Những Anh Hùng Của Lịch Sử

Lượt đọc: 1583 | 1 Đánh giá: 2/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
cải cách i: wyclif và erasmus

Giáo hội Công giáo La Mã là một trong những tổ chức đáng chú ý nhất trong lịch sử, và một nghiên cứu khách quan về nguồn gốc, mục đích, phương pháp, sự thăng trầm, lỗi lầm, và thành tựu của nó sẽ làm rõ về bản chất và các khả năng của loài người và chính quyền hạn gần như bất cứ nghiên cứu nào về các chủ đề hay tổ chức khác mà con người được phép tìm hiểu.

Khi niềm tin đang dần phai nhạt vào những vị thần của tư tưởng đa thần La Mã không còn đem đến cho một nhà nước hỗn loạn và đang trong tình trạng hiểm nghèo một nền tảng luân lý nhằm thực hiện nhiệm vụ kiểm soát chủ nghĩa cá nhân bẩm sinh của con người và các nhóm, một đức tin mới vào Chúa Trời nghiêm khắc nhưng khoan dung và Con trai của người, một người có thể cứu rỗi và truyền cảm hứng, đã ban cho một nhóm thiểu số ngày càng đông đảo một đức tin vừa nuôi dưỡng vừa trấn an những điều kỳ diệu lẫn sự sợ hãi của loài người, và kiến thiết một quy tắc luân lý và trật tự xã hội cho phép một nền văn minh mới ra đời.

Ngôn ngữ Latin nam tính cũ kỹ của những người lính La Mã được làm mềm để phù hợp với những bài thánh ca và tinh thần hào hiệp; văn chương đùa nghịch và thử nghiệm trong cả trăm hình thức, nghệ thuật bổ sung niềm hân hoan và hạnh phúc tột độ trong những nét trang trí và chóp nhọn của kiến trúc Gothic vào sự cao quý điềm tĩnh của những hàng cột và mái vòm của văn minh cổ đại. Và Giáo hội Công giáo La Mã đã phát triển đến độ được mọi người công nhận và tận tâm hiến dâng đến mức nó có thể kiểm soát sự tự tư tự lợi của con người và nhà nước bằng quyền lực của thành ngữ.

Đến năm 1300, cấu trúc kỳ vĩ ấy đã bị xói mòn bởi bản chất của loài người. Một số nhà quản trị của Giáo hội đã thực sự thể hiện rằng họ vẫn rất phàm tục, dễ bị mua chuộc, thiên vị, thích áp bức, và dễ suy đồi, bòn rút tiền của, một số vị vua - trở nên hùng mạnh hơn nhờ trật tự xã hội và các nền kinh tế ngày càng phát triển - đã chống lại yêu cầu nắm giữ quyền lực phi tôn giáo từ phía giáo hoàng, và xót xa trước việc tiền bạc của người dân của họ bị chuyển tới cho một kẻ thống trị ngoại quốc.

Năm 1303, Philip IV của Pháp đã thành công trong việc kháng lại quyền làm chủ của Giáo hoàng Boniface VIII đối với tài sản và hoạt động của Giáo hội Công giáo ở Pháp. Ông giam giữ Boniface ở Anagni, thuộc miền Trung nước Ý, trong 3 ngày; vị giáo hoàng này qua đời không lâu sau đó. Năm 1305,Philip đã sắp xếp để một người Pháp được bầu vào vị trí giáo hoàng, lấy hiệu là Clement V; và vào năm 1309, ông đã thuyết phục được giáo hoàng dời ngồi giáo hoàng từ Rome tới Avignon trên bờ sông Rhone. Tại đó, cho đến năm 1377,ngôi giáo hoàng, xét theo một khía cạnh nào đó, trở thành một lãnh chúa phong kiến của vua Pháp, và cũng bị nhìn nhận như vậy trong mắt các nhà cai trị khác, những người ngày càng xót xa trước việc phải chuyển những khoản tiền tiết kiệm của người dân mình sang cho một ngôi giáo hoàng ngoại quốc.

Cứ như thể để tuyên bố thân phận chư hầu của mình, các giáo hoàng Avignon, trong tổng cộng 134 đề cử tới hội đồng Hồng y Giáo chủ, đã để tới 113 đề cử là người Pháp. Các cử tri của Đế chế La Mã Thần thánh cự tuyệt bất cứ sự can thiệp nào của các giáo hoàng vào việc bầu ra vua hoặc hoàng đế. Ở một Số thành phố của Đức, những người thu thuế của giáo hoàng bị săn lùng, bỏ tù, tùng xẻo, hoặc treo cổ. Năm 1372, giới tăng lữ ở Bonn, Cologne, và Mainz đã nhất quyết từ chối trả khoản thuế thập phân* cho giáo hoàng.

Ở đất Ý, các lãnh địa chính của giáo hoàng, chủ yếu là Ferrara, Bologna, Ravenna, Rimini, Urbino - bị chiếm lấy bởi các thủ lĩnh chuyên chế của các đoàn lính đánh thuê, những người giờ đây dành cho vị giáo hoàng đang ở phương xa một sự tôn kính chính thức, nhưng giữ chặt lấy các khoản thu nhập của mình mà không cống nạp cho giáo hoàng. Chính quyền Anh đã phẫn nộ trước các khoản tiền mà các giáo hoàng Avignon cho vua Pháp vay trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm. Chịu sự quấy rầy từ mọi phía, các giáo hoàng Avignon cảm thấy không thể đáp ứng nổi chi phí cho việc điều hành và những yêu cầu của các Hồng y Giáo chủ và những ưu tiên của họ đối với những tiện nghi và khoái lạc mà họ đã quá quen tận hưởng. Giám mục người Tây Ban Nha Alvaro Pelayo đã phải thốt lên: “Lũ sói đang kiểm soát Giáo hội và sống bằng máu của những con chiên Cơ Đốc giáo”. Năm 1311, William Durand, giám mục vùng Mende (ở miền Nam nước Pháp) nói với Hội nghị Vienne rằng:

Cả Giáo hội phải được cải cách nếu Giáo hội Rome muốn bắt đầu bằng việc thanh tẩy những tấm gương xấu xa ra khỏi chính nó… những tấm gương xấu xa mà hành vi của nó đã khiến lòng người phẫn nộ và toàn bộ dân tộc bị nhiễm những thói xấu ấy… Bởi vì, ở tất cả các miền đất… Giáo hội Rome đều mang tiếng xấu, và tất cả đều kêu lên oà công khai ở nước ngoài rằng bên trong Giáo hội, tất cả mọi người, từ những người vĩ đại nhất cho đến những kẻ hèn kém nhất, đều đã trao trái tim của họ cho lòng tham… rằng toàn bộ giai thoại Cơ Đốc giáo, rút ra từ những tấm gương tai hại về thói nghiện tiêu thụ của đám tăng lữ, là rõ ràng và hiển nhiên ai cũng biết, bởi đám tăng lữ ấu tiệc tùng còn xa hoa hơm các ông hoàng và các vị vua.

Và ở Anh, các vị vua và Nghị viện đã nở nụ cười “chúc may mắn” vào một linh mục, người đã dự đoán sự ra đời của Luther và Henry VIII bằng gần hai thế kỷ chỉ trích tư tưởng thần học và các yêu sách về chính trị của Giáo hội Công giáo.

JOHN WYCLIF

John Wyclip sinh năm 1320 gần làng Yorkshire, và tên ông được đặt dựa theo tên làng. Ông học tại Viện đại học Oxford, trở thành một linh mục, làm việc ở Đại học Balliol (Balliol College)* trong một năm với vai trò người đứng đầu, tiếp nhận rất nhiều lợi ích khác nhau từ các giáo hoàng và cho ra đời một vài cuốn sách mà thứ tiếng Latin khiếm nhã, thô lỗ của nó từ lâu đã bảo vệ tư tưởng thần học nhẫn tâm tin vào số mệnh do Chúa Trời định đoạt, và khiến cho tư tưởng ấy trở nên mù mờ, khó hiểu. Theo quan niệm phổ biến đã được nhất trí trong Cơ Đốc giáo, Chúa Trời toàn năng và toàn trí, không một hoạt động, sự kiện, suy nghĩ, hay ý muốn nào, dù “tự do” đến đâu, diễn ra trong quá khứ, hiện tại, hay tương lai, mà Ngài không biết; vì thế, không một điều gì xảy ra mà lại không có sự chấp thuận ngầm của Ngài. Từ đó, dường như có thể suy ra rằng vô số người mắc tội lỗi kia, những người vẫn chưa làm hòa với Chúa Trời và chưa có được sự khoan hồng ân xá của Người trước khi chết, hẳn đã bị Chúa Trời kết án đày xuống địa ngục vĩnh viễn ngay từ trước khi họ ra đời. Các việc thiện không đem lại sự cứu rỗi, mà chúng cho thấy rằng người nào làm việc thiện đã nhận được ơn Chúa, và là một trong những người được Chúa chọn lên thiên đường - chọn ra từ thời gian vô tận để ban cho ơn phước vĩnh hằng.

Dựa trên tư tưởng Cộng sản và những linh cảm từ thần thánh mà kinh Tân Ước đã gán cho các Tông đồ, Wyclif kết luận rằng những người kế tục họ và những người đã được phong tước và nhận ủy thác từ họ đúng ra không đượã có bất cứ tài sản nào. Cuộc cải cách cần thiết nhất đối với Giáo hội và cộng đồng tăng lữ của nó là việc hoàn toàn từ bỏ những lợi lộc của trần thế. Nghị viện thích điều này, và từ chối cống nạp cho giáo hoàng như mọi khi, và giao cho Wyclif nhiệm vụ biện hộ cho lời từ chối ấy. John của xứ Gaunt đề xuất rằng chính phủ Anh nên tịch thu một phần tài sản của Giáo hội ở nước Anh; ông mời Wyclif biện hộ cho kế hoạch này bằng một loạt các bài thuyết giảng; Wyclif đã tới, được hỗ trợ bởi đoàn tùy từng có vũ trang của John; các tăng lữ không dám phản đối.

Giáo hoàng Gregory XI ban hành các sắc lệnh lên án 18 đề xuất trong các văn bản do Wyclif viết; nếu ông ta không thu lại các đề xuất ấy, các giám mục sẽ bắt giữ và cầm tù ông. Nhưng Nghị viện, họp vào tháng Mười năm 1377, có thái độ chống đối với giới tăng lữ mạnh mẽ đến mức các viên cố vấn cho nhà vua đã yêu cầu Wyclip chuẩn bị để đưa ra quan điểm về câu hỏi “Liệu lãnh thổ nước Anh có thể, một cách hợp pháp và chính đáng - khi sắp phải chống lại giặc ngoại xâm - giữ lại của cải của Lãnh thổ ấy và sẽ không gửi tới những vùng ở nước ngoài, ngay cả khi giáo hoàng yêu cầu khoản cống nạp ấy với lý do rằng lãnh thổ Anh phải tuân phục ông ta, và nếu không sẽ phải chịu khiển trách”. Wyclif trả lời: “Giáo hoàng không thể đòi hỏi của cải này trừ phi xin bố thí”. Đáp trả luận điệu rằng Giáo hội Anh là một phần của, và vì thế phải tuân phục, cái toàn thể, tức Giáo hội Công giáo, Wyclif đề nghị nước Anh được độc lập về mặt tôn giáo: “Lãnh thổ nước Anh, theo những lời trong Thánh Kinh, phải là một thể, với giới tăng lữ, quý tộc, và thường dân của thể đó”. Lời tiên đoán này, vào năm 1377,báo trước tuyên bố độc lập về tôn giáo của Henry VIII, dường như quá táo bạo, đến mức các viên Cố vấn của nhà vua phải yêu cầu Wyclif không đưa ra thêm bất kỳ tuyên bố nào về vấn đề này.

Bất kể thế nào, vào tháng Ba năm 1378,Wyclif vẫn xuất hiện trước buổi hội thảm của các giám mục ở Lambeth để biện hộ cho các quan điểm của mình. Mẹ của Vua Richard II đã gửi cho vị tổng giám mục một bức thư phản đối bất cứ lời buộc tội nào đối với Wyclif, và khi hoạt động xét xử đang diễn ra, một đám đông đã gây áp lực để vào được bên trong phiên tòa, và tuyên bố rằng người Anh sẽ không cho phép bất cứ Tòa án dị giáo nào diễn ra trên đất Anh. Các giám mục phải trì hoãn việc ra phán quyết, và Wyclif trở về nhà trong chiến thắng.

Giờ đây, trong các cuốn sách, hay các bài luận ngắn, ông nhân những tư tưởng dị giáo của mình lên nhiều lần và lên án kịch liệt gấp đôi. Ông mô tả một số tu viện như những sào huyệt của lũ cướp,những cái hang của lũ rắn độc, và những ngôi nhà của lũ quỷ sống”. “Các giám mục lừa gạt con người bằng những lời xá tội hoặc ân xá giả tạo, và cướp lấy tiền của họ… những người đã rất ngu ngốc khi bỏ tiền ra mua những sắc lệnh này… Thật đáng buồn”. Nếu giáo hoàng có quyền năng kéo các linh hồn ra từ chốn luyện ngục, tại sao ông ta không giải phóng tất cả họ ngay lập tức? Wyclif cho rằng “nhiều linh mục đã làm ô uế các bà vợ, trinh nữ, góa phụ, và xơ. Ông chỉ trích gay gắt các giám mục, những kẻ săn lùng, tuyên truyền, đánh cuộc và thuật lại những phép mầu giả tạo; những kẻ cầu nguyện chỉ để trưng, và thu phí ở mọi công việc tôn giáo mà họ thực hiện; những kẻ cưỡi những con ngựa béo với yên cương bằng bạc và vàng, chúng là quân ăn cướp… những con cáo hiểm độc… những con sói mê hoặc… những kẻ nghiện tiêu thụ… những con quỷ… lũ vượn” - ở đây, thậm chí người ta có thể nhìn thấy trước những lời bỉ báng kịch liệt của Luther. Có lẽ, như Wyclif đã gợi ra, giáo hoàng chính là Kẻ chống Chúa Cứu Thế (antichrist), được tiên đoán bởi tông đồ John, Con Thú của Ngày Tận Thế, báo trước Giáng thế lần thứ Hai của Christ.

Để giải quyết các nhược điểm này, Wyclif đề xuất rằng Giáo hội nên bị tước bỏ tất cả các tài sản vật chất và quyền lực, và các linh mục nên sống trong nghèo khổ như các tông đồ. Các tu sĩ nên quay về với việc hoàn toàn tuân thủ các luật lệ của họ. Nếu giới tăng lữ không từ bỏ các tài sản vật chất của mình, chính quyền sẽ tịch thu tất cả các tài sản của họ, và “các linh mục sẽ bị buộc phải sống với sự nghèo khổ mà Christ đã định sẵn”. Các vị vua có thể nắm quyền kiểm soát tất cả những việc này, và có thể buộc người khác phải tuân theo. Họ chỉ chịu trách nhiệm trước Thượng Đế, đấng tối cao mà từ đó họ có được quyền thống trị và thẩm quyền chính thống. Các linh mục nên được phong tước bởi các nhà vua.

Nhiều nhân vật quan trọng trong chính quyền nước Anh cảm thấy khó chịu trước những lời chỉ trích công khai của Wyclif; thậm chí một số người ủng hộ ông cũng cảm thấy hoảng sợ. Ông một lần nữa khẳng định những quan điểm của mình trong bài luận Confessio vào ngày 10 tháng Năm, năm 1381. Một tháng sau đó, cách mạng xã hội nổ ra ở Anh và khiến những người có tài sản trong tay phải kinh sợ, Wyclif giờ đây đã mất đi phần lớn sự hỗ trợ từ Nghị viện. Vua Richard II, người vừa trong gang tấc thoát khỏi việc bị phế truất bởi cuộc cách mạng xã hội ấy, đã ra lệnh cho Viện đại học Oxford trục xuất Wyclif và tất cả những người ủng hộ tư tưởng của ông. Ông lui về với cuộc sống ở Lutterworth, Công khai với mọi người rằng ông không có bất cứ dính dáng nào với những người nổi loạn, tiếp tục viết và phát hành những cuốn sách nhỏ chống lại Giáo hội, tổ chức ra một nhóm các “linh mục giảng đạo nghèo” (sau này được gọi là các Lollards), tập hợp các học giả để dịch Kinh Thánh từ bản tiếng Latin của Jerome, và rõ ràng chính ông đã dịch Tân Ước. Sản phẩm tập thể của nhóm này không phải là một tác phẩm mẫu mực về văn xuôi Anh ngữ, mà là một sự kiện tối quan trọng trong lịch sử nước Anh.

Năm 1384, Giáo hoàng Urban VI triệu tập Wyclif tới yết kiến ông ta ở Rome. Một lệnh triệu tập khác, đột ngột hơn, đến cùng một con đột quỵ làm ông tê liệt, vào ngày 28 tháng Mười hai, khi Wyclif đang dự thánh lễ. Ba ngày sau đó, ông qua đời. Ông được chôn ở Lutterworth, nhưng theo một sắc lệnh của Hội nghị Constance (ngày 4 tháng Năm, năm 1415) xương của ông bị đào lên và bị vứt xuống một dòng suối gần đó.

LY GIÁO GIÁO HOÀNG (1378-1417)

Đức và Ý đã nhất trí với nước Anh trong việc không thừa nhận quyền lực của ngôi giáo hoàng ở Avignon. Năm 1372, các trưởng tu viện ở Cologne đã công khai nhất trí rằng “Tông Tòa Rome đã bị khinh thường đến mức đức tin Công giáo ở những giáo phận ấy đã rơi suy sụp nghiêm trọng”. Năm 1362, khi Urban V phái hai giáo sĩ đại diện tới Milan để rút phép thông công của Visconti ngoan cố, Bernabo đã buộc họ phải ăn các bản sắc lệnh ấy - giấy da, sợi dây buộc bằng lụa, và cả những dấu niêm phong bằng chì. Năm 1376, Florence, trong một lần tranh luận gay gắt với Giáo hoàng Gregory XI, đã phá hủy các tòa nhà của Tòa án dị giáo, tống giam hoặc treo cổ những linh mục phản kháng, và kêu gọi toàn nước Ý chấm dứt tất cả quyền lực thế tục của Giáo hội. Lúc này, rõ ràng các giáo hoàng ở Avignon đã mất đi cả châu Âu khi họ trung thành với nước Pháp. Năm 1377, Gregory XI đã dời ngôi giáo hoàng về Rome.

Tuy nhiên, một giáo hoàng đối địch đã tự lập mình làm giáo hoàng ở Avignon, và châu Âu Công giáo La Mã đã bị chia rẽ trong một cuộc “Ly giáo Giáo hoàng” kéo dài 39 năm, và đôi khi chứng kiến ba giáo hoàng đối địch cùng đội có được thẩm quyền chính thống toàn diện và toàn bộ thu nhập của ngôi giáo hoàng. Kết quả là một cuộc vận động về tài chính của cả ba bên, mà sự dai dẳng và những thủ đoạn của nó khiến cả thế giới Cơ Đốc giáo phải bất bình. Tôi một lần nữa trích thông điệp được một phái viên người Đức ở Rome gửi tới đấng quân vương của ông ta vào năm 1430:

Sự tham lam đang ngự trị ở ngôi quyền lực tối cao trong thánh đường Rome, bà ngày qua ngày, nó tìm được những phương tiện mới… để moi tiền từ Đức, lấy cớ rằng đó là giáo phí… Đó là nguyên nhân của nhiều phản đối kịch liệt… và sự phẫn nộ hừng hực; người ta cũng sẽ dấy lên nhiều câu hỏi óề chế độ giáo hoàng, nếu không họ sẽ hoàn toàn không thừa nhận việc phục tùng giáo hoàng, để thoát khỏi những đòi hỏi và sách nhiễu quá đáng đến mức không thể chấp nhận được này của những người Ý; và khả năng thứ hai này, theo cảm nhận của tôi, là điều chấp nhận được đối với nhiều quốc gia.

Người ta hẳn sẽ chấp nhận việc những dòng tiền cho Giáo hội chảy về Rome, nếu những khoản tiền này được chuyển thành sự hiệu quả trong điều hành của Giáo hội, nhưng đối với phương Bắc, có vẻ chúng hầu như bị tiêu tốn vào lối sống xa hoa. Chúng ta phải nhớ lại lời khẩn cầu của Giáo hoàng Pius II với các Hồng y Giáo chủ của ông vào năm 1643:

Người ta nói rằng chúng ta sống vì khoái lạc, tích lũy của cải, hành xử kiêu ngạo, cưỡi những con la béo và những con tuấn mã… giữ những con chó săn cho các cuộc đi săn, tiêu nhiều tiền vào các diễn viên và những kẻ ăn bám, và chẳng tiêu chút nào vào việc bảo vệ tôn giáo của mình. Và những lời của họ có phần nào đó của sự thật: nhiều người trong số các Hồng y Giáo chủ và những chức sắc khác trong giáo triều của chúng ta thực sự sống kiểu cuộc đời như vậy. Thú thực, sự xa hoa và phô trương của giáo triều chúng ta là quá mức. Và đây là lý do vì sao họ ghê tởm chúng ta đến mức họ sẽ không nghe lời ta, ngay cả khi những gì chúng ta nói là công minh và hợp lẽ.

Có lẽ nhà sử học Công giáo Ludwig von Pastor đã vẽ một bức tranh quá u ám:

Một sự suy đồi thâm căn cứ đế đã kiểm soát gần như tất cả các chức sắc của Giáo triều Rome… Những khoản sưu cao thuế nặng và sách nhiễu quá quắt đã vượt qua mọi giới hạn. Hơn thế nữa, các bản chứng thư bị tất cả các bên điều chỉnh một cách không trung thực, và thậm chí bị làm giả. Không có gì phải thắc mắc khi từ mọi miền của thế giới Cơ Đốc giáo, dấy lên những lời phàn nàn ồn ào nhất về sự mục ruỗng và hành vi bòn rút tài chính của những chức sắc của giáo hoàng.

Và sử gia ấy cũng mở rộng phán xét của mình một cách không thiên vị sang những vấn đề khác:

Không có gì ngạc nhiên rằng, khi những tăng lữ ở đẳng cấp cao nhất ở trạng thái như vậy, đủ kiểu trụy lạc và trái lễ giáo ngày càng trở nên phổ biến ở những linh mục triều (secular priest) và trong hàng ngũ những tăng lữ bình thường. Muối của trần thế đã đánh mất vị mặn của nó* … Nhưng sẽ là một sai lầm nếu cho rằng sự mục ruỗng của giới tăng lữ ở những nơi khác không nghiêm trọng bằng ở Rome; có tài liệu bằng chứng về sự cô đạo đức của các linh mục ở gần như mọi thành phố trên bán đảo Ý… Không có gì phải thắc mắc khi, như các cây viết đương đại đã buồn rầu xác nhận, sức ảnh hưởng của giới tăng lữ đã suy giảm, và ở nhiều nơi, người ta gần như không biểu hiện bất cứ sự tôn kính nào đối với linh mục. Sự cô đạo đức của họ ghê tởm đến mức người ta bắt đầu nghe thấy những lời gợi ý ủng hộ việc cho phép linh mục kết hôn.

Chúng ta có thể đề xuất hai chỉnh sửa vào bản cáo trạng này. Vị linh mục của giáo khu có vẻ vẫn được yêu quý và kính trọng ở hầu như mọi nơi; ông ta quá bận phụng sự cộng đồng của mình, hoặc tham gia vào hoạt động lao động của cộng đồng ấy, đến nỗi chẳng có thời gian cho các tội lỗi. Và mặc dù cả giới tăng lữ triều (secular clergy) lẫn những tu sĩ ở nhà tu kín đều có thể bị truy tố, một cách không hề oan ức, về tội phiêu lưu tình ái, thường là với những tình nhân công khai hoặc kín đáo, đây phần nào là một sự nổi loạn chống lại luật lệ phiền phức của Giáo hội vào năm 1974, cấm các linh mục kết hôn. Các Giáo hội Chính thống giáo của Hy Lạp và Nga từ trước đó đã tiếp tục cho phép những cuộc hôn nhân như vậy; giới tăng lữ Công giáo La Mã rất mong muốn có được quyền như vậy, và khi bị từ chối, họ ít nhiều Công khai biến việc có tình nhân thành một hành vi phổ biến. Giám mục Hardouin của Angers đã thuật lại vào năm 1428 rằng giới tăng lữ trong giáo khu của ông không xem việc có tình nhân là một tội lỗi, và không hề có nỗ lực nào để che giấu hành vi ấy.

Chiến thắng này của Magdalene trước Đức mẹ Đồng trinh, đã nhiều lần tái diễn trong lịch sử tôn giáo, và rất nhiều diễn tiến khác, khi ấy đang làm suy yếu cấu trúc luân lý và hệ tư tưởng mà Cơ Đốc giáo Trung cổ đã xây dựng dựa trên hình tượng Christ, một hình tượng dễ sửa đổi. Sự lan tỏa của giáo dục và việc học, việc khai quật văn hóa cổ đại, sự độc lập và chủ nghĩa thế tục ngày càng mạnh của các viên đại học, việc bí mật dung dưỡng những mối nghi hoặc đối với Cơ Đốc giáo do chiến thắng của Hồi giáo trước các cuộc Thập tự chinh, việc các triết gia Kinh viện vô tình giải phóng tư duy duy lý, tư tưởng hoài nghi táo bạo của Duns Scotus và William của Ockham, sự giải phóng thân thể ở mọi tầng lớp, sự trần tục của các Hồng y Giáo chủ và các linh mục, bước chuyển từ nông nghiệp đầy tinh thần mộ đạo sang thái độ lãnh đạm trong tôn giáo của những công nhân thành thị, của những thương nhân đã được đến rất nhiều nơi, của những trùm tài chính có cái đầu thực tế và yêu lợi nhuận, lượng của cải ngày càng gia tăng và những đội quân ngày càng lớn mạnh của các vị vua và đất nước cũng như thành bang, việc thay thế các tăng lữ bằng các công chức phi tôn giáo trong chính phủ, sự trần tục của các Hồng y Giáo chủ và các linh mục, và giờ đây là sự phân rã thành nhiều mảnh của ngôi giáo hoàng: những diễn tiến này và các diễn tiến khác đã đem đến nguy cơ về sự sụp đổ của toàn bộ Công trình kỳ vĩ - về giáo lý, quản lý, và luân lý - của một Giáo hội một thời kiêu hãnh với cái tên Công giáo, tức “Tôn giáo của tất cả mọi người”.

Năm 1381, Heinrich von Lagenstein, một nhà thần học ở Viện đại học Paris, trong bài chuyên luận mang tên Concilium Pacis , đã lập luận rằng một cuộc khủng hoảng đã phát sinh, và chỉ có một thế lực bên ngoài các vị giáo hoàng đối địch nhau kia mới có thể giải cứu Giáo hội khỏi cuộc khủng hoảng ấy và phục hồi trật tự luân lý cho một thế giới Cơ Đốc giáo đang lúng túng. Năm 1411, Sigismund, vua của Hungary và người đứng đầu Đế chế La Mã Thần thánh, đã buộc John XXIII, khi ấy là một trong ba người đang tự nhận ngôi giáo hoàng về mình, triệu tập một hội nghị gồm đủ các thành phần, họp tại Constance ở miền Tây Nam đất Đức. Vào tháng Mười một năm 1411, hội nghị dài nhất trong lịch sử Cơ Đốc giáo bắt đầu nhóm họp - 3 giáo trưởng, 29 tổng giám mục, 150 giám mục, 14 đại diện của các viên đại học, 26 quân vương, 140 quý tộc, và 4.000 linh mục. Ngày 6 tháng Tư năm 1415, Hội nghị đã ban hành một sắc lệnh mà một sử gia đã gọi là “văn bản chính thức có tính cách mạng nhất trong lịch sử thế giới”:

Hội nghị tôn giáo linh thiêng ở Constance, một tổng hội nghị, và được nhóm họp hợp pháp trong Tinh thần Linh thiêng để ca ngợi Chúa Trời và để kết thúc tình trạng Ly giáo hiện nay, và để thống nhất và cải cách Giáo hội của Chúa Trời qua người đứng đầu và những thành viên của nó… ban lệnh, tuyên bố, bà ban sắc lệnh như sau: Thứ nhất, nó tuyên bố rằng Hội nghị tôn giáo này… đại diện cho toàn thể Giáo giới Công giáo, và trực tiếp có được thẩm quyền chính thức từ Christ; và tất cả mọi người, bất kể thuộc đẳng cấp hay phẩm trật nào, bao gồm cả giáo hoàng, nghiễm nhiên phải tuân phục hội nghị này ở những vấn đề liên quan tới đức tin tôn giáo, cho đến khi kết thúc tình trạng Ly giáo này, và tới khi có một cuộc cải cách tổng thể của Giáo hội về người đứng đầu và các thành viên của nó. Tương tự,Hội nghị tuyên bố rằng nếu bất cứ ai, bất kể thuộc đẳng cấp, điều kiện, hay phẩm trật nào, bao gồm cả giáo hoàng, từ chối tuân theo mệnh lệnh, đạo luật, sắc lệnh, hay sự sai khiến của hội nghị linh thiêng này, hoặc bất cứ hội đồng linh thiêng nào khác được nhóm họp một cách hợp lệ, liên quan tới việc kết thúc tình trạng Ly giáo hoặc tới việc cải cách Giáo hội, người ấy sẽ phải chịu hình phạt thích đáng… và, nếu cần thiết, sẽ dùng đến cả những biện pháp hỗ trợ khác của công lý.

Ngày 6 tháng Bảy, năm 1415, Hội nghị kết tội các văn bản mà Wyclif quá cố đã viết, và ra lệnh xử tử John Huss. Ngày 30 tháng Năm, năm 1416,nó ra lệnh xử tử Jerome của Prague. Ngày 17 tháng Mười một, năm 1917, nó chọn Oddone Colonna làm giáo hoàng, người sau đó lấy hiệu là Martin V, và kết thúc tình trạng Ly giáo Giáo hoàng. Ngày 22 tháng Tư, năm 1418, Hội nghị tuyên bố giải tán.

JOHN HUSS

Khúc dạo đầu thứ hai trước Cải cách kháng nghị hình thành Bohemia. Vùng đất lãng mạn ấy đã được người Slav chọn làm nơi định cư từ thế kỷ 5, đã vươn đến vị trí quan trọng vào thế kỷ 12 khi là một phần của Đế chế La Mã Thần thánh, và đạt đến Thời kỳ Hoàng kim vào thế kỷ 14 dưới thời Vua Charles I (khoảng năm 1342-1378), người đã biến Prague thành một trong những thành phố đẹp nhất châu Âu. Vào năm thứ 27 của triều đại ấy, năm 1369, John Huss ra đời tại làng Husinetz, và âm tiết đầu tiên trong tên làng này đã trở thành tên ông.

Năm 1390, ông tới Prague với tư cách một sinh viên nghèo, kiếm sống bằng cách phục vụ trong các nhà thờ, học tập để trở thành linh mục, và tham gia vào phong trào mà Paris sau này gọi phong trào “Bohemian” của giới trẻ đại học. Năm 1401, ông trở thành linh mục và thay đổi cuộc sống của mình theo hướng khổ hạnh gần như hoàn toàn lánh đời. Là người đứng đầu “Nhà nguyện Bethlehem”, ông trở thành nhà thuyết giáo nổi tiếng nhất ở Prague.

Định mệnh của ông được an bài khi một số cuốn sách của Wyclif rơi vào tay ông. Ông bị cuốn hút bởi những tư tưởng dị giáo của tác giả này đến mức ông nói rằng: “Wyclif, tôi tin rằng, sẽ được cứu rỗi; nhưng, nếu có khi nào đó tôi nghĩ rằng ông ấy có thể bị kết tội, thì tôi muốn cả linh hồn tôi cũng bị kết tội cùng ông”. Hội tăng lữ quản trị của nhà thờ chính tòa Prague đề nghị rằng những lời giáo huấn của Wyclif phải bị cấm ở các viện đại học; còn Huss vẫn tiếp tục ủng hộ những lời giáo huấn ấy. Năm 1390, Tổng giám mục Zbynek rút phép thông công của ông và một vài bạn đồng liệu khác. Huss kháng nghị lên Giáo hoàng John XXIII; John triệu tập ông tới yết kiến trước giáo triều của giáo hoàng; Huss từ chối đến đó. Khi giáo hoàng gửi người đại diện tới Prague rao bán sắc lệnh ân xá để có kinh phí cho cuộc Thập Tự Chinh chống lại vua xứ Naples, Huss và môn đồ quan trọng nhất của ông, mà chúng ta chỉ biết đến với cái tên Jerome của Prague, đã thuyết giảng phản đối việc Giáo hội thu tiền bạc để rồi gây đổ máu của những người theo Cơ Đốc giáo. Huss, khinh thường những lời cảnh báo, gọi giáo hoàng là một gã ngốn tiền, một kẻ chống Chúa Cứu Thế. Giáo hoàng rút phép thông công của ông và ban lệnh khai trừ lên bất kỳ thành thị nào dám chứa chấp ông. Trong suốt hai năm, Huss sống ẩn dật ở nông thôn.

Ông viết những cuốn sách quan trọng nhất của mình chủ yếu trong những năm ấy, một số cuốn được viết bằng tiếng Latin, một số bằng tiếng Séc, gần như tất cả đều kế thừa những tư tưởng dị giáo của Wyclif. Ông phản đối việc sùng bái hình tượng, việc xưng tội bằng cách thì thầm vào tai, và tư cách bất khả sai của giáo hoàng, và tuân theo tư tưởng của Wyclip về vận mệnh định sẵn. Ông công nhận huyền thoại rằng một Giáo hoàng mang tên John VIII đã hé lộ giới tính thật của mình bằng việc hạ sinh, một cách không hề có chủ định, một đứa bé.

Năm 1414, Sigismund, vua của Hungary và người đứng đầu Đế chế La Mã Thần thánh, người đang nôn nóng phục hồi sự thống nhất và sức mạnh cho lãnh thổ của mình để chống lại những người Turk và người Hồi giáo đang tới gần, đã khuyên Huss tới Hội nghị Constance và tìm cách giảng hòa với Giáo hội. Ông cho Huss một giấy thông hành an toàn của hoàng đế để tới Constance, hứa rằng ông sẽ được điều trần trước Hội nghị, và đảm bảo rằng ông sẽ an toàn trở về Bohemia. Huss lên đường vào tháng Mười, được hộ tống bởi các bạn bè và quý tộc người Séc.

Khi tới nơi, ông được Hội nghị và Giáo hội đối xử một cách lịch sự, và sống trong tự do. Nhưng khi một số người Bohemian chính thống giáo đọc cho hội đồng ấy nghe những văn bản mang tư tưởng dị giáo của Huss, Hội nghị đã triệu tập ông đến để tự biện hộ. Bị sốc trước những lời đáp lại của ông, Hội nghị đã bắt giam ông. Ông mắc bệnh, và trong một khoảng thời gian ông đã cận kề cái chết; Giáo hoàng John XXIII đã gửi các thầy thuốc của giáo hoàng tới chữa trị cho ông. Trong khi đó, học trò và cũng là bằng hữu dị giáo của ông, Jerome của Prague, đã tìm được đường tới Constance, và ghim lên các cánh cổng của thành phố, các cánh cửa nhà thờ, và những căn nhà của các Hồng y Giáo chủ một bản kháng nghị rằng Hội nghị phải cho Huss một buổi điều trần công khai và để ông an toàn trở về nhà. Bản thân Jerome cố gắng trở về Bohemia, nhưng đã dừng lại dọc đường để thuyết giảng chống lại Hội nghị. Ông bị bắt, bị đưa trở lại Constance, và bị tống giam.

Sigismund phản đối, rằng Hội nghị đã vi phạm phép thông hành an toàn mà ông đã ban cho Huss;Hội nghị trả lời rằng thẩm quyền của ông ta không bao gồm những vấn đề thuộc về Giáo hội. Ông nài xin Huss có thể rút lại một số ý kiến mang tư tưởng dị giáo của mình; Huss đề xuất được rút lại bất cứ quan điểm nào có thể bị chứng minh là sai bằng Kinh Thánh. Vào ngày 6 tháng Bảy, năm 1415, Hội nghị kết án Wyclif và Huss, và chuyển Huss tới cơ quan hành pháp thế tục. Sau khi bác bỏ một lời thỉnh cầu cuối cùng, cầu xin ông tự cứu mình bằng cách rút lại những gì ông đã phát biểu, ông bị dẫn ra khỏi thành phố và bị thiêu chết, trong khi bị thiêu ông vẫn hát thánh ca.

Ngày 30 tháng Năm, năm 1916, sau gần một năm bị giam giữ, và sau khi tuyên bố rút lại một “tuyên bố rút lại” mà ông đã công khai trước đó, Jerome của Prague bị dẫn tới cùng một nơi với Huss trước đó, và chịu chung số phận.

GIÁO HỘI PHỤC HƯNG (1418-1517)

Cuộc Cải cách Kháng nghị đến ngay khi ngồi giáo hoàng đang có một trong những thời kỳ rực rỡ nhất của nó. Hội nghị Constance đã hợp nhất ba ngôi vị giáo hoàng thành một; Martin V đã phục hồi thể chế tập quyền và các nguồn tài chính của Giáo hội, và Giáo hoàng Eugenius IV đã mang một đoàn các học giả về văn minh cổ đại từ Ferrara, Florence, thậm chí từ Hy Lạp, tới để hồi sinh cho một thành Rome uể oải, khi ấy đang mang chất tăng lữ một cách hỗn loạn, phong kiến một cách nổi loạn, hoặc dân túy một cách bạo lực.

Khi Nicholas V lên ngôi giáo hoàng vào năm 1947, các khoản cống nạp và đóng góp cho Giáo hội Rome, đến từ châu Âu bên ngoài dãy Alps, một lần nữa khiến đất Ý trở nên giàu có, góp phần sinh ra phong trào Phục hưng ở phía Nam dãy Alps và Cải cách Kháng nghị ở phía Bắc dãy núi này. Nicholas V gần như khiến ngôi giáo hoàng phá sản bằng việc nhiệt tình ủng hộ những học giả đang phục hồi, dịch, hoặc biên tập các bản thảo của văn minh cổ đại, cho đến khi thủ đô của Công giáo gần như trở thành một sự tiếp nối của Athens thời Plato hay Rome thời Seneca.

Caesar Borgia đã thủ tiêu những tư tưởng đạo đức của Cơ Đốc giáo và áp dụng các nguyên tắc trong cuốn Quân Cương của Machiavelli trong việc thâu tóm lại cho ngôi giáo hoàng những lãnh thổ và nguồn thu nhập đã mất, trong khi cha ông, Giáo hoàng Alexander VI ( 1492-1503), đã làm cho kiến trúc La Mã thêm phong phú và làm giàu cho những đứa con của ông ta bằng dòng tiền ấy. Julius II (1503-1513) đã hoàn thành việc tái chiếm miền Trung nước Ý về cho các giáo hoàng, và, bất chấp việc ngân khố liên tục cạn kiệt, ông đã tích lũy đủ ngân sách trả Công cho Raphael và Michelangelo để họ trang hoàng cung điện của giáo hoàng và Nhà nguyện Sistine, Leo X (1513-1521), con trai của trùm tài chính Lorenzo de Medici, đã phân phát vàng cho các thi sĩ, nghệ sĩ, học giả, và những người ông ta yêu quý, và phái những người đi rao bán sắc lệnh ân xá để gây quỹ cho việc hoàn thành Thánh đường Thánh Peter.

Nhưng những khoản thu nhập được tích lũy ấy đã tạo điều kiện về tài chính cho tham nhũng trong chính trị, tình trạng buông thả về luân lý, và sự phóng túng dâm loạn ở giới tăng lữ cũng như ở những thường dân, trong khi chính Giáo hoàng vẫn luôn là người đầy phẩm hạnh và tuyệt nhiên hạnh phúc. Luther, khi đến thăm Rome vào năm 1510, đã bị choáng ngợp trước sự huy hoàng của nó, và khi ấy đã không có bất kỳ lời chỉ trích nào, ít nhất là theo những gì đượã ghi lại, về những vấn đề đạo đức luân lý của nó, và có được nhiều ân xá đến mức ông gần như ưÓC gì cha mẹ mình đã mất để ông có thể đưa họ từ chốn luyện ngục lên thiên đàng; tuy nhiên, sau này khi ông nhìn lại, ông mô tả Rome của năm 1510 là một “thứ đáng ghê tởm”, các giáo hoàng còn tồi tệ hơn các hoàng đế có tư tưởng đa thần, và giáo triều của giáo hoàng được phục vụ bởi “mười hai Cô gái khỏa thân”.

Erasmus, khi thăm Rome vào năm 1509, bị hấp dẫn bởi đời sống ung dung và dễ dàng của nó, những cách hành xử lịch thiệp, và sự tu dưỡng về trí tuệ của các Hồng y Giáo chủ; ông thích thú trước những chủ đề đa thần khi ấy đã đi vào văn chương và những đề tài bàn tán chính của thủ đô; nhưng ông bị sốc trước những chiến dịch quân sự tốn kém của Giáo hoàng Julius II. Hãy cùng nán lại với Erasmus, bởi ông được xem là cây viết xuất sắc nhất của thời đại mình.

DESIDERIUS ERASMUS

Chúng ta không biết làm thế nào mà ông có được cái tên này - nó có nghĩa là “được khao khát được yêu quý”. Ông sinh ra ở Rotterdam hoặc gần đó vào năm 1466 hoặc 1469, là con trai thứ hai và cũng là con ruột của một linh mục đẳng cấp thấp và một góa phụ - con một thầy thuốc.

Ông được gửi tới học tập tại Nhóm Anh em Thường Sinh (Brethren of the Common Life) ở Deventer, nơi tiếng Latin đang là piece de resistance - chiếm vị trí quan trọng nhất, một số tác phẩm kinh điển mang tư tưởng đa thần được sử dụng làm sách giáo khoa. Ông trở thành một bậc thầy về tiếng Latin, đọc nhiều tác phẩm văn minh cổ đại hơn, và cảm thấy chúng là một niềm hạnh phúc khai sáng.

Vào khoảng năm 1984, cả cha và mẹ ông đều mất. Cha ông để lại một gia sản nhỏ cho hai con trai của mình, những người giám hộ của họ đã chiếm phần lớn gia sản và hướng hai thanh niên ấy theo sự nghiệp linh mục, một sự nghiệp hoàn toàn không đòi hỏi bất cứ tài sản thừa kế nào. Ho phản đối, muốn được vào đại học; họ đã chịu khuất phục, và Desiderius đã trở thành một tu sĩ, và vào năm 1492, một linh mục, và không lâu sau trở thành thư ký của Henry, giám mục của Cambrai.

Ông phụng sự cấp trên của mình rất tốt trong vài năm và được ban thưởng bằng việc được gửi đến Viện đại học Paris. Tại đó, ông không thể ngồi yên để lắng nghe các bài giảng, và thích khám phá văn chương cổ đại và những điều hấp dẫn của tuổi trẻ hơn. Ông tự học tiếng Hy Lạp, dần dần, Athens của Plato và Aristotle, Sophocles và Euripides,Zeno và Epicurus, đã trở nên thân quen với ông không kém gì Rome của Caesar và Cicero, Augustus và Horace, Nero và Seneca. Những tình bạn ấy đã khiến tư tưởng chính thống giáo trong chàng linh mục trẻ tuổi sụp đổ và tinh thần Cơ Đốc giáo còn lại trong ông khi ấy chẳng hơn sự ngưỡng mộ mà một người dị giáo dành cho đạo đức của Christ là bao.

Chứng nghiện sách của ông tốn kém chẳng kém gì thói trụy lạc. Để bổ sung vào khoản trợ cấp của mình, ông làm gia sư cho những học sinh ngưỡng mộ sự thông hiểu của ông đối với ngôn ngữ và tri thức cổ đại. Một trong những học sinh ấy, Mountjoy, đã đưa ông tới nước Anh và vào những ngôi nhà của giới quý tộc. Vị linh mục dễ kích động này đã viết một cách say mê trong một bức thư gửi một người bạn: “Nơi đây có những nữ thần với những nét thần thánh, thật dịu dàng và ân cần… Bất kể bạn đến đâu, bạn cũng nhận những nụ hôn lên cả hai bàn tay khi bạn rời đi, bạn cũng được chào tạm biệt bằng những nụ hôn… Ôi Faustus! Nếu bạn được một lần nếm để biết những đôi môi ấy mềm mại và thơm tho đến thế nào, bạn sẽ ước ao được ở đây… suốt cuộc đời ở nước Anh”

Tại nhà của Mountjoy ở nước Anh, Erasmus gặp Thomas More, khi ấy mới chỉ 22 tuổi, thế nhưng đủ ưu tú để đảm bảo được việc sẽ giới thiệu học giả này với người trong tương lai là Henry VIII. Tại Oxford, ông bị cuốn hút bởi tình bạn bè không khách sáo của các sinh viên và giáo viên. Ông bị ấn tượng bởi sự tiến bộ của tư tưởng nhân văn ở nước Anh và chịu ảnh hưởng một cách sâu sắc để rồi hoàn thiện chính mình. Từ một thanh niên phù phiếm và lông bông, say sưa với thứ rượu của văn minh Cổ đại và những vẻ đẹp của phụ nữ, ông trở thành một học giả đứng đắn và cần cù, nóng lòng có được một thành tựu đem lại giá trị tốt đẹp và lâu dài nào đó. Khi ông rời khỏi Anh (tháng Một, năm 1500), ông đã xây dựng trong mình một lòng quyết tâm nghiên cứu và biên tập những cuốn kinh Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp như những cốt lõi tinh túy của tinh thần Cơ Đốc giáo thực sự, thứ mà, theo cách suy xét của những người cải cách lẫn những người theo chủ nghĩa nhân văn, đã bị vùi lấp và che giấu bởi những giáo điều và sự bồi đắp của nhiều lớp giá trị mới trong nhiều thế kỷ.

Định cư tại Paris, ông đã chuẩn bị và xuất bản Adagia - 818 đoạn trích dẫn, chủ yếu từ các tác giả của văn minh cổ đại. Hài lòng trước sự đón nhận của công chúng, ông xuất bản hết ấn bản này đến ấn bản khác, mỗi ấn bản lại được mở rộng, cho đến khi nó chứa 3.260 trích mục. Thu nhập từ cuốn sách gần như đủ cho cuộc sống của ông, nhưng ông vui vẻ nhận lời mời của một thầy thuốc người Anh (năm 1506) để trở thành “người hướng dẫn và giám sát chung cho hai con trai ông ta trong một chuyến du lịch ở đất Ý. Các Hồng y Giáo chủ chào đón ông như một học giả đã nổi tiếng ở châu Âu.

Năm 1509, một người bạn của những người theo chủ nghĩa nhân văn, giờ đây là Vua Henry VIII, đã mời Erasmus tới nước Anh. Erasmus đã lên đường, nhận được những thu nhập từ một giáo khu ở Kent, và được bổ nhiệm vào vị trí giáo sư tiếng Hy Lạp ở Viện đại học Cambridge. Trong khi ở cùng Thomas More, vào năm 1511, ông đã viết, trong suốt 7 ngày, cuốn sách nổi tiếng nhất của mình - Encomium moria (Ca ngợi sự ngu dại). Bốn mươi ấn bản của cuốn sách này đã được xuất bản trong suốt cuộc đời ông; đến năm 1632, Milton đã thấy nó xuất hiện “trên tay của tất cả mọi người” ở Cambridge.

Theo cuốn sách nhỏ này, trước hết, nhân loại tồn tại được nhờ sự ngu dại. Bởi vì, có người đàn ông sáng suốt nào lại trả giá bằng cả một đời sống trong chế độ một vợ một chồng chỉ để có được khoái lạc nhất thời? Có người phụ nữ tỉnh táo nào lại trả giá bằng những nỗi đau khi sinh con và những khổ não của việc làm mẹ để có được cơm cực khoái ngây ngất chỉ tồn tại trong thoáng chốc? Có ai có thể hạnh phúc nếu anh ta đối mặt với những thực tế của cuộc sống, hay biết được tương lai? Nếu đàn ông và phụ nữ tạm dừng để suy xét theo lý trí, loài người sẽ mất tất cả. Tuy nhiên, khoa học và triết học thường bị con người bỏ mặc, và gần như chẳng khiến sự ngu si thiết yếu của nhân loại suy giảm chút nào.

Tiếp đó, cuốn sách nhỏ ấy cười vào những đức tin và hành động của các tín đồ Cơ Đốc giáo: việc sáng tạo ra thế giới từ hư không, tội lỗi ngây thơ của Eve, hình phạt tàn nhẫn của hết thế hệ này đến thế hệ khác, sinh nở đồng trinh, sự biến hóa thể; và “Tôi phải nói thế nào về những thứ chẳng hạn như việc ca ngợi và duy trì trò miễn tội và ân xá bịp bợm? - rằng, bằng những trò bịp ấy, hãy ước đoán thời gian một linh hồn lưu lại trong luyện ngục, và gán cho linh hồn ấy quãng thời gian ở luyện ngục ngắn hơn hoặc dài hơn dựa trên việc khi còn sống linh hồn ấy đã mua nhiều hơn hay ít hơn những lệnh ân xá ti tiện từ đám bán rong của giáo hoàng ư?” (Tất cả những điều này được phát biểu vào 6 năm trước khi Luther đưa ra những lời thách thức ở Wittenberg.) Sự châm biếm tiếp tục với các tu sĩ, quan tòa của tòa án dị giáo, Hồng y Giáo chủ, và giáo hoàng, tất cả các cấp bậc và kiểu nhân vật trong giới tăng lữ đều nhất lòng theo đuổi tiền bạc và những trò phù thủy, thậm chí tới lúc chết.

Các giáo hoàng, theo lời của nhà châm biếm này, không còn bất cứ nét nào giống với các Tông đồ nếu xét đến “sự giàu có, địa vị, quyền lợi ưu tiên, sự phóng túng, những lệnh ân xá, thuế thập phân”, những cách xử sự phàm tục và những cuộc chiến đẫm máu của họ. Làm sao một thể chế như vậy lại có thể tồn tại nếu không có sự ngu dại và thuần phác cả tin của nhân loại?

Rất có thể, môi trường trí thức của Erasmus ở Cambridge và trong mạng lưới những mối quan hệ của Henry VIII đã cho ông một nhóm người đọc và nghe đồng cảm với những lời châm biếm Giáo hội Công giáo. Tác phẩm tiếp theo của ông tàn nhẫn một cách vô lý, đến mức ông dùng mọi nỗ lực có thể để che giấu việc mình là tác giả, nhưng Thomas More đã xếp Julius không được vào thiên đường (Julius exclusus, phát hành năm 1514) vào danh sách các tác phẩm của bạn bè ông. Giáo hoàng Julius II qua đời năm 1513, sau một nhiệm kỳ giáo hoàng nổi bật nhờ những nỗ lực của ông trong vai trò một vị tướng và việc ông bảo trợ cho Raphael và Michelangelo khi họ vẽ ra những bức tranh tuyệt vời nhất của mình. Cuộc đàm thoại tưởng tượng của Erasmus khắc họa cảnh Peter không cho Julius vào thiên đường:

PETER: Hãy để ta nhìn kỹ hơn một chút… Áo thầy tu, nhưng bên dưới nó là một bộ giáp đẫm máu; đôi mắt tàn ác, cái miệng xấc láo, cái trán trơ tráo, toàn cơ thể đầy những vết sẹo của tội lỗi, hơi thở đầy mùi rượu, sức khỏe đã hoàn toàn suy sụp vì những cuộc thông dâm. Chính thế, đe dọa thế nào thì tùy ngươi, ta vẫn sẽ nói cho người biết người là ai… Ngươi là Julius Hoàng đế trở lại từ địa ngục…

JULIUS: Vậy ngài sẽ không mở cổng?

PETER: Bất cứ người nào cũng đều sẽ được vào đây sớm hơn loại người như ngươi.

Tóm lại, khi lướt qua các tác phẩm của Erasmus trước năm 1517, chúng ta khó có thể trách Luther và những người cải cách khác vì đã quở trách Erasmus về việc gióng hồi chuông cảnh báo về một cuộc phản kháng, và rồi chạy đi tìm chỗ ẩn nấp khi lời kêu gọi hành động đến tai mình.

Vào tháng Bảy, năm 1514, Erasmus từ nước Anh trở về Lục địa. Nghe được tin này, trưởng tu viện của tu viện đã bị lãng quên của ông gửi cho ông một lời nhắc rằng thời gian xin vắng mặt của ông đã hết hạn từ lâu và giờ là lúc người lang thang ấy trở về với những lời thề và căn phòng của mình. Kinh sợ trước viễn cảnh này, Erasmus thỉnh cầu những người bạn Anh nói giùm cho ông với Giáo hoàng Leo X. Sau một chút chần chừ, vị giáo hoàng đáng mến này đã gửi tới London những giấy tờ không chỉ giải phóng cho Erasmus khỏi những trách nhiệm tu sĩ của ông mà còn giải phóng ông khỏi những vấn đề gắn liền, về mặt luật pháp, với gốc gác ngoài giá thú. Leo gửi kèm một bức thư ngắn vào những giấy tờ này:

Con yêu quý của ta, cầu cho con được khỏe mạnh và có được ơn phước tông đồ. Đặc ân của cuộc đời và cá tính của con, học vấn uyên bác hiếm có và tài năng tuyệt vời của con, không chỉ được chứng thực bởi những công trình nghiên cứu vĩ đại của con, những công trình được tôn vinh ở khắp nơi, mà còn được chứng thực bởi sự ủng hộ của những người có học thức nhất, và đối với chúng ta, còn được ca ngợi bởi những bức thư của hai đấng quân vương lừng lẫy nhất, Vua của nước Anh và Vua Công giáo của nước Pháp], cho chúng ta lý do để ưu tiên cho con những đặc ân mà chỉ con mới có. Theo đó, chúng ta tình nguyện đáp ứng yêu cầu của con, sẵn sàng tuyên bố một tình yêu mà chúng ta dành cho con, theo cách còn dạt dào hơn nữa, khi bản thân con đã cố gắng để đạt được ơn phước ấy, hoặc cũng có thể an phước ấy chỉ đến do ngẫu nhiên, mà còn cho rằng sẽ là đúng đắn nếu sự cần mẫn của con, được siêng năng sử dụng để phục vụ lợi ích của tất cả mọi người, cần được khuyến khích bằng những phần thưởng xứng đáng để đạt tới những nỗ lực cao hơn.

Có thể đó là một món quà mua chuộc khôn ngoan dành cho việc cư xử tốt, cũng có thể đó là một cử chỉ chân thành đến từ một giáo triều khoan dung và mang tư tưởng nhân văn, trong bất cứ trường hợp nào, Erasmus không bao giờ quên cử chỉ tử tế này của giáo hoàng, và ông sẽ luôn cảm thấy khó có thể ly khai khỏi một Giáo hội mà trước đó đã quá kiên nhẫn chịu đựng sự chỉ trích từ ngòi bút của ông.

ĐẤT ĐỨC NGAY TRƯỚC THỜI LUTHER (1300-1517)

Kinh tế

Trong thế kỷ cuối cùng trước thời của Luther, phần lớn các tầng lớp ở Đức đều làm ăn phát đạt, ngoại trừ tầng lớp nông dân nghèo nhất, và rất có thể chính vì thế đang ngày càng cao của đa số nông dân đã khiến sự oán giận của họ đối với những hạn chế còn sót lại ngày càng sâu sắc.

Phần lớn nông dân là các tá điền, nộp tô cho một lãnh chúa phong kiến bằng nông sản, công sức phục vụ, hoặc tiền. Họ phàn nàn về 12 - trong một số trường hợp là 60 - ngày lao động không công mà họ bị yêu cầu phải làm mỗi năm theo quy định; về việc lãnh chúa đã rút ra khỏi Allgemeine, tức “đất công”, những vùng đất mà theo phong tục, họ được phép đánh cá, chặt cây, và chăn thả các đàn gia súc của mình trên đó; về thiệt hại trong thu hoạch do những người thợ săn và chó săn của lãnh chúa gây ra; về việc xét xử thiên vị trong các tòa án địa phương bị kiểm soát bởi các lãnh chúa; và về thuế tử vong, bị áp lên gia đình tá điền khi cái chết của gia chủ khiến việc chăm sóc mảnh đất bị gián đoạn. Tất cả các tầng lớp dân cày đều căm thù thuế thập phân hằng năm do Giáo hội thu trên nông sản và gia súc của họ.

Các cuộc nổi dậy của nông dân nổ ra rải rác trên khắp đất Đức thế kỷ 15. Năm 1931, nông dân quanh vùng Worms vùng lên trong một cuộc nổi loạn vô ích. Năm 1976, Hans Bohm, một người chăn bò, tuyên bố rằng Đức Mẹ đã hé mở với ông ta rằng Vương quốc Thiên đường trên hạ giới sắp tới sẽ không còn hoàng đế, giáo hoàng hoàng thân, hay lãnh chúa, tất cả mọi người sẽ là anh em, tất cả phụ nữ đều là chị em, tất cả đều cùng chia sẻ với nhau những quả ngọt của hạ giới; đất, rừng, những bãi cỏ, và mặt nước đều sẽ trở thành của chung và miễn phí. Hàng nghìn người nông dân tới để nghe Hans; một linh mục tham gia với anh ta; giám mục vùng Würzburg mỉm cười một cách khoan dung trước việc này. Nhưng khi Hans yêu cầu những người tin theo mình mang tất cả những vũ khí mà họ có thể tập hợp được tới buổi họp mặt tiếp theo, giám mục đã cho người bắt giữ anh ta, binh lính của giám mục bắn vào đám đông đang cố gắng cứu anh ta; phong trào ấy sụp đổ.

Năm 1993, các tá điền của giám mục vùng Strasbourg yêu cầu chấm dứt các khoản thuế đất và thuế thập phân của Giáo hội, xóa bỏ mọi khoản nợ, và xử tử tất cả những người Do Thái. Họ lên kế hoạch chiếm lấy thị trấn Schlettstadt và rồi mở rộng thế lực của mình ra Alsace. Các nhà chức trách đã biết được âm mưu này, bắt giữ những người cầm đầu, tra tấn và treo cổ họ, khiến những người còn lại khiếp sợ đến chỗ phải tạm thời tuân phục. Năm 1502, các nông dân của giám mục vùng Speyer lập thành một nhóm cách mạng gồm 7.000 người và thề sẽ kết thúc chế độ phong kiến, để “săn lùng và giết tất cả các linh mục và tu sĩ”, và khôi phục cái mà họ tin là chủ nghĩa cộng sản của tổ tiên họ. Một nông dân đã nói ra mưu đồ này trong phòng xưng tội; các tu sĩ và quý tộc đã hiệp đồng với nhau trong việc phá vỡ mưu đồ ấy, những người chủ mưu bị tra tấn và treo cổ. Các cuộc nổi dậy tương tự được tổ chức ở Đức cho đến khi chúng lên đến đỉnh điểm trong Chiến tranh Nông dân, đe dọa toàn bộ Đức vào năm 1525, khiến Luther phải khiếp sợ trở về với vòng tay bảo hộ của các ông hoàng.

Một cuộc cách mạng thực chất hơn đang diễn ra trong Công nghiệp và thương nghiệp của Đức. Phần lớn nền công nghiệp khi ấy vẫn là thủ công nghiệp, ngày càng bị kiểm soát bởi các chủ doanh nghiệp, những người cung cấp vốn và nguyên liệu, rồi mua và bán những sản phẩm đã được hoàn thiện. Việc khai mỏ phát triển mạnh; những khoản lợi nhuận khổng lồ được tạo ra từ việc chế tác vàng thành những chiếc chén thánh và mặt nhật trên các bàn thành và từ việc làm bàn ghế bằng bạc đặc; những đồng tiền bằng vàng và bạc đáng tin cậy khiến việc chuyển sang nền kinh tế tiền tệ được dễ dàng hơn; và Aeneas Silvius, vào năm 1458, đã kinh ngạc khi nhìn thấy phụ nữ Đức, dây cương, mũ giáp, và áo giáp được trang trí bằng vàng.

Các ông trùm tài chính giờ đây trở thành một thế lực chính trị quan trọng. Những người cho vay người Do Thái bị thay thế bởi các công ty gia đình Cơ Đốc giáo như nhà Welser, nhà Hochstetter, và nhà Fugger, và toàn bộ Augsburg, vào cuối thế kỷ 15, là thủ phủ tài chính của thế giới Cơ ĐỐC giáo. Gia tộc Fugger đưa Công ty của họ lên đến vị trí quyền lực tối thượng bằng cách trả tiền trước cho các ông hoàng của Đức, Áo, và Hungary để đổi lại nguồn lợi từ các hầm mỏ, đất đai, và các thành phố. Từ những vụ đầu cơ như vậy, đến năm 1500, nhà Fugger đã trở thành gia tộc giàu nhất châu Âu.

Chúng ta có thể lấy Jakob Fugger II (năm 1459-1525) làm mốc cho kỷ nguyên tư bản chủ nghĩa ở Đức, tức việc các doanh nhân kiểm soát tiền bạc áp đảo quyền lực của các lãnh chúa sở hữu đất đai. Đến cuối thế kỷ 15, nền công nghiệp khai mỏ và dệt của Đức đã được tổ chức theo các dây chuyền tư bản chủ nghĩa - tức được kiểm soát bởi những người cung cấp tư bản.

Một số nhà tư bản thương nghiệp của Augsburg hoặc Nuremberg có giá trị 5.000.000 franc (khoảng 25.000.000 đô-la?). Nhiều người trong số họ dùng tiền để mua được vị trí trong giới quý tộc địa chủ và đeo các gia huy. Joachim Hochstetter và Franz Baumgartner đã tiêu 5.000 florin (125.000 đô-la) cho chỉ một bữa yến tiệc, hoặc đánh cuộc 10.000 florin vào chỉ một ván cưỢC. Những ngôi nhà của các thương nhân giàu có, được trang trí đầy tính nghệ thuật và có nội thất xa hoa, đã gây căm phẫn cho cả giới quý tộc, tăng lữ, lẫn vô sản. Geiler von Kaiserberg yêu cầu rằng họ“phải bị đuổi đi như những con sói, bởi họ chẳng sợ Chúa Trời cũng như con người, và gây ra đói, khát, và nghèo túng”. Nghị viện (tức Reichstag) của thành phố Cologne vào năm 1512 đã kêu gọi tất cả các nhà chức trách dân sự đứng lên “một cách bền bỉ và nghiêm túc… chống lại những công ty cho vay nặng lãi, đầu cơ, và tư bản chủ nghĩa”. Những sắc lệnh tương tự được lặp lại bởi các nghị viện khác, nhưng không hề có tác dụng. Bản thân một số nhà lập pháp đã đầu tư vào các công ty thương nghiệp lớn; các đại diện của luật pháp được làm cho ngậm miệng bằng những khoản cổ phần, và nhiều thành phố phát triển hưng thịnh từ sự tự do về tài chính và thương nghiệp.

Strasbourg, Colmar, Metz, Augsburg, Nuremberg, Ulm, Ratisbon (tức Regensburg), Mainz, Speyer, Trier, Worms, Cologne, Bremen, Hamburg, Magdeburg, Lübeck, và Breslau đều là những trung tâm công nghiệp, thương mại, văn chương, và nghệ thuật đang phát triển rực rỡ. Chúng và 77 thành phố khác là những “thành phố tự do” - tự lập ra luật pháp riêng, và không thừa nhận trung thành với bất cứ phe phái chính trị nào ngoại trừ hoàng đế, người thường xuyên nợ những thành phố ấy quá nhiều về người hoặc tiền bạc, đến nỗi chẳng thể công kích sự tự do của chúng. Mặc dù các thành phố này được điều hành bởi các nghiệp đoàn, nơi các thương nhân thống trị, gần như mọi thành phố trong số này đều là một “nhà nước phúc lợi” theo tư tưởng gia trưởng, tới mức nó điều tiết việc sản xuất và phân phối, tiền Công, giá cả, và chất lượng hàng hóa, với ý định bảo vệ kẻ yếu khỏi kẻ mạnh và đảm bảo những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống cho tất cả mọi người.

Nuremberg khi ấy là trung tâm của nghệ thuật và kỹ nghệ hơn là của công nghiệp quy mô lớn hay tài chính. Các con phố của nó khi ấy vẫn quanh co theo kiểu Trung cổ, và được phủ bóng bởi những tầng nhà xây nhô ra hoặc ban công, những mái nhà ngói đỏ, đầu hồi nhô cao, và những khung cửa sổ lồi tạo ra một cảnh lộn xộn mơ hồ đẹp như tranh vẽ trên cảnh nền nông thôn và dòng nước đang trôi đi một cách khó nhọc. Con người nơi đây không giàu có như ở Augsburg, nhưng họ vui vẻ và gemutlich*, và thích vui đùa trong các lễ hội, chẳng hạn như lễ hội mặt nạ, y phục, và nhảy múa, diễn ra hằng năm. Tại đây, Hans Sachs và các Meistersinger (các ca sĩ bậc thầy) ca ngợi bầu không khí đầy sức sống của họ, tại đây, Albrecht Direr đã đưa hội họa và điêu khắc của Đức lên đến đỉnh cao của nó, tại đây, những thợ kim hoàn giỏi nhất vùng phía Bắc dãy Alps tạo ra những chiếc bình, chén thánh, tượng nhỏ đắt tiền, tại đây, những người thợ kim khí đã tạo ra cả nghìn hình khối cây cỏ, động vật, và con người từ đồng thiếc, hay gia công sắt thành những lan can, cổng, hoặc hàng rào tuyệt đẹp; tại đây, các thợ khắc gỗ đã tìm thấy niềm vui trong những hình khắc vui nhộn của họ. Các nhà thờ của các thành phố trở thành những kho tàng và bảo tàng nghệ thuật, bởi mọi nghiệp đoàn hoặc tập đoàn hoặc gia tộc giàu Có đều đặt hàng một tác phẩm nào đó mang vẻ đẹp thể hiện lòng mộ đạo để đưa vào một nơi linh thiêng thờ một vị thánh bảo hộ. Một điểm đặc biệt của Nuremberg là thương nhân nổi tiếng nhất của thành phố này,Willibald Pirkheimer, cũng là một người đầy nhiệt huyết với chủ nghĩa nhân văn, một nhà bảo trợ nghệ thuật, và một người bạn tận tâm của Dürer.

Những chuyến hải hành của Columbus và Da Gama, sự kiểm soát của người Thổ Nhĩ Kỳ (người Turk) trên biển Aegean, và những cuộc chiến của Maximilian với Venice đã làm xáo trộn hoạt động giao thương giữa đất Đức và đất Ý. Ngày càng nhiều hàng xuất khẩu và nhập khẩu của Đức lưu chuyển trên các con sông vĩ đại để tới biển Baltic, Biển Bắc, và Đại Tây Dương; quyền lực và sự giàu có chuyển từ Augsburg và Nuremberg sang Cologne, Bremen, Hamburg, và Antwerp. Các gia tộc Fugger và Welser đưa xu hướng này đi xa hơn bằng cách biến Antwerp thành một trung tâm chính của các hoạt động vận hành của họ. Các dòng lưu chuyển về phương Bắc của tiền bạc và thương mại Đức đã khiến miền Bắc nước này tách khỏi nền kinh tế của Ý, và giúp nó đủ mạnh để bảo vệ Luther khỏi hoàng đế và giáo hoàng. Phần nào vì những lý do ngược lại, miền Nam nước Ý vẫn theo công giáo.

Tôn giáo

Nhìn chung, Công giáo phát triển mạnh ở Đức thế kỷ 15. Phần lớn người dân theo chính thống giáo, và - ngoại trừ những lúc họ phạm tội lỗi và những lúc say sưa - họ ngoan đạo một cách nghiêm túc. Gia đình người Đức gần như là một nhà thờ, trong đó người mẹ đóng vai trò người dạy con chiên bằng sách giáo lý vấn đáp, và người cha đóng vai trò như linh mục; việc cầu nguyện phải đúng giờ, và các cuốn sách về lòng mộ đạo của gia đình xuất hiện trong mỗi căn nhà. Một vài nhóm tu sĩ đã quay lại với việc tuân thủ những nguyên tắc của họ và thực hiện nhiều hoạt động từ thiện thực sự có ích.

Những lời than phiền về giới tăng lữ ở Đức chủ yếu nhằm vào các giám mục, và liên quan đến rất nhiều của cải và hàng loạt hành vi phàm tục của họ. Một số giám mục và trưởng tu viện phải sắp xếp việc quản trị hành chính và nền kinh tế của những khu vực rộng lớn trước đó đã thuộc quyền sở hữu của Giáo hội; bất chấp việc đã làm lễ cạo đầu và đội mũ tế của giám mục, họ thực tế vẫn nằm trong số các lãnh chúa;họ cư xử như những người phàm tục, và người ta tin rằng một số người trong số họ cưỡi ngựa tới các nghị viện địa phương hoặc nghị viện liên bang cùng các tình nhân trong đoàn tùy tùng của họ. Một giám mục Công giáo và cũng là một sử gia uyên bác, Johannes Jansen, đã tóm tắt, có lẽ theo một cách quá nghiêm khắc, những hành động lộng hành của Giáo hội Đức ngay trước cuộc cải cách kháng nghị:

Sự tương phản giữa tình yêu ngoan đạo và lòng tham phàm tục, giữa sự hy sinh tín Chúa và sự bị kỷ vô thần, hiện ra rõ ràng giữa tầng lớp tăng lữ cũng như trong các tầng lớp khác của xã hội. Quá nhiều người trong số các linh mục của Chúa Trời và tôn giáo đã hoàn toàn bỏ bê việc thuyết giảng và quan tâm chăm sóc các linh hồn. Tính hám lợi, tội lỗi dai dẳng của thời đại này, hiển hiện ở giới tăng lữ, ở mọi tầng lớp và cấp độ, trong sự nôn nóng được nâng những khoản phí cho thuê và thu nhập, thuế khóa và bổng lộc của họ lên mức tột cùng.

Giáo hội Đức là Giáo hội giàu có nhất trong thế giới Cơ Đốc giáo. Người ta tính toán rằng gần một phần ba toàn bộ những khoản sinh lời từ việc sở hữu bất động sản của đất nước này nằm trong tay Giáo hội - điều này càng khiến giới chức Công giáo đáng bị chê trách hơn khi luôn luôn nỗ lực tìm cách gia tăng số tài sản của họ. Ở nhiều thị trấn, các tòa nhà và học viện của nhà thờ đã bao phủ phần lớn cộng đồng dân cư nơi ấy.

Năm 1957, Martin Meyer, quan chưởng ấn của Tổng giám mục Dietrich của Mainz, đã gửi tới Hồng y Giáo chủ Piccolomini một bản tóm tắt đầy giận dữ về những điều sai trái mà người Đức cảm thấy rằng họ đang phải chịu đựng từ Giáo triều Rome:

Việc bầu ra các giám mục thường xuyên bị trì hoãn mà không có lý do, và đủ các kiểu lợi ích và danh giá được giữ lại cho các Hồng 4 Giáo chủ và các thư ký của giáo hoàng, bản thân Hồng y Giáo chủ Piccolomini đã được ban cho quyền giữ vị trí theo một thể thức kỳ lạ và chưa bao giờ được ai biết đến, tại 3 tỉnh ở Đức. Vô số kẻ* chờ đợi được phong tước, thuế tăng lữ và các khoản thuế khác được người ta thu một cách nghiêm khắc, và họ không cho phép bất cứ sự trì hoãn nào, và số tiền thuế bị bắt nộp thực tế lớn hơn số tiền thuế tới hạn. Chức giám mục không phải được ban cho người xứng đáng nhất, mà cho người trả giá cao nhất. Để phục vụ mục đích tích lũy tiền bạc, các sắc lệnh Ân xá mới được công bố hằng ngày, và các khoản thuế thập phân chiến tranh được người ta áp đặt mà không tham khảo ý kiến của các giám mục người Đức. Các cụ kiện đáng ra phải được xử lý tại nhà đã nhanh chóng bị chuyển tới tòa án Tông Tòa. Người Đức đã bị đối xử như thể họ là những kẻ man di giàu có và ngu ngốc, và tiền bạc của họ bị bòn rút bằng cả nghìn phương cách xảo quyệt… Trong nhiều năm, Đức đã bị vùi dập đến tận đất đen, than khóc cho sự nghèo đói và số phận bị thảm của nó. Nhưng giờ đây, giới quý tộc của đất nước này đã thức tỉnh, như thức tỉnh từ cơn ngủ say; giờ đây họ đã quyết tâm rũ bỏ cái ách, và giành lại tự do thuở xưa của họ.

Trong dân chúng, tư tưởng chống tăng lữ đi đôi với lòng mộ đạo. Pastor trung thực đã viết: “Tinh thần căm hận đối với Giáo hội và giới tăng lữ, mang tính chất cách mạng, đã chiếm trọn tâm trí quần chúng ở rất nhiều vùng trên đất Đức… Tiếng hô Đám linh mục hãy chết đi!”, từ lâu trước đó vẫn chỉ được thì thầm trong bí mật, giờ đây đã trở thành khẩu lệnh của thời đại”.

Tư tưởng thù địch này của quần chúng sâu sắc đến mức các Tòa án dị giáo, khi ấy đang được lập ra ở Tây Ban Nha, gần như không dám kết tội bất kỳ ai ở Đức. Những cuốn sách truyền tin nhỏ, mang tính bạo lực, trút lên Tòa Thánh Rome còn ào ạt hơn cả lên Giáo hội Đức. Một số tu sĩ và linh mục tham gia vào cuộc công kích này và kích động các giáo đoàn của họ chống lại sự xa hoa của các tăng lữ ở lớp cao hơn. Những người hành hương trở về từ lễ kỷ niệm (jubilee) năm 1500 đã mang tới Đức những câu chuyện khủng khiếp - thường được phóng đại - về những giáo hoàng vô đạo, những vụ đầu độc giáo hoàng, những cuộc chè chén ầm ĩ của các Hồng y Giáo chủ, và tư tưởng đa thần cùng tệ nạn mua chuộc đang tràn lan. Nhiều người Đức thề rằng, bởi tổ tiên của họ đã đập tan quyền lực của Rome vào năm 476, họ hoặc con cháu họ sẽ đập nát chế độ bạo ngược chuyên chế ấy một lần nữa; những người khác nhớ lại sự kiện Giáo hoàng Gregory VII làm nhục Hoàng đế Henry IV ở Canossa, và cho rằng thời cơ để trả thù đã đến. Năm 1521, đại sứ của giáo hoàng, Aleander, khi cảnh báo với Leo X về một cuộc nổi dậy chống lại Giáo hội sắp xảy ra, đã nói rằng 5 năm trước đó ông từng nghe được từ nhiều người Đức rằng họ chỉ chờ đến khi “một kẻ ngu ngốc nào đó” mở miệng chống lại Rome là sẽ vùng lên.

Cả nghìn yếu tố và tác nhân - ở các khía cạnh Giáo hội, trí thức, cảm xúc, kinh tế, chính trị, và luân lý - xuất hiện cùng lúc, sau nhiều thế kỷ bế tắc và áp bức, trong một cơn lốc xoáy sau này sẽ quăng châu Âu vào biến động lớn nhất kể từ sau cuộc chinh phạt Rome của người man di. Sự suy yếu của ngôi giáo hoàng do sự kiện giáo hoàng phải lưu đày tới Avignon và tình trạng Ly giáo Giáo hoàng; sự sụp đổ của kỷ cương trong giới tu sĩ và nguyên tắc không kết hôn của giới tăng lữ sự xa hoa của các giám mục, sự mục ruỗng của Giáo triều Rome, những hành động phàm tục của các giáo hoàng; phẩm hạnh của Alexander VI, những cuộc chiến của Julius II, thói tiệc tùng đình đám tắc trách của Leo X; nạn buôn bán thành tích và rao bán sắc lệnh ân xá; chiến thắng của Hồi giáo trước thế giới CơĐỐC giáo trong các cuộc Thập tự chinh và các cuộc chiến với người Turk; việc ngày càng nhiều người tiếp xúc và biết đến những đức tin tôn giáo không thuộc Cơ Đốc giáo; sự tràn vào của dòng chảy khoa học và triết học Ả Rập; sự sụp đổ của chủ nghĩa Kinh viên trong thuyết phi lý trí của Scotus và chủ nghĩa hoài nghi của Ockham; thất bại của các động thái từ phía hội đồng giám mục trong việc tạo ra cải cách; việc khám phá ra tư tưởng đa thần thời cổ đại và tìm ra châu Mỹ; phát minh kỹ thuật in ấn; sự mở rộng của giáo dục và việc ngày càng nhiều người đọc thông viết thạo; việc dịch và giải nghĩa Kinh Thánh; những sự tương phản mới được nhận ra giữa đời sống nghèo khó và đơn giản của các Tông đồ và sự giàu có kiểu cách của Giáo hội; sự gia tăng về của cải và sự độc lập về kinh tế của Đức và Anh; sự phát triển của một tầng lớp trung lưu oán giận những giới hạn và đòi hỏi của Giáo hội lên họ; những phản kháng trước dòng tiền chảy về Rome; việc thế tục hóa nhà nước và luật pháp; việc tư tưởng dân tộc ngày càng trở nên mãnh liệt và sự củng cố quyền lực của các nhà nước quân chủ; những di sản đang dần đến độ chín của nhóm Waldense, Wyclif, và Huss; yêu cầu có tính thần bí về một tôn giáo ít câu nệ nghi thức hơn, riêng tư hơn, hướng vào bên trong hơn, và thẳng thắn hơn - tất cả những yếu tố này giờ đây hợp thành dòng nước lũ mà trong tương lai sẽ làm vỡ lớp vỏ bọc trơ tráo của phong tục Trung cổ, nới lỏng tất cả các tiêu chuẩn và mối ràng buộc, khiến châu Âu vỡ vụn thành nhiều quốc gia và giáo phái, quét đi ngày càng nhiều những tiện nghi và nền móng chống đỡ cho những đức tin truyền thống - và có lẽ sẽ đánh dấu khởi đầu của phần kết cho sự thống trị của Cơ Đốc giáo trong đời sống tinh thần và luân lý của con người Tây Âu.

« Lùi
Tiến »