Sự suy yếu lòng tôn kính dành cho tôn giáo lâu đời này đã tạo điều kiện cho sự ra đời, như trong thời đại của chúng ta, cả trăm dạng sơ khai của những niềm tin và nghi lễ siêu nhiên. Trong số đó là các giáo phái Cơ Đốc đa dạng; và trong số những giáo phái ấy, tín ngưỡng của các Tông đồ Peter và Paul đã được chứng minh là có khả năng tồn tại và lan tỏa nhất. Cho đến năm 300, các tín đồ Cơ Đốc giáo ở Cận Đông đã chiếm một phần tư dân số thế giới; số tín đồ Cơ Đốc giáo ở Rome là 100.000. Tư tưởng thần học nghiêm khắc của họ ủng hộ một quy tắc đạo đức luân lý nhóm, thứ đã giành được sự chú ý và những lời ngợi ca của những triết gia đa thần: Pliny Trẻ báo cáo với Hoàng đế Trajan rằng các tín đồ Cơ Đốc giáo sống những cuộc đời yên bình và mẫu mực (trong Thư của Pliny, 10.997); và thầy thuốc uyên bác Galen mô tả họ như những người “ở bậc cao hơn rất nhiều về khả năng kỷ luật tự giác và ở khao khát mãnh liệt đối với việc đạt đến sự ưu tú về đạo đức luân lý”. Năm 311, sau 3 thế kỷ đầy đọa truy hại tàn bạo, Hoàng đế Galerius, nhận thấy sự không hiệu quả của sự đày đọa ấy, đã ra một chỉ dụ tha thứ, công nhận Cơ Đốc giáo là một tôn giáo hợp pháp, và đòi hỏi những lời cầu xin từ các tín đồ Cơ Đốc giáo để đổi lấy “sự khoan dung dịu dàng nhất của chúng ta”.
Năm 312, Constantine, khi lãnh đạo một đội quân từ Gaul tới Turin để đối đầu với những đối thủ đang tranh ngôi báu thành Rome với ông, đã nhìn thấy trên bầu trời (theo một truyền thuyết) một cây thập giá đang bốc cháy, và điểm vào đó là dòng chữ tiếng Hy Lạp EN TOUTOI NIKA (bằng cuộc chinh phạt này). Ngày tiếp theo, ông tuyên bố rằng mình công nhận Cơ Đốc giáo và chiến thắng trong một trận chiến có tính quyết định. Ông hành quân về phía Đông, đánh bại một đối thủ, và biến Byzantium - sau này được đổi tên thành Constantinople - thành thủ đô của một Đế chế La Mã phương Đông, một đế chế không lâu sau đó hất Rome ra khỏi ngôi trung tâm quyền lực chính trị.
Dần dần sau đó, khi những cuộc xâm lược của các tộc người man di khiến chính quyền phi tôn giáo lung lay, việc bảo vệ và điều hành trật tự xã hội rơi từ tay các công chức có tư tưởng đa thần ở các thị trấn thuộc Tây Âu vào tay của các giám mục, trưởng tu viện, và linh mục Cơ Đốc giáo, dưới sự lãnh đạo của giáo hoàng ở Rome; và Giáo hội, thay vì Nhà nước, trở thành nguồn gốc và hộ vệ của văn minh. Nhiều người trong số những người bị gọi là “man di” cũng đã chấp nhận Cơ Đốc giáo và phục tùng các giáo hoàng hơn các hoàng đế.
Người dân Tây Âu ổn định đời sống dưới sự thống trị của các vị vua chiến binh như Alfred Đại Đế ở Anh, Charlemagne ở Pháp, và vương tộc Otto và Henry ở Đức; nhưng những nhà cái trị này tìm cách để được phong thành bởi giáo hoàng, như một sự ủng hộ và khẳng định cần thiết cho quyền lực của họ - họ có thể mất quyền lực ấy bất cứ lúc nào nếu giáo hoàng rút phép thông Công của họ. Năm này qua năm khác, vị trí giáo hoàng dần có quyền ảnh hưởng lớn hơn, cho đến khi các vị vua Công nhận rằng nó là vị trí có thẩm quyền tối cao trong tất cả các vấn đề luân lý - rất có thể cũng đồng nghĩa với thẩm quyền tối cao trong gần như tất cả những vấn đề quan trọng. Vì thế Hoàng đế Henry IV đã tới Canossa (năm 1077) để sám hối và cầu xin sự tha thứ và phục hồi thông công từ Giáo hoàng Gregory VII, Hildebrand.
“Cộng hòa Cơ Đốc giáo” này, hoặc siêu nhà nước của giáo hoàng này, đạt đến đỉnh cao của nó dưới thời Giáo hoàng Innocent III. Trong thời gian trị vì kéo dài 18 năm (1198-1216) ông đã ép tất cả các vị quân vương của châu Âu Latin, ngoại trừ Sverre của Na Uy, thừa nhận quyền lực tối cao của ông ở các vấn đề tín ngưỡng, luân lý, và Công lý, bao gồm cả quyền giải phóng toàn bộ các dân tộc khỏi lời thề ước phục tùng vị vua của họ. Một SỐ quốc gia - Bồ Đào Nha, Hungary, Serbia, Bulgaria, Armenia, thậm chí nước Anh dưới thời Vua John - cũng tự nhận là những lãnh địa phong kiến dưới chế độ cai trị của giáo hoàng. Năm 1204, cuộc chinh phạt của các Hiệp sĩ Thập tự chinh lên thành Constantinople đã khiến Giáo hội Hy Lạp phục tùng giáo hoàng La Mã, và Innocent có thể kiêu hãnh nói về “tấm vải lúc này đã liền một mảnh của Christ”. Một vị khách từ Byzantium tới Rome đã mô tả ông như một người không chỉ là người kế thừa Peter, mà còn là người kế vị Constantine.
MẶT TỐI
Chiến thắng của lời lẽ trước thanh kiếm, và của trung tâm quyền lực ấy trước cả thế giới Cơ Đốc giáo, đã bị vấy bẩn do thất bại của các cuộc Thập tự chinh và sự khủng bố của Tòa án dị giáo.
Thập tự chinh, được Giáo hoàng Urban II ra lệnh triển khai vào năm 1098, là nỗ lực mơ mộng của châu Âu, cả Đông và Tây, để giành lại vùng Cận Đông từ tay Hồi giáo và đưa nó về với thế giới Cơ Đốc giáo về mặt thương mại và tôn giáo. Họ thất bại trong cả hai mục tiêu, bởi vùng Cận Đông vẫn tiếp tục nằm trong tay của người Hồi giáo, và của cải, khoa học, nghệ thuật, và sự uyên bác của những người Moor đã kích động trong lòng những Hiệp sĩ Thập tự chinh, khi ấy đã bị đánh bại, một tư tưởng hoài nghi, thứ không lâu sau đó khiến dòng chính thống Cơ Đốc giáo phải khổ sở với cả trăm dòng dị giáo.
Innocent III, như bất kỳ nhà cai trị nào khác, xem dị giáo là sự phản bội, là sự ly khai mang tính chia rẽ của cái bộ phận ra khỏi trật tự và sự bình yên của cái toàn thể. Nhưng hơn hết, ông cảnh giác với một đức tin tôn giáo mới từ bán đảo Balkans du nhập vào Pháp, tạo thành các nhóm thiểu số hùng mạnh ở Montpellier, Narbonne, Marseille, Toulouse, Orléans - thậm chí
Soissons và Reims, xa về phía Bắc. Các Albigensian đã chia vũ trụ ra thành hai phần, của Thượng Đế - đại diện cho linh hồn và cái thiện - và của Satan - đại diện cho vật chất và cái ác. Họ cho rằng tất cả những phần xác thịt đều rất xấu xa và tất cả các quan hệ dục tính đều là dơ bẩn. Họ tiếp nhận Bài giảng trên Núi của Christ như tư tưởng đạo đức của họ, và lên án chiến tranh hay bất cứ hành động sử dụng bạo lực nào, ngay cả khi để chống lại những kẻ không theo đạo. Họ phản đối địa ngục và luyện ngục, và tuyên bố rằng tất cả mọi người sẽ được cứu rỗi.
Họ không Công nhận Giáo hội là Giáo hội của Christ; Thánh Peter chưa bao giờ tới Rome, chưa bao giờ lập ra ngôi giáo hoàng các giáo hoàng là những người kế vị các hoàng đế chứ không phải các Tông đồ. Christ trước đây không có lấy một chỗ để kê đầu, nhưng giáo hoàng thì sống trong một cung điện. Những tổng giám mục và giám mục hống hách này, những tu sĩ to béo và linh mục lắm lời này, chính là những Pharisee thời xưa, đã được hồi sinh.
Trong một khoảng thời gian nhất định, các Albigensian đã nhận được sự dung thứ rộng lượng, giống như những người cực đoan, đang phản bác chính mình bằng những lời phóng đại. Năm 1167, họ tổ chức một hội đồng các mục sư của mình, và tham dự hội đồng này là các đại diện từ một vài nước; hội đồng này bàn luận và điều chỉnh hệ lý thuyết, nguyên tắc, và hệ thống điều hành của họ, và đã tạm dừng mà không hề bị quấy rầy. Trong số các quý tộc ấy, một số người cảm thấy tốt nhất nên làm suy yếu Giáo hội ở Languedoc; Giáo hội giàu có, còn các quý tộc tương đối nghèo; một vài người bắt đầu chiếm đoạt tài sản của Giáo hội.
Innocent III, khi ấy sắp ngồi vào ngôi giáo hoàng vào năm 1198, đã nhìn thấy trong những diễn biến này một mối đe dọa tới cả Giáo hội lẫn Nhà nước. Ông thừa nhận một số lời biện hộ cho việc chỉ trích Giáo hội, nhưng ông cảm thấy gần như không thể ngồi yên khi tổ chức lớn ấy, tổ chức mà ông đứng đầu và dường như cũng là lực lượng phòng vệ chủ yếu trước bạo lực, sự hỗn loạn về xã hội, và những hành vi trái đạo lý của hoàng gia, đang bị tấn công vào nền tảng của chính nó, bị cướp đi sự hỗ trợ về vật chất, và bị chế nhạo bằng những trò đùa cợt báng bổ. Làm sao người ta có thể xây dựng được bất cứ sự ổn định xã hội lâu dài nào dựa trên những nguyên tắc ngăn cấm quyền lực của cha mẹ đối với con cái và biện hộ cho hành vi tự tử? Có cách nào để giải cứu các mối quan hệ giữa các giới tính và việc nuôi dạy trẻ em khỏi một sự hỗn loạn tột cùng, ngoài một thể chế nào đó như hôn nhân? Một cuộc Thập tự chinh chống lại những kẻ ngoại giáo ở Palestine sẽ có nghĩa lý gì đây, khi mà những kẻ ngoại giao Albigensian này đang ngày càng gia tăng về số lượng ngay giữa trái tim của thế giới Cơ Đốc giáo?
Hai tháng sau khi lên ngôi, Innocent viết thư cho tổng giám mục xứ Auch ở Gascony:
Con thuyền nhỏ của Thánh Peter bị vùi dập bởi nhiều cơn bão, và bị quăng quật khắp nơi trên biển. Nhưng điều khiến ta xót xa hơn hết thảy… là việc… giờ đây có những tu sĩ mắc những tội lỗi của ác quỷ, tự tung tự tác và gây nguy hại hơn bao giờ hết, đang tóm lấy và kiểm soát linh hồn của những người ngây thơ. Với những niềm tin mê tín và phát minh sai trái của chúng, chúng đang xuyên tạc ý nghĩa của Kinh Thánh Công giáo, và cố gắng hủy hoại sự thống nhất của Giáo hội Công giáo. Bởi vì… thứ tội lỗi như bệnh dịch này đang ngày một lớn lên ở Gascong và các vùng lãnh thổ lân cận, chúng ta mong người và những giám mục dưới quyền người hãy chống lại nó với toàn bộ sức mạnh của các người… Chúng ta ban cho người một nghiêm lệnh rằng, bằng bất cứ cách nào có thể, người phải tiêu diệt tất cả những kẻ dị giáo này, và đẩy tất cả những kẻ đã bị chúng làm cho ô uế ra khỏi giáo khu của các người… Nếu cần, người có thể yêu cầu các quân lương và người dân đàn áp chúng bằng thanh gươm.
Sắc lệnh này được các nhà cai trị theo chính thống giáo và các mục sư giàu có hoan nghênh. Raymond VI của Toulous đồng ý thuyết phục những người dị giáo, nhưng từ chối tham gia một cuộc chiến chống lại họ. Innocent rút phép thông công của ông; Raymond hứa sẽ tuân theo, được xá tội, và sau đó lại lơ là. “Làm sao mà chúng ta làm được việc ấy đây?” đây là câu hỏi của một hiệp sĩ, người đã nhận từ một mục sư đại diện cho Giáo hoàng mệnh lệnh đánh đuổi người Albigensian ra khỏi những vùng đất của họ. “Chúng ta đã lớn lên cùng những người này, trong số họ là người thân của chúng ta, và chúng ta thấy họ sống một cách ngay thẳng, đúng đắn”.
Sau 6 năm chờ đợi, Innocent trao cho Arnaud của Citeaux, thủ lĩnh các tu sĩ dòng Xitô, toàn quyền thiết lập tòa án dị giáo trên toàn nước Pháp và đại xá cho những vị vua và quý tộc nào tham giao cuộc thập tự chinh mới này. Khi ngay cả cách này cũng không đủ, bằng một sắc lệnh, ông đưa toàn bộ đất đai vốn chịu quyền kiểm soát của Bá tước Raymond về dưới sự kiểm soát của Giáo hội và trao chúng cho bất cứ tín đồ Cơ Đốc giáo nào chiếm được chúng. Ông triệu tập những người mộ đạo từ khắp nơi ở châu Âu về tham gia một cuộc thập tự chinh chống lại các Albigensian và những người bảo hộ cho họ, và ông đại xá cho tất cả những người tham gia, miễn cho họ những hình phạt do bất cứ tội lỗi nào trước đó. Hàng nghìn người tụ tập về với cuộc thánh chiến ấy. Khi các Hiệp sĩ Thập tự chinh tiếp cận Béziers, họ nói rằng nếu thị trấn này giao tất cả những kẻ dị giáo nằm trong danh sách của giám mục vùng đó, họ sẽ miễn cho thị trấn khỏi phải chịu những nỗi kinh hoàng của chiến tranh. Những người đứng đầu thị trấn từ chối, nói rằng họ thà cố thủ cho đến khi họ chỉ còn nước ăn thịt chính con cái của họ. Các Hiệp sĩ Thập tự chinh leo qua tường thành, chiếm lấy thị trấn, và giết 20.000 đàn ông, phụ nữ, và trẻ em trong một cuộc thảm sát không phân biệt già trẻ gái trai.
Người tàn nhẫn nhất trong các Hiệp sĩ Thập tự chinh là Simon de Montfort. Như nhiều người đàn ông ở thời đại hảo hán này, ông nổi tiếng với sự trinh bạch, và đã vinh dự được phụng sự ở Palestine. Với đội quân nhỏ của mình, gồm 4.500 người, và được thúc giục bởi mục sư đại diện cho giáo hoàng, ông giờ đây tấn công hết thị trấn này đến thị trấn khác, vượt qua mọi sự kháng cự, và cho người dân một lựa chọn, giữa việc thề trung thành với đức tin tôn giáo La Mã hoặc chịu chết như những kẻ dị giáo. Hàng nghìn người đã thề, hàng trăm người chọn cái chết. Trong suốt 4 năm, Simon tiếp tục các chiến dịch của mình, tàn phá gần như tất cả những lãnh thổ của Raymond VI, ngoại trừ Toulouse. Năm 1215, chính Toulouse cũng đầu hàng; Raymond bị cách chức bởi một hội đồng gồm các giám mục ở Montpellier và Simon kế vị tước hiệu và phần lớn đất đai của Raymond. Năm 1227,Raymond VII, người đã thề sẽ đàn áp một nhánh dị giáo, đã ký một hiệp ước với Giáo hoàng Gregory IX, và cuộc chiến tranh Albgigensian đi đến kết thúc. Chính thống giáo đã chiến thắng, sự khoan dung chấm dứt, và Tòa án dị giáo mở rộng quyền lực của nó lên toàn châu Âu.
Tòa án dị giáo không gặp phải bất cứ khó khăn nào trong việc tìm ra những đoạn văn trong Kinh Thánh để hợp thức hóa án tử hình cho những người dị giáo - như trong Deuteronomy chương 13, câu 1-9; Xuất Hành, chương 22, câu 18, và trong Phúc Âm của Thánh John, chương 15, câu 16. Gần như mọi tín đồ Cơ Đốc giáo đều tuân theo đức tin rằng Giáo hội đã được lập ra bởi Con của loài Người. Dựa trên điều kiện giả thiết này, bất cứ sự công kích nào nhắm vào đức tin Công giáo sẽ là một sự xúc phạm tới chính Thượng Đế; kẻ dị giáo ương ngạnh chắc chắn chỉ có thể là một sứ giả của Satan, được gửi đến để phá hoại những thành quả của Christ; và bất cứ người hay chính quyền nào dung thứ cho dị giáo đều là những kẻ đang phụng sự Lucifer. Cảm thấy bản thân là một phần không thể tách rời trong bộ máy điều hành chính trị và luân lý của châu Âu, Giáo hội nhìn nhận dị giáo đúng theo cách một nhà nước nhìn nhận tội phản quốc; dị giáo là một sự công kích vào những nền tảng của trật tự xã hội. Quy định đàn áp dị giáo nghiêm khắc nhất được ban hành bởi Frederick II vào năm 1220-1239. Những người dị giáo bị kết tội bởi Giáo hội sẽ bị chuyển tới “chính quyền thế tục” - tức nhà chức trách địa phương - và thiêu sống. Nếu họ công khai từ bỏ dị giáo, họ sẽ còn lại lựa chọn bị bỏ tù chung thân. Tất cả tài sản của họ sẽ bị tịch thu, những người thừa kế của họ sẽ không được thừa kế, con cái họ sẽ không đủ tư cách để giữ bất cứ vị trí được trả lương hay vị trí danh giá nào, trừ phi họ chuộc lại những tội lỗi của cha mẹ bằng cách tố cáo những kẻ dị giáo khác. Nhà của những kẻ dị giáo sẽ bị tiêu hủy và không bao giờ được dựng lại. Vị vua thánh thiện Louis IX đã áp những điều luật tương tự lên nước Pháp. Năm 1931, Gregory IX đưa Luật năm 1224 của Frederick II vào luật lệ của Giáo hội; kể từ đó, Giáo hội và Nhà nước nhất trí rằng hành vi dị giáo mà không sám hối là tội phản bội, và sẽ bị trừng phạt bằng tử hình.
Nhà nước và Giáo hội liên minh với nhau trong một cuộc công kích trong sợ hãi lên những người dị giáo, những người mà, trong mắt họ, làm suy đồi hệ thống luật pháp và luân lý phức tạp, một hệ thống đã giữ cho con người khỏi quay về với trạng thái vô pháp vô thiên về luân lý và chính trị. Gần như bất cứ chính quyền nào bị kiểm khảo đều về với phe Tòa án dị giáo, và trừng phạt những quan điểm và hành vi mà họ xem là nguy hiểm với nhà nước.
Tự do là sự an toàn ở mức xa xỉ.
BÀI CA TRUNG CỔ
Thời Trung cổ tô điểm cho thiên niên kỷ của nó với văn chương thú vị, đôi khi tuyệt đỉnh có một không hai. Một điều độc nhất vô nhị là những người hát rong, đặc biệt phổ biến ở nước Pháp thế kỷ 11, rồi đến những vùng đất của người Đức và Tây Ban Nha, ăn mặc như những quý tộc, khua gươm múa bút, và mơ mộng về những mối tình ngọt ngào thanh nhã nhưng trái phép với các quý bà quý tộc, những người - cùng lắm - cũng chỉ cho phép họ hôn bàn tay.
Có lẽ chính sự bất khả tiếp cận này đã tạo cảm hứng cho những vần thơ của họ, khó có thể lãng mạn hóa một niềm khao khát đã được đáp ứng, và khi không có trở ngại nào, sẽ không có thơ ca. Những người hát rong đặc biệt xuất sắc trong việc sáng tác và hát những khúc nhạc sớm, tức bài hát vào buổi bình minh, và những bản serenade, tức bài hát vào ban đêm; họ tán tỉnh ban đêm và thương hại cho ban ngày.
Ở Đức, những người hát rong được gọi là các Minnesingers - “những ca sĩ của tình yêu”; Walther von der Vogelweide (Walter “của đồng cỏ nơi chim đậu”) đã sáng tác bản ballad nổi tiếng unter den Linden, về vai trò của cây cối - làm những chiếc ô cho những cuộc tình lãng mạn. Cuối thế kỷ 12 và đầu thế kỷ 13 chứng kiến sự ra đời của những khúc nhạc lãng mạn mang tinh thần hiệp sĩ, kể về hành trình đi tìm Chén Thánh - chiếc chén linh thiêng mà Jesus đã dùng để uống trong bữa ăn tối Cuối cùng, và cũng là chiếc chén mà Joseph của Arimathea đã dùng để hứng một vài giọt máu nhỏ xuống từ Christ khi bị đóng đinh trên thập giá. Xung quanh truyền thuyết đó, người ta thêu dệt nên câu chuyện về Parzival, với Wolfram von Eschenbach là người kế nổi tiếng nhất. Gottfried của Strasbourg cho Richard Wagner một bản lời nhạc kịch nữa bằng cách sáng tác, bằng vần thơ tiếng Đức uyển chuyển, câu chuyện về Tristan và Isolde. Trong khi đó, Iceland và Scandinavia khi ấy đang tuôn ra những bản trường ca bất tận về thần thoại Bắc Âu.
Thú vị hơn một học giả lang thang là các “Học giả Lang thang”, những người du ngoạn từ viện đại học này sang viện đại học khác, hát những bài hát về sự nổi loạn hay những cuộc chè chén say sưa. Ở đây, gây tai tiếng một cách tinh tế, là một lời giải thích của một tình nhân về việc tại sao anh ta ở trên thiên đường:
Tại sao nàng ấy không màng hậu quả
Dâng tất cả bản thân cho Tình yêu và tôi,
Vẻ đẹp trên thiên đường xa xôi
Mỉm cười từ ngôi sao hạnh phúc của nàng.
Quá nhiều khao khát tràn ngập trong anh;
Trái tim anh không đủ lớn
Để chứa đựng niềm vui lớn lao này, niềm vui đã chế ngự anh,
Ôi khi mà người tôi yêu
Tạo ra một người đàn ông khác trong tôi khi tôi ở trong vòng tay cô ấy,
Và tất cả những mật ngọt ngưng lại từ môi nàng,
Được hút trọn trong một nụ hôn của kẻ đã khuất phục.
Lần nữa, lần nữa, tôi mơ về sự tự do
Từ vầng ngực mềm mại của nàng;
Và như thế, một vị thần nữa tới thiên đường,
Giữa những gì còn lại;
Vâng, và sự bình thản sẽ thống trị người và thần
Nếu tôi có thể một lần nữa cảm nhận
Tay mình trên ngực nàng.
Bất kể những học giả lang thang ấy đi đến đâu, họ có thể sẽ tự tin rằng họ vẫn sẽ gặp cùng một ngôn ngữ truyền đạt - tiếng Latin. Tuy nhiên, một trong những sự kiện then chốt của thời Trung cổ - gần như đánh dấu sự kết thúc của nó - là việc Dante lựa chọn tiếng Ý thay vì tiếng Latin như phương tiện cho chuyến du ngoạn của ông qua địa ngục, luyện ngục, và thiên đường. Chúng ta có thể tin rằng tiếng Ý là ngôn ngữ đẹp đẽ nhất, và có vẻ nó thực sự như vậy khi nó kể cho ta nghe về câu chuyện của Francesca da Rimini, hay khi, mở đầu khổ cuối cùng, nó nói về Mary:
Vergine madre, figlia del tuo Figlio
Umile ed alta più che creatura
Hỡi Đức mẹ Đồng trinh, con gái của con trai người,
Khiêm nhường và cao quý hơn bất cứ sinh vật nào - (trong “Hỏa Ngục” của Dante, 5.121f)
Nhưng liệu chúng ta có thể tìm thấy ở đâu khác một câu thơ mang sức mạnh lớn lao hơn câu thơ mà nhà thơ ấy nghĩ rằng ông đã nhìn thấy trên cánh cổng địa ngục, câu thơ được khắc lên đó: “Lasciate ogni speranza, coi ch entrate!” -“Hãy từ bỏ tất cả hy vọng, hỡi kẻ phải bưÓC vào đây!” Hài kịch thần thánh (The DivineComedy) của Dante là bài thơ kỳ lạ nhất, kinh khủng nhất, và, lúc nào cũng vậy, đẹp đẽ nhất trong toàn bộ nền văn chương Cơ Đốc giáo.
ABÉLARD VÀ HÉLOISE
Héloise là một cô bé mồ côi không rõ cha mẹ, cháu gái của Fulbert, một giáo sĩ hay tu sĩ trong nhà thờ chính tòa Paris (không phải Nhà thờ Đức Bà được xây dựng vào một thế kỷ sau đó). Ông gửi cô bé tới một nữ tu viện nổi tiếng với trường học và thư viện của nó. Khi ông biết rằng cô bé có thể đàm luận bằng tiếng Latin gần như dễ dàng không kém gì tiếng Pháp, và đang học tiếng Hebrew, ông đã tự hào về cô và đưa cô về sống trong khu phố nhà ông, gần nhà thờ chính tòa. Để kèm cặp cô ở môn triết học và các môn học cao cấp khác, ông tìm kiếm nhân vật mẫu mực và là thần tượng của tất cả các học giả ở Paris.
Pierre Abélard đã sinh ra ở Britany vào năm 1079 hoặc gần năm đó, là con trai đầu của một nông dân giàu có. Xuất sắc tại trường học, ông phấn khích khi được nghe về những người đàn ông được gọi là triết gia, những người đề xuất chứng minh, chỉ bằng lý lẽ, những đức tin tôn giáo của họ. Từ bỏ quyền thừa kế của mình, ông lên đường nghiên cứu triết học ở bất cứ nơi nào ông có thể tìm thấy nó.
Chuyến tìm kiếm của ông sớm dẫn ông tới Paris, và ngôi trường của nhà thờ chính tòa của nó,nơi William của Champeaux (theo lời kể của Abelard) đang giảng dạy về chủ nghĩa duy vật - khi ấy mang nghĩa là những cái tên phổ quát hoặc tên của nhóm sự vật - chẳng hạn như “đàn ông”, “đám đông”, “đá”, “phụ nữ” - đều có sự tồn tại và thực tại khách quan, bổ sung vào thực tại của bất cứ thành viên đơn lẻ nào trong nhóm; vì thế “đàn ông” cũng thực không kém gì “Socrates”; đám đông thực không kém gì bất cứ cá nhân nào bên trong nó, và có logic lẫn cá tính. “Không”, Abelard nói; không có thứ gì tồn tại bên ngoài tâm trí chúng ta, ngoại trừ những người đàn ông cá nhân cụ thể, những sự vật cụ thể; tất cả các ý niệm tổng quát đều là các khái niệm được hình thành với vai trò Công cụ để phân loại và để tư duy.
Abelard tổ chức ngôi trường của riêng ông,đầu tiên ởMelun, sau đó ở Mon Genevieve,ngay ngoài Paris. Tại đó, khả năng hùng biện và sự xuất sắc cùng niềm vui trong những Công việc trí thức của ông thu hút lượng học viên vượt quá khả năng đón tiếp của ông. Họ gọi chính mình là moderni, và lập ra một schola moderna, tức ngôi trường hiện đại. Danh tiếng của Abelard đã lan tỏa ra khắp nước Pháp khi Fulbert mời ông tới gia sư cho Héloise.
Đó là năm 1117; khi ấy ông 38 tuổi, cô ấy 17. Ông thừa nhận rằng cảm xúc ban đầu ông dành cho cô là do sự hấp dẫn về hình thể, nhưng chẳng mấy chốc điều này được sự thanh nhã của Héloise chuyển thành cái mà ông mô tả là “một sự dịu dàng, ngọt ngào hơn cả loại dầu thơm ngát hương nhất”. Cô dường như đã chịu khuất phục trước ông với niềm tin gần như của trẻ con; không lâu sau cô mang thai.
Ông gửi cô đến nhà của chị ông ở Brittany, và trấn an Fulbert bằng cách đề nghị được kết hôn với cô, với điều kiện rằng mục sư này phải giữ bí mật cho cuộc hôn nhân này. Héloise trong suốt một thời gian dài đã từ chối kết hôn với ông, bởi điều này sẽ ngăn ông lên vị trí linh mục, trừ phi cô bỏ chồng con và vào nữ tu viện. Nếu chúng ta tin vào tự truyện Tiểu sử những tai họa trong đời tôi (Historia Calamitatum) của Abelard, thì cô đã nói với ông rằng “với nàng, việc được gọi là người tình’ của tôi ngọt ngào hơn nhiều so với việc được biết đến là “vợ tôi”; không, việc ấy cũng sẽ vinh dự hơn cho cả tôi nữa”.
Cuối cùng, Héloise chấp thuận, và cùng với Abelard và Fulbert nhất trí giữ cho cuộc hôn nhân này được bí mật. Không lâu sau, Fulbert, để dập tắt những lời xì xào, đã tiết lộ cuộc hôn nhân hợp pháp này. Héloise phủ nhận nó; Fulbert đánh đập cô; Abelard gửi cô đến một nữ tu viện, đề nghị cô chấp nhận mặc áo nữ tu, nhưng không chấp nhận những lời thề của nữ tu.
Fulbert thuê một đám côn đồ thiến Abelard. Việc ông bị thiến không khiến ông cảm thấy ô nhục ngay lập tức, mặc dù điều này đã khiến ông không đủ tư cách để trở thành linh mục; toàn Paris, bao gồm cả giới tăng lũ, đồng cảm với ông; họ túm tụm lại để an ủi ông - nhưng Abelard nhận ra rằng cuộc đời ông đã bị hủy hoại. Ông cầu xin Héloise chấp nhận y phục và lời thề của nữ tu, và chính ông thề những lời thề của một tu sĩ. Được phép giảng dạy trở lại, ông và các học trò đã xây dựng, gần Troyes, một nhà tu khổ hạnh để làm nơi ẩn cư và nhà thờ nhỏ để cầu nguyện, nơi mà ông gọi là Paraclete - “Chúa, người An ủi” - như thể để nói rằng tình cảm chung thủy của những học trò của ông đã đến với cuộc đời ông như một người an ủi thần thánh, giữa những cô đơn và tuyệt vọng của ông.
Dần phục hồi sức khỏe và can đảm, Abelard hiến dâng bản thân cho việc viết một vài cuốn trong số những cuốn sách quan trọng nhất của triết học Trung cổ. Trong tác phẩm đồ sộ Dialectica của mình, ông đã định hình lại các nguyên tắc lập luận cho tâm trí mới phục hồi của Tây Âu. Trong Hội thoại giữa một triết gia, một người Do Thái, và một tín đồ Cơ Đốc giáo (Dialogue between a philosopher, a Jew, and a Christian) của mình, ông cho phép từng người trong 3 người này nói lên điểm yếu trong hệ lý thuyết của 2 người còn lại. Trong Sic et Non - tức, có và không - ông đã đặt ra 157 câu hỏi, dưới mỗi câu ông đưa ra một lập luận ủng hộ và một lập luận phản bác. Trong phần mở đầu của tác phẩm ấy, ông lập luận rằng “chìa khóa đầu tiên để tiến tới trí huệ là việc siêng năng và thường xuyên đặt câu hỏi… Bởi vì, bằng cách nghi ngờ, chúng ta tiến tới việc đặt câu hỏi, và bằng cách đặt câu hỏi, chúng ta vươn tới chân lý”. Trong Theologia christiana, ông phản bác mệnh đề rằng chỉ một tín đồ Cơ Đốc giáo mới được cứu rỗi, cho rằng nó vô lý; ông lập luận rằng: Thượng Đế trao tình yêu của người cho tất cả các dân tộc. Những người dị giáo nên bị kiềm chế bằng lý lẽ, chứ không phải bằng bạo lực.
Năm 1140, Thánh Bernard, với nhiệt huyết dành cho đức tin Công giáo, đã thuyết phục được một hội đồng Công giáo ở Sens lên án một vài quan điểm của Abelard. Triết gia này, mặc dù khi ấy đã rất yếu do tuổi già và những khổ não, đã lên đường tới Rome để giải trình trước giáo hoàng. Ông tới được tu viện Cluny ở Burgundy và được chào đón nồng nhiệt bởi trưởng tu viện, Peter Thánh thiện đáng kính. Tại đó, ông biết được rằng Giáo hoàng Innocent II trước đó đã xác nhận bản án của Hội đồng Sens, và đã áp lên ông hình phạt im lặng vĩnh viễn và giam cầm trong tu viện.
Đã quá hao mòn vì sự kiệt quệ cả về thể chất lẫn tinh thần, Abelard giấu mình trong bóng tối của những căn phòng và nghi lễ của tu viện Cluny. Ông khai sáng trí óc của những tu sĩ cùng tu viện với mình bằng lòng mộ đạo, sự yên lặng, và những lời cầu nguyện của ông. Ông viết cho Héloise - người ông không bao giờ gặp lại nữa - và tái khẳng định đức tin của ông vào những giáo huấn của Giáo hội. Ông soạn ra, có lẽ để dành cho riêng Héloise, một số bài thánh ca, nằm trong số những thánh ca đẹp nhất văn chương Trung cổ.
Không lâu sau, ông mắc bệnh, và vị trưởng tu viện nhân từ của ông gửi ông tới tu viện St. Marcel gần Chalons. Tại đó, vào ngày 21 tháng Tư năm 1142, ông qua đời, thọ 63 tuổi. Ông được chôn cất trong nhà nguyện của tu viện, nhưng Héloise, người lúc này đã là nữ trưởng tu viện ở Paraclete, đã nhắc Peter Đáng kính rằng Abelard đã yêu cầu được an táng ở Paraclete. Đích thân vị trưởng tu viện tốt bụng ấy đã mang thi thể của Abelard tới cho bà, và cố gắng an ủi bà bằng cách nói rằng Abelard như Socrates, Plato, và Aristotle của thời đại ông, và để lại cho bà một bức thư đầy sự dịu dàng của Cơ Đốc giáo:
Vì thế, hỡi xơ thân yêu và đáng kính, người đàn ông từng hợp làm một với bà bằng mối liên kết của tình yêu thần thánh, tuyệt vời và cũng bền hơn, sau mối liên kết bằng xương thịt,… Chúa Trời giờ đây mang ông ấy đi thay vì mang bà, hoặc mang ông ấy đi như một con người nữa của chính bà, cà sưởi ấm ông ấy trong lòng Chúa; và rồi đến ngày Ngài tới,… Ngài sẽ giữ ông ấy để rồi trả lại ông ấy cho bà, bằng ân huệ của Ngài.
Bà được sum họp với người tình đã mất của mình vào năm 1164, khi ấy bà đã sống tới tuổi bằng với tuổi thọ của ông, và nổi tiếng gần bằng ông. Bà được chôn cạnh ông trong khu vườn của Paraclete. Nhà thờ ấy bị tiêu hủy trong Cách mạng Pháp, và những ngôi mộ bị xáo trộn, và có lẽ đã bị lẫn lộn. Những phần được người ta tin, một cách có cơ sở hợp lý, là phần còn lại của Abelard và Héloise được chuyển đến cho Nghĩa địa Cha Lachaise ở Paris vào năm 1817. Ở đó, thậm chí ở thời đại chúng ta, người ta vẫn có thể thấy đàn ông và phụ nữ, vào một ngày Chủ nhật mùa hè, mang hoa đến để tô điểm cho ngôi mộ ấy.
THÀNH TỰU CỦA THỜI TRUNG CỔ
Đầu tiên là sự chuyển mình của châu Âu Trung Cổ - phía Bắc Sông Rhône, Sông Rhine, và sông Danube - từ một vùng hoang sơ gồm rừng, rừng già, và đầm lầy, trở thành nền móng thuở sơ khai của những nền văn minh mới và tồn tại lâu dài. Đàn ông và phụ nữ mở những con đường, đào những con kênh, đào những giếng và hầm mỏ, xây dựng những ngôi nhà, thuần hóa chính họ và những động vật có ích, tổ chức ra các làng, thị trấn, và thành phố, xây dựng luật pháp, tòa án, nghị viện, và khép người trẻ vào kỷ luật thông qua thẩm quyền của cha mẹ, trường học, và tôn giáo.
Người thời Trung cổ mạo hiểm đặt tất cả vào tôn giáo. Anh ta đã nhìn thấy, hoặc đã được kể về, một nền văn minh La Mã chết dần chết mòn cùng cái chết của các vị thần của nó, hoặc sự suy giảm trong nỗi kính sợ của con người đối với các vị thần kể từ cái chết của họ; anh ta đã biết đến, ngay từ khi anh ta còn trẻ, sức mạnh và sự bền bỉ của những thói quen và khao khát phi xã hội; và khi trưởng thành, anh ta chào đón những niềm tin thần học, tôn giáo, những điều răn luân lý, những lời hô hào của các linh mục, và những nỗi kinh hoàng mang tính tôn giáo, những thứ mà theo cách nào đó có thể kiểm soát sự kiêu hãnh lẫn sự láo xuỢC của những người trẻ, tội ác của người trưởng thành, và những cuộc chiến tranh lẫn tội ác của các quốc gia.
Anh ta chào đón một Giáo hội có thể dạy cho những người man di trở thành các công dân văn minh, khuyến khích sự trinh bạch và lòng hào hiệp, và thuyết phục những chiến binh trở thành những quý ông. Anh ta căm phẫn sự lười biếng của các tu sĩ, biết ơn sự tận tụy dâng hiến của các nữ tu, và trân trọng việc tổ chức những hoạt động từ thiện của các tu sĩ. Anh ta tự hào và hạnh phúc về những nhà thờ chính tòa, mỉm cười với những khung cửa sổ sáng sủa của chúng, cười với những bức tượng gargoyle*, và có thể nhìn thấy trong những dấm chống bay* của nhà thờ ấy hình ảnh những dòng nước từ đài phun bị đông cứng trong khi đang tuôn trào. Anh ta tự hào được thuộc về một Giáo hội mà những giáo hoàng của nó có thể điều khiển các nhà nước và trừng phạt các ông vua.
Thời gian làm tăng sức mạnh cho Giáo hội bằng việc gia tăng của cải và sự mở rộng của nó; thời gian làm Giáo hội suy yếu bằng cách tạo điều kiện cho sự sung túc của những người không theo giáo phái nào, cho chủ nghĩa cá nhân phiền nhiễu, cho những thủ đoạn chính trị, và cho giới trí thức đầy hoài nghi. Giáo hội đã đóng góp một phần quan trọng vào việc xây dựng các viên đại học với sự lộng lẫy và sức ảnh hưởng sánh ngang với các nhà thờ chính tòa; Giáo hội đã cung cấp và huấn luyện phần lớn các giáo viên và tôn vinh họ bằng những y phục tôn giáo;nhưng càng lúc những người này càng theo đuổi tri thức và sự thăng tiến ở các lĩnh vực thế tục, thay vì đức tin tôn giáo và sự nghiệp trong giới tăng lữ. Các tăng lữ lẫn những người không có chức sắc trong Giáo hội, những người cùng tham gia vào tìm kiếm, bảo tồn, và biên tập các bản thảo cổ đại đã phát hiện ra sức hút và chiều sâu của văn chương và triết học của văn minh cổ đại, và bắt đầu nói chuyện về Plato với sự say mê còn hơn khi nói chuyện về Christ.
Linh hồn Trung Cổ, như một tế bào đang căng lên, VỠ tung thành hai sinh thể lịch sử: phía Nam là trường phái Phục hưng đa thần, cổ điển (classical), theo chủ nghĩa hưởng thụ của Epicurus, và phía Bắc là trường phái Cải cách Thanh giáo, giáo phụ (patristic), theo chủ nghĩa khắc kỷ của Zeno. Nó trở thành hai văn hóa đầy sức ảnh hưởng, và thông qua chúng làm tròn một nhiệm vụ lịch sử: cứu rỗi và lưu truyền văn minh.
Cái chết của nó chính là cách nó làm tròn vai trò.