Năm 1309, ngai Giáo hoàng đã bỏ rơi Rome, xem nó như một thành phố bất trị, và tự thiết lập ở Avignon, nơi nó trở thành một tù nhân của các vị vua Pháp, trong sự thống khổ của phần lớn những tín đồ Cơ Đốc giáo.
Sau năm 1377, chế độ giáo hoàng tự phân chia thành các nhóm thù địch, với các giáo hoàng đối địch nhau ở Rome và Avignon, trong khi, ở phía bên kia Địa Trung Hải, ở châu Phi và châu Á,một tôn giáo thờ Mohammed, cường dùng và hiếu chiến, lan tỏa và nhân lên về Số lượng tín đồ, đe dọa sự sống còn của Cơ Đốc giáo. Tình trạng Ly giáo Giáo hoàng (Papal Schism)này tiếp tục cho đến khi các giáo chủ, các ông hoàng và các học giả hội họp ở Constance vào năm 1414, và, sau 3 năm tranh luận và đàm phán, đã chọn Hồng y Giáo chủ Oddone Colonna làm giáo hoàng, người sau đó lấy tên là Martin V. Ông phục hồi quyền lực tối cao của ngôi vị giáo hoàng lên các hội đồng và nhanh chóng làm ngân khố của giáo hoàng đây lại, trước sự khó chịu của những tín đồ Công giáo ở phía Bắc dãy Alps. Năm 1430, một phái viên người Đức tới Rome đã rụng hồi chuông cảnh báo về cuộc Cải cách Kháng nghị năm 1517:
Sự tham lam đang ngự trị ở ngôi quyền lực tối cao trong thánh đường Rome, và ngày qua ngày, nó tìm được những phương tiện mới… để moi tiền từ đất Đức, lấy cớ rằng đó là giáo phí… Đó là nguyên nhân của nhiều phản đối kịch liệt… và sự phẫn nộ hừng hực; người ta cũng sẽ dấy lên nhiều câu hỏi về chế độ giáo hoàng, nếu không họ sẽ hoàn toàn không thừa nhận việc phục tùng giáo hoàng, để thoát khỏi những đòi hỏi và sách nhiễu quá đáng đến mức không thể chấp nhận được này của những người Ý; và khả năng thứ hai này, theo cảm nhận của tôi, là điều chấp nhận được đối với nhiều quốc gia.
Những điều này kéo theo một cuộc cạnh tranh bán Công khai, giữa phong trào Cải cách kháng nghị mới ra đời và phong trào Phục hưng đang đến độ chín muồi, để giành quyền kiểm soát thu nhập và tư tưởng của Giáo hội Rome. Chính Martin đã bổ nhiệm một trong những người nổi bật theo chủ nghĩa nhân văn - Poggio Bracciolini - vào vị trí thư ký giáo hoàng. Người kế nhiệm Martin, Eugenius IV (khoảng 1431-1447), vốn đã về với phe Phục hưng từ trước khi lên ngôi, và giúp đỡ phong trào này bất kể nhiệm kỳ giáo hoàng đầy khó khăn của ông ta đang dẫn ông ta đến đâu. Bị buộc phải rời khỏi Rome do một cuộc nổi dậy của quần chúng do Colonna lãnh đạo, ông tháo chạy cùng cha phó của mình tới Ferrara và triệu tập tới đó một hội đồng giám mục và Hồng y Giáo chủ mới.
Một sự kiện đánh dấu một kỷ nguyên mới trong lịch sử quân sự khi ấy đã tạo điều kiện thuận lợi cho những dự tính của ông ta. Khi những người Turk đang tiến quân thần tốc tới gần Constantinople, mang theo Hồi giáo, các lãnh tụ của Cơ Đốc giáo phương Đông tháo chạy từ thủ đô cổ đại của họ sang đất Ý, và đề xuất được hội ý với các giám mục phương Tây để thống nhất Cơ Đốc giáo Hy Lạp và Cơ Đốc giáo vùng Latin. Eugenius chào đón họ ở Ferrara và cho vài một hội đồng Công giáo La Mã tới để hội ý với họ. Tại đó, trong suốt 8 tháng, các giám mục này tranh luận về những điều cơ bản trong đức tin tôn giáo mà họ yêu quý. Khi bệnh dịch bùng phát ở Ferrara, Cosimo de Medici đã mời các giám mục này chuyển các hội đồng của họ tới Florence; họ tới, Eugenius đi cùng họ; Cosimo và các bạn của ông đối xử với họ bằng sự kính ngưỡng, chu cấp cho họ, và mua những thư tịch còn lưu lại từ thời cổ đại của họ. Eugenius bổ sung vào ban thư ký của ông ta Flavio Biondo, Leonardo Bruni, và những người Ý khác cũng theo chủ nghĩa nhân văn, những người có thể đàm phán với người Hy Lạp bằng tiếng Hy Lạp. Những giám mục không còn chốn nương thân này nhất trí thống nhất các Giáo hội và tín ngưỡng ở Hy Lạp và La Mã. Nhưng các linh mục và quần chúng của vùng theo Cơ Đốc giáo ở phương Đông không chấp nhận thỏa thuận này, người Turk chiếm Constantinople; cuộc ly giáo vĩ đại của Cơ Đốc giáo phương Đông ra khỏi Cơ Đốc giáo phương Tây vẫn tiếp tục; nhưng Giáo hoàng Eugenius, với lực lượng được hậu thuẫn bởi các chuyên gia về văn minh cổ đại, mang Phục hưng tới Rome.
NHỮNG GIÁO HOÀNG HỌC GIẢ
Nằm trong số những học giả đầy nhiệt huyết mà Eugenius yêu quý khi còn ở Florence là Tommaso Parentucelli, một linh mục trẻ, người đã tiêu toàn bộ tiền bạc của mình vào những cuốn sách, được mượn hoặc mua, và khao khát quy tụ được tất cả những cuốn sách hay trên thế giới về một thư viện.
Năm 1443, Eugenius bổ nhiệm ông vào vị trí tổng giám mục, năm 1446, vào vị trí Hồng y Giáo chủ; năm 1947, Hội nghị Hồng y Giáo chủ bầu ông vào vị trí giáo hoàng. Ông thốt lên: “Ai mà có thể nghĩ được rằng một người kéo chuông cho một linh mục sẽ được bầu vào vị trí giáo hoàng, trước sự bối rối của niềm kiêu hãnh?” Đó là một điểm dân chủ của Công giáo: bất cứ thanh niên bình thường nào cũng đều có thể lên tới vị trí giáo hoàng. Những người theo chủ nghĩa nhân văn ở Y hân hoan, và một trong số họ tuyên bố rằng dự báo của Plato đã trở thành sự thật: một triết gia đã trở thành vua.
Nicholas V, như cách ông gọi chính mình lúc này, có ba mục tiêu: làm một giáo hoàng tốt, xây dựng lại thành Rome, và phục hồi văn chương, học thuật, và nghệ thuật cổ điển. Có được tất cả những thu nhập từ vị trí giáo hoàng, ông cử người đại diện tới Athens, Constantinople, Đức, và Anh để tìm kiếm và mua - hoặc sao chép - các thư tịch viết bằng tiếng Hy Lạp hoặc tiếng Latin, Cơ Đốc giáo hoặc đa thần; ông đặt một đoàn gồm nhiều người sao chép và biên tập viên ở Vatican; ông gọi gần như mọi nhà nhân văn chủ nghĩa xuất chúng ở đất Ý tới Rome; và ông trả Công cho những học giả này một cách hào phóng tới mức khiến những nhà tài trợ của ông phải cảnh giác và các tỉnh thành phải khổ sở, các nhà phê bình táo bạo lên án rằng những khoản tiền quyên góp và ủng hộ của những người mộ đạo đang bị tiêu vào những thứ phù phiếm của văn chương đa thần và những thứ xa xỉ của các Hồng y Giáo chủ có tư tưởng hoài nghi.
Khi Nicholas yêu cầu rằng một phần mười toàn bộ thu nhập của Tây Âu phải được dồn cho một cuộc Thập tự chinh để thu lại thành Constantinople từ tay người Turk (năm 1453), châu Âu gần như không lắng nghe yêu cầu này. Nicholas đã phải cúi đầu trước hiện thực, và trong huyết quản của ông, niềm khao khát đối với cuộc sống đã nguội lạnh. Ông mất vào năm 1955, thọ 58 tuổi. Ông đã hào phóng tới mức hoang phí và ngông cuồng, nhưng ông đã khôi phục hòa bình trong Giáo hội và đã mang trật tự và huy hoàng trở lại với thành Rome; ông đã sáng lập Thư viện Vatican và đã thống nhất thế giới Công giáo với thế giới cổ điển, Giáo hội với Phục hưng.
Cuộc hôn phối này dường như trở nên hoàn chỉnh dưới thời Giáo hoàng Pius II. Sinh ra ở Siena năm 1405, thuộc gia tộc xuất chúng Piccolomini, ông được đặt tên thánh là Enea Silvio; nhưng ông ký trên hầu hết những bài biết của mình (gần như tất cả đều bằng tiếng Latin) là “Aeneas Silvius”, theo tên của Aeneas trong trường ca Aeneid của Virgil; và thậm chí cái tên của ông khi ở vị trí giáo hoàng cũng bắt chước tính từ mà Virgil thích dùng để nói về vị anh hùng trong tác phẩm của ông ta - pius; nghĩa là “cung kính” và trung thành với cha mẹ hoặc đất tổ. Từ này xứng với ngôi vị giáo hoàng hơn là chính người đàn ông này, bởi trong 53 năm trước khi làm giáo hoàng, ông đã tận hưởng tất cả những sự lỏng lẻo dễ dãi về luân lý của thời kỳ ấy. Ông đã thử qua cả tá phụ nữ, và viết cho một người bạn một bức thư tình được chủ định viết ra để làm tan chảy tính bướng bỉnh của một cô gái thích hôn nhân hơn là quan hệ tình dục trước hôn nhân. Giữa nhiều mối quan hệ ngoài hôn nhân, ông vẫn chung thủy chỉ với văn chương, yêu những tác phẩm kinh điển cổ đại và viết bằng thứ tiếng Latin tuyệt vời nhất trong thời đại của ông. Bởi tiếng Latin khi ấy là ngôn ngữ giao thiệp và ngoại giao, ông dễ dàng tìm được nhiều công việc khác nhau, được giao bởi những người tình cho tới những ông vua.
Năm 1945, Frederick III, người đứng đầu chính quyền phi tôn giáo của Đế chế La Mã Thần thánh, cử ông với tư cách phái viên tới gặp Eugenius IV. Silvius, người đã công kích Eugenius trong vô số bài luận ngắn, đã xin lỗi một cách trôi chảy và thuyết phục tới mức vị giáo hoàng theo chủ nghĩa nhân văn ấy dễ dàng tha thứ cho ông, và từ thời điểm đó, học giả lang thang kia thuộc về giáo hoàng. Ông trở thành một linh mục (năm 1446), và ở tuổi 41 ông hiến mình cho sự trinh bạch; kể từ đó ông sống một cuộc đời mẫu mực. Năm 1949, ông được bổ nhiệm vào vị trí giám mục vùng Siena;năm 1456 ông trở thành Hồng y Giáo chủ Piccolomini; năm 1958, ông được chọn làm giáo hoàng.
Giờ đây ông đã 53 tuổi, và cuộc đời phiêu lưu đã lấy đi của ông nhiều sức lực đến nỗi lúc này ông dường như đã già. Ông không hề cố gắng giấu giếm những lỗi lầm và những mối tình thời thanh niên của mình; ngược lại, ông ban hành công khai một Sắc lệnh Thu hồi, cầu xin Thượng Đế và Giáo hội tha thứ cho ông. Ông đã trở thành một người theo chủ nghĩa nhân văn ở Florence, và giờ đây ông đã đưa các học giả Platina và Biondo vào ban thư ký của mình, nhưng ông không trả cho họ những khoản tiền khiến người ta phải phấn khích. Những vấn đề to lớn hơn thu hút tâm trí của ông: người Turk, mang theo một tôn giáo đối địch với Công giáo, đang tiến về phía Vienna và vào Serbia và Bosnia; chẳng mấy chốc họ sẽ tới vùng ven biển Adriatic; thứ gì có thể ngăn họ vượt qua vùng biển ấy để rồi tiến vào nước Ý đang bị chia rẽ và đầy xung đột?
Pius II kêu gọi một cuộc Thập tự chinh nữa; ông cầu xin các Thế lực phương Bắc gửi các hạm đội tới hội quân với các hạm đội của ông - chỉ Venice nghe theo lời kêu gọi này. Pius lãnh đạo một đội tàu đi vòng quanh nước Ý, tới Ancona, và chờ đợi người thành Venice trong hy vọng. Ông chết do kiệt sức ngay khi họ tới nơi. Người ta tổ chức cho ông một tang lễ trang nghiêm trọng thể ở Rome, nhưng cuộc Thập tự chinh đã ra đi cùng ông.
Tôi lướt qua Giáo hoàng Sixtus IV, người đã lãnh đạo Giáo hội từ năm 1471 tới năm 1984, đưa nó từ trạng thái gần như phá sản vượt qua tình trạng gia đình trị và chiến tranh, xây dựng Nhà nguyện Sistine mang tên ông, xây dựng lại Thư viện Vatican, bổ sung 1.100 thư tịch thời cổ đại vào 2.527 thư tịch khác vốn đã được lưu ở đó, và giao cho Torquemada nhiệm vụ điều hành Tòa án dị giáo ở Tây Ban Nha. Tôi đáng lẽ nên tận hưởng việc được nói đôi lời tốt đẹp về Giáo hoàng Alexander VI, và thậm chí về người con vô lương tâm Caesar Borgia của ông ta, nhưng tôi sẽ lướt nhanh sang Giáo hoàng Julius II và đỉnh cao của Phục hưng thành Rome.
JULIUS II
Julius là một vị tướng tài giỏi và can đảm đến mức không gì lay chuyển được, người đã lãnh đạo hoặc phái hết đoàn quân này đến đoàn quân khác tới chiếm lại các Lãnh địa của Giáo hoàng cho ngôi giáo hoàng, như những bước đệm cần thiết để chống lại những Công quốc đang bao vây giáo hoàng, hau háu nhắm tới quyền kiểm soát Giáo hội. Ông là một nhà quản trị Công việc và con người đầy quyền uy. Chúng ta vẫn có thể cảm nhận được chiều sâu và sức mạnh trong tính cách của ông từ bức chân dung sâu sắc mà Raphael đã vẽ, được đặt ở Cung điện Pittitại Florence. Dưới thời của ông, Raphael và Michelangelo đã đạt được đỉnh cao mãn nguyện của cuộc đời họ.
RAPHAEL
Raphael sinh năm 1983, là con của Giovanni Santi, họa sĩ Số một ở Urbino. Ông được đặt tên theo tên của thiên thần đẹp nhất trong các đại thiên thần và lớn lên trong không khí của nghệ thuật. Sau tuổi trẻ hạnh phúc ấy, ông chuyển sang ở Perugia, nơi, trong ba năm dưới sự dẫn dắt của Perugino, ông học vẽ những bức tranh Đức Mẹ đầy tinh thần mộ đạo. Thế rồi Pinturicchio dụ ông tới Siena và dạy cho ông rằng một người phụ nữ có thể là một nữ thần sắc đẹp mà không nhất thiết phải là Mẹ của Chúa. Phần đa thần trong Raphael - phần sau này khiến cho phòng tắm của một Hồng y Giáo chủ trở nên thú vị hơn với các hình khỏa thân hồng hào tươi vui - đã lớn lên trong tâm hồn người nghệ sĩ đáng mến này, cùng với lòng mộ đạo mà sau này sẽ tạo ra tác phẩm Đức Mẹ Sistine (The Sistine Madonna).
Năm 1508, tại Florence, ông nhận được lời mời từ Julius II để tới và làm việc cho ông ta tại Rome. Ông vui vẻ lên đường, bởi vì khi ấy chính Rome, chứ không phải Florence, mới là trung tâm của Phục hưng, một nơi khiến người ta phấn khích và bị kích thích. Julius đã lập ra ở Vatican một số phòng quản trị hành chính, và những bức tường của các phòng này có vẻ cần được trang trí theo cách hoàn toàn mới. Trong một cuộc hội ý giữa các mục sư và học giả, một kế hoạch đã được lập ra để thể hiện sự hợp nhất của tôn giáo và triết học, của văn hóa cổ điển và Cơ Đốc giáo, của Giáo hội và Nhà nước, trong sự văn minh của Phục hưng.
Raphael làm việc với dự án này trong suốt bốn năm rưỡi, với sự cẩn trọng và cống hiến gần như của một tín đồ sùng đạo. Trên một bức tường, ông vẽ hình những ngôi vị trong Ba Ngôi của Cơ Đốc giáo, với Mary ở gần họ; trong một đám mây xung quanh họ là Adam, Abraham, Moses, David, Peter, và Paul, và những anh hùng khác trong Tân Ước và Cựu Ước, kết nối họ trong sự thống nhất liên lạc mang tính khai sáng của hai tôn giáo; tiểu thiên sứ và đại thiên sứ lướt qua không trung cứ như thể đang bay trên những đôi cánh của những bài ca; bên dưới họ, các mục sư và triết gia đang tranh luận về giáo lý về Tiệc Thánh; và những nhân vật con người được cá nhân hóa như để khiến mỗi nhân vật là một bản hồi ký. Toàn bộ bức Cuộc tranh luận kề Lễ ban phước (Disputa del Sacramento) được vẽ bởi một thanh niên 28 tuổi.
Nhưng liệu vị tướng đánh thuê cầm cọ này có thể thể hiện vai trò của khoa học và triết học đối với loài người, cũng với sức mạnh và sự hoành tráng như thế kia? Chúng ta không có bằng chứng nào cho thấy Raphael đã từng đọc nhiều, ông nói bằng cây Cọ và lắng nghe bằng đôi mắt; ông sống trong một thế giới của hình dạng và màu sắc, một thế giới trong đó từ ngữ là những thứ vặt vãnh, trừ phi chúng sinh ra trong những hành động quan trọng của đàn ông và phụ nữ. Ông hẳn đã phải chuẩn bị bằng cách gấp rút nghiên cứu, bằng việc vùi đầu vào những tài liệu về Plato và Diogenes Laertius và Marsilio Ficino, và bằng những cuộc đàm luận khiêm nhường với các trí thức, để giờ đây vươn đến được khả năng thai nghén ý tưởng tuyệt vời. Trường học Athens - 50 nhân vật tóm tắt nhiều thế kỷ phát triển của tư tưởng và trí tuệ Hy Lạp phong phú, và tất cả quy tụ trong một khoảnh khắc bất tử dưới lớp trần cong, được chia thành nhiều Ô lõm, của một lối vào dạng cổng vòm (portico) khổng lồ thể hiện tư tưởng đa thần.
Trong bức tranh này, trên bức tường đối diện trực tiếp với sự tôn sùng dành cho tư tưởng thần học trong bức Cuộc tranh luận, là sự tôn vinh dành cho triết học: Plato với cặp lông mày như của Thần Jupiter, đôi mắt sâu, mái tóc và bộ râu trắng suôn mượt, với một ngón tay chỉ lên trên về phía nhà nước hoàn hảo của ông; Aristotle đi lặng lẽ bên cạnh ông, trẻ hơn 30 tuổi, đẹp đẽ và vui tươi, giơ bàn tay úp xuống ra trước, như thể để đưa những tư tưởng duy tâm bay bổng của thầy ông về lại với mặt đất và với những điều khả dĩ; Socrates đang đến những cuộc tranh luận của mình trên đầu ngón tay, với Alcibiades, tay cầm vũ khí, lắng nghe ông một cách trìu mến; Pythagoras cố gắng giam giai điệu của các hành tinh vào trong những thang hòa âm;một quý cô trẻ đẹp, có khả năng là Aspasia; Heracleitus viết những ẩn ngữ của người Ephesus, Diogenes nằm một cách vô tư, cởi bỏ áo lễ phục, trên những bậc thềm bằng đá cẩm thạch; Archimedes về những hình thuộc môn hình học lên một phiến bảng bằng đá cho bốn thanh niên khác, những người đang hoàn toàn bị thu hút, nhìn vào; Ptolemy và Zoroaster bàn luận về các hành tinh, một cậu bé ở bên trái bức tranh đang chạy tới một cách hăm hở cùng những cuốn sách trên tay, hẳn là đang tìm một chữ ký; một người đàn ông chăm chỉ đang ngồi trong một góc để ghi chép; ở bên trái, ghé mắt nhìn ra, là Federigo nhỏ bé của Mantua, đứa trẻ cưng của Julius; lại một lần nữa là Bramante; và náu mình một cách khiêm tốn, gần như không được nhìn thấy, là chính Raphael, lúc này đang để ria mép. Còn rất nhiều nhân vật nữa, và chúng ta sẽ thư thả để những học giả uyên thâm tranh luận về danh tính của những nhân vật này; xét một cách tổng quát, trước đó người ta chưa bao giờ vẽ một nghị viện về trí tuệ như vậy, có lẽ còn chưa bao giờ thai nghén ý tưởng về nó. Và ở đây không có một lời nào nói về dị giáo, không một triết gia nào bị thiêu trên giàn; ở đây, dưới sự bảo hộ của một giáo hoàng quá vĩ đại để làm ầm lên vì những điểm khác biệt giữa lỗi này với lỗi kia, tín đồ Cơ Đốc giáo trẻ tuổi này bỗng chốc đã đưa tất cả những người theo tư tưởng đa thần này về một chỗ, vẽ ra họ với cá tính của từng người và bằng sự thấu hiểu và đồng cảm phi thường, và đặt họ ở nơi mà các mục sư có thể nhìn thấy họ và trao đổi về những sai sót có khả năng đã xảy ra, và nơi giáo hoàng, giữa lúc xem xét một văn bản này và một văn bản khác, có thể sẽ ngẫm nghĩ về quá trình xử lý và kiến tạo mang tính hợp tác để tạo ra tư duy và tư tưởng của con người.
Bức tranh này và bức cuộc tranh luận là những hình mẫu lý tưởng của Phục hưng - sự cổ điển đa thần và đức tin Cơ Đốc giáo cùng nhau tồn tại bên trong một không gian và với sự hòa hợp. Những bức tranh đối nghịch nhau này, xét tổng thể tất cả những yếu tố bao gồm ý tưởng, cách bố trí, và sự hài hòa của chúng, chỉ thua các tác phẩm của Michelangelo, Tintoretto, và Veronese, và không có đối thủ nào xứng tầm nếu xét về khả năng thể hiện mối lương duyên giữa Hy Lạp của Pericles và Rome của Leo. Gần như cùng lúc (vào năm 1508-1512) với khoảng thời gian Raphael làm việc cho Julius II (1505-1512), nhân vật mà ở ông hội tụ những tinh túy của Phục hưng, cũng dưới sự giám sát tỉ mỉ của giáo hoàng, đã vẽ lên trần của Nhà nguyện Sistine.
MICHELANGELO
Michelangelo, cũng giống như Raphael, được đặt tên theo một đại thiên sứ, sinh năm 1975, là con trai thứ hai của Lodovico Buonarotti Simone, thị trưởng của thị trấn nhỏ Caprese, trên đường từ Florence tới Arezzo.
Michelangelo tự hào vì mang trong mình dòng máu của một hoặc hai dòng dõi cao quý, các nghiên cứu đã chứng minh rằng ông đã lầm, nhưng có thể những nghiên cứu ấy đã xác định sai các định nghĩa. Ông được đi học ở Florence, nhưng ông không học một chút tiếng Latin nào và chưa bao giờ cảm nhận được sự thôi miên, một thứ khiến người ta bình tâm lại, của tư tưởng từ văn minh cổ đại, ông là một người mang tư tưởng của văn minh Do Thái hơn là văn minh cổ đại, theo Tin Lành hơn là Công giáo, mặc dù ông đã thiết kế ra tòa thành mang quyền lực áp đảo của Giáo hội.
Ông thích vẽ hơn viết, và với ông việc viết là một sự suy đồi của vẽ. Ông thích điêu khắc hơn vẽ tranh, và sớm có được quyền vào thăm những khu vườn mà trong đó nhà Medici trưng bày các bộ sưu tập tượng và kiến trúc Cổ đại của họ. Hài lòng với sự nhiệt thành và những sản phẩm của chàng thanh niên Michelangelo, Lorenzo đã thu nhận Michelangelo vào gia đình, đối xử với ông như con trai, và thường xuyên để ông ngồi cùng bàn với Politian, Ficino, Pico della Mirandola, và cả chính Lorenzo. Ở đó, Michelangelo được nghe những cuộc bàn luận khai sáng nhất về chính quyền, văn chương, triết học, và nghệ thuật.
Nhưng cộng đồng quý tộc ấy đã đánh mất đạo đức Cơ Đốc giáo lẫn tín điều Cơ Đốc giáo, và cho rằng khu vườn của Epicurus còn dễ chịu hơn khu vườn Gethsemane*. Trong những năm ấy, Savonorola thuyết giảng về những phúc âm đầy nhiệt huyết của ông, những phúc âm về cuộc cải cách Thanh giáo gần như mang tính khổ hạnh; Michelangelo thường xuyên tới nghe ông thuyết giảng, và không bao giờ quên ông. Khi Savonarola qua đời (năm 1498), một điều gì đó trong tinh thần của ông đã lưu lại trong người nghệ sĩ u sầu này - sự khinh miệt đối với sự suy đồi phàm tục tại những thủ phủ của nước Ý, một sự oán hận mãnh liệt đối với chế độ chuyên quyền, một linh cảm u ám về sự sụp đổ. Khi vẽ bức tranh Sự phán xét cuối cùng, ông đã phóng cơn thịnh nộ của Sayonarola đi hàng thế kỷ.
Năm 1996, ông chấp nhận lời mời của một Hồng y Giáo chủ để đến thăm Rome. Tại đó, theo một hợp đồng với ngài đại sứ nước Pháp, ông đã tạo ra bức tượng Nỗi bị thương (Pieta), được đặt trong Thánh đường Thánh Peter, cho đến nay nó vẫn khiến chúng ta phải sửng sốt: Đức mẹ Đồng trinh ôm người con trai đã bị đóng đinh của bà vào lòng. Michelangelo khi ấy mới chỉ 23 tuổi, và bức tượng cho thấy những lỗi mà tuổi trẻ của ông có thể là lý do để biện hộ - quá nhiều vải xếp, bàn tay của Đức Mẹ quá nhỏ so với cơ thể bà, bàn tay trái của bà giơ trong không trung một cách khó hiểu, khuôn mặt của một người phụ nữ còn trẻ hơn cả khuôn mặt của con mình. Nhưng hình tượng Christ, cạn sinh khí và gần như chỉ còn da bọc xương, nghệ thuật điêu khắc nếp vải suôn mềm trên đá, hai con người nhỏ bé hàm chứa bản chất cốt lõi của lịch sử loài người, với ý nghĩa một cuộc đua giữa tình mẹ và cái chết: điều này, như các căn phòng stanze* của Raphael, tiết lộ việc một nghệ sĩ phải trưởng thành nhanh như thế nào trong sức nóng và cuộc đua của Phục hưng.
Tiếng kêu của những người thân đang sống trong nghèo đói đưa nhà điêu khắc ấy, lúc này đã nổi tiếng, trở về Florence. Ở đó, vào năm 1501, Ban Công trình của nhà thờ chính tòa đã thách ông tạc tượng người từ một phiến đá cẩm thạch cao hơn 4m, một phiến đá có hình dạng bất thường đến mức nó nằm đó mà không được sử dụng trong cả một thế kỷ. Michelangelo làm việc vất vả trên nguyên liệu khó nhằn này trong hai năm rưỡi, sử dụng đến từng centimet chiều cao của nó, và từ đó tạc ra bức tượng David hùng dũng một cách kiêu hãnh - đứng đó suốt hàng thế kỷ như sự thách thức của thành phố trước những kẻ thù của nó. Giorgio Vasari, nhà sử học nghệ thuật nổi tiếng, cho rằng người thanh niên khỏa thân một cách kiêu hãnh này đã vượt qua tất cả những bức tượng khác, cổ đại hay hiện đại, Latin hay Hy Lạp”.
Trong khi đó, Giáo hoàng Julius II rất mong muốn một lăng mộ có tầm cỡ và vẻ đẹp tương tự, như để nhắc nhở hậu thế, thậm chí cả những thế hệ xa xôi về sau, về những chiến thắng của ông trong chính trị và chiến tranh. Ông cho vời Michelangelo, người đã tới gặp Giáo hoàng bất chấp nỗi lo sợ rằng ông sẽ phải khổ sở với Julius II; họ quá giống nhau. Ông đề xuất một lăng mộ khổng lồ dài 8,2 m và rộng 5,4 m, với 40 bức tượng đúng phụng mệnh quanh một Julius đã nhập quan, vẫn có quyền uy áp đảo ngay cả khi đã chết. Giáo hoàng cho người nghệ sĩ 2.000 ducat*, điều ông tới Carrar để chọn lấy những vỉa đá cẩm thạch tốt nhất, và tự mình tham gia cuộc chiến để giành Perugia và Bologna. Cuộc chiến ấy quá tốn kém và không để lại một đồng ducat nào cho nghệ thuật, Michelangelo, khi xin được hội kiến và tìm ngân sách, đã bị từ chối cho vào gặp Giáo hoàng. Ông rời Rome sau khi gửi những lời này tới Julius: “Thưa Cha, người mà con yêu quý nhất trần đời, hôm nay con đã bị đuổi ra khỏi Cung điện theo lệnh của người; vì thế, Con báo với người rằng kể từ ngày hôm nay, nếu người muốn con, hãy tìm con ở nơi nào đó không phải thành Rome”.
Hai năm sau đó (năm 1508), khi con tức giận của ông đã nguội lại và hầu bao không còn đầy, Michelangelo nghe theo lời triệu tập của Julius và trở về Rome, hy vọng sẽ hoàn thành được lăng mộ kia. Ông lo lắng khi Giáo hoàng muốn ông vẽ lên trần nhà của Nhà nguyện Sistine; ông phản đối rằng mình chỉ là một người điêu khắc, không phải một họa sĩ, và đề xuất Raphael như một người phù hợp hơn cho nhiệm vụ này. Julius khăng khăng làm theo ý ban đầu, và đề xuất trả cho ông một khoản phí 3.000 ducat (khoảng 50.000 đô-la). Michelangelo chịu khuất phục, và bắt đầu, vào tháng Năm năm 1508, quãng thời gian bốn năm rưỡi lao động vất vả của ông với bức tranh đỉnh cao của Phục hưng này.
Hãy hình dung vị giáo hoàng già nua trèo lên cái khung yếu ớt, được người nghệ sĩ của chúng ta hỗ trợ để lên tới được sàn thao tác, và hỏi, một cách thiếu kiên nhẫn: “Khi nào nó sẽ được hoàn thành?” Theo những gì Vasari thuật lại, câu trả lời của người nghệ sĩ là một bài học về sự chính trực và nhất quán với các tiêu chuẩn nghệ thuật: “Khi con đã làm được tất cả những gì mà con tin là cần thiết để thỏa mãn nghệ thuật”. Khi Michelangelo bước xuống khỏi giàn giáo ấy lần cuối cùng, ông đã kiệt sức, gầy mòn đến hốc hác, và già trước tuổi. Khi ấy ông mới chỉ 37 tuổi, và vẫn còn 51 năm nữa để sống. Julius qua đời (ngày 21 tháng Hai năm 1513) bốn tháng sau đó.
Michelangelo xót thương cho sự qua đời của vị giáo hoàng vĩ đại và tự hỏi liệu vị giáo hoàng tiếp theo Có một cảm giác bản năng chắc chắn dành cho nghệ thuật vĩ đại như Julius. Ông rút lui về nơi ở khiêm tốn của mình và chờ đợi thời cơ.
LEO X
Vị giáo hoàng, người mà tên của ông đã trở thành tên của một trong những thời kỳ xuất sắc và cũng phóng túng nhất trong lịch sử, có được sự nghiệp Giáo hội của mình nhờ chiến lược chính trị của cha ông. Khi đó, cha ông, Lorenzo de Medici, gần như đã bị tiêu diệt hoàn toàn bởi Sixtus IV; ông ta hy vọng rằng việc Có một người Medici ngồi trong Hội đồng Hồng y Giáo chủ sẽ giúp ích cho quyền lực của gia tộc Medici và địa vị của con cháu ông ở Florence. Ông đã hoạch định cho con trai thứ hai của ông, Giovanni, đi theo sự nghiệp tăng lữ ngay từ khi Giovanni còn nhỏ.
Khi lên 7 tuổi, cậu bé ấy được làm lễ cạo đầu, khi lên 8 tuổi, cậu được phong tước Đức Ông đệ Nhất Đẳng; ở tuổi 14, cậu được phong Hồng y Giáo chủ. (Người ta có thể trở thành một Hồng y Giáo chủ mà không cần phải trở thành linh mục, các Hồng y Giáo chủ khi ấy được lựa chọn do năng lực chính trị và các mối quan hệ gia tộc hơn là do sự nhiệt thành với tôn giáo.)
Tất cả những người từng gặp Hồng y Giáo chủ de’ Medici đều mến ông. Ông hòa nhã, khiêm nhường, và hào phóng một cách không phô trương. Thậm chí nguồn thu nhập lớn của ông cũng khó có thể đủ để ông bảo trợ cho các nhà thơ, họa sĩ, nhạc công, nhà soạn nhạc, và học giả. Ông biết thưởng thức tất cả các môn nghệ thuật và những nét thanh nhã của cuộc sống: bất kể thế nào, sử gia Guicciardini, người không hề thích các giáo hoàng, đã mô tả ông có tiếng là người trong sạch, và có cách ứng xử không có gì để chê trách”; và Aldus Manutius đã tán thưởng “cuộc đời mộ đạo và không có gì để chê trách” của ông.
Năm 1513, ông được vài tới Rome để tham gia việc chọn một người kế nhiệm Julius. Khi ấy ông mới chỉ 37 tuổi và khó có thể nào ngờ được rằng mình sẽ được chọn làm giáo hoàng. Ông bước vào buổi họp kín của các Hồng y Giáo chủ trên một chiếc cáng, do khi ấy đang phải khổ sở vì chứng rò hậu môn. Sau một tuần tranh luận, và rõ ràng không có cuộc mua bán tước vị tôn giáo nào ở đây,Giovanni de Medici được bầu (ngày 11 tháng Ba năm 1513) vào vị trí giáo hoàng và lấy cái tên Leo X.
Ông vẫn chưa phải là một linh mục, nhưng khiếm khuyết này của ông được khỏa lấp vào ngày 15 tháng Ba. Mọi người đều bất ngờ và hài lòng. Sau những mưu đồ đen tối của Alexander và Caesar Borgia, và những cuộc chiến và thời kỳ rối ren của Julius, việc một người đàn ông trẻ tuổi, nổi bật nhờ bản tính tốt đẹp, giờ đây lãnh đạo Giáo hội, có lẽ theo những phương thức ôn hòa, khiến mọi người cảm thấy như trút được gánh nặng. Các nhà thơ, nhà điêu khắc, họa sĩ, thợ vàng hân hoan; những người theo chủ nghĩa nhân văn mong đợi một sự hồi sinh của Thời kỳ Augustus.
Hoàng triều của Leo trở thành trung tâm của tri thức và trí tuệ của Rome;nơi các học giả, nhà thơ, nghệ sĩ, và nhà soạn nhạc được chào đón, trả công, và trong nhiều trường hợp, được ở lại. Không có gì phải nghi ngờ khi nói rằng đây là cung điện tao nhã và giàu có nhất thế giới trong thời kỳ đó.
Rome phát triển thịnh vượng và mở rộng khi những khoản cống nạp thu được từ những người mộ đạo trên toàn châu Âu chảy vào các mạch kinh tế và văn hóa chủ đạo. Các giám mục và nhà thơ, những gã ma cô và đám người sống ký sinh, người đưa tin và những cô gái làng chơi hạng sang, hối hả tới Rome để được uống cơn mưa vàng ấy. Một số Hồng y Giáo chủ có khoản thu nhập 30.000 ducat mỗi năm (500.000 đô-la). Họ sống trong những cung điện nguy nga với số người hầu có thể lên đến 300, và được trang hoàng bằng mọi tác phẩm nghệ thuật và mọi món đồ xa xỉ mà người ta biết đến vào thời đó. Họ không thực sự nghĩ rằng họ là những tu sĩ; họ là các chính khách, các nhà ngoại giao, các nhà quản trị; họ là Nghị viện La Mã của Giáo hội Rome và định sống như những nghị viên. Họ cười vào những người nước ngoài, những người mong chờ ở họ sự thanh khiết, tiết chế và mộ đạo của những linh mục. Đế chế La Mã như thể đã được hồi sinh.
Luther đã tới, nhìn thấy điều này và bị sốc; Erasmus đã tới, nhìn thấy điều này và bị quyến rũ. Michelangelo đồng ý với Luther; ông yêu quý người dân thường hom quý tộc, người không biết chữ hơn người trí thức, sự vất vả của người lao động hơn những xa hoa của người giàu. Ông dành phần lớn thu nhập của mình để duy trì cuộc sống của những người thân lười nhác của ông.
Ông như một con gấu giữa cộng đồng con người - khom người nhưng đầy sức mạnh, với râu ria lông lá xồm xoàm và tóc tai bờm xờm như gấu, đôi mắt nhỏ và sắc, mũi khoằm, đôi tai vểnh; một cách tự nhiên, ông cảm thấy không thoải mái khi ở trong cung điện, vui vẻ khi ở một mình với các dụng cụ và những tưởng tượng của mình về sức mạnh nam tính trong nhân vật và khung hình. Ông ít quan tâm đến phụ nữ, ông vẽ họ, nhưng luôn vẽ họ trong trạng thái trưởng thành của người mẹ, chứ không phải trong sự quyến rũ của tuổi thanh xuân. Ông sống một cuộc đời bấp bênh, túng thiếu, thường chỉ ăn trưa bằng một miếng bánh mì, hoặc ngủ mà vẫn mặc quần áo làm việc, cứ như thể”, theo cách nói của Vasari,“ông không hề nghĩ đến việc cởi những thứ mà ông sẽ mặc lại”.
Leo, người đã quen với mọi phép tắc lịch sự trong lời nói và ăn mặc, đã học cách né tránh Michelangelo, và giao cho ông ta công trình lăng mộ của Julius, hoặc một số bức tượng Tù nhân đầy cơ bắp, hoặc một Moses đang an tọa với bộ râu, cặp sừng và vầng trán nhăn nheo, trình bày Bảng Luật để cảnh báo. Một cách tự nhiên, vị giáo hoàng vui vẻ thích Raphael, người giống ông về tính khí và sở thích. Cả hai đều là những người đáng mến theo chủ nghĩa hưởng thụ của Epicurus, những người biến đức tin Cơ Đốc giáo thành một niềm khoái cảm và tìm thấy thiên đường của họ ở đây, nhưng cả hai làm việc nghiêm túc không kém gì khi họ vui chơi.
Leo liên tục giao các nhiệm vụ cho người nghệ sĩ đang vui kia: hoàn thành các căn phòng stanze, thiết kế các khung phác họa (các bản vẽ phác họa cho các bức tranh hoặc thảm sắp được làm ra), cùng góp phần vào công trình Thánh đường Thánh Peter, chuẩn bị cho việc bảo tồn nghệ thuật của văn minh cổ đại. Raphael tiếp nhận các nhiệm vụ này với sự hân hoan và thích thú, và bên cạnh đó, ông dành thời gian để tạo ra rất nhiều bức tranh tôn giáo, một vài bức tranh tường mang tư tưởng đa thần, và 50 bức tranh vẽ Đức Mẹ hoặc chân dung của bất cứ ai đảm bảo sự giàu có và danh tiếng cho ông. Đến thời điểm này (năm 1515), ông đã vẽ bức Đức Mẹ Sistine cho nữ tu viện San Sisto ở Piacenza. Ở ông, và cũng thường thấy trong lịch sử Cơ Đốc giáo, Đức mẹ Đồng trinh phải chiến đấu trong một trận chiến nắm phần thua với những phụ nữ trẻ mang sắc đẹp dễ tiếp cận hơn, như trong bức Chân dung một phụ nữ trẻ (La Fornarina) ở Phòng trưng bày Borghese. Cuối đời, Raphael dành nhiều thời gian và sức lực hơn cho những vẻ quyến rũ chưa được hé lộ, và qua đời ở tuổi 37 (năm 1520). Tất cả những nghệ sĩ ở Rome đều theo đoàn đưa tang ông tới tận nghĩa trang.
Giáo hoàng mà ông yêu quý qua đời sau ông một năm. Leo được đưa vào giường bệnh, vào tháng Tám năm 1521, trong những giai đoạn đầu tiên của bệnh sốt rét, cơn đau dai dẳng của chứng rò hậu môn, và những nỗi lo ngày càng lớn về một cuộc chiến. Giống Julius II, ông ngày càng chuyển từ việc thưởng thức nghệ thuật sang việc truy cầu quyền lực quân sự. Ngày 1 tháng Mười Hai, ông vui mừng khi biết rằng lực lượng của giáo hoàng đã chiếm được Piacenza và Parma, trước đó, một lần, ông đã tuyên bố rằng ông sẽ vui vẻ từ bỏ sinh mệnh của mình nếu những thành phố ấy được bổ sung vào những vùng Lãnh địa của Giáo hội. Vào đêm ngày 1-2 tháng Mười Hai, năm 1521, ông qua đời, khi chỉ 10 ngày nữa là ông tròn 45 tuổi.
Ông là một người tốt, nhưng trở nên suy đồi dưới ảnh hưởng của tình yêu dành cho cái đẹp và việc đã quá quen với sự giàu có. Được nuôi lớn trong một cung điện, ông biết về sự xa xỉ cũng như nghệ thuật, và khi các khoản thu nhập của ngôi vị giáo hoàng được tin tưởng giao vào tay ông, chúng lọt qua khỏi những ngón tay bất cẩn của ông, trong khi bản thân ông tắm mình trong niềm hạnh phúc của những người nhận được tiền bảo trợ hoặc những khúc khải hoàn từ những cuộc chiến tốn kém. Ông làm cho các Lãnh địa của Giáo hoàng trở nên hùng mạnh hơn bao giờ hết, nhưng đã để mất đất Đức do những hành động sách nhiễu và sự phung phí của ông. Ông là một niềm vinh quang và cũng là nỗi bất hạnh của Giáo hội.
DEBACLE
Người trí thức bị vây hãm
Chúng ta hắn sẽ nâng nước Ý Phục hưng lên quá tầm vóc của nó, nếu như chúng ta không để ý rằng tại đó, cũng như tại những nơi khác, văn minh là của số ít, do số ít, và vì số ít.
Người dân thường đầu óc đơn giản cày cấy, kéo xe, và chịu những gánh nặng, lao động vất vả từ bình minh tới lúc tối mịt và vào buổi tối không còn chút sức lực nào cho việc tư duy, anh ta để những người khác nghĩ cho anh ta, cũng như những người khác khiến anh ta phải làm việc cho họ. Anh ta lấy quan điểm của mình, tôn giáo của mình, và những câu trả lời của mình cho những câu đố của cuộc sống từ thinh không xung quanh anh ta, hoặc từ ngôi nhà tranh của tổ tiên. Anh ta không chỉ tiếp nhận những ngạc nhiên kỳ thú, dễ chịu, truyền cảm hứng, và gây kinh hãi, những thứ mà theo đó tư tưởng thần học truyền thống được truyền tải tới anh ta hằng ngày, mà còn bổ sung vào đó những môn quỷ học, phép phù thủy, điềm báo, ma thuật, bói toán, và chiêm tinh học, những thứ tạo thành một bộ môn siêu hình học được quần chúng ưa chuộng, thứ mà Giáo hội phản đối, xem nó phiền phức còn hơn cả dị giáo. Machiavelli, mặc dù nghi ngờ tôn giáo, đã gợi đến khả năng rằng “không khí đầy những linh hồn”, và tuyên bố niềm tin của mình rằng những sự kiện vĩ đại được báo trước bởi những thiên tài, lời tiên tri, khải huyền, và “những dấu hiệu trên bầu trời”.
Đặc biệt lan rộng trong quần chúng là quan niệm rằng quỷ Satan, và một số lượng không lường được những con quỷ cấp thấp, lơ lửng trong không trung, và có thể sử dụng những quyền năng siêu nhiên để giúp đỡ những kẻ tôn thờ trung thành với chúng. Một tầng lớp phụ nữ tự nhận là có cách tiếp cận những con quỷ như vậy, và thông qua chúng tiếp cận được tri thức và quyền năng siêu nhiên. Năm 1984, một sắc lệnh của Giáo hoàng Innocent VIII đã cấm việc viện dẫn đến những phép phù thủy như vậy, và yêu cầu Tòa án dị giáo cảnh giác trước những hành vị thực hành những phép phù thủy ấy. Ông không định rõ bất cứ hình phạt cụ thể nào, nhưng Tòa án dị giáo, theo mệnh lệnh trong kinh Cựu Ước, “ngươi không thể sống mà chịu đựng một mụ phù thủy”, quy định phép phù thủy là tội tử hình; và vào năm 1985, chỉ riêng ở Como, 41 người phụ nữ đã bị thiêu chết vì tội làm phép phù thủy. Những vụ hành quyết như vậy nhân lên nhiều lần: 140 ở Brescia vào năm 1986, và thêm 300 người ở Como vào năm 1514, trong nhiệm kỳ giáo hoàng của Leo X, người có học thức và dịu dàng, hòa nhã.
Trong một môi trường như vậy, khoa học đã phản ánh thời đại; thực sự khoa học đã tụt xuống dưới mức mà trước đó nó đã đạt được ở thời Albertus Magnus trong thế kỷ 19. Không như nghệ thuật, nó không nhận được sự đồng tâm ủng hộ của những người không theo Giáo hội và Giáo hội. Môn khoa học duy nhất phát triển mạnh là y học, bởi ngoại trừ những ham muốn, người ta sẽ hy sinh bất cứ thứ gì để có được sức khỏe. Các thầy thuốc bị lên án vì lấy phí chữa trị cao, và bị ghen tị do địa vị xã hội cao và những bộ áo choàng màu hồng điều khiến người khác phải kinh ngạc. Họ đã phá tan ác cảm của thời Trung Cổ đối với việc mổ các thi thể; đôi khi các tu sĩ còn giúp họ. Năm 1319, các sinh viên y khoa ở Bologna ăn cắp một thi thể từ một nghĩa địa và mang nó tới chỗ một giáo viên ở Viện đại học Bologna, người đã mổ thi thể ấy để dạy cho các sinh viên, họ bị truy tố nhưng được tha bổng; và kể từ lúc đó, các nhà chức trách của chính quyền dân sự “mắt nhắm mắt mở cho sử dụng xác những tên tội phạm đã bị xử tử và không được ai nhận để phục vụ môn “giải phẫu học”. Không lâu sau đó, việc mổ xác người được thực hiện ở tất cả các trường y ở Ý, bao gồm cả các trường của giáo hoàng ở Rome. Dẫu vậy, đến năm 1500, giải phẫu học mới chỉ đạt được những kiến thức mà Hippocrates và Galen ở Hy Lạp và La Mã cổ đại đã có được.
Bộ môn phẫu thuật nhanh chóng được nhiều người biết đến, khi kho thủ thuật và dụng cụ phẫu thuật của nó đạt đến mức đa dạng và điêu luyện của y học Ai Cập cổ đại. Đến năm 1500, nhiều thầy thuốc châu Âu đã nhận ra ý tưởng bổ sung triết học vào y học của Hippocrates; họ dễ dàng nghiên cứu và giảng dạy hết từ môn này sang môn khác; và một số người trong số đó, cũng là thuộc giới thượng lưu, là một phần của thứ thần dược trong thời đại của họ.
Triết học Phục hưng
Nhìn thoáng qua, Phục hưng không cho ra được cái tên đáng nhớ nào trong triết học, không một ai có thể sánh với những ngôi sao sáng đầy sức sống mà Raphael đã khắc họa trong Trường học Athens, thậm chí còn không sánh được với thời hoàng kim của Triết học kinh viện, từ Abelard đến Aquinas. Dẫu vậy, nó có một nhân vật bị lãng quên quá mức - Pietro Pomponazzi - một người nhỏ bé đến nỗi những người quen gọi ông là Peretto -“Peter nhỏ bé”, và khi ông trình bày những tư tưởng dị giáo của mình bằng cách quy nó về với Aristotle, người khi ấy đã được đông đảo mọi người công nhận, ông đã xem bản thân như một con kiến khám phá một con voi. Nắm vị trí Giáo sư triết học ở Viện đại học Padua từ năm 1995 đến năm 1509, và rồi ở Viện đại học Bologna từ năm 1512 đến khi qua đời vào năm 1525, ông đã thoát khỏi sự truy cứu của Tòa án dị giáo vì ông có những người bạn mà không ai dám hỏa thiêu.
Trong tác phẩm quan trọng nhất của mình Chuyên luận về sự bất tử của linh hồn (Tractatus de immortalitate animae) (1516), ông đã diễn giải Aristotle theo hướng: Aristotle đã dạy rằng linh hồn của một cá nhân gắn chặt với cơ thể của anh ta theo cách không thể tách rời, và chết cùng cơ thể ấy, chỉ có linh hồn hay tâm trí của vũ trụ là bất diệt. Pomponazzi kết luật rằng với tư cách một nhà triết học, ông đồng ý với Aristotle, nhưng với tư cách một tín đồ Cơ Đốc giáo, ông Công nhận những giáo lý của Giáo hội. Đây là một trò né tránh cũ rích, và tất cả những người có kiến thức sâu trong lĩnh vực này đều mỉm cười trước trò né tránh này; và bởi quan điểm của Aristotle khi ấy vừa bị lên án bởi Công đồng Lateran thứ Năm (năm 1513) dưới sự chủ trì của chính Leo X, nhiều người bạn của Pomponazzi dự đoán rằng Tòa án dị giáo sẽ bắt giữ ông. Nhưng các nhà nhân văn chủ nghĩa Bembo và Bibbiena, khi ấy có vị trí cao trong các hội đồng của Leo, đã nói đỡ cho Pomponazzi trước vị giáo hoàng nhân từ, người đã bằng lòng với việc ra lệnh cho triết gia kia viết một bản cam đoan phục tùng Giáo hội. Trong Apologize libri tres (năm 1518), Pomponazzi đã cam đoan với thế giới rằng với tư cách một tín đồ Cơ Đốc giáo, ông Công nhận tất cả những giáo lý của Giáo hội.
Trong hai tác phẩm ít quan trọng, Pomponazzi, con người khôn ngoan đến cả khi chết đi rồi* đã phản đối nhiều điều mê tín, các câu thần chú ma thuật, và những phép chữa bệnh mang tính huyền bí, ông tuyên bố rằng tất cả các sự kiện trên trần thế đều có các nguyên nhân tự nhiên. Phép mầu là sự biểu hiện của các thế lực tự nhiên mà chúng ta chỉ mới hiểu được một phần. Ông nhượng bộ chiêm tinh học: cuộc đời của con người và lịch sử của các quốc gia - thậm chí của các tôn giáo - chịu ảnh hưởng từ hoạt động của các vì sao. Ông biện hộ cho tư tưởng rằng con người có tự do về ý chí, không chỉ bởi chúng ta dường như nhận thức được sự tự do ấy, mà còn bởi nếu không có nó, sẽ chẳng có cái gọi là trách nhiệm luân lý và tất cả trật tự xã hội sẽ phải dựa dẫm một cách bấp bênh vào sự sợ hãi đối với lực lượng trị an hoặc sự trừng phạt từ thánh thần. Bởi vậy, ông kết luận, các nhà lập pháp vĩ đại đã dạy về một niềm tin vào một tương lai của những phần thưởng và sự đau khổ, như một sự hỗ trợ không thể thiếu cho việc quản lý đất nước. Ông nói về những suy đoán của mình: “Những điều này không phải là để nói với những người dân thường, bởi họ không có năng lực tiếp nhận những bí mật này”.
Các tầng lớp dưới vẫn giữ đức tin yêu dấu của họ, bất chấp các nhà triết học có nói gì. Những người nghe theo Savonarola, với số lượng lên đến hàng nghìn, hẳn phải tin rằng lòng mộ đạo của họ vẫn có thể tồn tại sau khi họ trải qua giáo dục, và trường hợp của Vittoria Colonna cũng cho thấy điều này. Nhưng linh hồn của đức tin vĩ đại ấy đã bị xuyên thủng bởi những mũi tên của sự nghi ngờ, và sự huy hoàng mang chất Gothic của niềm tin huyễn hoặc thời Trung Cổ đã bị vàng bạc mà nó đã tích lũy được làm cho lu mờ.
MACHIAVELLI
Còn lại một người đàn ông, khó có thể phân loại hay xếp một chỗ cho ông: nhà ngoại giao, sử gia, nhà soạn kịch, triết gia; nhà tư duy cay nghiệt nhất thời đại của mình, ấy thế nhưng lại là một nhà yêu nước với một lý tưởng mãnh liệt; một người thất bại trong hầu hết mọi việc mà ông từng làm, nhưng để lại cho lịch sử một dấu ấn sâu sắc hơn bất cứ nhân vật nào của thời đại ấy.
Niccolo Machiavelli là con trai của một luật sư người Florence - một người đàn ông thuộc tầng lớp trung lưu, giữ một vị trí nhỏ trong chính quyền và sở hữu một biệt thự nhỏ ở miền đồng quê San Casciano, cách thành phố Florence khoảng 16 km. Cậu bé Machiavelli nhận được hình thức giáo dục văn chương thông thường, học cách đọc tiếng Latin một cách dễ dàng, nhưng không học đọc tiếng Hy Lạp. Cậu thích lịch sử La Mã, ham mê những trang viết của Livy, và gần như với mọi thể chế và sự kiện chính trị trong thời đại của mình, cậu lại tìm được một thể chế hoặc sự kiện tương tự trong lịch sử Rome, có tính mở mang và khai sáng.
Ông bắt đầu, nhưng dường như không bao giờ hoàn thành, việc nghiên cứu luật pháp. Ông không quan tâm lắm đến nghệ thuật Phục hưng, và không thể hiện bất cứ sự hứng thú nào với việc tìm ra châu Mỹ; Có lẽ ông cảm thấy giờ đây vở kịch trên sân khấu chính trị chỉ đơn thuần được mở rộng, trong khi cốt truyện và nhân vật không hề thay đổi. Mối quan tâm duy nhất, khiến ông không thể dứt ra nổi, là chính trị, kỹ thuật gây ảnh hưởng, ván cờ của quyền lực. Năm 1998, ở tuổi 29, ông được bổ nhiệm vào vị trí thư ký cho Diesi della Guerra - một Hội đồng Mười người phục vụ Chiến tranh - và giữ vị trí ấy trong 14 năm.
Năm 1500, ông tham gia - và không lâu sau dẫn đầu - một phái đoàn tới diện kiến vua Louis XII của Pháp. Ông đi theo triều đình Pháp từ lâu đài này sang lâu đài khác, và truyền đạt tới Signoria* của Florence những “tin tình báo” mang tính cảnh báo, những phân tích sắc sảo, đến nỗi khi ông trở về, bạn bè ông tung hô ông như một nhà ngoại giao bậc thầy.
Bước ngoặt trong quá trình phát triển của ông là lần ông được phái đi gặp Caesar Borgia (năm 1502). Tại Senigallia, ông để ý tới niềm vui của Borgia khi đã bẫy, và rồi thắt cổ hoặc tống vào xà lim, những người mạo hiểm âm mưu chống lại ông. Đây là những sự kiện gây xôn xao toàn đất Ý; đối với Machiavelli, chúng là những bài học về triết học. Đây là một người đàn ông trẻ hơn ông 6 tuổi, trong 2 năm đã lật đổ một tá những tên độc tài chuyên quyền, ra lệnh cho một tá thành phố, và biến mình thành ngôi sao băng của thời đại, những ngôn từ dường như yếu ớt làm sao trước người thanh niên này, một người tiết chế một cách quý phái trong việc sử dụng ngôn từ! Kể từ giây phút ấy, Caesar Borgia đã trở thành người hùng trong suy nghĩ của Machiavelli, như Bismarck trở thành người hùng trong suy nghĩ của Nietzsche; ở đây, trong hiện thân của “ý chí quyền lực”*, là một nhân cách vượt lên trên tốt và xấu, một hình mẫu về siêu nhân.
Năm 1512, Julius II lật đổ chế độ cộng hòa của Florence và đưa nhà Medici trở lại ngôi quyền lực. Machiavelli mất vị trí ngoại giao của mình, bị buộc tội âm mưu khôi phục chính quyền Cộng hòa kia, bị bắt, tra tấn, trả tự do, và cho nghỉ hưu, với người vợ và bốn người con, ở biệt thự tại San Casciano. Tại đó, ông sống nốt phần còn lại của cuộc đời, viết cuốn sách Bàn về mười cuốn sách đầu tiên của Lizu (Discourses on the First Ten Books of Livy), và một bản tóm tắt những kết luận của ông, mang tên Quân vương (Il Principe). Nó được lưu hành dưới dạng bản thảo, nhưng mãi đến khi ông mất được 5 năm, nó mới được xuất bản. Kể từ đó, nó là một trong những cuốn sách thường xuyên được in lại nhất trong lịch sử triết học.
Nó là cuốn sách chân thật nhất và không kiêng nể nhất. Nó trình bày và giải thích chi tiết, rõ ràng và thẳng thừng, hệ triết lý rằng một nhà nước không cần, và cũng không nên, làm theo quy tắc luân lý mà nó khuyến nghị với các Công dân của mình. Nó Có thể trừng phạt một cách công minh những tội bội ước, lừa đảo, trộm cướp, tàn ác, và giết người, nhưng, một cách chính đáng, nó có thể thực hiện bất cứ tội ác nào trong số này, hoặc tất cả, nếu nó xem đó là điều cần thiết để bảo vệ nhà nước. Machiavelli diễn giải luật La Mã cổ salus populi suprema là: sự an toàn của nhà nước - tức những người đã được tổ chức lại thành nhà nước - là luật lệ tối cao. Hơn nữa (Machiavelli tiếp tục) lý tưởng hòa bình của Cơ Đốc giáo có thể khiến toàn thể người dân trở nên yếu ớt; một cuộc chiến thỉnh thoảng mới nổ ra là một liều thuốc tăng lực cho toàn quốc gia, phục hồi kỷ cương, sự thống nhất, và sức mạnh. Phẩm hạnh, trong nền Cộng hòa La Mã, không phải là sự khiêm nhường hay sự dịu dàng hòa nhã, mà là nam tính, sự cường tráng, hùng dũng, sự can đảm được hỗ trợ bởi năng lượng và trí thông minh. Một cuộc chiến củng cố sức mạnh cho một quốc gia là một cuộc chiến tốt. Khi một nhà nước ngừng mở rộng, nó sẽ bắt đầu chết.
Trong cuốn Diễn ngôn, Machiavelli mở rộng lập luận của mình từ vấn đề đạo đức của nhà nước sang thứ mà đối với ông là mảnh vỡ khốn khổ của nước Ý, rơi vào tay những nhà nước nhỏ mọn gây chiến với nhau bằng những đội quân có thể mua được bằng tiền và dị ứng với việc chiến đấu, dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh đánh thuê sẵn sàng nhận bất cứ lời mời chào ra giá nào, từ bất cứ kẻ thù nào. Ông biết rằng những nhà cai trị ở phương Bắc thèm muốn và ganh tị với những vùng đất đem lại nhiều lợi ích và nghệ thuật xuất sắc của nước Ý. Ông thoáng nghĩ tới hy vọng rằng Caesar Borgia, người quá thường xuyên giành chiến thắng, sẽ làm chủ toàn bộ nước Ý và rồi lãnh đạo một đội quân yêu nước để bảo vệ cho vùng bán đảo này. Nhưng Caesar Borgia qua đời năm 1507, và Machiavelli, mệt mỏi với chính trị, mệt mỏi với việc phải lui về miền nông thôn, thậm chí mệt mỏi với cả những bạn bè ở quán rượu, đã qua đời vào năm 1527. Cũng trong năm đó, một đội quân chủ yếu gồm người Đức đã chinh phạt và tàn phá thành Rome, và chấm dứt thời kỳ Phục hưng thành Rome.
ADRIAN VI
Người dân của thủ đô, từ các ông hoàng cho tới dân thường, đã kinh ngạc khi, vào ngày 2 tháng Một năm 1522, biết rằng cuộc họp kín của các Hồng y Giáo chủ đã bầu một người không phải người Ý (lần đầu tiên kể từ năm 1378) vào ngôi giáo hoàng - và, tệ hơn thế, đó là một người Teuton* (người đầu tiên kể từ năm 1161), ngay vào thời điểm Martin Luther đang lãnh đạo đất Đức bước vào một cuộc nổi loạn chống lại Giáo hội Rome.
Adrian Dedel là một người Hà Lan, sinh ra trong tầng lớp thường dân ởUtrecht vào năm 1959; được học tập ở Viện đại học Louvain; trở thành hiệu trưởng của viện đại học ấy ở tuổi 34, ở tuổi 47, ông là gia sư của người thanh niên nghiêm nghị và cương quyết, người sau này trở thành Charles V, Hoàng đế của Đế chế La Mã Thần thánh. Năm 1515, Adrian được cử tới Tây Ban Nha theo một phái đoàn, và khiến Vua Ferdinand phải ấn tượng với khả năng điều hành của mình, đến mức ông được phong chức giám mục Tortosa. Trong suốt quá trình thăng tiến của mình, ông nhún nhường trong mọi thứ, ngoại trừ trong vấn đề tôn giáo, và trừng phạt mọi hành vi dị giáo với một sự hăng hái quyết liệt khiến người dân Tây Ban Nha phải yêu quý ông. Có lẽ chính qua ảnh hưởng của Charles V, ông mới được bầu vào vị trí giáo hoàng bởi một Hội đồng Hồng y Giáo chủ mà trong đó người Ý chiếm số lượng áp đảo.
Adrian VI cảm thấy lạc lõng ở Vatican và tuyên bố rằng nó phù hợp với một hoàng đế hơn là một người kế nhiệm Peter, một người đánh cá*. Ông giải tán gần hết những người giữ ngựa, cả trăm người, mà Leo trước đó vẫn giữ để chăm sóc khu chuồng ngựa, chỉ để lại 4 người, ông giảm số lượng người hầu cận thân của mình xuống còn 2 - cả hai đều là người Hà Lan - và yêu cầu họ giảm chi phí ăn ở của ông xuống còn 1 ducat (12,5 đô-la) mỗi ngày. Ông kinh sợ trước sự buông thả của chuyện tình dục, miệng lưỡi và ngòi bút ở Rome, và đồng ý với Lorenzo và Luther rằng thủ đô của Cơ Đốc giáo đang chìm trong tội lỗi và bất công.
Ông không quan tâm đến nghệ thuật cổ đại mà các Hồng y Giáo chủ đã trưng ra trước ông; ông lên án những bức tượng được xem là dấu tích của tư tưởng sùng bái thần tượng và xây tường bao lại, kiềm tỏa Cung điện Belvedere, nơi chứa bộ sưu tập điêu khắc cổ điển đầu tiên của châu Âu. Ông có suy nghĩ kiềm tỏa cả những người theo chủ nghĩa nhân văn và những nhà thơ, những người đối với ông dường như sống và viết giống như những kẻ đa thần, những kẻ đã xua đuổi Christ.
Việc dẫn dắt Giáo hội từ tư tưởng của Leo về với tư tưởng của Christ trở thành niềm đam mê nhiệt thành trong nhiệm kỳ giáo hoàng của Adrian. Ông đặt ra cho mình nhiệm vụ, với sự trực tiếp thẳng thắn, cải tổ lại những hành vi lạm dụng của giới tăng lữ trong tầm với của ông. Ông đóng cửa những văn phòng thừa thãi, không cần thiết, với sự quyết liệt đôi khi có phần thiếu thận trọng và bừa bãi. Ông hủy bỏ những giao ước mà Leo đã ký để trả những khoản trợ cấp hằng năm cho những người nào đã mua các văn phòng của Giáo hội; như thế, 2.550 người, những người đã mua những văn phòng này như một khoản đầu tư, đã mất cả vốn lẫn lãi, thành Rome lại vang lên những lời kêu la rằng họ đã bị lừa; và một trong những nạn nhân đã cố gắng giết hại giáo hoàng. Những người thân đến với Adrian để tìm một vị trí ăn không ngồi rồi được yêu cầu trở về và kiếm sống bằng một Công việc trung thực.
Ông chấm dứt tình trạng buôn bán chức tước tôn giáo và gia đình trị, thành công trong việc trừng phạt tình trạng ăn hối lộ trong Giáo triều Rome (còn được gọi là Curia), ban hành một vài lệnh trừng phạt đối với tội hối lộ và tham ô, và trừng phạt những Hồng y Giáo chủ phạm tội với mức hình phạt bằng với mức mà những tu sĩ ở vị trí khiêm tốn nhất phải chịu. Ông yêu cầu các giám mục và Hồng y Giáo chủ trở về tòa giám mục của họ và đọc những bài học về luân lý mà ông mong chờ họ cũng tuân theo. Ông nói với họ rằng tiếng xấu của Rome chính là đề tài bàn tán ở châu Âu. Ông không buộc tội các Hồng y Giáo chủ về tội trụy lạc, nhưng truy tố họ tội để cho tình trạng trụy lạc diễn ra trong cung điện của mình mà không bị trừng phạt. Ông yêu cầu họ chấm dứt sự xa hoa và hài lòng với một khoản thu nhập tối đa 6.000 ducat (75.000 đô-la) mỗi năm. Theo đại sứ từ Venice, toàn Giáo hội Rome “kinh hoàng đến mức gần như mất kiểm soát, khi nhìn thấy những gì Giáo hoàng làm trong vỏn vẹn 8 ngày”.
Nhưng 8 ngày ấy vẫn chưa đủ, và tương tự như vậy với khoảng thời gian 13 tháng ngắn ngủi của nhiệm kỳ giáo hoàng của Adrian. Sự trụy lạc ẩn náu trong một thời gian ngắn, nhưng vẫn tồn tại, các cải cách đã gây khó chịu cho cả nghìn chức sắc, và vấp phải sự phản kháng sung sĩa cùng một hy vọng rằng Adrian sẽ chết sớm. Vị giáo hoàng ấy xót xa khi nhận ra rằng những gì một con người có thể làm được, để làm cho loài người tốt hơn, là quá nhỏ nhoi - ông vẫn thường nói “Sự hiệu quả trong công việc của một người phụ thuộc quá nhiều vào thời đại mà anh ta làm công việc ấy!” - và ông nhận xét, một cách đăm chiêu và nuối tiếc, với người bạn già Heeze của mình rằng: “Dietrich, cuộc sống của chúng ta sẽ tốt hơn biết bao nếu giờ này ta vẫn đang sống một cách bình lặng ở Louvain!”
Sau chỉ 13 tháng ở Rome, Adrian, suy sụp vỡ vụn về cả thể chất và tinh thần, mắc bệnh và qua đời (ngày 14 tháng Chín năm 1523). Ông để lại tất cả tài sản của mình cho những người nghèo và khăng khăng nhấn mạnh rằng ông muốn một tang lễ không ồn ào và không tốn kém. Thật đáng tiếc khi Adrian, một người Teuton mang tư tưởng Thanh giáo, không thể hiểu được tinh thần Phục hưng đa thần của đất Ý, và không thể xây được một cây cầu giữa đất Đức, nơi người ta trả phí bằng những đồng tiền của Thánh Peter, và đất Ý, nơi người ta tiêu những đồng tiền ấy.
Nhưng đó là một tội ác, một sự điên rồ, khi Rome không thể chịu được một giáo hoàng Cơ Đốc giáo.
CUỘC CƯỚP PHÁ THÀNH ROME (NĂM 1527)
Người kế nhiệm Adrian, người mang hiệu Clement VII, là Giulio de Medici, con trai ngoài giá thú của Giuliano, em trai của Lorenzo. Khi Giuliano bị giết, Lorenzo đã thu nhận Giulio vào gia đình mình, và dưỡng dục cùng các con trai của chính ông. Trong số những người này là Leo, người với tư cách một giáo hoàng, đã miễn cho Giulio khỏi phải chịu những nguyên tắc cản trở của Giáo hội đối với những người sinh ra ngoài giá thú, đưa ông trở thành một Tổng giám mục, rồi thành một Hồng y Giáo chủ, rồi thành quản sự chính của giáo hoàng. Giulio khi ấy cao và đẹp trai, giàu và có học thức, cư xử lịch thiệp và sống một cuộc đời tuân thủ đạo lý, một người ngưỡng mộ và bảo trợ cho văn chương, âm nhạc, và nghệ thuật.
Rome chào đón sự kiện lên ngôi giáo hoàng của ông như một điềm báo về sự trở lại của thời hoàng kim của Leo. Ông phân phát cho các Hồng y Giáo chủ tất cả những lợi lộc mà trước đó ông đã được tận hưởng. Ông giành được trái tim cùng sự tận tâm của các học giả và những người chép bản thảo cổ đại bằng cách thu hút họ vào việc phụng sự cho ông hoặc hỗ trợ họ bằng các món quà. Ông ban phát Công lý một cách công bằng cho mọi người, cho phép mọi người tự do yết kiến, và ban phát từ thiện theo cách không hào phóng như Giáo hoàng Leo, nhưng sáng suốt hơn Leo, và thu hút tất cả mọi người và tất cả các tầng lớp bằng cách cư xử tử tế. Chưa một giáo hoàng nào khởi đầu tốt như vậy, mà cũng chưa giáo hoàng nào kết thúc đau khổ như vậy.
Nhiệm vụ lèo lái theo một lộ trình an toàn giữa Francis Ivà Charles V trong một cuộc chiến gần như chỉ kết thúc với cái chết, trong khi người Turk đang giày xéo đất Hungary và một phần ba châu Âu đang nổi loạn chống lại Giáo hội, rõ ràng là một nhiệm vụ quá sức đối với năng lực của Clement, và của cả Leo. Bức chân dung tuyệt đẹp của Clement trong thời gian đầu của nhiệm kỳ giáo hoàng, được vẽ bởi Sebastiano del Piombo, khiến người ta nhầm lẫn: ông không thể hiện được trong hành động của mình sự quyết tâm dường như đã được thể hiện trên mặt ông; và thậm chí trong bức tranh ấy, một sự mệt mỏi yếu ớt nhất định hiện ra trên cặp mí mắt mệt mỏi sụp xuống trên đôi mắt u sầu.
Clement đã biến sự do dự thành một chính sách. Ông suy nghĩ quá nhiều, và xem suy nghĩ là một thứ để thay thế cho hành động, thay vì đáng ra chỉ xem suy nghĩ là thứ dẫn đường cho hành động. Ông có thể tìm ra cả trăm lý do cho một quyết định, và cả trăm lý do chống lại nó, cứ như thể “con lừa của Buridan” đang ngồi trên ngai giáo hoàng. (Tôi cần giải thích rằng Jean Buridan là một triết gia theo trường phái kinh viện, người đã giải thích cơ chế tâm lý của sự do dự bằng cách mô tả một con lừa triết học, khi ấy đã đói đến mức tuyệt vọng, nhưng đứng cách đều hai chồng cỏ khô, và không thể tìm ra bất cứ lý do nào để đi về phía đống cỏ này thay vì đống cỏ kia, và cuối cùng chết vì đói.)
Hai “đống cỏ khô” của Clement là Francis, vua của nước Pháp, và Charles I, vua của Tây Ban Nha (1516-1556), người cũng là Charles V (1519-1556), hoàng đế của Đế chế La Mã Thần thánh. Khi hai người này giao chiến để giành quyền kiểm soát nước Ý, Clement lưỡng lự giữa vị vua người Pháp và vị vua người Tây Ban Nha, cho đến khi Charles cử các sứ giả đến để giành lấy sự ủng hộ của Clement, nếu không sẽ phế truất ông ta.
Trong khi đó, người Turk, dưới sự lãnh đạo của Suleiman Đại Đế đã thâu tóm được Budapest (ngày 10 tháng Chín năm 1526), Belgrade, và Algiers. Clement lo sợ rằng châu Âu sẽ không chỉ trở thành vùng đất của Kháng cách giáo mà còn trở thành vùng đất thờ Mohammed, Charles, khi ấy vẫn ở Tây Ban Nha và điều khiển các nhân vật trong màn kịch của ông ta từ xa, đã giao cho các sứ giả của mình nhiệm vụ tập hợp một đội quân. Họ hứa sẽ cho một chỉ huy đánh thuê người Tyrol, Georg von Frundsberg, quyền tự do cướp bóc nếu ông lãnh đạo các lính đánh thuê người Đức của mình vào đất Ý và phế ngôi của Clement VII. Frundsberg về danh nghĩa vẫn là tín đồ Công giáo, nhưng ông đồng cảm với Luther và căm ghét Clement như một kẻ phản bội người đứng đầu Đế chế La Mã Thần thánh. Ông gây được một quỹ gồm 38.000 đồng gulden* và tập hợp được 10.000 lính đánh thuê hăng hái tham gia phiêu lưu và cướp bóc, và không phản đối việc treo cổ một giáo hoàng. Ông dẫn họ vượt qua thung lũng Po và cho phép họ cướp bóc vùng Lombardy.
Trong khi đó, một Charles khác, Công tước Bourbon, người có những lý do cá nhân để chống lại Francis I, đã dẫn đội quân của mình ra khỏi thành Milan để hội quân với lực lượng của Trundsberg gần Piacenza. Cả liên quân, giờ đây có quân số lên đến 22.000 người, tiến về phía Rome, tự do cướp bóc trên đường đi.
Khi Clement nhận ra rằng cả Charles V lẫn Francis I đều sẽ không tới giúp mình, ông gom 60.000 ducat, một khoản tiền mà các phái viên của ông đã sử dụng để thuyết phục cả Frundsberg và Bourbon không đem quân vào các Lãnh địa của Giáo hoàng. Nhưng quân lính của họ từ chối tuân theo giao ước này. Trong suốt 4 tháng, họ đã chịu đựng cả nghìn nỗi gian khổ chỉ với hy vọng được cướp phá thành Rome; đa số họ giờ đây phải mặc quần áo rách rưới, nhiều người không có giày để đi, tất cả đều đói, không một người nào được trả Công: họ từ chối bị mua chuộc với một khoản 60.000 ducat khốn khổ, số tiền mà họ biết rằng sẽ chỉ một phần nhỏ trong đó được nhỏ giọt xuống đến họ. Sợ rằng Bourbon sẽ ký thỏa ước đình chiến, họ bao vây lều của ông, hét to: “Trả Công! Trả công!” Ông ta đã ẩn náu ở nơi khác, và họ xông vào cướp bóc lều của ông ta. Frundsberg cố gắng trấn an họ, nhưng giữa lúc ông đang kêu gọi mọi người, ông gặp phải một cơn đột quy, kể từ đó ông không còn đóng vai trò nào trong chiến dịch này và qua đời một năm sau đó. Bourbon được nắm quyền chỉ huy, nhưng chỉ khi đã đồng ý tiến quân về phía Rome. Vào ngày 29 tháng Ba, ông gửi các thông điệp tới Charles ( Lannoy (Phó vương cho Charles ở Naples) và Clement, rằng ông không thể giữ chân những người lính của mình thêm nữa và thỏa ước đình chiến nhất thiết phải chấm dứt.
Giờ đây, cuối cùng Rome đã nhận ra rằng nó là con mồi bất lực và bị chủ định nhắm đến. Vào ngày thứ Năm Thần thánh (ngày 9 tháng Tư), khi Clement đang ban phước cho một đám đông 10.000 người trước Thánh đường Thánh Peter, một người cuồng tín, mặc độc một chiếc tạp dề da, đã trèo lên bức tượng Thánh Paul và gào vào mặt giáo hoàng: “Ngươi, đứa con hoang của Sodom! Rome sẽ bị hủy diệt do tội lỗi của ngươi. Hãy sám hối và quay đầu! Nếu ngươi không tin ta, trong 14 ngày ngươi sẽ thấy”. Vào Lễ Phục sinh, ẩn sĩ điên cuồng này - Bartolommeo Carosi, còn được gọi là Brandano - đã đi dọc qua các con phố của Rome, vừa đi vừa kêu to: “Rome, hãy sám hối! Họ sẽ đối xử với người như cách Thượng Đế đối xử với Sodom và Gomorrah”*.
Bourbon, có lẽ hy vọng thỏa mãn được người của mình bằng khoản tiền lớn hơn, đã gửi tới Clement yêu cầu 240.000 ducat; Clement đáp lại rằng ông ta không thể lo được một khoản tiền lớn đến thế. Giờ đây ông có khoảng 4.000 lính để đối đầu với cuộc tấn công của 20.000 người đang đói khát.
Vào ngày 6 tháng Năm, đám người của Bourbon tiếp cận tường thành, ẩn nấp dưới màn sương. Họ bị đẩy lùi bởi một loạt đạn; chính Bourbon cũng bị bắn trúng, và chết gần như ngay lập tức. Nhưng đám người đang tiến côngấy không thể bị những đòn tấn công lặp đi lặp lại làm cho nhụt chí, họ chỉ có hai lựa chọn: chiếm được Rome hoặc chết đói. Họ tìm thấy một điểm phòng thủ yếu; họ xuyên qua nó và tràn vào thành phố. Clement, đa số các Hồng y Giáo chủ, và hàng trăm chức sắc tháo chạy về Lâu đài Thiên thần (Castel Sant’ Angelo).
Khi những kẻ xâm lược xông qua các con phố, chúng giết người bừa bãi, không phân biệt già trẻ gái trai. Chúng tiến vào bệnh viện và Cô nhi viện Santo Spirito và giết gần như tất cả các bệnh nhân. Thánh đường Thánh Peter và Vatican bị vơ vét từ trên xuống dưới, và các con ngựa bị cột vào các căn phòng stanze của Raphael. Mọi cung điện đều trả khoản tiền lo lót để được bảo vệ, để rồi phải đối mặt với các cuộc tấn công sau đó của các nhóm quân khác và phải trả tiền bảo kê lần nữa. Trẻ em bị quăng xuống từ những ô cửa sổ cao để bố mẹ phải nôn ra những khoản tiền tiết kiệm được giấu kín. Một Hồng y Giáo chủ bị thả xuống một huyệt mộ và người ta nói với ông rằng ông sẽ bị chôn sống trừ phi trả tiền mua sinh mạng của mình.
Số người chết là không thể đếm xuể. Cuộc cướp bóc kéo dài 8 ngày, trong khi đó Clement, giống như Job khi bị tra tấn trong Kinh Thánh, nhìn cảnh ấy từ những ngọn tháp của Lâu đài Thiên thần. Charles, khi ấy vẫn ở Tây Ban Nha, vui mừng khi nghe tin thành Rome đã bị chiếm, nhưng sốc khi nghe về sự man rợ của cuộc cướp bóc, ông chối bỏ trách nhiệm về những hành vi vượt quá giới hạn nhưng lợi dụng triệt để sự bất lực của Giáo hoàng. Vào ngày 6 tháng Sáu, những người đại diện của ông (có lẽ ông không biết việc này) đã ép Clement ký một hiệp ước hòa bình đáng xấu hổ. Tất cả những người trong Lâu đài Thiên thần đều được cho phép rời khỏi đó, ngoại trừ Clement và 13 Hồng y Giáo chủ tháp tùng ông ta. Toàn bộ công trình của ngôi giáo hoàng, cả về vật chất và tinh thần, dường như đã sụp đổ thành một đống đổ nát bị thảm, đánh thức được sự thương xót của ngay cả những người khi ấy cảm thấy rằng một sự trừng phạt nào đó là điều hoàn toàn xứng đáng với sự bất trung của Clement, các tội lỗi của ngôi giáo hoàng, lòng tham và sự mục nát của Giáo triều Rome, và hành vi đi ngược đạo lý của Rome.
Erasmus đã thương xót cho sự biến mất của những ngày thanh bình của thành phố này: “Rome không chỉ là điện thờ thiêng liêng của đức tin Cơ Đốc giáo, nơi nuôi dưỡng những tâm hồn cao quý, và nơi hội tụ của những điều tốt đẹp, mà còn là mẹ của mọi quốc gia. Đối với không biết bao người, nó là nơi thân thương và ngọt ngào và quý giá hơn cả mảnh đất của họ!… Sự thực, đây không chỉ là sự sụp đổ của một thành phố, mà là của cả thế giới”.
Lo sợ một liên minh giữa Anh và Pháp, và mềm lòng truỚC 112.000 ducat từ những khoản thu nhập liên tục của Giáo hội, Charles đã thả vị giáo hoàng bị giam lỏng (ngày 27 tháng Mười hai, năm 1527), và Clement VII, cải trang thành một người hầu, đã tìm được đường từ Rome tới Orvieto và rồi từ đó tới Viterbo. Sau 9 tháng chịu nhục nhã ê chề và nghèo đói, ông được phép vào lại thành Rome. Do cần một đồng minh, Charles làm hòa với vị giáo hoàng, tuyên bố rằng mình là một đầy tớ khiêm nhường của Christ, và hôn lên bàn chân của Giáo hoàng đồng thời công nhận rằng đất nước đang mở rộng của ông ta cần sự giúp đỡ của Giáo hội đang yếu ớt. Ngày 22-24 tháng Hai, năm 1530, Clement đặt lên đầu Charles chiếc vương miện sắt của vùng Lombardy và vương miện của Đế chế La Mã Thần thánh.
Clement qua đời bốn năm sau đó (ngày 25 tháng Chín, năm 1534) sau nhiệm kỳ giáo hoàng thảm họa nhất trong lịch sử Giáo hội Rome. Khi lên ngôi, Henry VIII vẫn là defensor fidei (tức Người Bảo hộ Đức tin) chống lại Luther, và khi ấy cuộc nổi loạn Kháng cách vẫn chưa đề xuất được bất cứ thay đổi quan trọng nào về hệ giáo lý; ở thời điểm Clement qua đời, Anh, Đan Mạch, Thụy Điển, một nửa đất Đức, và một phần của Thụy Sĩ trước đó chắc chắn đã tách khỏi Giáo hội, và đất Ý đã chịu khuất phục trước sự thống trị của Tây Ban Nha, một chế độ đã dẫn đến cái chết của tư tưởng và đời sống, bất kể dẫn đến hậu quả xấu hay tốt, đặc trưng cho Phục hưng. Tất cả mọi người đã hân hoan trước sự kiện lên ngôi của Clement; gần như tất cả mọi người đều hân hoan trước cái chết của ông ta; và đám người nhốn nháo của thành Rome hết lần này đến lần khác làm ô uế lăng mộ của ông.
Nhưng ở đầu bên kia của nước Ý, thành Venice, vào buổi hoàng hôn của thời kỳ vinh quang, đang cho Phục hưng một cuộc sống tuyệt vời khác.