Chúa Jesus có thực sự tồn tại? Ba cuốn Phúc Âm đầu tiên của bộ kinh Tân Ước có phải chỉ là những văn bản lưu truyền một câu chuyện hão huyền, thể hiện tình cảm đối với Jesus? Vào đầu thế kỷ 18, Tử tước Bolingbroke đã khiến Voltaire phải kinh ngạc khi đưa ra quan điểm về khả năng Jesus chưa bao giờ tồn tại. Volney* đã chỉnh lại câu hỏi ấy trong tác phẩm nổi tiếng của ông tàn tích của Đế chế (Ruins of Empire) vào năm 1791. Khi Napoleon gặp học giả Wieland vào năm 1808, ông đã không hỏi về chính trị hay chiến tranh, mà hỏi rằng liệu Wieland có tin vào tính xác thực lịch sử của nhân vật Jesus Christ? Vào năm 1840, sử gia người Đức Ferdinand Christian Baur bắt đầu xuất bản một loạt những tập sách gây tranh cãi kịch liệt, nhắm tới việc khắc họa Christ như một câu chuyện hão huyền không kém gì những huyền thoại về Osiris, Dionysus, và Mithras..
Tôi không biết đến bất cứ học giả nổi tiếng nào ngày nay vẫn giữ những quan điểm này, mặc dù nhìn chung người ta nhất trí rằng nhiều câu chuyện về những vị thần của tín ngưỡng đa thần - chẳng hạn như câu chuyện về ba nhà thông thái thường được bổ sung, mà không có sự cho phép của các tín đồ Cơ Đốc giáo, vào những câu chuyện được lưu truyền bởi Matthew, Mark, và Luke. Phúc Âm của Thánh Mark, giờ đây được cho là có niên đại vào khoảng năm 65 đến năm 79, rõ ràng được lưu truyền rộng rãi khi một số người trong số các Tông đồ vẫn còn sống và có thể nói những thông tin trái ngược với câu chuyện của Mark. Nếu Thánh Paul nghi ngờ sự tồn tại của nhà thuyết giáo bị đóng đinh trên thập giá ấy*, người mà các Tông đồ nguyện dâng hiến cả cuộc đời, hẳn ông ta sẽ không rao giảng về tôn giáo của Christ. Việc chỉ một vài người trong một vài năm đã sáng tạo ra một nhân vật, một nhân cách có sức ảnh hưởng và sức hút mạnh mẽ như Jesus hẳn sẽ là một phép mầu còn khó tin hơn bất cứ phép mầu nào được ghi lại trong các cuốn Phúc Âm. Sau hai thế kỷ của sự chỉ trích nặng nề, những nét chính trong cuộc đời, nhân cách, và sự nghiệp thuyết giảng của Christ vẫn rõ ràng một cách hợp lý, và góp phần tạo ra đặc điểm kỳ thú nhất trong bức tranh toàn cảnh về con người phương Tây.
CON CỦA LOÀI NGƯỜI
Bất kể ai cũng nên cố gắng cảm nhận địa điểm và thời gian Jesus ra đời, mối liên hệ giữa vùng đất và dân tộc của ông với Đế chế La Mã, đế chế đang bao vây họ, sự chua xót của quốc gia bị chinh phục ấy, di sản đáng tự hào về tôn giáo, luật pháp, văn chương, và triết học của nó, hy vọng mãnh liệt của nó vào ngày được giải phóng, giấc mơ của nó về một vương quốc trong tương lai của tự do, công lý, và vinh quang. Cần có sự tác cả những thứ này lên một tâm hồn nhạy cảm và thấu hiểu - mới có thể tạo ra người con trai của anh thợ mộc ấy và dẫn người con trai ấy tới cây thập giá.
Do sự hài hước của lịch sử, cậu bé Christ ra đời 3 hay 4 năm “trước khi Christ ra đời”*, tức là, theo cuốn Phúc Âm của Thánh Matthew (Matthew, chương 2, Câu 15), trước cái chết của Vua Herod Đại đế, người qua đời vào năm 4 TCN. Ông là một người con của xứ Bethlehem ở Judea, hoặc, theo một số người, xứ Nazareth ở Galilee. Cũng chính cuốn Phúc Âm ấy nói rằng dòng dõi của ông bắt đầu từ Vua David xuống đến “Joseph, hôn phu của Mary” - điều này có vẻ rất ăn khớp với niềm tin của người Do Thái rằng Đấng Cứu Thế Messiah, người sẽ cứu rỗi Israel và đưa nó trở lại vinh quang vốn có, sẽ là hậu duệ của David; nhưng Matthew bổ sung rằng “khi Mary kết hôn với Joseph, trước khi họ đến với nhau, bà đã mang thai một đứa bé của Thánh Linh” (Matthew chương 1, câu 18). Cuốn Phúc Âm của Luke mở rộng phép mầu này thành những lời văn tuyệt vời: “Thiên thần Gabriel tới chỗ cô ấy, và nói: “Hỡi Mary, đầy phước lành; Chúa Trời ở bên người; Chúa ban phước lành cho người giữa bao phụ nữ”; khi nghe được những lời này, Elizabeth, chị họ của cô, nói thêm vào: “và Chúa ban phước lành cho đứa trẻ sắp ra đời của cô” - câu nói đã trở thành lời cầu nguyện đáng yêu nhất trong những lời cầu nguyện của Công giáo. Mary trả lời với câu Magnificat ấy, câu nói đã truyền cảm hứng cho rất nhiều giai điệu tuyệt vời: “Tâm hồn của tôi ngợi ca Chúa Trời, và linh hồn tôi chung vui với Chúa, Đấng Cứu Thế của tôi. Bởi ngài đã chiếu cố đến thân phận hèn kém của nữ hầu này, bởi vì hãy chờ xem, kể từ đây tất cả các thế hệ sẽ gọi tôi là người được ban phước lành” (Luke chương 1, trang 46-48).
Tôi tưởng tượng ra những bản thánh ca mà thời Trung Cổ đã sáng tác cho Mary, và những bài ca hân hoan mà tôi đã hát tặng người khi tôi còn trẻ; người là tình yêu đầu tiên của tôi. Được tưởng tượng và yêu mến người, và dựng lên cả nghìn ngôi đền để vinh danh người, là một trong những điều cứu rỗi con người nhiều nhất mà nhân loại đã làm. Xét cho cùng, chẳng có gì nhiều để biện hộ cho những nỗ lực kỳ quặc của chúng ta ngày nay khi cố gắng tạo ra một linh hồn.
Jesus rõ ràng là thành viên của một gia đình lớn, bởi những người hàng xóm đã nói đến những người anh em của ông, gồm James, Joseph, Simon, và Judas” (Matthew, chương 13, câu 55). Có lẽ ông theo nghề thợ mộc dễ dàng của cha ông, nhưng ông hẳn đã hấp thu, với niềm thích thú, những vẻ đẹp của miền đồng quê, bởi ông sau này đã cảm nhận một cách tinh tế vẻ thanh nhã và màu sắc của những bông hoa, và sự đơm hoa kết trái trong yên lặng của cây cối.
Câu chuyện kể về việc ông chất vấn những học giả ở Đền Thánh chẳng đến mức không thể tin nổi; ông có một trí óc đầy tỉnh giác và tò mò, và ở Cận Đông, một cậu bé 12 tuổi khi ấy đã đạt đến độ trưởng thành. Ông tham dự các lễ nghi trong giáo đường của người Do Thái, và lắng nghe Thánh kinh với niềm vui thích hiện rõ; các Đấng Tiên tri và kinh Thánh Vịnh giúp định hình con người ông và in sâu vào ký ức của ông. Có lẽ ông cũng đọc những cuốn sách của Daniel và Enoch, bởi những lời thuyết giảng sau này của ông cũng thấm nhuần những viên kiến của họ về Messiah, Sự Phán xét Cuối cùng, và Vương quốc của Chúa Trời sắp tới.
Không khí mà ông thở đậm đặc tinh thần phấn khích của tôn giáo. Hàng nghìn người Do Thái chờ đợi trong khắc khoải sự xuất hiện của Đấng Cứu rỗi của Israel. Ở khắp nơi, người ta tin vào ma thuật và phép phù thủy, ác quỷ và thiên thần, “quỷ ám” và phép trục quỷ trừ tà, phép mầu và những lời tiên tri, bói toán và chiêm tinh, như những điều đương nhiên mà chẳng mảy may nghi ngờ. Những người có phép thần thông - những người tạo ra phép mầu nhiệm - đi đến khắp các thị trấn. Trên những chuyến hành hương hằng năm tới Jerusalem mà tất cả những người Do Thái ở Palestine vẫn thực hiện để dự đại lễ Vượt Qua, Jesus có thể đã biết được điều gì đó về người Essenes và cuộc sống nửa tu tập của họ; có lẽ vì những nhà truyền bá đạo Phật của Vua Ashoka, vị vua của người Hindu, đã tới Palestine. Những bài thuyết giáo của John, con trai của Elizabeth, chị em họ của Mary, mới là trải nghiệm khơi gợi lòng nhiệt thành của ông với tôn giáo.
Matthew và Mark mô tả John là người mặc quần áo làm từ vải lông ngựa, ăn mật ong và châu chấu chết để sống, đứng bên sông Jordan, kêu gọi mọi người sám hối, và rửa tội cho những người sám hối để họ được tái sinh về tinh thần. Ông cảnh báo những người gây ra tội lỗi rằng hãy chuẩn bị đón nhận Sự Phán xét cuối cùng, và tuyên bố rằng Vương quốc của Chúa Trời sắp xuất hiện. Theo John, nếu toàn cõi Judea sám hối và được rửa tội, Messiah và Vương quốc ấy sẽ đến.
Khi John người Rửa tội bị tống giam, Jesus đảm nhận công việc của ông, và bắt đầu thuyết giảng về Vương quốc của Chúa Trời sắp đến. Luke kể rằng ông “trở về Galilee và thuyết giảng trong các giáo đường của người Do Thái”. Ông nói “linh hồn của Chúa Trời nằm ở ta, bởi ngài đã xức dầu thánh cho ta để ta mang những tin tốt lành tới người nghèo khổ, ngài đã gửi ta đến để chữa lành cho những người đang tột cùng đau khổ, để thuyết giảng về sự giải thoát cho những người đang bị tù đày và phục hồi ánh sáng cho những người mù, để mang tự do đến cho những người đang chịu áp bức” (Isaiah, chương 56, câu 1-2). Luke nói thêm: “Đôi mắt của tất cả những người trong giáo đường Do Thái không thể nào rời khỏi ông. Và họ đều nói tốt về ông, và sửng sốt trước những lời thân thiện và đầy sức hút từ miệng ông” (Isaiah, chương 4, câu 19).
Những lời ấy không phải lúc nào cũng dễ chịu. Jesus chấp nhận và công bố một số thuyết không hề dễ chịu, khi ấy đang dần hình thành trong tư tưởng của những đồng bào của ông. Ông nói rằng những người gây tội lỗi sẽ phải chịu hình phạt “xuống hỏa ngục, ngọn lửa không bao giờ tắt, nơi những con sâu nhung nhúc sẽ không bao giờ chết, và ngọn lửa sẽ không bao giờ tắt” (Mark, chương 9, câu 43-44); và ở chương thứ 13 của sách Matthew, ông nói về Sự Phán xét Cuối cùng khi “Con của loài Người” (tức Jesus Christ) “sẽ gửi đi những thiên thần của người, và từ vương quốc của người, họ sẽ thu thập ra tất cả những thứ gây tội lỗi, những kẻ tạo ra sự bất công và ném chúng vào một lò lửa; sẽ có tiếng than khóc và tiếng nghiến răng. Thế rồi, kể từ đó những gì ngay thẳng, công bằng sẽ tỏa sáng như Mặt Trời trên vương quốc của Cha họ” (Matthew, chương 13, câu 41-43).
Ông kể, một cách không chút do dự, về việc người nghèo trên thiên đường sẽ không được phép để dù chỉ một giọt nước rơi xuống miệng người giàu dưới địa ngục (Luke, chương 16, câu 25). Có lẽ, giống những người tin theo ông, ông cảm thấy rằng sự hà khắc và khủng bố ở mức độ nào đó là những thứ không thể thiếu trong việc thuyết giảng trước một thế giới nghiện bạo lực, ngoại tình, và tham lam. Phần cá tính hơn trong con người ông xuất hiện khi một số người thuộc nhóm các Pharisee - nhũng nguyên lão bảo thủ - yêu cầu ông kết tội một người phụ nữ đã bị bắt trong một vụ ngoại tình. Ông nói với họ: “Trong các người, người nào không phạm phải một tội lỗi nào thì hãy ném viên đá đầu tiên vào người phụ nữ ấy” (John, chương 8, câu 7).
Thường thì người ta kể rằng, trong những người đàn ông, ông là người dễ khiến người khác yêu nhất. Nhiều phụ nữ cảm thấy ở ông một sự mềm mỏng và dịu dàng, truyền cảm hứng cho sự hết lòng dâng hiến, trước sau như một. Vì thế, chúng ta đọc được câu chuyện về cô gái bán dâm: cảm động trước việc ông sẵn sàng chấp nhận sự sám hối của những người đã gây tội lỗi, Cô đã quỳ xuống trước mặt ông, xức dầu thánh lên đôi bàn chân ông, để những giọt nước mắt của mình rơi lên đôi bàn chân ấy, và lau khô chúng bằng mái tóc của mình. Khi một số người đứng ngoài phản đối, ông trả lời họ: “Tội lỗi của cô ấy, rất nhiều, đã được tha thứ, bởi cô ấy tràn ngập yêu thương (Luke, chương 7, câu 37-38,47).
Tôi tin rằng phần lớn những phép mầu được cho là do ông tạo ra đều là sản phẩm tự nhiên của sự ám thị - của sự ảnh hưởng từ một tâm hồn mạnh mẽ và đầy sự tự tin lên những tâm hồn nhạy cảm, dễ bị chi phối; người ta có thể chứng kiến những hiện tượng tương tự bất cứ lúc nào ở Lourdes*. Ngay sự hiện diện và đức tin của ông đã là một liều thuốc bổ; khi được đôi tay lạc quan của ông chạm vào, người yếu ớt trở nên cường tráng và người ốm đau được chữa lành. Chúng ta không thể đặt bất cứ giới hạn chắc chắn nào cho những quyền năng nằm trong suy nghĩ và ý nguyện của một người phụ nữ hoặc đàn ông có tinh thần mạnh mẽ và đầy niềm tin.
TIN TỨC TỐT LÀNH
Phúc Âm - nghĩa của nó trong tiếng Anh là “tin tức tốt lành” - mà Jesus mang đến cho dân tộc ông là gì? Ông bắt đầu ở Phúc Âm của John người Rửa tội, và khởi nguồn của chính cuốn sách này là từ Daniel và Enoch; historia non facit saltum. Jesus nói rằng Vương quốc Thiên đường đang ở rất gần, trong tầm tay, không lâu nữa Thượng Đế sẽ kết thúc sự thống trị của những thứ xấu xa trên thế giới; Con của loài Người (cách ông gọi chính mình) sẽ tới “trên những đám mây trên bầu trời” để phán xét toàn bộ nhân loại, bất kể đang sống hay đã chết. Thời gian để sám hối sắp hết; những người sám hối, sống ngay thẳng, yêu Thượng Đế, và đặt niềm tin vào sứ giả của Thượng Đế sẽ được thừa hưởng Vương quốc ấy, và sẽ có được sức mạnh và vinh quang trong một thế giới cuối cùng cũng được giải phóng hoàn toàn khỏi mọi điều xấu xa, khổ đau, và cái chết.
Jesus không định hình những ý này một cách rõ ràng, và vẫn còn nhiều trở ngại khiến khái niệm của ông không rõ ràng. “Vương quốc” theo ý của ông là gì? Một thiên đường siêu nhiên? Rõ ràng không phải vậy, bởi các Tông đồ và những tín đồ Cơ Đốc giáo đầu tiên đều một lòng trông đợi một vương quốc trên trần thế. Đây là câu chuyện truyền kỳ của người Do Thái mà Christ kế thừa, và ông dạy những người tin theo ông cách cầu nguyện tới Cha: “Vương quốc của Ngài sẽ đến, ý chí của Ngài sẽ thành hiện thực, nó sẽ là thiên đường trên trần thế”. Chỉ sau khi hy vọng ấy đã trở thành thất vọng, Phúc Âm của John mới khiến Jesus nói rằng “Vương quốc của ta không nằm ở thế giới này” (John, chương 18, câu 36). Có phải ông đang nói đến một trạng thái tâm linh, hay một xã hội hoàn mỹ có tính vật chất? Đôi lúc, ông nói về Vương quốc ấy như một trạng thái tâm hồn mà những người trong sáng và không phạm phải tội lỗi nào có thể đạt đến - “vương quốc của Thượng Đế nằm bên trong người” (Luke, chương 17, câu 20);những lúc khác, ông khắc họa nó như một xã hội tương lại hạnh phúc, trong đó các tông đồ sẽ là những người cai trị, và những người đã hiến dâng hoặc chịu đựng khổ đau vì mục tiêu của Christ sẽ nhận được phần thưởng gấp trăm lần những gì họ cho đi (Matthew, chương 19, câu 29).
Nhiều người đã diễn giải Vương quốc như một xã hội hoàn mỹ cộng sản chủ nghĩa, và đã nhìn thấy trong Christ một nhà cách mạng xã hội. Các cuốn kinh Phúc Âm cho chúng ta một số bằng chứng về quan điểm này. Christ hứa rằng sẽ mang đói khát và thống khổ đến với những kẻ giàu có và đủ đầy, và làm an lòng những người nghèo bằng các Chân Phúc (Beatitudes), những phẩm chất hứa hẹn sẽ đưa họ tới Vương quốc. Đối với người thanh niên giàu có, người hỏi rằng anh ta nên làm gì ngoài tuân theo các Điều rắn, Jesus trả lời: “Hãy bán tài sản của ngươi, đưa tiền của người cho người nghèo, và… đi theo ta” (Matthew, chương 19, câu 15). Rõ ràng, các Tông đồ đã diễn giải Vương quốc như một sự đảo ngược có tính cách mạng của những mối liên hệ khi ấy đang tồn tại giữa người giàu và người nghèo; chúng ta sẽ thấy họ và những tín đồ Cơ Đốc giáo đầu tiên hợp thành một nhóm cộng sản chủ nghĩa, những người “có chung mọi thứ” (Công Vụ, chương 2, câu 44-45).
Nhưng một người bảo thủ cũng có thể trích kinh Tân Ước để phục vụ mục đích của anh ta. Christ làm bạn với Matthew, người tiếp tục làm một người đại diện cho quyền lực của Đế chế La Mã; ông không hề chỉ trích nhà nước dân sự, không hề tham gia vào phong trào của người Do Thái để giải phóng quốc gia của họ, và khuyên mọi người hãy ôn hòa một cách tuân phục, một sự ôn hòa không hề mang tính cách mạng chính trị. Ông khuyên nhóm Pharisee “hãy trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar, và trả cho Thượng Đế những gì thuộc về Thượng Đế”. Ông tán đồng người nô lệ đã đầu tư 10 mina (600 đô-la) mà ông chủ đã tin tưởng giao cho anh ta, và rồi tạo ra thêm 10 minas; ông phản đối người nô lệ mà, khi được tin tưởng giao cho 1 mina, đã cất giữ và không khiến nó sinh lời để chờ đến khi ông chủ trở về; và ông nhét vào miệng ông chủ ấy câu nói nghiệt ngã rằng “Những người nào đã có sẽ được cho thêm; và với những người không có gì, ngay đến những thứ anh ta đang có cũng sẽ bị tước đi” (Luke, chương 19, câu 26) - một bản tóm tắt xuất sắc cho những sự vận động của thị trường, nếu không muốn nói là tóm tắt cho lịch sử thế giới.
Ông không hề công kích những thể chế kinh tế đang tồn tại khi ấy; ngược lại, ông lên án những tâm hồn đầy nhiệt huyết, những người “sẽ bỗng chốc trở nên sung túc ở Vương quốc” (Matthew, chương 11, câu 12). Cuộc cách mạng mà ông nỗ lực tìm kiếm là một cuộc cách mạng sâu sắc hơn nhiều, một cuộc cách mạng mà, nếu không có nó, mọi cải cách sẽ chỉ hời hợt trên bề mặt và tạm thời. Nếu ông có thể thanh tẩy trái tim con người khỏi khao khát vị kỷ, sự tàn nhẫn, và dục vọng, xã hội hoàn mỹ chắc chắn sẽ đến. Do đó, đây sẽ là cuộc cách mạng sâu sắc nhất trong các cuộc cách mạng - một cuộc cách mạng mà đứng cạnh nó, tất cả những cuộc cách mạng khác sẽ chỉ là những cuộc đảo chính trong đó giai cấp này hất cẳng giai cấp khác và đến lượt nó bóc lột - xét theo nghĩa tinh thần này,Christ là nhà cách mạng vĩ đại nhất trong lịch sử.
Thành tựu của ông không chỉ ở việc tạo ra một nhà nước mới, mà còn ở việc vạch ra những nét chính trong một hệ thống giá trị đạo đức mới. Các quy tắc đạo đức của ông đã được xác định vào thuở sơ khai của Vương quốc và được lập ra sao cho con người xứng đáng được vào vương quốc ấy. Vì thế ra đời các Chân Phúc, với sự đề cao, tới mức chưa từng có, tính khiêm nhường, sự hòa nhã, và hòa bình, lời răn dạy không lấy oán báo oán; vì thế ông mới bàng quan với sự chu cấp về kinh tế, tài sản, quyền lực hành chính; ông coi trọng đời sống độc thân hơn đời sống hôn nhân; mệnh lệnh từ bỏ tất cả những mối liên kết gia đình - các mối liên kết gia đình của ông không phải là các nguyên tắc cho đời sống gia đình hay trật tự xã hội, chúng là một chế độ bán tu tập nhằm khiến nam giới và nữ giới trở nên xứng đáng để được Thượng Đế tiến cử vào một Vương quốc sắp tới, và trong vương quốc ấy sẽ không có pháp luật, không hôn nhân, không quan hệ tình dục, không tài sản, không chiến tranh.
Những ý tưởng về luân lý này có mới không? Không có gì mới, ngoại trừ cách sắp xếp. Chủ đề cốt lõi trong những lời thuyết giáo của Christ - sự Phán xét và Vương quốc sắp tới - vốn đã tồn tại được một thế kỷ trong văn hóa người Do Thái. Luật của Moses từ trước đó đã khắc sâu tinh thần ái hữu của con người. Theo sách Leviticus “Ngươi phải yêu người hàng xóm như yêu chính mình, người lạ sống cùng người sẽ gần gũi với người như một người được sinh ra từ người, và người phải yêu anh ta như yêu chính mình” (Leviticus, chương 19, câu 17-18, chương 34). Các Nhà Tiên Tri đã đặt một đời sống tốt lên trên mọi nghi lễ; và Isaiah và Hosea từ trước đó đã bắt đầu thay đổi Yahweh từ một vị Chúa của những Đám Đông - tức những Đội quân - thành một vị Thần của tình ái hữu. Hillel, như Khổng Tử, đã lập ra Luật Vàng. Chúng ta không nên dành ít sự ưu ái hơn cho Jesus chỉ vì ông đã thừa hưởng và sử dụng kho tàng tri thức giàu có về luân lý của dân tộc mình.
Trong một thời gian dài, ông đã nghĩ mình thuần túy là một người Do Thái, chia sẻ những tư tưởng của các Đấng Tiên Tri, tiếp tục công việc của họ, và chỉ thuyết giáo cho người Do Thái, giống họ. Khi gửi các môn đồ đi lan tỏa Phúc Âm của mình, ông chỉ gửi họ tới các thành phố Do Thái. “Đừng đi tới nơi của những người không phải người Do Thái” (Matthew, chương 10, câu 5), bởi việc ấy sẽ làm dấy lên vấn đề về Luật của Moses. “Ta tới không phải để tiêu hủy Luật của Moses mà để thi hành nó” (Matthew, chương 5, câu 17). Ông nói với người bị bệnh phong đã được ông chữa khỏi “đi gặp thầy tế và… trao cho người ấy món quà mà Moses đã định ước ra” (Matthew, chương 8, câu 4). Bất kể thế nào, ông đã tạo ra một vài chỉnh sửa lên bộ luật ấy. Ông khiến nó hà khắc hơn ở các vấn đề tình dục và ly hôn, nhưng làm cho nó mềm mại hơn theo thiên hướng sẵn sàng tha thứ hơn; và ông nhắc nhở nhóm Pharisee rằng ngày Sabbath* được tạo ra cho con người, chứ không phải con người sinh ra vì ngày Sabbath. Ông nới lỏng luật về chế độ ăn và sự sạch sẽ, và loại bỏ một số thời gian nhịn ăn nhất định. Ông lên án những lời cầu nguyện gây chú ý, những hành vi từ thiện phô trương, và những đám tang cầu kỳ.
Người Do Thái ở khắp nơi, ngoại trừ Essenes, phản đối những đổi mới của ông, và đặc biệt không bằng lòng với việc ông tự cho mình thẩm quyền được tha thứ cho tội lỗi và phát ngôn nhân danh Thượng Đế. Họ sốc khi thấy ông duy trì những mối quan hệ thân thiện với những người phụ nữ có đạo đức đáng ngờ. Các thầy tế của Đền Thánh và các thành viên của hội đồng Sanhedrin* xem đám người tin theo ông với số lượng ngày càng lớn là một cuộc nổi loạn chống lại Rome nhưng được ngụy trang, và sợ rằng quan kiểm sát trưởng sẽ quy cho họ tội bỏ mặc chức tránh duy trì trật tự xã hội. Jesus đã lên án họ một cách táo bạo, không màng hậu quả:
Than ôi, đám Scribe* và Pharisees đạo đức giả các người,… đám dẫn đường mù quáng các người… những kẻ ngu ngốc mù quáng!… Các người giống như những nấm mồ đã được quét vôi trắng* … Bề ngoài, các người có vẻ chính trực, nhưng bên trong các người đầy sự đạo đức giả và độc ác… Các người là hậu duệ của những kẻ đã sát hại các Nhà Tiên Tri… Lũ rắn độc các người! Bầu lũ rắn độc các người! Làm sao các người có thể thoát khỏi hình phạt đày xuống địa ngục đây?… Đám chủ quán rượu và gái làng chơi còn được tới Vương quốc của Thượng Đế trước cả các người. (Matthew, chương 23, câu 1-34; chương 21, câu 31.)
Cuộc khủng hoảng cuối cùng xuất hiện khi các Tông đồ tuyên bố công khai rằng Jesus chính là đấng Messiah mà Kinh Thánh đã hứa hẹn, người sẽ đưa đất Israel ra khỏi kiếp đày đọa nô lệ dưới tay người La Mã và thiết lập triều đại trị vì của Thượng Đế trên trần gian. Khi, vào ngày thứ Hai cuối cùng trước khi chết, ông vào thành Jerusalem để mang phúc âm từ các thị trấn tới thủ đô ấy, “toàn bộ đám môn đồ của ông” đón chào ông bằng câu “Phước lành ban cho vị vua, người đến nhân danh Chúa Trời” (Luke, chương 19, câu 37). Một số Pharisee yêu cầu ông cự tuyệt lời chào đón này, ông trả lời: “Nếu họ yên lặng, những viên đá cũng sẽ kêu lên như vậy thôi”. Sách Phúc Âm của John ghi lại rằng đám đông tung hô Jesus là “Vua của Israel”. Rõ ràng, những người tin theo ông nghĩ về ông như nghĩ về một đấng Messiah đảm đương vai trò chính trị, người sẽ lật đổ quyền lực của La Mã và giải phóng đất Judea.
Có lẽ chính những lời tung hô này đã vô tình an bài cho Christ cái chết của một nhà cách mạng.
CHẾT VÀ BIẾN HÌNH
Đại tiệc của lễ Vượt Qua đã gần kề, và rất nhiều người Do Thái khi ấy đang tụ họp ở Jerusalem để dâng đồ hiến tế tại Đền Thánh. Khoảnh sân bên ngoài của ngôi đền thiêng này huyên náo với những người bán chim bồ câu trắng và những con thú khác để hiến tế, và với cả những người đổi tiền đang chìa ra những đồng tiền được chấp nhận ở địa phương để đổi lấy những đồng xu được sùng bái của vùng đất La Mã.
Viếng thăm Đền Thánh ngay sau ngày bước vào thành Jerusalem, Jesus bị sốc trước tiếng ồn ào và hoạt động mua bán trong những quầy hàng trong một phút bùng phát căm phẫn, một hành động tạo cho mình nhiều kẻ thù có tầm ảnh hưởng mạnh, ông và các môn đồ đã lật tung những chiếc bàn của những người làm nghề đổi tiền và những người bán chim bồ câu, làm những đồng xu của họ vương vãi trên mặt đất, và với “một loạt đòn roi” đã đuổi những tay buôn ấy ra khỏi sân đền.
Suốt vài ngày sau đó, Jesus thuyết giảng trong Đền Thánh, không gặp bất cứ trở ngại nào, nhưng vào ban đêm, ông rời Jerusalem và nghỉ lại trên Núi Olives, lo sợ việc bị bắt giữ hoặc ám sát. Những người đại diện cho chính quyền - dân sự và tôn giáo, La Mã và Do Thái - từ lâu đã theo dõi ông. Trước đó, việc ông không thể thu hút được một đám đông người tin theo đã khiến họ có vẻ không để mắt tới ông nhưng việc ông được nồng nhiệt đón tiếp ở Jerusalem khiến các lãnh đạo Do Thái phân vấn liệu sự phấn khích này, đang tác động đến đám đông dễ xúc động và đầy tinh thần yêu nước sắp dự lễ Vượt Qua, có thể bùng phát thành một cuộc nổi loạn vô ích và không đúng lúc để chống lại uy quyền của La Mã, và dẫn đến việc tìm áp toàn bộ quyền tự trị lẫn sự tự do tôn giáo ở Judea. Đại tư tế Caiaphas triệu tập một cuộc họp ở Sanhedrin, và biểu lộ quan điểm “rằng một người nên chết vì dân tộc, thay vì cả đất nước bị tiêu diệt” (John, chương 15, câu 15). Đa số đồng ý với ông, và hội đồng ra lệnh bắt Jesus.
Tin tức nào đó về quyết định này dường như đã tới tại Jesus. Vào ngày thứ 14 trong tháng Do Thái Nisan (tức ngày 3 tháng Tư theo lịch của chúng ta), rất có thể vào năm 30, Jesus và các môn đồ ăn bữa Seder, tức bữa ăn Vượt Qua, tại nhà của một người bạn ở Jerusalem. Họ trông chờ Thầy* sẽ giải phóng chính mình bằng một quyền năng mầu nhiệm nào đó, nhưng trái với mong muốn của họ, ông lại chấp nhận định mệnh của mình. Theo nghi lễ Do Thái, ông ban phước (eucharistisae, theo ngôn ngữ Hy Lạp của kinh Tân Ước) cho rượu vang mà ông trao cho các Tông đồ để họ uống, và rồi họ cùng nhau hát bài hát nghi lễ của người Do Thái, mang tên “Hallel”. Ông nói với họ, theo Phúc Âm của John, rằng ông sẽ ở bên họ “chỉ trong một thời gian rất ngắn nữa… Ta cho các ngươi một mệnh lệnh mới: Hãy yêu thương lẫn nhau… Đừng để trái tim các người bồn chồn. Hãy tin vào Thượng Đế và tin vào ta. Trong ngôi nhà của Cha ta, có rất nhiều biệt dinh… ta sẽ chuẩn bị một chỗ cho các ngươi”.
Người ta kể rằng, đêm đó nhóm người này ẩn náu trong Vườn Gethsemane, bên ngoài Jerusalem. Tại đó, một phân đội cảnh vệ của Đền Thánh tìm thấy họ và bắt giữ Jesus. Ông trước tiên bị mang tới nhà của Annas, một cựu đại tư tế, rồi tới nhà của đại tư tế Caiaphas, nơi một “Hội đồng” - rất có thể là ủy ban Sanhedrin - đã tụ họp. Nhiều nhân chứng khác nhau làm chống chống lại Jesus, đặc biệt là việc nhắc nhớ lại lời đe dọa tiêu hủy Đền Thánh của ông. Khi Caiaphas hỏi ông: liệu ông Có phải “Messiah, Con của Chúa Trời” hay không, Jesus được cho là đã trả lời: “Ta chính là người ấy” (Mark, chương 14, câu 61; Matthew, chương 26, câu 63). Vào sáng hôm sau, hội đồng Sanhedrin họp mặt, kết luận rằng ông phạm tội báng bổ (khi ấy là một tội phải chịu án tử hình), và quyết định mang ông tới trước quan kiểm sát trưởng của La Mã.
Trong mắt Pontius Pilate, nhà thuyết giáo với phong thái cư xử nhẹ nhàng này dường như không phải một mối nguy thực sự với quốc gia. “Ngươi có phải Vua của người Do Thái?” ông hỏi. Theo Phúc Âm của Matthew, Jesus đã trả lời “Su eipas” - “Nhà người đã trả lời rồi”. Phúc Âm thứ Tư trích lời Jesus khi bổ sung rằng “Ta sinh ra cho điều này… để chứng thực chân lý”. “Chân lý nào?” quan kiểm sát trưởng hỏi - một câu hỏi hé lộ sự khác biệt giữa văn hóa tinh vi, sành sỏi và hoài nghi của người La Mã và tư tưởng duy tâm không hoài nghi của người Do Thái. Pilate, một cách do dự, kết án tử hình Jesus.
Đóng đinh trên thập giá là một hình phạt của người La Mã, không phải của người Do Thái. Trước hình phạt đóng đinh thường là một trận đòn roi, một hình phạt mà nếu được thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm khắc, sẽ để lại trên cơ thể tù nhân rất nhiều mảng thịt sưng phồng và bê bết máu. Binh lính La Mã đặt lên đầu Christ một vòng dây gai, chế nhạo địa vị hoàng gia “Vua của người Do Thái” của ông, và khắc lên cây thập giá của ông một dòng khắc văn bằng tiếng Aram, Hy Lạp, và Latin: Jesus Nazarathaeus Rex loudeorum*.
Bất kể Christ có phải một nhà cách mạng hay không, ông rõ ràng đã bị Rome kết tội như một nhà cách mạng; Tacitus nhìn nhận câu chuyện này theo cách đó (Biên Niên Sử của Tacitus, cuốn 15, chương 44). Một đám đông nhỏ, với quy mô đủ để tập trung trong sân trong nhà Pilate, đã đòi thi hành án tử hình với Christ; tuy nhiên, Luke kể rằng, giờ đây khi ông trèo lên đồi Golgotha, “theo sau ông là một đám đông gồm rất nhiều người”, và gồm cả những người phụ nữ đang đập tay vào ngực họ trong đau buồn. Rõ ràng, người Do Thái không bằng lòng với bản án này.
Người ta kể rằng cây thập giá ấy được dựng lên vào giờ thứ ba”, tức lúc 9 giờ sáng. Mark kể lại rằng hai tên cướp bị đóng đinh cùng với Jesus, và đã “chửi rủa ông”, còn Luke nói rằng một trong hai người đã cầu nguyện với ông. Trong tất cả các Tông đồ, chỉ có John có mặt ở đó. Cùng với ông là ba phụ nữ đều mang tên Mary - mẹ của Christ, chị Mary của bà, và Mary Magdalene; và “một số phụ nữ cùng đứng nhìn từ xa”. Theo tục lệ La Mã, binh lính sẽ chia nhau quần áo của những người sắp chết; và vì Christ chỉ có một mảnh áo, họ bắt thăm để tìm ra người được lấy nó. Có thể ở đây chúng ta có một phần được người ta tự thêm vào để gợi nhớ đến Thánh Vịnh, chương 22, câu 18: “Họ chia nhau quần áo của ta, và bốc thăm để giành lấy y phục của ta”. Cũng sách Thánh Vịnh ấy bắt đầu với các từ “Thượng Đế của tôi, Thượng Đế của tôi, tại sao người bỏ mặc tôi?” - và đây là những lời của con người trong cơm tuyệt vọng, mà Mark và Matthew cho rằng Christ khi sắp chết đã thốt ra. Có thể nào, chính trong những khoảnh khắc cay đắng ấy, đức tin vĩ đại, đức tin khiến ông đứng vững trước Pilate, đã phai nhạt thành một sự hoài nghi khiến ông tan nát cõi lòng?
Một người lính, thương xót cho cơn khát của Jesus, đã giữ một miếng bọt biển sũng rượu chua ở phía trên miệng ông. Jesus uống, và người ta kể rằng ông đã nói: “Hoàn hảo”. Vào “giờ thứ chín” - tức 3 giờ chiều - ông kêu lớn và hồn ông lìa khỏi xác. Phúc Âm của Luke bổ sung rằng: “Tất cả mọi người, khi ấy đã tụ họp với nhau để chứng kiến cảnh ấy… đập tay vào ngực mình và trở về thành phố”. Hai người Do Thái tử tế và có sức ảnh hưởng, khi đã nhận được sự cho phép của Pilate, mang thi thể xuống khỏi cây thập giá và đặt vào một ngôi mộ.
Hai tên cướp bị đóng đinh cùng ông vẫn sống; một số nạn nhân của hình phạt này có thể chịu đựng đau đớn giày vò suốt 3 ngày rồi mới chết. Để sớm kết thúc nỗi đau đớn cực độ của những người chịu phạt cùng Christ, binh lính đã bẻ gãy chân họ, để sức nặng của cơ thể sẽ dồn lên hai tay và như thế sẽ làm trái tim sum ngừng đập. Pilate biểu lộ sự bất ngờ khi một người đàn ông chết chỉ sau 6 giờ bị đóng đinh trên thập giá; ông chỉ cho phép gỡ thi thể Christ ra khỏi cây thập giá khi viên bách nhân đội trưởng (centurion) chịu trách nhiệm hành hình đảm bảo với ông ta rằng Christ đã chết.
Hai ngày sau khi người ta chôn cất Christ, Mary Magdalene đến thăm ngôi mộ cùng “Mary, mẹ của James” (một trong các Tông đồ). Họ phát hiện ra nó trống rỗng. “Sợ hãi, nhưng vui mừng khôn xiết”, họ chạy đi báo tin này với các môn đồ. Trên đường, họ gặp một người đàn ông mà họ cho là Jesus,họ cúi đầu trước ông và ôm chặt đôi bàn chân ông. Người ta kể rằng, cũng vào hôm đó, Christ xuất hiện trước mặt hai môn đồ khi họ đang trên đường tới Emmaus, nói chuyện với họ, ăn cùng họ; suốt một quãng thời gian dài, “do bị ngăn cản, họ không thể nhận ra ông”; nhưng khi “ông cầm lấy bánh mì và ban phước cho nó,… đôi mắt họ được khai sáng, và họ nhận ra ông, và ông biến mất trước mắt họ” (Luke, chương 14, câu 13-32).
Các Tông đồ trở về Galilee, và không lâu sau đó “nhìn thấy ông và cúi mình trước ông, mặc dù một số người vẫn còn nghi ngờ. Theo sách Công vụ của Tông đồ, 40 ngày sau khi xuất hiện trước mặt Mary Magdalene, Christ bay lên thiên đường. Ý tưởng về một vị thánh “chuyển” như vậy lên trời, cùng cả thân xác lẫn sự sống, là một ý tưởng quen thuộc đối với người Do Thái; họ kể rằng chuyện này cũng đã xảy ra với Moses, Enoch, Elijah, và Isaiah. Người Thầy ấy đi theo cách kỳ bí như cách ông đến, nhưng đa số các môn đồ dường như thực sự bị thuyết phục rằng ông đã, sau khi bị đóng đinh trên thập giá, ở cùng họ, bằng xương bằng thịt.
Theo Phúc Âm của Luke,“họ trở về Jerusalem với niềm hân hoan vô cùng và liên tục ở trong Đền Thánh, cầu xin sự phù hộ của Thượng Đế” (Luke, chương 24, câu 25).