, ở đó những cái giếng La Mã cổ chưa bao giờ bị phá hủy hoàn toàn; các thị trấn vẫn lưu giữ những cấu trúc và ký ức của văn minh cổ đại, và giờ đây hồi sinh luật La Mã.

Nghệ thuật Cổ điển vẫn còn sót lại ở Rome, Verona, Mantua, Padua; đền Pantheon của Agrippa vẫn giữ chức năng như một nơi để thờ cúng, mặc dù nó đã 1.400 năm tuổi; và ở Công trường La Mã, người ta gần như vẫn có thể nghe thấy tiếng Cicero và Caesar tranh luận về định mệnh của Catiline. Tiếng Latin vẫn là một ngôn ngữ được dùng trong đời sống, và tiếng Ý chỉ đơn thuần là một biến thể du dương của ngôn ngữ này. Các vị thần, huyền thoại, và nghi lễ của tín ngưỡng đa thần vẫn lưu lại trong ký ức của thường dân, hoặc tồn tại dưới các hình thái thuộc Cơ Đốc giáo. Đất Ý một mình dẫn đầu cả vùng Địa Trung Hải, chỉ huy cái vũng của giao thương và văn minh cổ đại ấy.

Miền Bắc đất Ý có tính đô thị và công nghiệp hơn bất cứ vùng nào khác ở châu Âu, ngoại trừ Flanders, Nó chưa bao giờ phải chịu đựng chế độ phong kiến toàn diện, mà ngược lại buộc các quý tộc phải tuân phục các thành phố và tầng lớp thương nhân của nó. Nó là đại lộ giao thương giữa phần còn lại của nước Ý và vùng lãnh thổ châu Âu nằm ở phía bên kia dãy Alps, và giữa Tây Âu với vùng Levant; thương mại và công nghiệp của nó khiến nó trở thành vùng giàu có nhất trong thế giới Cơ Đốc giáo. Những thương nhân mạo hiểm của vùng này có mặt ở khắp nơi, từ những hội chợ ở Pháp tới những bến cảng xa xôi nhất ở Biển Đen. Đã quen với việc làm ăn với người Hy Lạp, Á Rập, Do Thái, Ai Cập, Ba Tư, Hindu, và Trung Quốc, họ đã đánh mất lợi thế từ những giáo lý của họ, và mang đến cho các tầng lớp trung lưu của đất Ý cũng thái độ bàng quan trước các tín điều xuất hiện ở châu Âu thế kỷ 19 - lần thứ hai - từ sự tiếp xúc ngày càng rộng với các đức tin xa lạ.

Như thế, đất Ý phát triển, về của cải và nghệ thuật và tư tưởng, bỏ xa phần còn lại của châu Âu đến 1 thế kỷ, và chỉ đến thế kỷ 16, khi Phục hưng đã phai nhạt dần ở đất Ý,nó mới nở rộ ở Pháp, Đức, Hà Lan, Anh, và Tây Ban Nha. Phục hưng không phải là một thời kỳ, mà là một phương thức sống và tư duy, lan tỏa từ Ý sang châu Âu cùng với dòng lưu chuyển của thương mại, chiến tranh, và các ý tưởng.

Nó khởi nguồn từ Florence với cùng những lý do khiến nó sinh ra ở Ý. Thông qua sự tổ chức Công nghiệp, sự mở rộng của thương nghiệp, và sự vận hành của những người làm tài chính, Florence, thành phố của những bông hoa, là thành phố giàu có nhất bán đảo Ý trong thế kỷ 14, nếu không tính đến Venice. Trong khi người Venice thời kỳ đó dành gần như toàn bộ năng lượng của họ cho việc truy cầu khoái lạc và của cải, người Florence, có lẽ thông qua kích thích của một chế độ bán dân chủ hỗn loạn, đã hình thành một sự sắc bén về tâm trí và trí tuệ, và một sự điêu luyện trong mọi môn nghệ thuật khi đó khiến thành phố của họ - điều này được tất cả mọi người nhất trí - trở thành trung tâm văn hóa của đất Ý. Những mâu thuẫn giữa các bè phái làm gia tăng xung đột trong cuộc sống và trong tư tưởng, các gia tộc trở thành đối thủ cạnh tranh trong việc nắm quyền bảo trợ nghệ thuật cũng như trong việc truy cầu quyền lực.

Một kích thích đúng lúc được bổ sung khi Cosimo de Medici đề nghị được dùng tài sản của chính ông và những tài sản và cung điện của những người khác để làm nơi đón tiếp và giải trí cho các đại biểu tới dự Hội đồng Florence (năm 1439). Các giám mục và học giả người Hy Lạp, những người tới hội nghị đó để thảo luận việc hợp nhất Cơ Đốc giáo miền Đông và Cơ Đốc giáo miền Tây, có kiến thức tốt hơn nhiều về văn chương Hy Lạp, hơn kiến thức ở mảng này của bất kỳ người Florence nào; một số người trong số họ đã giảng dạy ở Florence, và tầng lớp tinh hoa của thành phố xúm đông lại để nghe họ thuyết giảng. Khi thành Constantinople sụp đổ về tay người Turk (năm 1453), nhiều người Hy Lạp rời khỏi đó để định cư tại thành phố nơi họ tìm thấy sự hiếu khách vào 14 năm về trước. Một vài người trong Số họ mang theo các thư tịch của văn minh cổ đại, bổ sung vào kho tàng của thành phố. Vì thế, bằng sự hội tụ của nhiều dòng ảnh hưởng đa dạng, Phục hưng hình thành ở Florence, và biến thành phố này thành Athens của nước Ý.

Đằng sau vai trò chủ đạo về văn hóa là Công nghiệp, thương nghiệp, và tài chính của Florence. Khoảng một phần tư dân số của nó tham gia vào công nghiệp. Ngay từ năm 1300, Florence đã có hai nhà máy sợi, với 30.000 nhân công nam và nữ, nó đã đạt đến giai đoạn đầu tư lớn, hoạt động cung cấp vật liệu và máy móc có tính tập trung trung ương, sự chuyên môn hóa lao động có tính hệ thống, và việc kiểm soát sản xuất nằm trong tay những người cung cấp vốn.

Để Có nguồn tài chính cho cuộc cách mạng công nghiệp này, Florence có 80 nhà bằng, những tổ chức thực hiện gần như tất cả các chức năng của một ngân hàng hiện đại; cấp thư tín dụng, cho các cá nhân, doanh nghiệp và nhà nước vay những khoản tiền đáng kể - ví dụ, 1.365.000 đồng florin cho Edward III của Anh; đổi séc thành tiền mặt, đảo ngược các khoản tiết kiệm của những người gửi, ổn định hòa bình, cấp chi phí cho chiến tranh. Từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, Florence là trung tâm tài chính của châu Âu, tại đó, tỉ giá hối đoái là cố định. Năm 1345, chính quyền Florence phát hành trái phiếu Có thể chuyển đổi (đổi thành vàng, tiền hoặc chuyển nhượng cho người khác), với mức lãi suất là 5%, và đổi được thành vàng khi đến hạn. Năm 1400, tổng thu nhập của chính quyền Florence vượt quá tổng thu nhập của nước Anh dưới thời Elizabeth.

Các ông chủ ngân hàng, thương nhân, nhà sản xuất, chuyên viên, và lao động có tay nghề cao của Florence và vùng lãnh thổ của nó - và của Tây Âu nói chung - được tổ chức thành 21 phường hội, được gọi là arti trong tiếng Ý, tức “nghiệp đoàn”; từ “art” (nghệ thuật) được áp dụng cho mọi công việc đòi hỏi tay nghề điêu luyện, và khi ấy vẫn chưa có được định nghĩa mang tính mỹ học.

Mọi cử tri phải là thành viên của một nghiệp đoàn được Công nhận. Bên dưới 21 nghiệp đoàn là 72 hiệp hội gồm những lao động không có quyền bỏ phiếu; bên dưới các hiệp hội này là hàng nghìn người lao động ban ngày bị cấm hợp thành tổ chức; bên dưới những người này là một vài nô lệ. Chính quyền chính thức của Florence được lãnh đạo bởi Signoria, tức hội đồng của các signori, tức các quý ông, được chọn lựa hàng loạt từ những người lãnh đạo các nghiệp đoàn, và thỉnh thoảng được kiểm duyệt bởi một Consiglio del Popolo, được chọn ra từ các thành viên phổ thông của các nghiệp đoàn. Nhưng chính quyền thực sự thường là một chủ ngân hàng, người có thể tổ chức các đồng florin thành một thế lực ảnh hưởng tinh vi và mạnh mẽ hơn cả chính quyền do các cử tri bầu ra. Ở Thời kỳ Hoàng kim của Florence, người này là Cosimo de Medici.

Cosimo de’ Medici

Cái tên của ông là một bí ẩn: chúng ta không tìm thấy bất cứ bác sĩ (medico) nào trong tổ tiên dòng họ ông. Năm 1428, ở tuổi 39, ông trở thành người thừa kế khối tài sản lớn nhất ở Tuscany, điều hành một nhà bằng, những nông trang rộng lớn, một vài nhà máy lụa và sợi len, và quan hệ buôn bán rộng rãi với Nga, Syria, Scotland, và Tây Ban Nha. Ông có quan hệ hữu hảo với các Hồng y Giáo chủ và các sultan*. Ông đóng góp nhiều cho các Công trình công và tổ chức từ thiện đến mức quần chúng ngầm chấp nhận quyền độc tài gián tiếp của ông lên các vấn đề của Florence.

Lịch sử cũng ủng hộ ông bởi ông đã kiếm được đủ tiền để tài trợ cho một loạt các học giả, nghệ sĩ, nhà thơ, và triết gia. Ông tiêu một phần tài sản của mình vào việc thu thập các thư tịch của văn minh cổ đại. Khi Niccolo de Niccoli phá sản do mua các thư tịch của văn minh cổ đại, Cosimo đã mở cho ông ta một tài khoản tiền gửi bí mật ở ngân hàng Medici, và hỗ trợ Niccolo cho đến khi ông ta qua đời.

Ông cho 45 thợ sao chép lại những thư tịch quý giá mà không thể mua được. Ông đặt các “minim quý giá” (như cách mà Walt Whitman mô tả chúng) của mình trong tu viện San Marco, hoặc trong một tu viện gần Fiesole, hoặc trong thư viện của riêng ông, và mở cửa cho các giáo viên và sinh viên đến thăm miễn phí những bộ sưu tập này.

Ông lập một Học viện trường phái Plato ở Florence (năm 1445) để nghiên cứu Plato, và tạo điều kiện cho Marsilio Ficino có thể dành nửa cuộc đời để chuyển ngữ và trưng bày các tác phẩm của Plato. Giờ đây, sau một triều đại kéo dài 400 năm, tư tưởng triết học kinh viện không còn thống trị triết học phương Tây, và tinh thần phấn chấn vui vẻ của Plato đã bước vào triết học nơi này, như thể truyền men rượu vào cơ thể đang tỉnh dậy của dòng tư tưởng châu Âu.

Ở đây chúng ta không cố gắng nói đến lịch sử của Phục hưng, của tất cả những khám phá tri thức và những nét huy hoàng trong nghệ thuật của nó, nhưng trong khi lướt qua, chúng phải lưu ý rằng, trong thời kỳ đỉnh cao này của Florence, Fillippo Brunelleschi đã dựng cho nhà thờ chính tòa Santa Maria del Fiore một mái vòm chênh vênh, vượt qua những bức tường đỡ nó tới 40,5 m và thống trị, trong một vùng nhiều dặm xung quanh nó, một tầm nhìn bao quát thành phố Florence với đầy những mái nhà đỏ đan chặt vào nhau như một luống hoa hồng giữa lòng những ngọn đồi ở Tuscany. Cũng trong thời gian đó, Lorenzo Ghiberti thiết kế và chạm khắc trên chất liệu đồng để tạo ra những cánh cổng gồm nhiều tấm ghép, biến Nhà rửa tội Florence thành một trong những niềm vinh quang trường tồn của Phục hưng.

Donatello, một học trò của Ghiberti, cho rằng những cánh Cổng đó quá nữ tính, đến mức không phù hợp với đẳng cấp thần thánh của chúng, tâm hồn của ông đầy nam tính và có sự đột phá táo bạo. Năm 1430, ông đúc cho Cosimo một bức tượng David bằng đồng thiếc, một tác phẩm hẳn đã khiến Michelangelo xao động đến mức muốn trở thành đối thủ của ông, ở tác phẩm này, mô thức cơ thể khỏa thân trên một đế tròn lần đầu tiên ra mắt, một cách không hề e dè, làng điêu khắc và tượng Phục hưng. Ở Piazza San Antonio tại Padua, nhà điêu khắc tham vọng ấy, sau 6 năm lao động, đã dựng bức tượng người cưỡi ngựa quan trọng đầu tiên của kỷ nguyên hiện đại, miêu tả hình ảnh một vị tướng quân lắm mưu mẹo người Venice, với biệt danh Gattamelata -“con mèo với miệng lưỡi ngọt như rót mật”. Cosimo cho vời Donatello trở lại Florence và đặt hàng ông hết tác phẩm này đến tác phẩm khác.

Donatello không chỉ làm ra một loạt những kiệt tác; ông còn thuyết phục Cosimo mua những tác phẩm tinh xảo thượng hạng còn giữ lại được của nền điêu khắc văn minh cổ đại, và đặt chúng ở vườn Medici để các nghệ sĩ trẻ nghiên cứu. Người bảo trợ và nghệ sĩ cùng nhau già đi, và Cosimo chăm sóc nhà điêu khắc ấy tốt đến nỗi Donatello hiếm khi phải nghĩ về tiền bạc. Ông giữ các khoản ngân sách của mình (theo lời Vasari) trong một cái giỏ treo trên trần nhà xưởng điêu khắc của ông, và mời các phụ tá và bạn bè lấy tiền từ đó ra khi họ có việc cần, mà không cần phải hỏi qua ý kiến của ông. Ông sống trong sự đơn giản, hài lòng, cho đến năm 80 tuổi. Tất cả các nghệ sĩ - gần như tất cả mọi người - ở Florence đều có mặt trong tang lễ của ông, nơi người ta đặt ông, như ông đã yêu cầu trước đó, vào hầm mộ San Lorenzo, bên cạnh mộ của chính Cosimo (năm 1466).

Lorenzo

Cosimo đã qua đời trước đó vào năm 1464. Con trai ông, Piero, thừa hưởng gia tài, quyền lực, và gu của cha, và có được danh hiệu Il Gottoso. Ông nắm quyền một cách không mấy vui vẻ trong 5 năm, mất năm 1969, và để lại quyền lực cho con trai Lorenzo, người tương lai mang danh hiệu II Magnifico.

Cosimo trước đó đã làm tốt nhất những gì có thể để chuẩn bị cho người thanh niên sáng láng ấy quản lý tiền bạc và con người. Lorenzo được kèm cặp các môn tiếng Hy Lạp và triết học, và hấp thu kiến thức từ cả một tá những bộ môn khác nhau bằng cách lắng nghe các cuộc đàm luận của các thi sĩ, chính khách, nghệ sĩ, người theo chủ nghĩa nhân văn, và các vị tướng. Piero, người cho rằng hôn nhân là một liều thuốc tốt cho chuyện yêu đương, đã thuyết phục Lorenzo cưới Clarice Orsini, từ đó liên kết nhà Medici với một trong hai gia tộc quyền lực nhất ở Rome. Cuộc hôn nhân đã cho chúng ta Giáo hoàng Leo X và Clement VII.

Hai ngày sau khi Piero qua đời, một phái đoàn gồm những Công dân hàng đầu tới chỗ Lorenzo và đề nghị ông tiếp quản quyền lãnh đạo nhà nước. Tình huống buộc ông phải đồng thuận. Tài chính của nhà Medici đan kết chằng chịt với tài chính của thành phố đến nỗi ông sợ rằng nó sẽ sụp đổ nếu kẻ thù hoặc các đối thủ của gia tộc ông chiếm được ngôi quyền lực chính trị. Để dẹp yên sự chỉ trích vào việc ông chấp thuận, ông bổ nhiệm một hội đồng gồm những Công dân có kinh nghiệm để cố vấn cho ông về tất cả các vấn đề quan trọng nhất.

Ông tham vấn hội đồng này trong suốt sự nghiệp của mình, nhưng ông sớm thể hiện sự suy xét tốt đến mức hội đồng hiếm khi đặt nghi vấn cho sự lãnh đạo của ông. Ông cai trị như Cosimo và Piero đã làm trước đó, vẫn làm một công dân đơn thuần (private citizen)* cho đến năm 1990, nhưng khuyến nghị các chính sách tới một balia (hội đồng) trong đó những người ủng hộ gia tộc ông chiếm đa số an toàn.

Người dân ngầm bằng lòng bởi sự thịnh vượng vẫn được duy trì. Khi Galeazzo Maria Sforza, Công tước xứ Milan, đến thăm Florence vào năm 1971, ông kinh ngạc trước những dấu hiệu của sự giàu có trong thành phố này, và còn kinh ngạc hơn trước những tác phẩm nghệ thuật mà Cosimo, Piero, và Lorenzo đã tập hợp được ở cung điện và vườn nhà Medici. Nơi đây có một bảo tàng tượng, bình, đá quý, tranh, các thư tịch đã được sơn son thếp vàng, minh họa bằng tranh, và các mô hình và di tích kiến trúc. Galeazzo tuyên bố rằng số tranh cao cấp mà ông nhìn thấy trong bộ sưu tập này lớn hơn cả số tranh nghệ thuật cao cấp ở tất cả những nơi khác ở nước Ý.

Giữa sự thịnh vượng của toàn dân, những phe phái cũ gìn giữ sự yên bình cho họ, tội phạm giảm bớt, xã hội ngày càng trật tự, mặc dù sự tự do suy giảm. Một người thời đó đã viết “Ở đây chúng ta không có trộm cướp, không có sự hỗn loạn ồn ào vào ban đêm, không có những vụ ám sát. Cả đêm lẫn ngày, mọi người đều có thể làm việc của mình một cách an toàn tuyệt đối”. Nhà sử học sáng suốt Guicciardini nói: “Nếu người đang nắm quyền ở Florence là một kẻ chuyên quyền bạo ngược, thì chắc không bao giờ có thể tìm thấy một nhà cầm quyền vui tính hơn”. Các thương nhân ưu tiên sự thịnh vượng sung túc hơn là tự do, bằng các công trình công cộng đảm bảo việc làm, người ta vỗ về và giữ cho những người vô sản yên lặng, các giải thi đấu cuốn hút tầng lớp tinh hoa, các cuộc đua ngựa khiến giới trung lưu trưởng giả phấn khích, các đám rước lộng lẫy khiến quần chúng được tiêu khiển.

Phong tục của người Florence trong những ngày lễ hội Carnival là diễu hành trên phố với những chiếc mặt nạ tươi vui hoặc đáng sợ, hát những bài hát châm biếm hoặc gợi tình. Lorenzo thích cảm giác vui tươi ấy, nhưng không thể đặt niềm tin vào xu hướng khiến mọi thứ hỗn loạn của nó, và vì thế cuối cùng quyết tâm kiểm soát nó bằng cách mượn sự chấp thuận và mệnh lệnh của chính phủ; dưới sự cai trị của ông, các lễ hội có đám rước trở thành đặc điểm được yêu thích nhất trong đời sống người dân Florence. Ông tuyển mộ những nghệ sĩ hàng đầu để thiết kế và sơn những chiếc chiến xa, biểu ngữ, và quần áo, ông và bạn ông soạn ra lời để hát khi ngồi trên các xe carri (xe súc vật kéo để chở hàng); và những bài hát này phản ánh sự nới lỏng về luân lý của lễ hội carnival.

Lễ hội có đám rước nổi tiếng nhất của Lorenzo là “Khải hoàn của Bacchus”, trong đó một đoàn rước chở những thiếu nữ đáng yêu, và một đoàn cưỡi ngựa gồm những thanh niên ăn mặc sặc sỡ trên những con chiến mã vừa đi vừa nhấc cao vó trước, đi qua cầu Ponte Vecchio tới quảng trường rộng lớn phía trước nhà thờ chính tòa, trong khi những giọng hát hòa hợp đa âm điệu, kèm theo tiếng chũm chọe và đàn luýt, xưởng một bài thơ do chính Lorenzo sáng tác, và khó có thể nói đó là một nhà thờ chính tòa:

Quanto e bella giovinezza

Che si fuge tutta via!

Chi vuol esser lieto sia!

Di doman non c’e certezza

Tuổi trẻ và sự vô lo thật đẹp đẽ,

Nhưng vẻ đẹp ấy phai nhạt đi từng giờ.

Hỡi các nam thanh và nữ tú, hãy tận hưởng hôm nay;

Bởi các người chẳng thể biết ngày mai sẽ ra sao.

2. Đây là Bacchus và Ariadne rạng rỡ, những tình nhân chân chính!

Họ, giữa sự khinh thị của dòng thời gian đang lao đi vun vút,

Mỗi người, cùng nhau, tìm thấy những niềm hạnh phúc mới;

3. Những người này, những nữ thần sông và bầy đoàn của họ

Có những kỳ nghỉ kéo dài vô tận.

Nam thanh và nữ tú, hãy tận hưởng hôm nay,

Bởi các người chẳng thể biết ngày mai sẽ ra sao…

14. Các quý cô và những tình nhân trẻ trung vui tươi!

Hãy nhảy múa và chơi đùa, hãy để những bài hát được cất lên;

Hãy để tình yêu ngọt ngào đốt cháy vầng ngực của các người.

15. Bất kể ngày mai có ra sao

Nam thanh và nữ tú, hãy tận hưởng hôm nay,

Bởi các người chẳng thể biết ngày mai sẽ ra sao.

Những bài thơ và lễ hội diễu hành như vậy điểm thêm một vài nét vào cáo buộc rằng Lorenzo đã làm giới trẻ ở Florence trở nên suy đồi. Rất có thể giới trẻ ấy đã “suy đồi” mà không cần đến ông ta; ở Venice, Ferrara, và Milan, đạo đức xã hội cũng chẳng hề tốt hơn ở Florence, đạo đức ở Florence dưới thời những ông trùm tài chính nhà Medici còn tốt hơn ở Rome dưới thời những giáo hoàng nhà Medici.

Sự nhạy cảm với mỹ học của Lorenzo quá mạnh mẽ so với các nguyên tắc luân lý của ông. Thi ca là một trong những niềm đam mê chủ đạo của ông, và những bài thơ ông soạn sánh ngang với những tác phẩm hay nhất ở thời đại của ông. Mặc dù người duy nhất xuất sắc hơn ông, Politian, vẫn do dự giữa tiếng Latin và tiếng Ý, những lời thơ của Lorenzo đã trả lại cho ngôn ngữ bản địa vị trí chủ đạo về văn học mà Dante đã thiết lập và rồi bị những người theo chủ nghĩa nhân văn lật đổ. Ông thích những bài thơ thế sonnet của Petrarch hơn thơ tình cổ điển bằng tiếng Latin, mặc dù ông có thể dễ dàng đọc những bài thơ tình gốc trong tiếng Latin, và hơn một lần, chính ông đã soạn một bài thơ thể sonnet tôn vinh tập thơ Canzoniere của Petrarch. Nhưng ông không chú trọng vào tình yêu trong thi ca cho lắm. Với sự chân thành tinh tế, ông viết về những khung cảnh làng quê, những thứ đem đến sự vận động cho tứ chi và sự thanh bình cho tâm trí ông, những bài thơ hay nhất của ông tôn vinh rừng và suối, cây và hoa, bầy cừu và người chăn cừu, miền đồng quê. Đôi khi, ông viết những bài thơ hài hước theo thể terza rima*, nâng ngôn ngữ đơn giản của những người nông dân lên thành những vần thơ hoạt bát, đôi khi ông soạn những vở kịch vui châm biếm tự do theo trường phái Rabelaise; rồi một vở kịch tôn giáo cho trẻ em, và một số bài thánh ca mà đây đó trong bài ca là những nốt thể hiện lòng mộ đạo chân thành. Nhưng những bài thơ thể hiện rõ nhất cá tính của ông là Canti Carnascialeschi - những Bài ca Lễ hội - được viết để người ta xướng lên trong thời gian và bầu không khí của mùa lễ hội, và biểu hiện tính chính đáng của việc hưởng thụ khoái cảm, thiếu lịch sự của sự thận trọng quá mức kiểu xử nữ. Không thứ gì có thể minh họa những luân lý và cách hành xử, sự phức tạp và đa dạng của Phục hưng Ý, hơn bức tranh của nhân vật quan trọng nhất của nó, đang cai trị một nhà nước, quản lý một gia tài, cưỡi ngựa đấu thương trong những cuộc thi đấu, viết những bài thơ xuất sắc, hỗ trợ các nghệ sĩ và tác giả với sự bảo trợ biết suy xét và phân biệt, dễ dàng hòa nhập với những học giả và triết gia, những người nông dân và những anh hề, diễu hành trong những lễ hội có đám rước, hát những bài hát gợi dục, sáng tác những bản thánh ca tinh tế, chơi đùa với những cô nhân tình, là cha của một giáo hoàng, và được tôn vinh trên toàn châu Âu như người Ý vĩ đại và cao quý nhất thời đại ấy.

THỜI ĐẠI CỦA POLITIAN

Được khích lệ bởi sự hỗ trợ và tấm gương của ông, các học giả và tác giả ở Florence giờ đây viết ngày càng nhiều tác phẩm bằng tiếng Ý. Dần dần, họ định hình ngôn ngữ văn chương Tuscan, thứ trở thành hình mẫu và tiêu chuẩn của cả bán đảo - Varchi, một người yêu nước, đã nói “ngôn ngữ ngọt ngào nhất, phong phú nhất và trí thức nhất, không chỉ trong tất cả những ngôn ngữ của nước Ý, mà còn trong tất cả những ngôn ngữ được biết đến ngày nay”.

Nhưng bên cạnh việc hồi sinh văn chương Ý, Lorenzo tiếp tục, một cách hăng say, công trình của ông nội ông: tập hợp tất cả những giá trị của văn minh Hy Lạp và La Mã cổ đại về Florence để phục vụ mục đích sử dụng của các học giả. Ông điều Politian và John Lascaris tới nhiều thành phố ở Ý và nước ngoài để mua các thư tịch; từ một tu viện ở núi Athos, Lascaris đã mua được 200 thư tịch, trong đó 80 thư tịch khi ấy vẫn chưa được Tây Âu biết đến. Theo Politian, Lorenzo mong muốn rằng ông được phép dành toàn bộ gia sản, thậm chí cầm cố cả đồ nội thất trong nhà của mình, vào việc mua các cuốn sách. Ông trả tiền cho những người làm nghề sao chép để tạo ra cho ông các bản sao của những thư tịch mà ông không thể mua được, và đổi lại ông cho phép những nhà sưu tập khác, như Vua Mathias Corvinus của Hungary và Công tước Federigo của Urbino, gửi những người sao chép của họ đến để chép lại những thư tịch trong Thư viện nhà Medici. Sau khi Lorenzo qua đời, bộ sưu tập này được gộp với bộ sưu tập mà Cosimo đã đặt trong nữ tu viện San Marco; vào năm 1995, chúng bao gồm 1.039 cuốn sách, trong đó 460 cuốn được viết bằng tiếng Hy Lạp. Michelangelo sau này đã thiết kế một ngôi nhà với vẻ đẹp quý tộc cho những cuốn sách này, và hậu thế đặt cho nó cái tên của Lorenzo - Bibliotheca Laurentiana, tức Thư viện Laurentian. Khi Bernado Cennini lập ra một xưởng in ấn ở Florence (năm 1471), không như những người bạn của mình là Politian hay Federigo của Urbino, Lorenzo không xem thường nghệ thuật mới mẻ này; ông có vẻ đã nhận ra ngay lập tức những triển vọng có tính cách mạng của những con chữ in có thể dịch chuyển được; và ông thuê các học giả sắp xếp các văn bản đa dạng theo trang và thứ tự để các tác phẩm cổ điển có thể được in với độ chính xác cao nhất vào thời kỳ đó. Được khích lệ, Bartholommeo di Libri đã in editio princeps* của Homer (năm 1488) dưới sự giám sát kỹ lưỡng về học thuật của Demetrius Chatcondyles; John Lascaris đã phát hành editionnes principes của Euripides (năm 1494), Nhân chủng học Hy Lạp (năm 1494) và Lucian (năm 1496); và Cristoforo Landino đã biên tập cho Horace (năm 1482), Virgil, Pliny Già, và Dante, những người mà ngôn ngữ và cách nói bóng gió của họ cần được giải thích cặn kẽ và sáng tỏ. Chúng ta nắm được tinh thần của thời đại khi biết rằng Florence đã thưởng cho Cristoforo, vì những lao động học thuật này, một ngôi nhà tuyệt đẹp.

Bị thu hút bởi danh tiếng của Medici và những người Florence khác, được biết đến với sự bảo trợ hào phóng, các học giả tụ tập về Florence và biến nó trở thành trung tâm của tri thức văn học. Để xây dựng và lưu truyền di sản tri thức của nhân loại, Lorenzo đã phục hồi và mở rộng Viện đại học Pisa, và Học viện trường phái Plato ở Florence. Học viện ấy không phải là một trường đại học chính quy mà là một hiệp hội của những người hứng thú với Plato, hội họp ngẫu nhiên trong cung điện ở thành phố của Lorenzo hoặc trong biệt thự của Ficino ở Careggi, ăn tối cùng nhau, đọc to một phần hoặc toàn bộ một bản đối thoại kiểu Plato, và thảo luận về triết lý của nó. Ngày 7 tháng Mười một, ngày được xem là ngày sinh và ngày mất của Plato, được Học viện kỷ niệm với sự trang nghiêm gần như một nghi lễ tôn giáo; một bức tượng bán thân được cho là của Plato được trao vương miện hoa, và một cây đèn được thắp lên trước bức tượng ấy, như thể trước hình ảnh của một vị thần.

Trong số những người tham dự những cuộc thảo luận của Học viện phái Plato có Politian, Pico della Mirandola, Michelangelo, và Marsilio Ficino. Marsilio trung thành với nhiệm vụ mà Cosimo đã giao phó đến nỗi dành gần như toàn bộ cuộc đời cho việc dịch Plato sang tiếng Latin và việc nghiên cứu, giảng dạy, và viết về tư tưởng của Plato. Thời trẻ, ông đẹp trai đến mức các xử nữ của Florence nhìn ông với ánh mắt thèm muốn sở hữu, nhưng ông quan tâm đến những cuốn sách của mình hơn là những cô gái ấy. Trong một thời gian, ông đã đánh mất đức tin tôn giáo của mình, tư tưởng của Plato dường như đã siêu việt niềm tin tôn giáo; ông nói với các học trò của mình rằng ông “yêu quý Plato” thay vì “yêu quý Christ”; “ông thắp những ngọn nến trước một bức tượng bán thân Plato, và yêu mến ông như một vị thánh”. Trong tâm trạng ấy, Cơ Đốc giáo đối với ông chỉ như một trong nhiều tôn giáo đã giấu giếm những yếu tố của chân lý đằng sau những giáo lý có tính ngu ngôn và những nghi lễ có tính biểu tượng của chúng. Tác phẩm của Thánh Augustine, và sự biết ơn vì đã được phục hồi sau một cơn bạo bệnh, đã đưa ông trở lại với đức tin Cơ Đốc giáo. Ở tuổi 40, ông trở thành một linh mục, nhưng ông vẫn là một người say sưa đi theo tư tưởng của Plato. Ông lập luận rằng Socrates và Plato đã diễn giải chi tiết một tư tưởng độc thần cao quý không kém gì tư tưởng của các Đấng Tiên tri, theo cách riêng, họ cũng đã phần nào nhận được một khải huyền thần thánh, tất cả những người mà trong họ lý trí ngự trị cũng nhận được sự khải huyền như vậy. Theo sự dẫn dắt của ông, Lorenzo và đa số những người theo chủ nghĩa nhân văn không nỗ lực tìm cách thay thế Cơ Đốc giáo bằng một đức tin khác, mà diễn giải lại nó theo cách mà một triết gia có thể chấp nhận. Trong một hay hai thế hệ (1447-1534), Giáo hội đã mỉm cười một cách khoan dung trước việc làm táo bạo này.

Bên cạnh Lorenzo, Bá tước Giovanni Pico della Mirandola là nhân cách thú vị nhất trong Học viện trường phái Plato. Sinh ra ở thị trấn (gần Modena) sau này trở nên nổi tiếng nhờ được mang tên ông, ông học tập ở Bologna và Paris, và được chào đón theo cách đầy vinh dự ở gần như mọi triều đình châu Âu; cuối cùng Lorenzo thuyết phục ông ở lại Florence. Bộ Óc háo hức của ông học hết môn này đến môn khác - thi ca, triết học, kiến trúc, âm nhạc - và đạt đến sự xuất sắc nổi bật ở mỗi môn. Politian mô tả ông như một con người tuyệt mỹ mà ở đó Tự nhiên đã hợp nhất tất cả những món quà của Người: “cao và có hình thể đẹp, với thứ gì đó thần thánh sáng lên trên khuôn mặt ông”; một người đàn ông có ánh mắt xuyên thấu, học tập không biết mệt mỏi, trí nhớ kỳ diệu, và sự uyên bác hiểu biết về tất cả các tôn giáo, khả năng hùng biện bằng một vài ngôn ngữ, được cả phụ nữ lẫn các triết gia yêu quý, và nhân cách đáng mến chẳng kém gì vẻ đẹp diện mạo và đạt đến mức xuất sắc ở tất cả những phẩm chất của một trí thức. Tâm trí của ông cởi mở với mọi tư tưởng triết học và mọi đức tin; ông không thể sẵn sàng bác bỏ bất cứ hệ thống nào, bất cứ con người nào; và mặc dù trong những năm cuối đời ông phản bác chiêm tinh học, ông vẫn đón nhận chủ nghĩa thần bí và ma thuật một cách sẵn lòng chẳng kém gì khi ông tiếp nhận Plato và Christ. Ông có những lời tích cực để nói về những triết gia thuộc trường phái Kinh viên, những nhân vật bị những người khác theo chủ nghĩa nhân văn từ chối công nhận vì đã thể hiện những ý tưởng xuẩn ngốc theo cách của những kẻ ngoại giáo. Ông tìm thấy nhiều điều để ngưỡng mộ trong tư tưởng Ả Rập và Do Thái, và nằm trong số các thầy giáo và bạn bè được ông tôn trọng cũng là một vài người Do Thái. Ông học Cabala* kiểu Hebrew, Công nhận một cách ngây thơ rằng nó là một phần của văn minh cổ đại, và tuyên bố rằng ở nó ông đã tìm thấy những bằng chứng đầy đủ để chứng minh tư cách thần thánh của Christ. Vì một trong những tước hiệu phong kiến của ông là Bá tước Concordia, ông nắm nhiệm vụ quan trọng, tức nhiệm vụ hòa giải tất cả những tôn giáo lớn ở phương Tây - Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo, và Hồi giáo - và hòa giải những tôn giáo này với Plato, và hòa giải Plato với Aristotle. Mặc dù tất cả đều khiến ông cảm thấy hãnh diện, cho đến cuối cuộc đời ngắn ngủi, ông vẫn chỉ giữ một sự khiêm nhường đáng mến, mà khuyết điểm duy nhất trong tính cách của ông là niềm tin ngây thơ vào sự chính xác trong những hiểu biết của bản thân và sức mạnh của lý trí con người.

Tới Rome ở tuổi 24 (năm 1486), ông đã khiến các linh mục và nhà thông thái giật mình với việc xuất bản một danh sách gồm 900 giả thuyết, bao phủ các vấn đề logic, siêu hình học, thần học, đạo đức, toán học, vật lý học, ma thuật, và Cabala, và bao gồm cả nhánh dị giáo rộng lượng mà theo đó thậm chí những tội ác to lớn nhất cũng vẫn là những tội ác hữu hạn và không đáng phải chịu trừng phạt vĩnh viễn. Pico tuyên bố rằng ông sẵn sàng biện hộ cho bất cứ hay tất cả những giả thuyết này trong những cuộc tranh luận công khai với bất cứ ai, và đề nghị được trả phí đi lại cho bất cứ người nào thách thức ông, đến từ bất cứ vùng đất nào. Như một lời mở đầu cho giải thi đấu triết học mà ông đã đề xuất, ông chuẩn bị một bài diễn thuyết nổi tiếng, sau này được đặt tên là De hominis dignitate (Về phẩm giá con người), giãi bày, với sự nhiệt tình của tuổi trẻ, quan điểm tích cực rằng những người theo chủ nghĩa nhân văn - đối lập với hầu hết các quan điểm Trung Cổ - đã kìm hãm loài người. Pico viết: “Chuyện một người đàn ông là một thế giới nhỏ, trong đó chúng ta có thể phân biệt một cơ thể là sự hòa trộn của những nguyên tố trần tục, và một linh hồn thoát tục, và linh hồn thực vật của các loài cỏ cây, và những giác quan của những động vật cấp thấp hơn, và lý trí, và tâm trí của các thiên thần, và sự tương đồng với Thượng Đế, tất cả chỉ là một câu chuyện cũ rích ở các ngôi trường”. Và rồi Pico thậm chí chí đã “đặt câu chữ vào mồm” của chính Chúa trời, bằng cách diễn giải lại những lời Người nói với Adam thành một lời chứng thực thần thánh cho những tiềm năng vô hạn của con người: “Ta tạo ra ngươi không thoát tục cũng không trần tục - để ngươi có thể tự do định hình và vượt qua chính mình. Người có thể chìm đắm để rồi trở thành một con thú, hoặc tái sinh thành một sinh vật giống thần thánh”. Pico bổ sung, trong tinh thần đang mãnh liệt của buổi đầu Phục hưng:

Đây là món quà tối hậu của Thượng Đế, đây là hạnh phúc tột đỉnh và phi thường của con người… rằng anh ta có thể trở thành bất cứ thứ gì mà anh ta có ý nguyện trở thành. Động vật, kể từ giây phút ra đời, đã thừa hưởng từ mẹ và rồi mang trong mình tất cả những gì mà theo định mệnh chúng sẽ có hoặc sẽ trở thành; những linh hồn cao quý nhất [thiên thần] ngay từ khởi đầu đã là… những gì họ mãi mãi sẽ là. Nhưng Thượng Đế, Đức Cha, đã ban cho con người, ngay từ khi ra đời, những hạt giống của mọi khả năng và mọi cuộc đời.

Không ai quan tâm đến việc tiếp nhận thách thức quá đa dạng của Pico, nhưng Giáo hoàng Innocent VIII đã ra phán quyết rằng 3 trong số những giả thuyết của ông mang tính dị giáo. Do những giả thuyết này chỉ chiếm một phần quá nhỏ trong tổng thể, Pico đáng lẽ đã có thể trông mong sự khoan dung, và thực sự Innocent không đẩy vấn đề đi xa hơn. Nhưng Pico đã công bố việc thu hồi các giả thuyết, một hành động cảnh giác, và rời đến Paris, nơi Viện đại học ở đây đề xuất được bảo hộ ông. Năm 1493, Alexander VI, cùng với sự ân cần thường thấy của ông, đã thông báo với Pico rằng tất cả đã được tha thứ. Trở lại Florence, Pico trở thành một môn đệ nhiệt thành của Savonarola, từ bỏ việc theo đuổi tất cả các bộ môn khoa học, đốt 5 tập thơ tình của mình, dùng tài sản của mình để trao cho các cô gái nghèo làm của hồi môn, và bản thân bắt đầu một cuộc sống nửa tu sĩ. Ông nghĩ đến việc tham gia dòng Dominican, nhưng qua đời trước khi ông kịp ra quyết định - khi ấy ông vẫn còn trẻ, mới 31 tuổi. Ảnh hưởng của ông vượt quá sự nghiệp ngắn ngủi, và truyền cảm hứng cho Reuchlin tiếp tục, ở Đức, những nghiên cứu bằng tiếng Hebrew, nằm trong số những đam mê của cuộc đời Pico.

LORENZO QUA ĐỜI

Trong một quãng thời gian trước khi qua đời, Lorenzo cảm nhận rằng ông ta, người đã luôn thuyết giảng về phúc âm của niềm hân hoan, không còn nhiều thời gian để sống.

Vợ ông qua đời năm 1488; và dù ông đã không chung thủy với bà, ông thật lòng thương xót cho cái chết của bà và nhớ những gì bà đã hỗ trợ ông. Bà đã cho ông những đứa con, trong đó 7 người còn sống. Ông đã kiên trì giám sát việc giáo dục các con, và trong những năm sau đó ông đã nỗ lực làm việc để hướng các con vào những cuộc hôn nhân góp phần vào hạnh phúc của Florence lẫn của chính ông.

Lorenzo không còn tích cực tham gia vào chính quyền của Florence, ủy thác ngày càng nhiều công việc kinh doanh Công và tư của ông cho con trai Piero, và tìm kiếm cảm giác thoải mái trong sự yên bình của miền đồng quê và việc đàm luận với những người bạn. Ông biện hộ cho bản thân trong một bức thư đầy bản sắc cá nhân.

Điều gì có thể đáng mơ ước đối với một tâm trí kỷ luật hơn việc được tận hưởng giây phút thư nhân với sự đường hoàng? Đây là điều tất cả những người tốt mong muốn có được, nhưng chỉ những người vĩ đại mới đạt được. Giữa bao việc công, chúng ta thực sự có thể được phép mong mỏi một ngày nghỉ ngơi, nhưng không một sự nghỉ ngơi nào có thể hoàn toàn tách biệt chúng ta khỏi việc dành sự chú ý cho những vấn đề của đất nước. Tôi không thể phủ nhận rằng con đường, mà xưa nay tôi uốn có nhiệm vụ phải đi trên, cho đến giờ vẫn gian khổ và gập ghềnh, đầu những nguy hiểm, và vây quanh nó là những sự phản bội tráo trở; nhưng tôi động viên an ủi bản thân rằng mình đã đóng góp cho hạnh phúc của đất nước mình, sự thịnh vượng của đất nước ấm giờ đây có thể sánh với bất cứ quốc gia nào khác, bất kể quốc gia đó có phát triển rực rỡ đến đâu. Tôi cũng không lơ là đối với lợi ích và sự phát triển của gia tộc tôi, vẫn luôn đặt ra mục tiêu noi theo tấm gương của ông nội tôi, Cosimo, người đã coi sóc các vấn đề công lẫn tư của ông với sự cẩn trọng chia đều cho cả hai. Giờ đây, khi đã đạt được mục đích của mình, tôi tin rằng tôi có thể được phép tận hưởng những điều ngọt ngào của sự thư nhàn, được cùng tận hưởng phần nào tiếng thơm của những công dân đồng bào của tôi, và được hân hoan trong niềm vinh quang của nơi tôi đã sinh ra.

Nhưng ông không có mấy thời gian để tận hưởng sự yên bình hiếm hoi của mình. Một cách khó khăn, ông chuyển tới sống ở biệt thự của mình ở Careggi (ngày 21 tháng ba năm 1492) khi những cơn đau dạ dày của ông trở nên dữ dội đến mức đáng báo động. Người ta triệu tập các thầy thuốc chuyên môn, những người cho ông uống một hỗn hợp các loại đá quý. Tình trạng của ông nhanh chóng trở nên tồi tệ hơn, và ông đã buông xuôi trước cái chết. Ông bày tỏ với Pico và Politian nỗi đau khổ rằng ông không thể sống đủ lâu để hoàn thành bộ sưu tập các thư tịch cho họ chuyển thể và để phục vụ mục đích sử dụng của các sinh viên. Khi cái chết tới gần, ông cho gọi một linh mục, và với sức lực cuối cùng của mình, ông khăng khăng đòi rời khỏi giường để quỳ xuống tiếp nhận lễ ban phước. Giờ đây ông nghĩ đến nhà thuyết giảng không thỏa hiệp, người đã lên án ông như một kẻ hủy diệt sự tự do và làm suy đồi tầng lớp thanh niên, và ông mong mỏi được người đàn ông ấy tha thứ trước khi ông mất. Ông phái một người bạn tới cầu xin Savonarola tới gặp ông để nghe lời thú tội và cho ông một sự xá tội quý giá. Savonorola đã tới. Theo lời kể của Politian, ông ta sẽ tha lỗi với ba điều kiện: Lorenzo phải có một đức tin mãnh liệt vào sự khoan dung của Thượng Đế, phải hứa sẽ sửa chữa cuộc đời mình nếu ông hồi phục, và phải đối mặt với cái chết bằng sự ngoan cường: Lorenzo đồng ý, và được xá tội. Theo G. F. Pico (không phải người theo chủ nghĩa nhân văn), tức người viết hồi ký thuở đầu của Savonarola, điều kiện thứ ba là: Lorenzo phải hứa “phục hồi sự tự do cho Florence”, theo lời kể của Pico, Lorenzo không đáp lại yêu cầu này, và vị linh mục kia rời đi mà không xá tội cho ông. Ngày 9 tháng Tư năm 1492, Lorenzo qua đời, thọ 43 tuổi.

Khi tin tức về cái chết quá sớm này đến với Florence, gần như cả thành phố tiếc thương cho ông, và thậm chí những đối thủ của Lorenzo cũng tự hỏi bây giờ làm thế nào duy trì trật tự xã hội ở Florence hay hòa bình ở đất Ý,mà không có bàn tay dẫn dắt của ông. Châu Âu Công nhận tầm vóc và danh tiếng của ông với tư cách một chính khách, và nhìn thấy ở ông những phẩm chất đặc thù của thời đại, ông là “người đàn ông của Phục hưng” xét theo mọi khía cạnh, ngoại trừ việc ông căm ghét bạo lực. Sự khôn ngoan cẩn trọng mà ông dần có được trong các vấn đề chính sách, khả năng hùng biện đơn giản nhưng đầy sức thuyết phục của ông trong tranh luận, sự kiên quyết và can đảm của ông trong hành động, đã khiến tất cả người dân Florence, ngoại trừ một vài người, quên mất sự tự do mà gia tộc ông đã hủy diệt; và nhiều người, những người không quên điều đó, nhớ về nó như sự tự do của những gia tộc giàu có - tự do cạnh tranh với nhau bằng vũ lực và mánh khóe để đạt được địa vị thống trị có tính bóc lột trong một “chế độ dân chủ” mà ở đó chỉ 1/30 dân số CÓ quyền bầu cử. Lorenzo đã sử dụng quyền lực của mình với sự tiết chế và vì lợi ích của đất nước, thậm chí bỏ bê cả tài sản cá nhân của mình. Ông mắc tội phóng đãng trong tình dục, và đã thành tấm gương xấu cho giới trẻ Florence. Ông đã nêu gương tốt trong văn chương, đã phục hồi vị thế của tiếng Ý trong văn chương, và đã sánh ngang với những người được ông bảo hộ trong mảng thơ ca. Ông đã ủng hộ nghệ thuật với một thị hiếu thẩm mỹ sáng suốt, qua đó thiết lập một tiêu chuẩn cho châu Âu. Trong tất cả những “kẻ chuyên quyền”, ông là người quý phái nhất và tuyệt vời nhất. Vua Ferdinand của Naples đã nói: “Người đàn ông này đã sống đủ lâu cho vinh quang của mình, nhưng cuộc đời ấy lại quá ngắn ngủi cho đất Ý”. Sau khi ông qua đời, Florence suy tàn, và đất Ý không còn biết đến hòa bình.

LEONARDO DA VINCI

Nhân vật thú vị nhất của Phục hưng sinh ngày 15 tháng Từ năm 1952, gần làng Vinci, cách Florence khoảng 96,5 km. Mẹ ông là một cô gái con nhà nông, Caterina, người đã chẳng buồn quan tâm đến việc kết hôn với cha ông. Người tán tỉnh bà, Piero d’Antonio, là một luật sư giàu có người Florence. Vào năm Leonardo ra đời, Piero kết hôn với một người phụ nữ môn đăng hộ đối với mình. Caterina đành phải bằng lòng với một người chồng nông dân; bà chịu nhường đứa con mà bà rất yêu thương cho Piero và vợ ông ta; và Leonardo được dưỡng dục trong sự sung túc kiểu nửa quý tộc mà không có tình yêu từ mẹ. Có lẽ trong môi trường đầu đời đó, ông đã thụ đắc được gu quần áo cao cấp của mình và cả sự căm ghét mà ông dành cho phụ nữ.

Ông đi học ở một trường trong khu dân cư, say mê học toán, âm nhạc, và hội họa, và khiến cha ông vui sướng bằng những lần ông hát và chơi đàn luýt. Tuy nhiên ở thời kỳ đỉnh cao của mình, ông được biết đến với sức khỏe, có thể dùng tay bẻ cong một chiếc móng ngựa, ông là một kiếm thủ điêu luyện, và rất giỏi cưỡi và chăm sóc những con ngựa, loài động vật mà ông yêu nhất, xem chúng như loài cao quý và đẹp đẽ nhất trong các con vật. Rõ ràng ông đã vẽ và viết bằng tay trái, chính đây là lý do khiến ông viết từ phải sang trái, chứ không phải vì ông muốn viết ra những dòng chữ khó đọc.

Để có thể vẽ giỏi, ông nghiên cứu tất cả mọi thứ trong tự nhiên với sự tò mò, kiên nhẫn, và cẩn trọng; khoa học và nghệ thuật, những thứ hợp nhất một cách đáng kinh ngạc trong tâm trí ông, có chung một nguồn gốc - sự quan sát tỉ mỉ. Khi ông bước sang tuổi 15, cha ông đưa ông tới xưởng vẽ của Verrocchio ở Florence, và thuyết phục người nghệ sĩ tài ba này nhận ông làm học trò học việc. Cả giới trí thúc đều biết câu chuyện Vasari đã kể, về việc Leonardo vẽ thiên thần ở bên trái trong bức tranh Lễ rửa tội của Christ của Verrocchio như thế nào, và việc người thầy Verrocchio khi ấy đã tràn ngập cảm xúc trước vẻ đẹp của hình ảnh thiên thần ấy đến mức nào, để rồi ông từ bỏ việc vẽ tranh và dành tất cả cho điêu khắc. Rất có thể tình tiết giã từ vị trí này là một giai thoại xuất hiện sau khi ông qua đời, Verrocchio đã vẽ một vài bức tranh sau bức Lễ rửa tội của Christ. Có lẽ chính trong những ngày tháng học việc này, Leonardo đã vẽ bức Truyền tin cho Mary* nay được lưu giữ tại Bảo tàng Louvre, trong đó là hình ảnh vị thiên thần lúng túng kỳ quặc và trinh nữ đang giật mình kinh ngạc. Khó có thể nói rằng ông học được chất thanh nhã khoan thai từ Verrocchio.

Năm 1972, ông được nhận vào làm thành viên của Hội Thánh Luke. Hội này, với thành viên chủ yếu là những người bào chế thuốc, thầy thuốc, và nghệ sĩ, có trụ sở ở bệnh viện Santa Maria Nuova. Có lẽ Leonardo đã tìm thấy ở đó những cơ hội để nghiên cứu giải phẫu bên trong lẫn bên ngoài cơ thể. Một tuần trước sinh nhật lần thứ 24 của ông, Leonardo và ba thanh niên khác bị triệu tập đến trước một ủy ban gồm các Lãnh chúa Florence để trả lời một cáo buộc về việc có quan hệ đồng tính luyến ái. Không ai biết kết quả của cuộc triệu tập này. Ngày 7 tháng Sáu năm 1976, cáo buộc này được lặp lại, ủy ban nhanh chóng tống giam Leonardo, rồi lại trả tự do cho ông, và hủy bỏ cáo buộc, cho rằng nó vô căn cứ. Không có gì phải bàn cãi: ông là một người đồng tính. Ngay khi ông có thể mở xưởng vẽ cho riêng mình, ông đã thu hút những nam thanh niên trẻ đẹp trai; ông đưa một số người trong đó đi cùng trong những lần chuyển chỗ ở của ông từ thành phố này sang thành phố khác; ông nhắc hết người này đến người kia trong số họ trong những bản thảo với những từ như amantissimo hay carissimo - “yêu thương nhất”, “yêu dấu nhất”. Chúng ta không biết được những mối quan hệ thân mật giữa ông với những thanh niên ấy là thế nào; một số đoạn trong các ghi chú của ông cho thấy ông ghét quan hệ tình dục dù ở bất cứ dạng nào. Leonardo có thể đã nghi ngờ một cách có lý về việc tại sao ông và một vài người khác đã bị lọc ra để buộc tội Công khai trong khi quan hệ đồng tính luyến ái rất phổ biến ở đất Ý vào thời gian đó. Ông không bao giờ tha thứ cho Florence vì sự mất phẩm giá mà việc ông bị bắt giữ đã gây ra.

Rõ ràng, ông nhìn nhận vấn đề này một cách nghiêm túc hơm thành phố. Một năm sau lần buộc tội đó, ông được mời, và đồng ý tiếp nhận một xưởng vẽ trong vườn nhà Medici; và vào năm 1978, chính Lãnh chúa ấy đặt hàng ông vẽ một bức trang trí sau án thờ cho nhà nguyện Thánh Bernard ở Palazzo Vecchio*. Vì một lý do nào đó, ông đã không thực hiện nhiệm vụ này; Ghirlandaio đã đứng ra nhận trách nhiệm này, Filippino Lippi hoàn thành nó. Bất kể thế nào, Lãnh chúa chẳng mấy chốc đã giao cho ông - và Botticelli - một nhiệm vụ khác: vẽ những bức chân dung toàn thân của hai người đàn ông đã bị treo cổ tội đồng mưu, một âm mưu của gia tộc Pazzi, chống lại Lorenzo và Giuliano de Medici. Leonardo, với niềm hứng thú có phần không lành mạnh đối với sự méo mó dị dạng và khổ đau của con người, có thể đã cảm thấy sự thích thú nào đó khi thực hiện nhiệm vụ khủng khiếp, kinh tởm này.

Nhưng thực sự ủng hứng thú với mọi thứ. Tất cả những tư thế và động tác của cơ thể con người, tất cả những biểu hiện trên khuôn mặt người trẻ và người già, tất cả những bộ phận và chuyển động của động vật và cây cỏ, từ làn sóng của lúa mì trên đồng cho đến liệng bay của con chim trong không trung, tất cả những vòng xói mòn và nâng cao có tính tuần hoàn của núi non, tất cả những dòng chảy và xoáy của nước và gió, những kiểu thời tiết khác nhau, những sắc độ của không trung, và sự muôn màu muôn vẻ của bầu trời - đối với ông, tất cả dường như tuyệt diệu một cách bất tận; sự lặp lại chưa bao giờ khiến ông cảm thấy nhàm chán trước sự tuyệt diệu và bí ẩn của nó; ông làm đầy hàng nghìn trang sách với những ghi nhận quan sát của ông về chúng, và những hình vẽ thể hiện vô vàn hình thái của chúng. Khi những tu sĩ ở San Scopeto yêu cầu ông vẽ một bức tranh về nhà nguyện của họ (năm 1481), ông đã cho ra nhiều bản phác thảo về quá nhiều đặc điểm và hình thái của công trình ấy, đến nỗi ông thả cho tâm trí mình lạc vào giữa những chi tiết ấy, và không bao giờ hoàn thành được bức Niềm kính yêu của các Chiêm tinh gia (The Adoration of the Magi)*.

Bất kể thế nào, đây cũng là một trong những bức tranh tuyệt vời nhất của ông. Cấu trúc mà dựa trên đó ông phát triển bức tranh này được vẽ trên một mô thức phối cảnh có độ chính xác cao về mặt hình học, với toàn bộ không gian được chia thành những hình vuông nhỏ dần; phần nhà toán học trong Leonardo luôn cạnh tranh - thường là hợp tác - với phần người nghệ sĩ. Nhưng người nghệ sĩ khi ấy đã hoàn toàn hình thành; tư thế và những đường nét của Đức mẹ Đồng trinh trong bức tranh ấy đã thống nhất với đặc điểm của những Đức Mẹ trong tất cả những tác phẩm sau này của Leonardo, cho đến tận khi ông mất; các Chiêm tinh gia được vẽ bằng sự thấu hiểu đáng ngạc nhiên về tính cách và biểu cảm của những người già, một điều hiếm thấy ở một người còn trẻ như Leonardo lúc đó; và vị “Triết gia” ở bên trái, theo nghĩa đen, chính là một người đang ở trong trạng thái hoàn toàn bị thu hút đến xuất thần nhưng vẫn bán tín bán nghi, như thể họa sĩ trước đó đã sớm nhìn nhận tích truyện Cơ Đốc giáo này với một tinh thần ngờ vực đầy miễn cưỡng và vẫn rất mộ đạo. Và xung quanh những hình tượng này, năm mươi nhân vật khác đang tụ tập, như thể mọi kiểu đàn ông và phụ nữ đã vội vã chạy đến cái máng cỏ này, khao khát tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời và một chút Ánh sáng của Thế giới, và tìm kiếm câu trả lời trong một dòng chảy của sự chào đời.

Kiệt tác chưa được hoàn thành ấy, gần như đã hoàn toàn bị thời gian xóa sạch, được treo ở Bảo tàng Uffizi ở Florence, nhưng chính Filippino Lippi là người đã hoàn thiện bức tranh*, được tiếp nhận bởi anh em nhà Scopetini. Để bắt đầu, để thai nghén thật nhiều ý tưởng phong phú, để hoàn toàn tập trung tâm trí vào việc thử nghiệm các chi tiết - để nhìn được xa hơn chủ thể của mình và thấy một góc nhìn không giới hạn về con người, động vật, thực vật, và các hình thức kiến trúc, của đá và núi non, sông suối và mây và cây cối, để thấy ánh sáng trong một thủ pháp sử dụng sáng tối trong tranh; để được hoàn toàn cuốn hút vào triết lý của bức tranh, thay vì thành tựu về kỹ thuật của nó, để lại cho người khác Công việc kém quan trọng hơm - Công việc tô màu các hình tượng đã được vẽ và sắp đặt như vậy, để hé lộ ý nghĩa quan trọng, để ngưng lại sự tuyệt vọng, sau sự lao động suốt một thời gian dài của cả thể chất và tâm trí, từ sự khiếm khuyết mà nhờ nó, bàn tay người họa sĩ và các chất liệu đã tạo ra hình ảnh hiện thân cho giấc mơ ấy: cho đến cuối cùng, đây hẳn sẽ là cá tính và định mệnh của Leonardo, với chỉ vài ngoại lệ.

Có lẽ ông tham gia vào mỗi tác phẩm nghệ thuật với quan điểm: vẽ là để giải quyết một vấn đề kỹ thuật về cấu trúc, màu sắc, hoặc thiết kế, và đánh mất niềm hứng thú với công việc khi đã tìm thấy giải pháp. Ông nói rằng nghệ thuật nằm ở việc thai nghén và thiết kế, chứ không phải ở việc thực hiện; thực hiện là công việc của những cái đầu kém cỏi. Hoặc, ông tưởng tượng ra một sự tinh tế, ý nghĩa quan trọng, hoặc sự hoàn hảo nào đó mà bàn tay kiên nhẫn, và cuối cùng không thể kiên nhẫn nữa, của ông không thể hiện thực hóa, và ông từ bỏ nỗ lực ấy trong tuyệt vọng. Ông chuyển quá nhanh từ một nhiệm vụ hoặc chủ đề này sang một nhiệm vụ hoặc chủ đề khác; ông hứng thú với quá nhiều thứ, ông thiếu một mục đích thống nhất, một ý tưởng đủ mạnh để thống lĩnh mọi thứ khác, người đàn ông toàn tài” này là một mớ hỗn tạp của những mảnh ghép xuất sắc; ông chiếm hữu và bị chiếm hữu bởi quá nhiều năng lực, đến nỗi không thể kiểm soát sức mạnh của chúng để đạt được một mục tiêu.

Ông viết 5.000 trang, nhưng chưa bao giờ hoàn thành một cuốn sách. Xét về lượng, ông là một tác giả hơn là một nghệ sĩ. Ông mong mỏi được trở thành một cây viết tốt; ông đã một vài lần nỗ lực hùng biện, như trong những bản mô tả lặp đi lặp lại của ông về một cơn lũ; “và ông viết những bản tường thuật sống động về một trận bão và một trận chiến”. Ông rõ ràng có ý định xuất bản một số phần trong những gì ông đã viết, và thường bắt đầu đặt những ghi chép của mình theo trật tự phù hợp với mục đích này. Cho đến nay, chúng ta biết rằng ông không xuất bản bất cứ thứ gì trong suốt cuộc đời, nhưng ông hẳn đã cho phép một số người bạn xem những bản thảo mà ông đã chọn lọc, bởi Flavio Biondo, Jerome Cardan, và Cellini có nhắc đến các trang viết của ông. Ông viết về các chủ đề khoa học tốt không thua gì khi viết về nghệ thuật, và phân chia lượng thời gian gần như bằng nhau cho hai lĩnh vực này. Bản thảo quan trọng nhất trong các bản thảo của ông là Trattato della pittura, tức Chuyên luận đề việc pẽ tranh, Một bức thư Công khai tới giới quý tộc Cơ Đốc giáo của quốc gia Đức, liên quan tới cuộc Cải cách lãnh thổ Cơ Đốc giáo được xuất bản lần đầu vào năm 1651. Bất chấp nỗ lực biên tập hiện đại và tận tụy, nó vẫn là một tập hợp rời rạc của các mảnh ghép, với cách sắp xếp tồi và nội dung thường xuyên lặp lại. Leonardo đã đoán trước được là sẽ có người lập luận rằng người ta có thể học vẽ tranh chỉ bằng cách vẽ tranh; ông nghĩ rằng hiểu biết có cơ sở về lý thuyết sẽ hữu ích; và ông gượng cười trước những người chỉ trích ông, như thể họ giống “những người mà Demetrius đã tuyên bố rằng ông xem luồng gió phát ra từ miệng họ chỉ ngang tầm những thứ họ thải ra từ phần dưới của cơ thể”. Châm ngôn cơ bản của ông là: người học nghệ thuật phải nghiên cứu tự nhiên thay vì sao chép lại tác phẩm của các nghệ sĩ khác. “Hỡi người vẽ tranh, hãy nhìn để thấy rằng khi người đi vào những cánh đồng, người chú ý đến rất nhiều đối tượng khác nhau, lần lượt nhìn chăm chú vào đối tượng này, rồi tới đối tượng khác, tạo ra một bó những thứ khác nhau, đã được chọn lọc từ những thứ ít giá trị hơn”. Tất nhiên, người vẽ tranh phải nghiên cứu giải phẫu, phối cảnh, dựng mẫu bằng ánh sáng và bóng đổ; những ranh giới được xác định một cách quá sắc nét sẽ tạo ra một bức tranh dường như bằng gỗ. “Luôn tạo ra hình ảnh nhân vật sao cho phần ngực không quay về cùng một hướng với đầu”, đây là một bí quyết của vẻ thanh nhã, duyên dáng trong cách bố trí sắp đặt của riêng Leonardo. Cuối cùng, ông hối thúc: “Hãy tạo ra những hình ảnh nhân vật với hành động sao cho đủ để thấy tâm trí nhân vật ấy đang có gì”. Phải chăng ông quên làm việc này với Mona Lisa, hay ông đã phóng đại khả năng đọc thấu tâm hồn qua đôi mắt và đôi môi?

Ông vẽ những bức chân dung của Lodovico, quan nhiếp chính thành Milan, và cô dâu xinh đẹp của ông, Beatrice d’Este, và các con của họ, và của Cecilia Gaflerani và Lucrezia Crivelli, những người tình của Lodovico; những bức tranh này đã thất lạc, trừ phi Cô bán đồ sắt xinh đẹp (La Belle Ferroniere) đang được lưu giữ trong Bảo tàng Louvre chính là Lucrezia. Vasari ca ngợi những bức chân dung gia đình này là “tuyệt diệu”, và bức tranh về Lucrezia đã truyền cảm hứng cho một nhà thơ viết ra một bài thơ đầy tha thiết ca tụng vẻ đẹp của quý cô này cùng kỹ thuật của họa sĩ.

Có lẽ Cecilia chính là hình mẫu của Leonardo cho bức Đức mẹ Đồng trình của đá. Bức tranh này được Hội Ái hữu Đức Mẹ Vô Nhiễm đặt hàng (năm 1483) để làm phần trung tâm trên bức trang trí sau án thờ của nhà thờ San Francesco. Bức tranh gốc sau này được Francis I mua lại và giờ đây nằm trong Bảo tàng Louvre. Đứng trước nó, chúng ta sẽ để ý tới khuôn mặt phẳng phất dáng vẻ của một người mẹ mà Leonardo sử dụng đến cả tá lần trong các tác phẩm sau này, một thiên thần, gợi lại thiên thần trong bức Lễ rửa tội của Christ của Verrocchio; hai đứa trẻ được thể hiện đẹp một cách tinh tế, và một nền tranh gồm những viên đá đang chìa ra nhô lên trên, mà chỉ Leonardo mới có thể tưởng tượng ra rằng đó là nơi sinh sống của Mary. Màu sắc đã tối đi theo thời gian, nhưng có thể người nghệ sĩ đã chủ định tạo ra một hiệu ứng tối, và làm cho những bức tranh của ông thấm đẫm không khí đầy sương mờ ảo mà đất Ý gọi là sfumato - “phủ khói”. Đây là một trong những bức tranh tuyệt vời nhất của Leonardo, chỉ thua các tác phẩm Bữa ăn tối cuối cùng, Mona Lisa, và Đức mẹ Đồng trinh, đứa bé, và Thánh Anne.

Bữa ăn tối cuối cùng và Mona Lisa là những bức tranh nổi tiếng nhất thế giới. Giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác, những người hành hương bước vào nhà ăn, nơi lưu giữ tác phẩm tham vọng nhất của Leonardo. Trong Công trình đơn giản hình chữ nhật ấy, các tu sĩ dòng Dominican, những người trước đây gắn bó với nhà thờ mà Lodovico yêu quý nhất - nhà thờ Santa Maria delle Grazie - đã dùng bữa. Không lâu sau khi người nghệ sĩ của chúng ta tới Milan, Lodovico đã yêu cầu ông vẽ Bữa ăn tối cuối cùng lên bức tường xa nhất của nhà ăn này. Trong suốt 3 năm (1495 – 1498), Leonardo lúc miệt mài, lúc lần lữa dây dưa với nhiệm vụ này, trong khi vị Công tước và các tu sĩ bực bội trước những lần trì hoãn không đếm xuể của ông. Vị Công tước (nếu lời Vasari nói là đúng) phàn nàn với Lodovico về sự lười biếng uể oải rõ ràng của Leonardo, và tự hỏi tại sao ông thỉnh thoảng lại ngồi trước bức tường hàng giờ liền mà không vẽ lấy một nét. Không chút khó khăn, Leonardo giải thích với vị Công tước - người gặp khó khăn trong việc giải thích với trưởng tu viện - rằng công việc quan trọng nhất của một nghệ sĩ nằm ở việc thai nghén ý tưởng chứ không phải ở việc triển khai, và (như cách nói của Vasari “các thiên tài làm nhiều nhất khi họ ít làm việc nhất”. Leonardo nói với Lodovico rằng có hai khó khăn đặc biệt trong trường hợp này - việc nghĩ ra những đường nét xứng đáng với Con của Thượng Đế, và việc khắc họa một người đàn ông nhẫn tâm, vô tình như Judas; Có lẽ, ông đã ngầm gợi ý một cách tinh quái rằng, ông có thể dùng khuôn mặt được nhìn thấy quá thường xuyên của trưởng tu viện làm hình mẫu cho Judas Iscariot. Leonardo đã săn lùng khắp thành Milan để tìm những cái đầu và khuôn mặt có khả năng giúp ông thể hiện các Tông đồ, từ hàng trăm “mồi săn” như vậy, ông đã chọn ra những đường nét mà ông đã nung chảy vào lò đúc nghệ thuật của ông để đúc ra những khuôn mặt được cá nhân hóa đến mức đáng kinh ngạc ấy, những khuôn mặt tạo ra điều kỳ diệu của kiệt tác đang chết dần này. Đôi khi, ông sẽ lao nhanh từ ngoài đường hoặc xưởng vẽ của ông vào nhà ăn ấy, thêm một hay hai nét vẽ vào bức tranh, rồi lại đi.

Chủ đề của bức tranh thật sự xuất sắc, nhưng từ quan điểm của một nghệ sĩ, nó đầy những nguy cơ. Nó phải gò bó vào những hình tượng nhân vật nam và một cái bàn vừa phải trong một căn phòng đơn giản; phía sau chỉ có thể là một quang cảnh làm nền hoặc một viễn cảnh tối mờ nhất, không có sự uyển chuyển thanh nhã của phụ nữ để đóng vai trò làm nền, tôn lên sức mạnh của những người đàn ông, không một hành động sinh động nào có thể được đưa vào để đẩy các nhân vật vào trạng thái chuyển động và qua đó truyền tải cảm giác về sự sống. Leonardo đã đưa vào một thoáng cảnh nền thông qua ba cửa sổ đằng sau Christ. Để thay thế cho hành động, ông khắc họa buổi tụ họp ở thời điểm căng thẳng khi Christ đã tiên tri rằng một trong những Tông đồ sẽ phản bội Người, và mỗi người đều đang đặt câu hỏi, trong sự sợ hãi hoặc kinh hoàng hoặc kinh ngạc, “Có phải là tôi không?” Leonardo vốn đã có thể chọn thể thức Tiệc Thánh cho bữa ăn này, nhưng thể thức đó hắn sẽ làm đông cứng toàn bộ 13 gương mặt, khiến họ trở nên nghiêm trang một cách bất động và rập khuôn. Điều mà chúng ta thấy ở đây, ngược lại, còn hơn cả hành động bạo lực thể chất, có sự kiếm tìm và hé mở về tâm linh; sau này không một nghệ sĩ nào có thể hé mở, một cách sâu sắc, về nhiều tâm hồn đến như vậy trong một bức tranh. Để vẽ các Tông đồ, Leonardo đã vẽ ra vô số phác họa; một vài phác họa trong số này - các phác họa cho James Lớn (James the Greater), Philip và Judas - được vẽ với sự tinh tế và sức mạnh mà chỉ Rembrandt và Michelangelo mới sánh bằng. Khi ông cố gắng tưởng tượng ra các đường nét của Christ, Leonardo phát hiện ra rằng các Tông đồ đã rút kiệt nguồn cảm hứng của ông. Theo Lomazzo (viết năm 1577), Zenale, người bạn già của Leonardo đã khuyên ông để khuôn mặt của Christ ở trạng thái chưa hoàn thành, nói rằng: “Rõ ràng, sẽ không thể nào tưởng tượng ra những khuôn mặt đáng mến hay cao quý hơn những khuôn mặt của James Lớn hay James Nhỏ (James the Less). Vì thế, hãy chấp nhận sự bất hạnh này, và để khuôn mặt Christ ở trạng thái chưa hoàn thành; bởi vì, nếu không làm thế, khi được so sánh với các Tông đồ, Ngài ấy trông sẽ không giống Đấng Cứu Thế hoặc Thầy của họ”. Leonardo nghe theo lời khuyên này. Ông hoặc một học trò đã thực hiện một bản phác họa nổi tiếng (nay nằm ở Gallery Brera) cho khuôn mặt của Christ, nhưng nó khắc họa một nỗi buồn nhu nhược, ẻo lả và sự cam chịu thay vì quyết tâm hào hùng của Christ khi bình thản bước vào khu vườn Gethsemane*. Có lẽ Leonardo thiếu đi lòng mộ đạo thành kính mà, nếu nó được bổ sung vào sự nhạy cảm, sự sâu sắc, và kỹ năng của ông, hẳn nó sẽ đưa bức tranh tới gần sự hoàn hảo hơn.

Bởi ông là một nhà tư duy đồng thời là một nghệ sĩ, Leonardo tránh kỹ thuật bích họa fresco như thể tránh một kẻ thù của tự duy;kỹ thuật tô màu lên vũa ướt vừa được trát như vậy cần được thực hiện một cách nhanh chóng, trước khi vữa khô. Leonardo ưu tiên tô màu lên một bức tường khô bằng màu keo trộn cùng một chất sền sệt, bởi cách này cho ông thời gian trầm ngâm suy tư và thử nghiệm. Nhưng những màu này không bám chặt vào bề mặt, thậm chí ngay khi Leonardo còn sống - với sự ẩm ướt thường thấy trong nhà ăn và những trận ngập lụt thỉnh thoảng xuất hiện vào mùa mưa - lớp màu ấy bắt đầu bong tróc và rơi xuống; khi Vasari nhìn thấy bức tranh (năm 1536), màu của nó khi ấy đã mờ nhạt; khi Lomazzo nhìn thấy nó, 60 năm sau khi nó được hoàn thành, nó đã hư hại đến mức không thể sửa chữa. Các tu sĩ sau đó còn góp phần vào tình trạng xuống cấp của tác phẩm bằng cách đục một cửa đi, qua chỗ chân của các Tông đồ, để vào nhà bếp (năm 1656). Bản in khắc mà dựa trên đó người ta sao chép bức tranh này trên toàn thế giới không phải được tạo ra dựa trên bức tranh gốc, vốn đã mất vẻ đẹp ban đầu, mà từ một bản sao không hoàn hảo của một trong những học trò của Leonardo, Marco d’Oggiono. Ngày nay, chúng ta chỉ có thể nghiên cứu bố cục và những đường nét tổng quát, chứ khó có thể nghiên cứu các sắc độ hoặc những nét tinh tế của bức tranh. Nhưng bất kể tác phẩm này có những khiếm khuyết nào khi Leonardo để lại nó, một số người vẫn nhận ra ngay lập tức rằng nó là bức tranh tuyệt vời nhất mà hội họa Phục hưng từng tạo ra.

Trong các năm 1503-1506, lúc làm việc, lúc lại ngùng, Leonardo đã vẽ bức chân dung Mona Lisa - tức Madonna Elisabetta, vợ thứ ba của Francesco del Giocondo, người mà vào năm 1512 đã dự định sẽ tham gia vào Hội đồng lãnh chúa.

Có lẽ một đứa con của Francesco, được chôn cất vào năm 1499, là một trong những đứa con của Elisabetta, và mất mát này có thể đã góp phần định hình những nét nghiêm nghị đằng sau nụ cười của La Gioconda. Việc Leonardo phải gọi bà trở lại xưởng vẽ của ông quá nhiều lần trong chỉ 3 năm đó, việc ông sử dụng tất cả những thủ pháp và những kỹ thuật tinh tế của mình trong bức chân dung của bà – tạo ra hình mẫu của bà một cách nhẹ nhàng bằng ánh sáng và bóng đổ, đóng khung bà với một hậu cảnh tưởng tượng gồm cây cối và mặt nước, núi non và bầu trời; khoác cho bà y phục nhung và xa-tanh, được dệt thành những nếp gấp mà mọi đường nhăn của chúng đều là một kiệt tác; nghiên cứu một cách say mê những nhóm cơ vi tế đóng vai trò tạo hình và làm cho miệng cử động, đưa các nhạc Công vào chơi nhạc cho bà nghe để gợi lên trong bà cảm giác dịu dàng thương yêu mà vỡ mộng của một người mẹ đang nhớ đến đứa con đã rời bỏ mình: đây là những nét gợi đến tinh thần mà bằng nó, ông đã đạt đến được sự hợp nhất đầy sức lôi cuốn giữa hội họa và triết học. Cả nghìn lần bị gián đoạn, cả trăm mối quan tâm khiến người ta phải sao nhãng, việc phải cùng lúc đó vất vả vật lộn với bức tranh Trận Anghiari, vẫn không khiến sự thống nhất trong quá trình thai nghén ý tưởng và sự cứng cỏi bất thường trong nhiệt huyết của ông bị suy suyển chút nào.

Đây, khi ấy, chính là gương mặt đã khiến người ta tốn hàng nghìn trang giấy và cả biến mực để mô tả. Không phải là một gương mặt đáng mến một cách bất thường, một cái mũi ngắn hơn hẳn sẽ khiến người ta phải tốn nhiều giấy hơn thế; và so với, một thiếu nữ trên chất liệu sơn dầu hoặc đá cẩm thạch - như trong bất kỳ tác phẩm nào của Correggio - hẳn Mona Lisa sẽ chỉ đẹp ở mức trung bình. Chính nụ cười của bà mới là điều tạo ra Số mệnh của bà xuyên suốt nhiều thế kỷ - một ánh long lanh mới xuất hiện trong đôi mắt bà, một nét nhếch môi thể hiện niềm vui lẫn sự kiềm chế.

Bà đang cười điều gì? Những nỗ lực của các nhạc công để làm bà vui? Sự cần mẫn thong thả của một nghệ sĩ, người đã vẽ bà suốt hàng nghìn ngày và chưa bao giờ ngừng? Hay đó không chỉ là Mona Lisa, mà tất cả phụ nữ đang cười, và nói với đàn ông rằng: “Những gã tình nhân say mê tội nghiệp! Một Tự nhiên, điều khiển sự tiếp diễn một cách mù quáng, thiêu đốt mạch máu của các người bằng một niềm khao khát ngớ ngẩn đối với các thịt của bọn ta, làm cho tâm trí các người ủy mị bằng một hình ảnh lý tưởng hóa khá phi lý về những nét hấp dẫn của chúng ta, nâng các người tới những lời ca, những thứ dần lắng xuống cùng đêm tân hôn - và với tất cả những thứ đó, các người có thể bị hối thúc đến nỗi cuống cuồng lao vào việc làm cha! Có thứ gì đó có thể lố bịch hơn không? Nhưng chúng ta cũng rơi vào bẫy; phụ nữ chúng ta trả một cái giá đắt hơn các người để có được sự mê đắm của các người. Ấy thế nhưng, hỡi những gã khờ đáng yêu, thật dễ chịu khi được người khác khao khát, và cuộc đời được cứu rỗi khi chúng ta được yêu”.

Hay Lisa chỉ đang cười chính nụ cười của Leonardo - nụ cười của linh hồn đã bị đảo ngược, linh hồn gần như không thể nhớ lại một cái chạm dịu dàng của bàn tay một người phụ nữ, và không thể tin vào một định mệnh nào khác cho tình yêu hay thiên tài, ngoại trừ sự suy đồi khêu gợi nhục dục, và một chút danh vọng thoáng qua trong tính đãng trí của đàn ông?

Khi việc ngồi làm mẫu vẽ cuối cùng cũng kết thúc, Leonardo đã giữ lại bức tranh, tuyên bố rằng tác phẩm hoàn thiện nhất trong tất cả những bức chân dung này vẫn chưa hoàn thiện. Có lẽ người chồng ấy không thích viễn cảnh để vợ mình nhếch môi lên trước mặt ông và các vị khách, giờ này qua giờ khác trên bức tường nhà ông. Nhiều năm sau đó, Francis I đã mua bức tranh với giá 4.000 crown (50.000 đô-la), lồng khung và đặt nó tại nơi ở của ông ở Fontainebleau. Ngày nay, sau khi thời gian và những lần phục chế đã làm mờ những nét tinh tế của nó, nó được treo trong phòng Salon Carré uy nghi ở Bảo tàng Louvre, ngày ngày được chiêm ngưỡng bởi hàng nghìn người tôn thờ nó, và chờ đợi thời gian xóa mờ và xác nhận ý nghĩa trong nụ cười của Mona Lisa.

NHÀ PHÁT MINH

Chúng ta khó có thể nhận ra rằng, đối với Lodovico, cũng như đối với Caesar Borgia, Leonardo về cơ bản là một kỹ sư. Ngay đến những lễ hội có diễu hành mà ông lên kế hoạch cho Công tước xứ Milan cũng có những cỗ máy tự động được thiết kế tài tình. Vasari nói rằng: “Mỗi ngày, ông tạo ra các mô hình và thiết kế để dời núi non một cách dễ dàng, và để xuyên qua chúng đi từ nơi này tới nơi khác, và để nâng và kéo các vật nặng bằng các công cụ đòn bẩy, cần cấu, và tời; ông sáng tạo các phương pháp làm sạch các bến cảng, và để nâng mực nước lên từ những nơi rất sâu”. Ông phát triển một cỗ máy để khía đường rãnh xoắn lên các con ỐC; ông làm việc theo những cách chính xác để tạo ra một cái bánh xe nước; ông sáng tạo những chiếc phanh ổ đũa. Ông thiết kế khẩu súng máy đầu tiên, và những khẩu súng cối với bánh răng để nâng tầm bắn; một động cơ truyền động nhiều đai, bánh răng truyền động ba tốc độ, một chiếc cờ-lê có thể điều chỉnh cũ, một cỗ máy cuốn kim loại; một tấm giường di động cho máy in, một bánh răng truyền động trục vít tự khóa để nâng một cái thang. Ông có một bản kế hoạch thám hiểm dưới nước, nhưng ông từ chối giải thích nó. Ông hồi sinh ý tưởng về anh hùng của Alexandria vì một động cơ hơi nước, và cho người ta thấy áp lực hơi nước trong một khẩu súng có thể phóng một con ốc bằng sắt đi xa gần 11 m như thế nào. Ông phát minh một thiết bị để cuộn và phân phối đều sợi tơ trên một con suốt quay, và phát minh những cái kéo có thể mở và đóng với chỉ một cử động của bàn tay. Ông thường để tính đồng bóng làm bản thân hơi nhầm lẫn, như khi ông đề xuất ý tưởng dùng những tấm đỡ chân được bơm đầy khí để đi trên mặt nước, hoặc một cái cối xay chạy bằng sức nước có khả năng cùng lúc chơi nhiều nhạc cụ. Ông mô tả một chiếc dù: “Nếu một người có một chiếc lều làm bằng vải lanh, với tất cả những lỗ hổng đều đã được bịt kín, và nó rộng khoảng 5,5 m và cũng sâu khoảng 5,5 m, anh ta sẽ có thể nhảy xuống từ bất cứ độ cao nào mà không gặp phải bất cứ thương tích nào”.

Trong suốt nửa cuộc đời, ông đã ngẫm nghĩ về vấn đề làm sao để con người có thể bay. Như Tolstoy, ông ghen tị với những con chim, một giống loài siêu việt hơn con người ở nhiều khía cạnh. Ông đã nghiên cứu tỉ mỉ sự vận hành của đôi cánh và đuôi của chúng, cơ chế bay lên cao, lượn, đổi hướng, và hạ thấp của chúng. Đôi mắt sắc sảo của ông chú ý tới những chuyển động này với sự tò mò say mê, và cây bút chì nhanh lẹ của ông vẽ và ghi lại chúng. Ông quan sát cách chim lợi dụng các dòng khí và áp suất khí. Ông vẽ một vài bức hình về một cơ chế xoắn ốc mà bằng nó, một người đàn ông có thể dùng chuyển động của bàn chân để làm cho những đôi cánh đập đủ nhanh để nâng anh ta lên không trung. Trong một bài luận ngắn Về bay lượn (Sul volo), ông đã mô tả một cỗ máy để bay được ông tạo ra, với vải lanh bền chắc được hồ cứng, khớp cao su, và rất nhiều tư thô. Ông gọi đây là “con chim”, và viết những hướng dẫn chi tiết về cách sử dụng nó để bay.

Ông có thực sự cố gắng thử bay Một chú thích trong Codie Atlantico nói rằng: “Ngày mai, ngày 2 tháng Một năm 1996, tôi sẽ làm ra chiếc roi và thử”, chúng ta không biết điều này nghĩa là gì. Fazio Cardano, cha của nhà vật lý học Jerome Cardan (1501-1576), đã nói với con trai ông rằng bản thân Leonardo đã Cố gắng thử bay. Một số người đã nghĩ rằng khi Antonio, một trong những phụ tá của Leonardo, gãy chân vào năm 1510, đó là bởi anh ta đã cố gắng bay bằng một trong những cỗ máy của Leonardo. Chúng ta không biết thực hư ra sao.

Leonardo đã đi sai đường, chuyến bay của loài người không phải bắt nguồn từ việc bắt chước loài chim, ngoại trừ ở khía cạnh lượn trên không, mà bằng việc áp dụng động cơ đốt trong vào một cánh quạt có thể đẩy không khí không phải xuống dưới mà về phía sau; việc tiến về phía trước khiến cho việc bay lên phía trên khả thi. Nhưng những điểm khác biệt cao quý nhất của người đàn ông này là đam mê của ông với tri thức. Choáng váng trước những cuộc chiến và tội ác của loài người, mất hết tinh thần trước sự ích kỷ của những người giàu có và sự vĩnh viễn của nghèo đói, buồn lòng trước những điều mê tín và sự nhẹ dạ cả tin mà các quốc gia và thế hệ đã sử dụng để tô vẽ hào nhoáng cho sự ngắn ngủi và nhục nhã của cuộc sống, chúng ta cảm nhận được giống loài mình phần nào đó đã được cứu rỗi khi thấy rằng nó có thể mang một giấc mơ bay cao trong tâm trí và trong trái tim, trong suốt 3.000 năm, từ huyền thoại về Daedalus và Icarus, qua quá trình mò mẫm đầy trắc trở của Leonardo và cả nghìn người khác, tới chiến thắng đầy vinh quang và cũng đầy bi kịch của thời đại chúng ta.

NHÀ KHOA HỌC

Đôi khi trên cùng một trang, bên cạnh những hình vẽ, đôi khi nguệch ngoạc trên một bản phác họa một người đàn ông hoặc một phụ nữ, một phong cảnh hay một cỗ máy,là những ghi chú mà trong đó, tâm trí của người đàn ông này, không bao giờ thỏa mãn với những kiến thức đã có, ngẫm nghĩ về các quy luật và sự vận hành của Tự nhiên. Có lẽ phần khoa học xuất phát từ phần nghệ sĩ: việc vẽ tranh của Leonardo buộc ông phải nghiên cứu giải phẫu học, các quy luật về tỉ lệ và phối cảnh, sự cấu thành và phản xạ của ánh sáng, cơ chế hóa học của bột màu và sơn dầu; từ những nghiên cứu này, ông bị cuốn hút về một quá trình điều nghiên sâu sắc và riêng tư hơn, về cấu tạo và chức năng ở thực vật và động vật, và từ những lần điều nghiên này, ông đạt được một hệ khái niệm có tính triết học về những quy luật tự nhiên phổ quát và bất biến. Thường thường, phần nghệ sĩ một lần nữa nhòm ra từ phần khoa học gia; chính một bản vẽ khoa học có thể là một thứ đầy tính thẩm mỹ, hoặc được hoàn thành với những hình trang trí uốn lượn nhiều chi tiết, uyển chuyển và thanh nhã. Ông đã thử sức ở gần như mọi môn khoa học. Ông yêu thích toán học một cách đầy say mê, xem nó như hình thái thuần khiết nhất của tư duy duy lý; ông cảm nhận được một vẻ đẹp rõ ràng trong các hình vẽ ở môn hình học, và đã vẽ một số hình như vậy trên cùng một trang với một bản nghiên cứu cho bức tranh Bữa ăn tối cuối cùng. Ông đã biểu lộ, một cách đầy mãnh liệt, một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng nhất của khoa học: “Chắc chẳng có nơi nào mà người ta lại không thể áp dụng được bất cứ thứ gì từ các bộ môn khoa học có chất toán hay thứ gì đó dựa trên những môn ấy”. Và ông tự hào lặp lại lời Plato rằng: “Không được để bất cứ ai không phải là nhà toán học được đọc các tác phẩm của ta”.

Với vũ khí là ghi chép tuyệt vời của Theophrastus về thực vật, tâm trí đầy tỉnh thức của ông chuyển sang “lịch sử tự nhiên”. Ông xem xét kỹ lưỡng hệ thống mà dựa trên đó những chiếc lá sắp xếp trên thân cây, và định ra các quy luật của hệ thống ấy. Ông quan sát và phát hiện ra rằng những số vòng gỗ trên mặt cắt ngang của một thân cây thể hiện số năm sinh trưởng của cái cây ấy, và chiều rộng vòng gỗ thể hiện độ ẩm của năm. Ông có vẻ cũng mang một vài ảo tưởng của thời đại mình, về sức mạnh của một số loài động vật nhất định - sức mạnh chữa lành một số căn bệnh của con người chỉ bằng sự hiện diện hoặc bằng cách chạm vào người. Ông sửa chữa một số sai lầm nhất thời của việc tin vào những điều mê tín, một lỗi không phải chỉ riêng ông mới mắc phải, bằng cách nghiên cứu giải phẫu học loài ngựa, với một sự kỹ lưỡng và tỉ mỉ chưa từng có trong lịch sử. Ông chuẩn bị một bài chuyên luận đặc biệt về chủ đề này, nhưng bài luận ấy đã thất lạc khi người Pháp chiếm đóng thành Milan. Ông gần như đã mở ra môn giải phẫu học so sánh hiện đại bằng cách nghiên cứu so sánh các chi của người với các chi của động vật. Ông đặt kiến thức đã lỗi thời nhưng vẫn được nhiều người tin theo của Galen* sang một bên, và thực hiện với các cơ thể thật. Ông không chỉ dùng lời lẽ để mô tả giải phẫu học về con người mà còn minh họa bằng cả hình vẽ, vượt xa bất cứ cuộc giải phẫu nào từng được thực hiện. Ông dự định viết một cuốn sách về chủ đề này, và đã chuẩn bị hàng trăm hình minh họa và các ghi chú. Ông tuyên bố rằng ông đã “mổ xẻ hơn 30 xác người”, và vô số hình vẽ của ông về bào thai, trái tim, phổi, bộ xương, hệ thống cơ bắp, nội tạng, mắt, sọ, và bộ não, và các bộ phận chính trong cơ thể phụ nữ, làm cơ sở minh chứng cho tuyên bố này của ông. Ông là người đầu tiên đưa ra bằng các ghi chú và hình vẽ đáng chú ý - một bản mô tả khoa học về tử cung, và ông mô tả chính xác ba lớp màng bọc quanh bào thai. Ông là người đầu tiên phác họa ra lỗ thông của chiếc xương đỡ gò má, mà ngày nay được biết đến với cái tên “hang Highmore”. Ông đổ sáp vào các van tim của một con bò đã chết để có được hình dạng chính xác về những khoang tim. Ông thích thú với mạng lưới mạch máu, ông cũng đoán được sự tuần hoàn của máu, nhưng không thực sự nắm bắt được cơ chế của nó. Ông viết: “Trái tim khỏe hơn các cơ khác rất nhiều… Phần máu quay về khi trái tim mở ra không phải là phần máu đóng các van tim lại”. Ông phác thảo các mạch máu, mao mạch, và cơ bắp của cơ thể với một sự chính xác tương đối cao. Ông cho rằng nguyên nhân của tuổi già là sự xơ cứng động mạch, và nguyên nhân của xơ cứng động mạch là việc thiếu vận động. Ông bắt đầu một tập sách, De figure umana, dựa trên những đề xuất đúng đắn rằng hình ảnh cơ thể con người là một công cụ hỗ trợ các họa sĩ, và một số ý tưởng của ông được đưa vào trong tác phẩm De divina proprotione của bạn ông, Pacioli. Ông đã phân tích đời sống thể chất của con người, từ khi ra đời đến khi qua đời, và rồi lên kế hoạch cho việc tìm hiểu về đời sống tinh thần. “Ôi, Chúa Trời chắc sẽ vui lòng cho phép tôi được diễn giải chi tiết về tâm lý học của cả những thói quen của con người theo cách tôi dùng để mô tả cơ thể của anh ta!”

Từ những nghiên cứu của mình về quá nhiều lĩnh vực, Leonardo đôi khi chạm vào môn triết học. “Ôi Tất yếu tuyệt diệu! Người, với lý trí tối cao, giới hạn mọi tác động để chúng là hệ quả trực tiếp của những nguyên nhân, và bằng một quy luật tối cao và không thể thay đổi, mọi hành động tự nhiên phải phục tùng người thông qua quy trình ngắn nhất có thể”. Phát biểu này đã chinh phục tất cả cộng đồng khoa học kiêu hãnh của thế kỷ 19, và cho thấy có thể Leonardo đã từ bỏ một số tư tưởng thần học. Vasari, trong ấn bản đầu tiên của cuốn sách về cuộc đời của người nghệ sĩ này, đã viết rằng Leonardo là “một kiểu tâm trí dị giáo đến mức ông không tuân theo bất cứ tôn giáo nào, điều này giải thích rằng có lẽ việc ông làm một triết gia còn tốt hơn làm một tín đồ Cơ Đốc giáo” - nhưng Vasari đã bỏ đoạn này trong các ấn bản sau. Như nhiều tín đồ Cơ Đốc giáo thời đó, Leonardo thỉnh thoảng lại công kích giới tăng lữ, ông gọi họ là các Pharisee, buộc cho họ tội lừa dối những người có đầu óc đơn giản bằng những phép mầu không có thật, và cười vào “đồng tiền giả”, gồm những tờ giấy hứa hẹn về cõi trên (thiên đàng) mà họ dùng để đổi lấy tiền bạc của cõi này. Vào một Ngày thứ sáu Tốt Lành, ông đã viết như sau: “Hôm nay, cả thế giới đang thương xót bởi một người đàn ông đã chết ở phương Đông”. Ông dường như đã có suy nghĩ rằng các vị thánh đã chết không thể nghe được những lời cầu nguyện mà mọi người cầu đến họ. “Tôi có thể ước rằng tôi có được quyền năng trong lời nói mạnh đến mức cho phép tôi chỉ trích những kẻ tán dương việc tôn thờ con người hơn cả việc tôn thờ Mặt Trời… Những kẻ muốn tôn thờ con người như các vị thần đã mắc một lỗi lầm nghiêm trọng”. Ông tự do hơn bất cứ nghệ sĩ Phục hưng nào trong việc sử dụng các biểu tượng của Cơ Đốc giáo: ông bỏ vòng hào quang trên đầu các vị thánh, đặt Đức mẹ Đồng trinh nằm ngang trên đầu gối của mẹ bà, và để Jesus, khi còn là một đứa trẻ nhỏ, cưỡi một con cừu mang tính biểu tượng*. Ông nhìn tâm trí như một thứ có tính vật chất, và tin vào một linh hồn tâm linh, nhưng rõ ràng ông cho rằng linh hồn chỉ có thể vận động thông qua vật chất và trong sự hòa hợp với các quy luật bất biến. Ông nhắc đến Thượng Đế với sự khiêm nhường và tha thiết trong một số đoạn văn; nhưng những lúc khác, ông cho rằng bản chất của Chúa Trời là Tự nhiên, Quy luật Tự nhiên, và “Tất yếu”. Cho đến những năm cuối đời, tín ngưỡng của ông là một tư tưởng phiếm thần kỳ bí.

Có lẽ, sau năm 1517, ông không vẽ tranh nhiều nữa, bởi trong năm đó ông gặp một con đột quỵ khiến ông bị liệt nửa người bên phải, ông vẽ bằng tay trái, nhưng cần có cả hai tay để có thể làm việc một cách tỉ mỉ. Giờ đây, ông là một phiên bản suy nhưỢC, tàn phế, đầy nếp nhăn của người thanh niên mà tiếng tăm về vẻ đẹp của cơ thể và gương mặt đã lưu truyền tới tận Vasari, người ở cách ông nửa thế kỷ. Niềm tự tin một thời của ông tan biến, sự thanh bình trong tâm hồn của ông phải chịu khuất phục trước những nỗi đau của sự già yếu và suy sụp, tình yêu của ông đối với cuộc sống nhường chỗ cho niềm hy vọng mang tính tôn giáo. Ông có một di nguyện đơn giản, nhưng ông yêu cầu Có được tất cả các nghi thức phục vụ của Giáo hội ở tang lễ của mình. Ông đã từng viết: “Cũng như một ngày được sử dụng hiệu quả khiến người ta chìm vào giấc ngủ ngọt ngào, một cuộc đời được sử dụng hiệu quả khiến việc ra đi cũng ngọt ngào”. Vasari đã kể một câu chuyện cảm động về cách Leonardo ra đi, vào ngày 2 tháng Năm năm 1519, trong vòng tay của Vua Francis I (Leonardo đã đến Pháp từ năm 1516 theo hợp đồng với Francis với tư cách “họa sĩ, kỹ sư, và kiến trúc sư của nhà vua, và thợ cơ khí quốc gia”); nhưng rõ ràng khi ấy Francis đang ở một nơi nào đó khác. Thi thể của Leonardo được chôn trong tu viện của Nhà thờ Kinh sĩ đoàn Thánh Florentin ở Amboise.

Chúng ta nên đánh giá ông như thế nào? Người nào trong chúng ta có thể tinh thông nhiều lĩnh vực kiến thức và kỹ năng khác nhau, đủ để phán xét một người đàn ông phức tạp như vậy? Sự kỳ thú, lôi cuốn từ đầu óc phong phú của ông khiến chúng ta bị cuốn vào việc phóng đại thành tựu thực sự của ông, bởi ông giỏi thai nghén ý tưởng hơn là hiện thực hóa chúng. Ông không phải là khoa học gia hay kỹ sư hay họa sĩ hay nhà điêu khắc hay nhà tư duy vĩ đại nhất thời đại của ông, ông chỉ đơn thuần là một người đàn ông đồng thời là tất cả những con người trên, và ở mỗi lĩnh vực, ông sánh ngang với những người giỏi nhất. Hẳn phải Có những người trong y khoa hiểu biết về giải phẫu học hơn ông; những công trình kỹ thuật đáng chú ý nhất trong vùng Milan hẳn đã phải được hoàn thành trước khi Leonardo đến đó; cả Raphael và Titian đều đã để lại tổng số kiệt tác hội họa ấn tượng hơn nhiều so với số lượng sản phẩm còn sót lại từ cây cọ của Leonardo; Michelangelo là một nhà điêu khắc xuất sắc hơn cả Leonardo; Machiavelli và Guicciardini là những khối óc sâu sắc hơn cả Leonardo. Ấy thế nhưng những nghiên cứu của Leonardo về ngựa rất có thể là Công trình tuyệt vời nhất về giải phẫu học được thực hiện ở thời kỳ đó; Lodovico và Cesare Borgia đã chọn ông, từ tất cả những người trên đất Ý, làm kỹ sư của họ; không một bức tranh nào trong số các tác phẩm của Raphael hay Titian sánh được với bức Bữa ăn tối cuối cùng, không một họa sĩ nào có thể sánh với Leonardo về sự tinh tế, hay trong việc khắc hoạ một cách tinh vi những cảm xúc và suy nghĩ và sự điềm đạm trầm ngâm, không bức tượng nào của thời kỳ ấy có thể được đánh giá cao như bức tượng thạch cao Sforza của Leonardo; không một bức tranh nào vượt qua được bác Đức mẹ Đồng trinh, đứa bé, và Thánh Anne; và không một triết lý nào trong triết học Phục hưng Có thể vượt qua hệ khái niệm về quy luật tự nhiên của Leonardo.

Ông không phải là “người đàn ông của Phục hưng”, bởi ông quá điềm đạm, hướng nội, và tinh tế để trở thành hình tượng điển hình cho một thời kỳ quá bạo lực và mạnh mẽ trong hành động và lời nói. Ông không hẳn là “người đàn ông toàn tài”, bởi giữa những lĩnh vực đa dạng mà ông tinh thông, không có chỗ cho những phẩm chất của một chính khách hay nhà quản trị. Nhưng, với tất cả những giới hạn và khiếm khuyết của mình, ông vẫn là người đàn ông mãn toàn nhất Phục hưng, thậm chí có lẽ nhất mọi thời đại. Khi suy xét về thành tựu của ông, chúng ta kinh ngạc trước quãng đường dài mà người đàn ông này đã đi được kể từ những ngày đầu của anh ta, và có một niềm tin mới vào những triển vọng của nhân loại.

« Lùi
Tiến »