Ngày 5 tháng Ba, năm 1517, Giáo hoàng Leo X Công bố đợt ân xá hàng loạt nổi tiếng nhất trong tất cả những đợt ân xá. Khi đó các tín đồ Công giáo đã chấp nhận giáo thuyết rằng Christ đã trao cho Peter - và Peter đã truyền lại cho tất cả các giáo hoàng tiếp theo - quyền năng miễn tội cho một người đang ăn năn thú tội - nhưng không miễn xá cho họ trách nhiệm ăn năn chuộc tội gắn liền với những tội lỗi này; nếu đến khi qua đời, người ta vẫn nợ bất cứ trách nhiệm nào trong những trách nhiệm này, thì họ sẽ phải trả nợ bằng cách chịu đày đọa ở luyện ngục, mà Chúa Trời khoan dung đã tạo ra, như một địa ngục tạm thời và có thể thoát ra được.
Trong khi đó, bằng việc chịu những đày đọa (với Christ là bằng cái chết), các vị thánh đã có được một kho tàng công đức, và giáo hoàng có thể rút đông đúc từ đó để xóa bỏ một phần thời gian chịu luyện ngục của một người mắc tội nếu mộ ai đó trên trần thế chịu thực hiện những hành động ăn năn chuộc tội, hay những việc tốt, hay đóng góp những lễ vật, được ước định bởi Giáo hội. Việc dùng một khoản tiền phạt thay cho hình phạt dễ dàng được các tín đồ chấp nhận bởi đây từ lâu đã là một lệ trong các giáo triều Trung Cổ.
Hình thức ân xá mà Leo X đề xuất là để đóng góp vào chi phí hoàn thành vương cung thánh đường vĩ đại mà Giáo hoàng Julius II đã khởi công và gần như hoàn toàn lãng quên khi ông say mê với chiến trận. Leo đã bổ nhiệm Albrecht của Brandenberg, vị tổng giám mục trẻ tuổi của vùng Mainz, quản lý việc ban phát sắc lệnh ân xá này ởMagdeburg, Halberstadt, và Mainz. Albrecht chọn Johann Tetzel, một thầy tu dòng Dominic nổi tiếng về năng lực gây quỹ, làm người cung cấp chính. Tetzel lên đường, thường với sự chấp thuận của giới tăng lữ địa phương, và rao bán lệnh ân xá sau đây:
Hãy để Chúa Jesus Christ của chúng ta khoan dung với người, và miễn tội cho người bằng công đức của Khổ nạn thần thánh nhất của Người. Và ta, bằng thẩm quyền của Người, của các Tông đồ thần thánh Peter và Paul, oà của Giáo hoàng thần thánh, đã được ban và ủy thác cho ta, miễn xá cho ngươi, trước hết là tất cả các khiển trách của Giáo hội,… và sau đó là tất cả những tội lỗi, vi phạm và những hành động vượt quá giới hạn của ngươi, bất kể chúng lớn đến đâu, thậm chí cả những tội lỗi mà chỉ Tòa Thánh Rome mới có thẩm quyền xét xử; và chừng nào việc nắm giữ những chiếc chìa khóa* vẫn nằm trong tay Giáo hội Thần thánh này, ta miễn xá cho ngươi tất cả những hình phạt mà người đáng ra phải chịu ở luyện ngục do những tội lỗi của ngươi, oà ta đưa người trở Uề với những phước lành thần thánh của Giáo hội… Toà sự ô tội và thuần khiết mà trước đây người có được ở lễ rửa tội, để khi người chết đi, cánh cổng trừng phạt sẽ đóng lại, và cánh cổng của thiên đường hạnh phúc sẽ được mở ra; và nếu ngươi không qua đời vào ngay hiện tại, an phước này sẽ dẫn nguyên vẹn khi sau này người qua đời. Nhân danh Cha, Con, oà Thánh Thần.
Sử gia Công giáo Pastor đã viết về điều này:
Rõ ràng theo những gì mà Tetzel xem là những hướng dẫn có căn cứ, ông ta đã tuyên bố một giáo thuyết rằng để có được sự ân xá cho người đã khuất, người ta không cần dâng thứ gì ngoài tiền, mà không có đòi hỏi nào đề việc ăn năn hay thú tội. Ông ta cũng thuyết giảng, tương ứng với quan điểm sau này được chứng minh là đúng, rằng một lệnh ân xá có thể được áp lên bất cứ linh hồn nào mà hiệu quả vẫn không hề thay đổi. Dựa trên giá thiết này, không có gì phải nghi ngờ khi giáo thuyết của ông ta gần như giống hệt giáo thuyết trong câu tục ngữ: “Khi nào tiền trong két reo, linh hồn trong lửa luyện ngục sẽ thăng thiên”. Sắc lệnh ân xá của giáo hoàng không hề phê chuẩn quan điểm này. Nó là một quan điểm Kinh oiện mơ hồ… chứ không phải bất cứ giáo thuyết nào của Giáo hội.
Cái tên Tetzel hẳn đã có thể thoát khỏi những ghi chép sử, nếu ông ta không tới quá gần những vùng đất của Frederick Sáng suốt, Tuyển hầu tước* vùng Saxony. Dưới ảnh hưởng của thái độ không sẵn lòng để những đồng tiền của xứ Saxony bị chảy ra ngoài, và có lẽ cả những báo cáo về những lời cường điệu của Tetzel, Frederick đã cấm việc thuyết giảng về sắc lệnh ân xá năm 1517 trên lãnh thổ của ông. Nhưng Tetzel đã tới quá gần biên giới, đến nỗi những người dân ở Wittenberg đã vượt qua biên giới để lấy được sắc lệnh ân xá. Một số người mua đã mang những “thư giáo hoàng” này tới chỗ Martin Luther, giáo sư thần học ở Viện đại học Wittenberg, và nhờ ông chứng thực hiệu lực của nó. Ông từ chối. Lời từ chối ấy tới tai Tetzel; ông ta lăng mạ Luther và tên ông trở thành bất tử.
LUTHER TRƯỞNG THÀNH (1483-1517)
Người đàn ông ấy, người sẽ gây được nhiều ảnh hưởng lên những chương sử tiếp theo hơn bất cứ người nào khác, ngoại trừ Copernicus và Columbus, ra đời ở Eisleben, Đức, và là con của một người nông dân, sau này là thợ mỏ, tên là Hans Luther, và vợ ông, Margarethe. Bị những giáo thuyết của những khủng bố và trừng phạt làm cho khiếp sợ, họ nuôi dạy các con bằng sự nghiêm khắc trong lời nói lẫn đòn roi, đến mức khi Luther hồi tưởng lại, ông nói rằng: “cuộc sống khắt khe và khắc nghiệt của tôi cùng họ là lý do khiến tôi sau này tìm chỗ trú trong tu viện và trở thành một tu sĩ”. Cha mẹ và các con tin vào các thiên thần, phù thủy, và quỷ dữ lang thang trong không trung, và vào một Chúa Trời, người kết án đưa phần lớn những con người mà Ngài đã tạo ra vào chốn địa ngục vĩnh viễn. Martin đối mặt với những nỗi khổ của mình bằng sự mạnh mẽ trong thể chất và ý chí, thứ định hình những nét cứng cỏi của ông và khiến ông luôn bất khuất cho đến lúc chết.
Trường học tại Mansfeld còn có nhiều đòn roi và những giáo lý hơn cả ở nhà. Martin bị đánh (người ta kể như thế) 15 lần một ngày vì mắc lỗi trong việc biến cách một danh từ*. Lên 14 tuổi, ông được chuyển tới Trường Thánh George ở Eisenach, và có 3 năm tương đối hạnh phúc trong ngôi nhà thoải mái của Frau Cotta. Ông không bao giờ quên được lời bình luận của bà*, rằng không có thứ gì trên thế gian này quý giá hơn tình yêu của một người phụ nữ tốt. Trong môi trường này, ông đã vun bồi được cho mình những nét quyến rũ của tuổi trẻ - sức khỏe, sự vui tươi, sự hòa nhã, sự chân thật. Ông hát hay và biết chơi đàn luýt.
Năm 1501, người cha đang phát đạt của ông gửi ông tới Viện đại học Erfurt. Tại đó, ông học một chút tiếng Hy Lạp và chút tiếng Hebrew, và đọc được những tác phẩm kinh điển nổi tiếng hơn, được viết bằng tiếng Latin. Ông nhận thấy không thể chấp nhận chủ nghĩa Kinh viên, đến nỗi ông chúc mừng một người bạn vì việc “không phải học thứ rác rưởi” khi ấy đang được đề xuất cho mọi người học với tư cách một môn triết học. Năm 1505, ông nhận được bằng Master of Arts*. Cha ông gửi cho ông, như một món quà chúc mừng tốt nghiệp, một ấn bản đắt tiền của cuốn sách Pháp điển dân sự (Corpus Puris civilis) và rất vui mừng khi thấy con trai bắt đầu nghiên cứu luật. Nhưng sau 2 tháng, Martin vứt những cuốn sách luật sang một bên, như những thứ chẳng hề khiến những vấn đề đang ám ảnh ông trở nên rõ ràng hơn.
Cường tráng tới mức tột cùng về nhục dục, rõ ràng bị đóng khung vào một cuộc đời của những bản năng bình thường, ấy thế nhưng quá thấm nhuần, khi ở nhà và ở trường học, niềm tin chắc chắn rằng con người về bản chất đã đầy tội lỗi, và tội lỗi ấy xúc phạm một Chúa Trời toàn năng và luôn trừng phạt tội lỗi, ông chưa bao giờ có thể dung hòa những xung nhịp tự nhiên của mình với những đức tin mà ông đã thu nạp được. Chúa Trời, mà người ta đã dạy cho ông về Ngài, tạo cảm giác về sự khủng bố hơn là tình yêu; và Jesus không chỉ là “Jesus dịu dàng, hiền từ và ôn hòa” của các Chân Phúc, mà còn là Christ của Sự Phán quyết Cuối cùng, đe dọa những người mắc tội bằng ngọn lửa thiêu vĩnh cửu. Một ngày, bị mắc trong một cơn bão đấy sấm chớp và mong mỏi có được một nơi che chở, ông đã thề với Thánh Anne rằng nếu sống sót, ông sẽ trở thành một tu sĩ.
Khi đã sống sót qua cơn bão, ông ứng tuyển để được tu viện Ấn sĩ Augustine, tu viện nghiêm khắc nhất trong 20 tu viện ở Erfurt, tiếp nhận làm một tín đồ mới tu. Khi đã được nhận, ông thực hiện những nhiệm vụ thấp kém nhất với sự khiêm nhường đầy tự hào. Ông sống trong giá lạnh của một buồng nhỏ không Có lò sưởi, thuộc lòng những lời cầu nguyện đến mức lặp đi lặp lại như bị thôi miên, nhịn ăn, và nghiêm khắc tự phê bình với hy vọng thanh tẩy được những con quỷ dường như sống trong cơ thể ông. Năm 1506, ông thề những lời thề không thể rút lại, và vào năm 1507, ông được phong linh mục.
Các linh mục đồng bạn, lo sợ cho sự tỉnh táo của ông, đã đưa cho ông một cuốn Kinh Thánh bằng tiếng Latin, thúc giục ông đọc nó và khi đọc đừng phản biện hay nghi vấn điều gì. Nhưng trong Thư sứ đồ của Thánh Paul, gửi người La Mã (chương 1, câu 17), ông vô tình đọc được một đoạn bổ sung cho những nghi vấn của ông: “Người công bằng sẽ sống theo đức tin”. Và ở Thánh đường Thánh Augustine, ông tìm thấy những tư tưởng gây nhức nhối rằng Chúa Trời, trước khi sáng tạo ra thế giới, đã chọn một số linh hồn để cứu rỗi và đưa lên thiên đàng, và những linh hồn khác sẽ chịu kiếp đọa đày vĩnh viễn, và rằng những người được Chúa chọn lựa đã giành được sự cứu rỗi chỉ qua những công đức tích lũy được do những khổ nạn mà Christ phải chịu đựng. Những tư tưởng này - được chọn bởi Chúa Trời để được cứu rỗi, và sự cứu rỗi không nằm ở những điều tốt bản thân một người đã làm mà thông qua đức tin vào những công đức mà Christ đã tích được cho loài người - trở thành những giáo lý cơ bản trong tư tưởng thần học của Luther, và của những người tin theo ông.
Năm 1505, ông được chuyển tới một tu viện ở Wittenberg, được giao cho vị trí giảng viên môn logic và vật lý học ở Viện đại học Wittenberg, và rồi vị trí giảng viên chính môn triết học và thần học. Khi người ta nói với ông về cách Tetzel rao giảng về sắc lệnh ân xá, ông cảm thấy đã đến lúc lên tiếng về nạn buôn bán tôn giáo. Ông nhanh chóng soạn ra 95 luận đề bằng tiếng Latin, mà ông đặt tên là Tranh luận để làm sáng tỏ 0ề quyền lực của lệnh ân xá (Disputation for Clarification of the Power of Indulgences). Ngày 11 tháng Mười, năm 1517, ông dán một bản sao các luận đề này lên của chính của Nhà thờ Lâu đài Wittenberg. Việc công bố các luận đề - và cho phép biện luận cho những luận đề ấy trước tất cả những người đặt nghi vấn hay phản bác - là một cách làm đã được xác lập từ lâu ở các viên đại học thời Trung Cổ, và cánh cửa mà Luther chọn thường xuyên được sử dụng như một bảng billboard (bảng dán các thông báo) hàn lâm. Ông thêm vào trước các luận đề này một lời mời nhã nhặn:
Từ tình yêu đối với đức tin tôn giáo này, và khao khát được mang nó ra ánh sáng, những luận đề sau đây sẽ được bàn luận tại Wittenberg dưới sự chủ trì của Cha Martin Luther Tôn kính, Master of arts oà Thần học Linh thiêng, đồng thời là Giảng viên chính về bộ môn đó ở viện đại học đó. Vì thế, ông đề nghị rằng những người không thể có mặt và tranh luận bằng lời với chúng ta có thể làm điều đó qua thư.
Với tính cách táo bạo đặc trưng, ông gửi một bản sao các luận đề đến Tổng giám mục, Albrecht của Mainz; và để đảm bảo rằng nhiều người sẽ đọc chúng, ông để một bản dịch tiếng Đức được lưu hành trong người dân. Một cách cảnh giác, có lẽ trong vô thức, ông đã khởi đầu Cải cách kháng nghị ở Đức.
CẢI CÁCH - CÁCH MẠNG
Các luận đề này trở thành cuộc nói chuyện riêng của những người đọc thông viết thạo ở Đức. Tư tưởng chống tăng lữ của nhiều thế hệ, vốn bị dồn nén kìm hãm, đã có được một tiếng nói. Việc mua bán sắc lệnh ân xá giảm đi. Nhưng vẫn còn những lời lăng mạ, lên án kịch liệt dành cho Luther: trong số đó có Phó hiệu trưởng Viện đại học Ingolstadt, một người nữa là Jakob van Hoodstraten của Cologne - người đề nghị rằng Luther phải bị thiêu sống. Luther biện luận cho quan điểm của mình bằng một cuốn sách mỏng được viết bằng tiếng Latin mang tên Resolutiones (tháng Tư, năm 1518), và ông gửi các bản sao của cuốn sách này tới giám mục địa phương và giáo hoàng. Tuy nhiên, riêng với Leo X, ông thể hiện một sự khiêm nhường hiếm thấy ở chính ông:
Thưa Cha thiêng thánh nhất của con, con xin được phủ phục dưới chân Đức Giáo hoàng, với tất cả những gì con đang là và đang có. Xin Cha hãy thúc giục, chấm dứt, triệu tập, triệu hồi, chấp thuận, khiển trách, theo những gì mà Cha cho là tốt. Con sẽ xem tiếng nói của Cha như tiếng nói của Christ đang ngu và phát ra từ Cha. Nếu con xứng đáng với cái chết, con sẽ không từ chối cái chết.
Tuy nhiên, hội đồng của Leo cảnh báo với ông ta rằng Resolutiones xác nhận địa vị siêu việt của một Hội đồng Giáo hội toàn thế giới của tất cả các giám mục), phía trên giáo hoàng, phát biểu một cách khinh thường về các thánh tích và những cuộc hành hương, và phản đối tất cả những điều mà các giáo hoàng đã bổ sung trong ba thế kỷ trước đó vào lý thuyết và cách làm thực tế của việc ân xá. Việc cho phép những quan điểm như vậy lan tỏa đồng nghĩa với việc đẩy kỷ cương của Giáo hội và các khoản thu nhập của giáo hoàng vào tình thế nguy hiểm. Leo, người ban đầu bỏ qua những tư tưởng của Luther, xem chúng như một xung động nhất thời của những nhà lý thuyết, giờ đây đã trực tiếp giải quyết vấn đề và triệu tập vị tu sĩ ấy đến Rome (ngày 7 tháng Bảy, năm 1518).
Lo sợ bị giữ làm một con tin hoặc tù nhân ở Rome, Luther đã viết thư cho Georg Spalatin, cha tuyên úy của Frederick, Tuyển hầu tước vùng Saxony, đề xuất rằng các quân vương người Đức nên bảo vệ công dân của họ khỏi việc bị dẫn độ tới đất Ý. Frederick đồng ý, và Hoàng đế Maximilian yêu cầu ông “chăm sóc vị tu sĩ ấy cho tốt”. Leo đã thỏa hiệp bằng cách yêu cầu Luther trình diện ở Augsburg trước Hồng y Giáo chủ Cajetan để trả lời các cáo buộc về tư tưởng dị giáo và sự vô kỷ luật.
Luther đã tới (ngày 12 tháng Mười, năm 1518), nhưng ông chẳng gặp được ở đó một nhà thần học để tranh luận cùng ông, mà chỉ là một người giải nghĩa Kinh Thánh một cách cứng nhắc: vị Hồng y Giáo chủ ấy cho vị tu sĩ nổi loạn biết rằng Giáo hội, vì vấn đề ổn định trật tự trong Giáo hội, không thể cho phép một tu sĩ vi phạm lời thề tuân phục vô điều kiện, bằng cách công bố những quan điểm từ lâu đã bị Giáo hội lên án. Cajetan yêu cầu Luther phải công khai rút lại những tư tưởng dị giáo và thề không bao giờ làm náo động sự yên bình của thế giới Cơ Đốc giáo. Luther từ chối, và trở về căn phòng của mình ở Wittenberg.
Cajetan yêu cầu Frederick đưa người nổi loạn ấy tới Rome; vị Tuyển hầu tước này từ chối. Ngày 9 tháng Mười một, Leo ban hành một sắc lệnh không thừa nhận nhiều khẳng định cực đoan mà Luther đã đưa ra về các sắc lệnh ân xá. Ngày 18 tháng Mười một, Luther Công bố một bản thỉnh cầu được chịu phán quyết của một hội đồng đủ thành phần, thay vì phán quyết của giáo hoàng. Leo phái một quý tộc trẻ người Saxon, giữ phẩm cấp thấp trong Giáo hội, một lần nữa thử buộc Luther phải tuân phục. Khi họ gặp nhau (ngày 3 tháng Một, năm 1519), Luther bị thu hút bởi người thanh niên đến mức ông viết một bức thư thân thiện tới Tetzel (người không lâu sau đó qua đời); và vào ngày 3 tháng Ba ông gửi cho Leo một bức thư bày tỏ sự tuân phục hoàn toàn. Giáo hoàng đáp lại một cách thân thiện (ngày 19 tháng Ba), mời ông tới Rome, và cho ông kinh phí cho chuyến đi này. Nhưng trước đó vào ngày 17 tháng Ba, Luther đã viết thư cho Spalatin, rất có thể với giọng điệu hài hước: “Tôi đang không biết Giáo hoàng hay Tông đồ của ông ta mới là Kẻ chống Chúa Cứu Thế”. Ông ở lại Đức.
Dư luận nơi ấy ngày càng tán dương ông. Nhiều sinh viên đại học khi ấy hăng hái biện hộ bảo vệ ông. Những nhân vật quan trọng mà Luther gần như không thể biết, như họa sĩ Dürer và Pirkheimer, một thương nhân rất được kính trọng, đều ở Nuremberg, tuyên bố rằng họ ủng hộ ông. Ulrich von Hutten, nhà thơ nổi loạn, ca ngợi ông và kêu gọi Frederick và tất cả những nhà cai trị người Đức khác chiếm lấy toàn bộ của cải của giới tu sĩ và đưa dòng tiền trước đó thường bị chuyển tới Rome vào phục vụ những mục đích của người Đức.
Được khích lệ, Luther công bố, vào mùa xuân năm 1520, một bản tóm lược (Epitome), đáp lại sự tuyệt đối của những giáo lý bằng sự say sưa của những lời công kích:
Nếu Rome tin vào nhà truyền dạy bằng những tri thức của các giáo hoàng và các Hồng y Giáo chủ (điều mà tôi hy vọng rằng không phải sự thật), thì trong những bài viết này, tôi tuyên bố một cách tự do rằng Kẻ chống Chúa Cứu Thế thực sự đang ngồi trong ngôi đền của Chúa Trời và đang trị vì ở Rome - Toà nhuốm máu thành Babylon* - và rằng Giáo triều Rome chính là Giáo đường của Satan… Nếu cơn thịnh nộ của những người theo Công giáo La Mã cứ theo đó tiếp tục, thì sẽ không còn thuốc chữa nào ngoại trừ việc các hoàng đế, cua oà các hoàng thân, với quyền lực và quân đội vây quanh, tấn công những con sâu mọt này của thế giới, và giải quyết triệt để vấn đề không phải bằng từ ngữ nữa, mà bằng thanh kiếm… Nếu chúng ta trừng phạt những tên trộm bằng giá treo cổ, những tên cướp bằng kiếm, những kẻ dị giáo bằng lửa thiêu, thì tại sao chúng ta không tấn công nhiều hơn thế, bằng vũ lực, vào những kẻ đáng bị đọa đày nhất này, những Hồng y Giáo chủ này, những giáo hoàng này, và tất cả cái bồn ấy, một thành Sodom ở Rome, cái thành phố đã làm cho Giáo hội của Chúa mục ruỗng, cà rồi rửa tay của chúng ta trong máu của chúng?
Trong một sắc lệnh ngày 15 tháng Sáu, năm 1520, Leo X đã kết án cho 41 tuyên bố của Luther, ra lệnh đốt Công khai những bài viết chứa các tuyên bố ấy, và ra lệnh cho ông phải tới Rome và Công khai rút lại những ý kiến của mình. Sau 60 ngày,nếu tiếp tục từ chối, Luther sẽ bị cách ly khỏi toàn bộ thế giới Cơ Đốc giáo bằng lệnh tuyệt thông, ông sẽ bị tất cả tín đồ xa lánh như một kẻ dị giáo, và tất cả các nhà chức trách thế tục sẽ trục xuất ông khỏi lãnh thổ của họ hoặc chuyển ông tới Rome.
Luther đáp lại sắc lệnh này bằng một tuyên bố gần như chưa có tiền lệ trong lịch sử. Ông tìm được một người nào đó để công bố, không phải bằng tiếng Latin mà bằng tiếng Đức, Một bức thư công khai tới giới quý tộc Cơ Đốc giáo của quốc gia Đức, liên quan tới cuộc Cải cách lãnh thổ Cơ Đốc giáo (An Open Letter to the Christian Nobility of the German Naion Concerning the Reform of the Christian Estate). Khi ấy vẫn chưa có quốc gia Đức, chỉ có các lãnh địa của người Đức do các lãnh chúa hoặc các ông hoàng đứng đầu, mỗi lãnh địa đều độc lập, với các phong tục, luật lệ, quân đội, và niềm tự hào riêng; Luther đã không đếm xỉa đến những ranh giới này và nói với tất cả người Đức, ngay cả khi phải truyền đạt thông qua những nhà cai trị của họ - những người mà, trong quan điểm của Luther, đang để những khoản thu nhập quý giá lọt qua những biên giới của họ vào đất Ý không mấy thân thiện:
Một số người đã ước tính rằng mỗi năm hơn 300.000 đồng guiden đã từ Đức đi sang Ý… Chúng ta đã tới được tâm của vấn đề… Tại sao người Đức chúng ta phải chịu đựng trò ăn cướp và bòn rút tài sản của mình, được thực hiện dưới bàn tay của giáo hoàng như vậy? Nếu chúng ta, theo công lý, treo cổ lũ trộm và chặt đầu lũ ăn cướp, tại sao chúng ta lại để sự tham lam của Rome được tự do lộng hành? Bởi vì, ông ta chính là tên trộm oà kẻ cướp kinh tởm nhất từng tới và có thể tới thế gian này, và làm tất cả những điều đó nhân danh Christ và Thánh Peter linh thiêng! Ai có thể chịu đựng điều này lâu hơn hoặc giữ im lặng được đây?
Luther tiếp tục mô tả chi tiết chương trình tôn giáo của mình. Giới tăng lữ Đức nên lập ra một Giáo hội Quốc gia, dưới sự lãnh đạo của tổng giám mục vùng Mainz; cần giảm số lượng lớp tăng tu sĩ hành khất; các linh mục phải được phép kết hôn; các cuộc hành hương, lễ thánh cho người chết, và những ngày thánh (ngoại trừ ngày Chủ nhật) phải bị bãi bỏ. Tất cả các luật của Giáo hội (những luật lệ tách những vi phạm của giới tăng lữ ra khỏi sự ảnh hưởng của luật pháp phi tôn giáo) phải bị vứt bỏ. Giáo hội Đức phải được dàn hòa với những người Hussite* ở Bohemia. “Chúng ta phải tiêu diệt những kẻ dị giáo bằng sách, chứ không phải hỏa thiêu”. “Giáo hoàng thực sự là Kẻ chống Chúa Cứu Thế”, và “chính người, hỡi Giáo hoàng, không phải là người sùng đạo thánh thiêng nhất, mà là kẻ phạm nhiều tội lỗi nhất. Ôi, Chúa Trời từ thiên đàng sẽ sớm hủy diệt cái ngai của ngươi, và dìm nó xuống nơi sâu thẳm của địa ngục”.
Những người thận trọng cho rằng Thư ngỏ thể hiện sự hấp tấp và thái độ không đúng mực; nhiều người Đức ca ngợi nó như
một trong những hành động anh hùng nhất trong lịch sử. Báo chí vùng Wittenberg bận rộn với việc đáp ứng nhu cầu về những bản tin mới cho Thư ngỏ. Đức, như Anh, đã đạt đến độ chín để kêu gọi chủ nghĩa dân tộc; khi ấy vẫn chưa có nước Đức trên bản đồ, nhưng đã có người Đức, vừa nhận thức được chính mình với tư cách một dân tộc. Tương tự Huss, người đã nhấn mạnh lòng yêu nước Bohemia của mình, cũng như Henry VIII - người sẽ không phản đối giáo thuyết của Công giáo, nhưng phản đối quyền lực của giáo hoàng đối với nước Anh, Luther giờ đây cấy những nền tảng của phản kháng không phải trên những sa mạc về tư tưởng tôn giáo, mà trong mảnh đất màu mỡ của tinh thần dân tộc người Đức. Ở bất cứ nơi nào tinh thần kháng cách chiến thắng, chủ nghĩa dân tộc đều là người cầm cờ.
Bất chấp sự thách thức không khoan nhượng của Luther, một đại diện của giáo hoàng vẫn tìm đến ông và thuyết phục ông gửi Leo một bức thư phủ nhận bất cứ ý định nào về việc tấn Công cá nhân giáo hoàng và trình bày một cách ôn hòa những lý lẽ biện minh cho việc cải cách. Ông biểu lộ lòng kính trọng của mình với giáo hoàng với tư cách một cá nhân, nhưng lên án một cách không nhượng bộ sự suy đồi của chế độ giáo hoàng trong quá khứ, và của Giáo triều Rome của giáo hoàng trong hiện tại:
Danh tiếng của Cha, và tiếng thơm của cuộc đời trong sạch của Cha… được quá nhiều người biết đến và quá cao đến nỗi không gì có thể công kích nổi… Nhưng Tòa Thánh của Cha, mang tên Giáo triều Rome, cũng là Tòa Thánh mà cả Cha hay bất cứ người nào khác cũng không thể phủ nhận việc nó mục ruỗng hơn bất kỳ Babylon hay Sodom nào -… Tòa Thánh mà con thực sự khinh thường… Giáo hội Rome đã trở thành sào huyệt dâm loạn nhất của lũ cướp, nhà chứa vô liêm sỉ nhất trong các nhà chứa, vương quốc của tội lỗi, cái chết, và địa ngục… Con vẫn luôn đau buồn, thưa Cha Leo tuyệt vời nhất của con, trước việc Cha đã phải trở thành giáo hoàng trong thời đại này, bởi Cha xứng đáng với những thời kỳ tốt đẹp hơn…
Vì thế, thưa Cha Leo, xin đừng nghe lời những siren* ấy, những kẻ đang tâng bốc rằng Cha không đơn thuần là một con người mà là một vị á thần… Người là một đầy tớ của các đầu tớ… Chúng là những người tâng bốc Cha lên trên những thường lệ của Giáo hội. Chúng là những người cho Cha quyền được diễn giải Kinh Thánh, bởi dưới sự che chở của tên Cha, chúng tìm cách dựng lên những thứ xấu xa của riêng chúng trong Giáo hội; oà,than ôi, thông qua chúng, Satan đã tiến được gần hơn rất nhiều về phía đích của hắn, dưới thời những người tiền nhiệm của Cha. Nói ngắn gọn, xin đừng tin bất cứ kẻ nào tâng bốc Người, hãy tin vào những người giúp Cha nhận ra vị trí khiêm tốn của mình.
Trong khi đó, những người đại diện của giáo hoàng đang loan báo về sắc lệnh tuyệt thông của Leo trên khắp đất Đức. Ở một số thành phố, họ sắp xếp những buổi đốt công khai những cuốn sách của Luther. Để phản Công, Luther lãnh đạo một số sinh viên ở Viện đại học Wittenberg trong việc đốt một bản sao của sắc lệnh ấy, cùng với các bản sắc lệnh của Giáo hội và các cuốn sách về giáo thuyết Công giáo. Các sinh viên ấy vui mừng thu thập thêm các cuốn sách khác và dùng chúng để giữ cho ngọn lửa ấy cháy đến tận chiều muộn. Ngày 11 tháng Mười hai, Luther tuyên bố rằng không ai có thể được cứu rỗi trừ phi ông Công nhận quyền lực thống trị của ngôi giáo hoàng. Vị tu sĩ ấy đã phạt và tuyệt thông giáo hoàng.
HỘI NGHỊ WORMS (1521)
Leo giờ đây tìm kiếm sự giúp đỡ từ những thế lực thế tục, dành cho Giáo hội đang bị thách thức, bằng cách yêu cầu Charles V - người mà ở tuổi 19 đã trở thành người đứng đầu Đế chế La Mã Thần thánh, vào năm 1519 - triệu tập một hội nghị giữa các quân vương và giám mục người Đức để xem xét kỹ hành vi và những xuất bản phẩm của Luther như một mối đe dọa không chỉ với Giáo hội Công giáo mà còn với trật tự xã hội cơ bản của văn minh châu Âu.
Tình huống mà giáo hoàng, các quân vương người Đức, và vị hoàng đế trẻ tuổi giờ đây phải đối mặt liên quan đến một số trong số những vấn đề cơ bản của nhà nước và lịch sử: Một nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố tâm lý đến mức nào để duy trì sự cai trị của nó, và các yếu tố tâm lý phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế và quyền lực chính trị đến mức nào? Có phải thẩm quyền và tính hiệu quả của một nhà cai trị trong việc duy trì trật tự xã hội, sự tuân phục của quần chúng và uy thế của chính quyền phụ thuộc vào sự hỗ trợ của tôn giáo? Và liệu một nhà nước có thể đạt được hoặc gìn giữ quyền lực bằng cách đảm bảo quyền kiểm soát các tổ chức tôn giáo và các nguồn thu từ tôn giáo hay không? Những quân vương người Đức ấy, những người bảo vệ Luther trước Giáo hội Công giáo, đã đánh cuộc vào khả năng của họ trong việc tổ chức và lợi dụng những niềm tin tôn giáo của người dân một cách độc lập với ngôi Giáo hoàng Rome; và Leo đánh cuộc vào việc gần như không thể có chuyện những nhà cái trị người Đức ấy sử dụng cơ hội này để giải phóng chính họ khỏi quyền lực của giáo hoàng đối với Giáo hội Đức và những khoản thu nhập đang ngày càng lớn của nó.
Tất nhiên, đó là một canh bạc giữa sự sống và cái chết của Luther. Ông đã thách thức thể chế quyền lực nhất châu Âu - một Giáo hội yếu ớt về mặt vũ trang, nhưng mạnh mẽ trong việc đại diện cho những nền tảng tôn giáo của văn minh Tây Âu. Ông đã công kích gần như mọi khía cạnh của Giáo hội Công giáo và không có gì để bảo vệ mình ngoài một vài quân vương người Đức không chắc chắn về quyền lực và sự ủng hộ của mình.
Chỉ có phần lớn người dân là ủng hộ ông, và với một lòng nhiệt tình say mê. Một người đại diện của giáo hoàng đã thuật lại:
Toàn đất Đức vùng lên với vũ trang chống lại Rome. Cả thế giới đang hô vang đòi có một hội nghị trên đất Đức. Các sắc lệnh tuyệt thông của giáo hoàng bị người ta cười nhạo. Nhiều người đã ngừng nhận các lễ ban phước sám hối… Martin được khắc họa trong các bức tranh với một vòng hào quang trên đầu. Người dân hôn lên những bức tranh này. Số lượng tranh được bán lớn đến mức ngay cả tôi cũng không thể có được một bức… Tôi không thể ra ngoài để đi trên phố, nhưng người Đức đặt tay lên kiếm và nghiến răng với tôi. Tôi hy vọng Giáo hoàng sẽ cho tôi một lệnh ân xá và chăm sóc các anh em mà chị em của tôi nếu bất cứ điều gì xảy ra với tôi.
Hội nghị Worms được triệu tập vào ngày 27 tháng Một, năm 1521: các quý tộc và tăng lữ hàng đầu của đất Đức, các đại diện của những thành phố tự do, và các đại diện của hoàng đế và giáo hoàng. Charles gửi cho Luther một thư mời tới và đối chất về các cáo buộc lên ông, và cho ông một giấy thông hành an toàn khứ hồi giữa Wittenberg và Worms, và bổ sung: “Ông không phải sợ bạo lực hay sự quấy nhiễu”. Bạn bè của Luther khuyên ông đừng đi, bằng cách nhắc cho ông nhớ lại số phận của Huss ở Constance. Luther đã lên đường, nói rằng: “Mặc dù quỷ dữ ở Worms có nhiều như số viên ngói trên các mái nhà, tôi vẫn sẽ đi”. Các con phố của Worms ngập tràn người đổ ra để nhìn nhân vật dị giáo nổi tiếng ấy;2.000 người tập trung quanh xe ngựa của ông; thậm chí hoàng đế cũng không được chú ý bằng ông.
Ngày 17 tháng Tư, trong bộ quần áo tu sĩ, Luther xuất hiện truỚC Hội nghị và vị hoàng đế chủ tọa. Trước mặt ông là một bộ những Công trình của ông và ông bị hỏi rằng có chịu từ bỏ tất cả những tư tưởng dị giáo trong những tác phẩm ấy hay không. Trong một thoáng chốc, lòng can đảm của ông đã không còn; ông xin được có thời gian để xem xét, Charles cho ông một ngày. Ngày 18 tháng Tư, ông đối mặt với phiên tòa một lần nữa, và đồng ý rút lại bất cứ đoạn nào trong những cuốn sách này mà người ta có thể chứng minh rằng nó đối nghịch với những gì được ghi trong Kinh Thánh. Johann Eck, đại diện cho Tổng giám mục của Trier, đã chất vấn ông bằng tiếng Latin:
Martin, lời biện hộ, xin được đối chiếu với Kinh Thánh của ngươi, là lời biện hộ mà những kẻ dị giáo luôn đưa ra. Người chẳng làm gì, ngoài mắc lại những lỗi lầm của Wyclif oà Huss… Làm sao ngươi có thể mặc nhiên cho rằng mình là người duy nhất hiểu được ý nghĩa của Kinh Thánh? Liệu người có dám đặt những phán xét của mình lên trên phán xét của rất nhiều người đức cao vọng trọng và tuyên bố rằng người hiểu biết hơn tất cả những người ấy không? Ngươi không có quyền đặt nghi vấn cho đức tin chính thống linh thiêng nhất, được lập ra bởi Christ, người bạn luật hoàn hảo, được tuyên bố trên toàn thế gian bởi các Tông đồ, được phong ấn bởi máu đỏ của những người tử vì đạo, được xác nhận bởi những hội nghị thiêng liêng, và được định rõ bởi Giáo hội… và cả việc Giáo hoàng và Hoàng đế cấm chúng ta tranh luận về đức tin ấy, bởi e rằng cuộc tranh luận ấy sẽ chẳng có hồi kết. Ta hỏi ngươi, Martin - hãy trả lời một cách ngay thẳng và không thiên vị - ngươi có bác bỏ những cuốn sách và những lỗi sai trong chúng hay không?
Luther đưa ra câu trả lời mang tính lịch sử của mình, bằng tiếng Đức:
Bởi Bệ hạ và quý tộc các ngài muốn một câu trả lời đơn giản, tôi sẽ trả lời một cách không thiên dị… Trừ phi tôi bị kết tội bởi chứng cớ từ Kinh Thánh hay bởi Lý trí rõ ràng (Tôi không công nhận thẩm quyền của các giáo hoàng và các hội nghị, bởi họ đã mâu thuẫn với nhau), lương tri của tôi chỉ gắn liền với lời của Chúa Trời. Tôi không thể và sẽ không rút lại bất cứ điều gì, bởi việc đi ngược lại lương tri của tôi không phải là việc đúng đắn, cũng không phải là cách an toàn. Chúa phù hộ cho con. Amen*.
Eck đáp lại rằng không thể chứng minh được bất cứ lỗi nào trong các sắc lệnh liên quan đến giáo thuyết của các hội nghị. Luther trả lời rằng ông sẵn sàng chứng minh những lỗi đó, nhưng hoàng đế đã dứt khoát ngăn lại: “Đủ rồi; bởi ông ấy đã không công nhận các hội nghị, chúng ta không muốn nghe thêm nữa”. Luther trở về chỗ tạm trú của mình.
Ngày 19 tháng Tư, sau khi đã đợi 2 ngày với hy vọng Luther sẽ ăn năn, Charles triệu tập các quân vương có vai trò quan trọng nhất tới phòng mình và đọc cho họ nghe một bản tuyên bố ý định:
Một thầy tu đơn độc, người đi ngược lại Cơ Đốc giáo có lịch sử cả nghìn năm, hẳn phải sai… Ta sẽ không còn việc gì dính dáng đến Luther. Ông ta có thể trở về bằng giấy thông hành an toàn của mình, nhưng không được thuyết giảng hay gây ra bất cứ ồn ào nào. Ta sẽ khởi tố ông ta như một kẻ dị giáo khét tiếng, và tin rằng chính các vị cũng sẽ tuyên bố như vậy, như các vị đã hứa với ta.
Bốn Tuyển hầu tước đồng ý; Frederick của Saxony và Ludwig của Palatinate không tuân theo. Ngày 26 tháng Tư, Luther bắt đầu quay về Wittenberg. Leo X ra lệnh rằng giấy thông hành an toàn phải được tôn trọng. Dẫu vậy,lo sợ rằng lực lượng trị an của Đế quốc có thể sẽ bắt Luther sau khi giấy thông hành hết hạn vào ngày 6 tháng Năm, Tuyển hầu tước Frederick đã sắp xếp, với sự đồng thuận của Luther, để Luther sống trong sự cách ly yên tĩnh và ẩn náu ở nông thôn một thời gian ngắn tại lâu đài Wartburg hẻo lánh, trên một đỉnh núi cách Eisenach 1,6 km. Charles không hề có nỗ lực nào để bắt ông, và vào ngày 19 tháng Hai, năm 1522, Luther trở về Viện đại học Wittenberg, nơi ông tiếp tục diễn giải chi tiết một tư tưởng thần học mà hiện nay, về Cốt lõi, vẫn là đức tin của các nhà thờ dòng Luther ở mọi nơi. Trong khi đó, ông nhận ra mình đang đối mặt với một cuộc cách mạng khác nhưng có liên quan, và cũng có tác động sâu sắc đến tận gốc rễ như cuộc cách mạng của ông.
NỔI LOẠN XÃ HỘI (1522-1536)
Chiến tranh Nông dân
Thành công rõ ràng trong cuộc nổi loạn của Luther chống lại Giáo hội Rome đã khích lệ những cuộc nổi loạn của các tu sĩ và linh mục để chống lại luật cấm kết hôn, nghèo đói, và việc phải tuân phục một thế lực xa lạ và độc tài. Những gian khổ trước đó đã kích động cả tá cuộc nổi dậy ở nông thôn vẫn khích động tâm trí người nông dân, và giờ đây khi Luther đã đẩy sự dữ dội của việc phản kháng lên một mức mới, qua việc phủ nhận Giáo hội, chỉ trích kịch liệt các ông hoàng, đập tan những cái đập ngăn lũ được tạo thành bởi kỷ luật và sự sợ hãi, biến mỗi người thành một linh mục, và tuyên bố tự do cho tín đồ Cơ Đốc giáo. Sự lưu hành ngày càng mạnh của kinh Tân Ước là một đòn giáng mạnh vào giới chức chính trị lẫn giới chức tôn giáo: nó phơi bày sự phàm tục của giới tăng lữ, tinh thần cộng sản của các Tông đồ, sự đồng cảm của Christ đối với những người nghèo khổ và bị áp bức. Xét theo những khía cạnh đó, đối với những người có tư tưởng cấp tiến ở thời đại này, đây thực sự là một Cương lĩnh Chủ nghĩa Cộng sản (Communist Manifesto).
Năm 1521, một cuốn sách nhỏ của tác giả Johannes Eberlin đã thể hiện yêu cầu về quyền bầu cử phổ thông của nam giới, sự tuân phục của các hội đồng được người dân bầu ra, việc bãi bỏ tất cả các tổ chức tư bản, việc quay về với hình thức Cố định giá như ở thời Trung Cổ cho bánh mì và rượu, và việc dạy tiếng Latin, tiếng Hebrew, thiên văn học, và y học cho tất cả các đứa trẻ.
Năm 1522, một cuốn sách nhỏ với nhan đề Nhu cầu của Quốc gia Đức (The Needs of the German Nation) đã kêu gọi bãi bỏ “mọi khoản phí, thuế, hộ chiếu, và tiền phạt”, giới hạn vốn của các tổ chức kinh doanh về mức 10.000 đồng gulden, loại trừ các tăng lữ ra khỏi chính quyền dân sự, tịch thu của cải của giới tu sĩ, và phân phát những khoản tiền lãi cho người nghèo. Các nhà thuyết giáo đã hòa trộn các nguyện vọng về xã hội hoàn mỹ vào việc truyền bá các tư tưởng Kháng cách*. Người này tiết lộ rằng thiên đường mở cửa đối với các nông dân nhưng đóng cửa đối với các quý tộc và tăng lữ, người kia lại khuyên các nông dân không dâng tiền bạc cho các linh mục hay tu sĩ nữa; Münzer, Carlstadt, và Hubmaier nói với những người nghe họ thuyết giảng rằng “nông dân, thợ mỏ, và những người bé bắp, vẽ hạt ngô hiểu Phúc Âm hơn và có thể thuyết giảng về nó tốt hơn cả một ngôi làng… của các trưởng tu viện và linh mục… hay các tiến sĩ về thần học”; Carlstadt bổ sung: “và tốt hơn cả Luther”.
Sự nghiệp của Thomas Münzer cũng hòa theo tất cả những trào lưu và hăng hái của thời đại ấy. Ông mời các quân vương lãnh đạo người dân trong một cuộc nổi dậy mang tư tưởng cộng sản, chống lại giới tăng lữ và các nhà tư bản. Khi các quân vương không nắm lấy cơ hội này, ông kêu gọi mọi người lật đổ luôn cả họ, và “để thiết lập một xã hội tốt đẹp hơn, chẳng hạn như xã hội mà Plato đã dự đoán”. Ông viết: “Vạn vật đều là của chung và nên được phân phối theo nhu cầu, dựa trên một vài nhu cầu thiết yếu của tất cả… Bất cứ quân vương, bá tước, hay nam tước nào không sẵn lòng tiếp nhận chân lý này sau khi được nhắc nhở một cách nghiêm túc về nó sẽ bị chặt đầu hoặc treo cổ”. Münzer tổ chức những người công nhân và nông dân thành một đội quân, và đúc các khẩu pháo hạng nặng cho đội quân này trong một tu viện. Lời hô hào của ông ta là “Tiến lên! Tiến lên khi phát khai hỏa vẫn còn nóng! Hãy để lưỡi gươm của các người luôn ấm máu!” Ngày 24 tháng Tám năm 1524, Hans Miller, hành động theo lời hô hào của Münzer, đã tập hợp quanh mình một Số nông dân vùng Stihlingen và liên kết họ thành một “Hội Huynh Đệ Phúc Âm”, thề sẽ giải phóng nông dân trên toàn đất Đức. Đến cuối năm 1524, khoảng 30.000 nông dân đã gia nhập các đội quân ở miền Nam Đức, từ chối trả các khoản thuế, thuế thập phân của Giáo hội, hoặc các tô với lãnh chúa, và thề phải được tự do hoặc chết. Ở Mennigen, các đại biểu của họ (tháng Ba, năm 1525) đã lập ra “Mười hai Điều khoản” khiến một nửa đất Đức hừng hực:
Mong yên bình và phước lành của Chúa Trời thông qua Christ đến với những độc giả Cơ Đốc giáo… Cho đến nay, đối với một số người, việc giữ chúng ta làm tài sản của họ vẫn là một tập quán, và điều này thật đáng tiếc khi Christ đã chuộc lỗi cà chuộc lại chúng ta bằng những dòng máu đổ quý giá của Ngài… Đối với những người cai trị đã được chọn ra mà chỉ định của chúng ta (được Chúa Trời chỉ định cho chúng ta), chúng ta sẵn lòng tuân phục họ theo những lý do chính đáng của Cơ Đốc giáo, và không hề nghi ngờ việc, với tư cách những tín đồ Cơ Đốc giáo chân chính, họ sẽ vui lòng giải thoát cho chúng ta khỏi thân phận nông nô, hoặc chứng minh cho chúng ta thấy rằng trong Phúc Âm, chúng ta là những nông nô…
Chúng ta vô cùng đau buồn bởi những sự đày đọa ấy ngày qua ngày mỗi lúc một nhiều.. .
Chúng ta khổ sở bởi một số người đã chiếm cho riêng mình những đồng cỏ thuộc những cánh đồng của chung, những thứ từng thuộc về cộng đồng….
Nếu một hay nhiều hơn một điều khoản được lập ra dưới đây… có thể được chứng minh, bằng lời của Chúa Trời, rằng chúng không đúng mực, chúng tôi sẽ tránh xa điều khoản ấy nếu đó là điều mà người ta diễn giải được với chúng tôi thông qua những lý lẽ từ Kinh Thánh.
Các thủ lĩnh nông dân, được khích lệ bởi những tuyên bố nửa cách mạng của Luther, đã gửi cho ông một bản sao của các Điều khoản trên và xin sự hỗ trợ từ ông. Ông trả lời bằng một cuốn sách nhỏ, được in vào tháng Tư năm 1525, Ermahnung zun Frieden (Cảnh cáo cho Hòa bình). Ông tán thưởng đề nghị của các nông dân về việc được tuân theo những huấn thị của Kinh Thánh. Ông lưu ý cáo buộc, lúc này đã trở nên phổ biến, rằng những lời nói và câu viết của ông đã khích động các cuộc nổi loạn; ông phủ nhận trách nhiệm của mình và viện đến việc ông không hề tính đến sự phục tùng về dân sự. Nhưng ông không rút lại những chỉ trích của mình vào tầng lớp làm chủ:
Với cuộc nổi loạn tinh quái này, chúng ta chẳng phải cảm ơn ai trên thế gian này ngoại trừ các người, các ông hoàng và lãnh chúa, và đặc biệt là các người nữa, những giám mục mù quáng và các linh mục Toà tu sĩ điên rồ, những kẻ mà trái tim đã trở nên sắt đá, chống lại Phúc Âm Linh Thiêng, mặc dù các người biết rằng những lời trong đó là đúng… Trong chính quyền thế tục của mình, các người chẳng làm gì ngoài bóc lột thần dân, để các người có thể sống một cuộc đời của những thứ xa hoa và sự kiêu hãnh, và những người dân thường nghèo khổ không thể chịu đựng lâu hơn nữa… Bởi các người chính là nguyên nhân của cơn thịnh nộ này của Chúa Trời, nó chắc chắn sẽ ập xuống đầu các người nếu các người không kịp thời sửa đổi lối sống của mình… Các nông dân đang tập hợp lại, và điều này chắc chắn sẽ dẫn đến sự điêu tàn, phá hoại, oà tan hoang của đất Đức, do những cuộc sát sinh và đổ máu, trừ phi Chúa Trời bị lay động bởi sự ăn năn của các người đến nỗi ngăn chặn tất cả những chuyện ấy.
Ông khuyên các quân vương và lãnh chúa thừa nhận tính công bằng trong nhiều điều khoản và thúc giục họ ra một chính sách mềm mỏng. Đối với các nông dân, ông thẳng thắn thừa nhận những điều sai trái mà người khác đã làm với họ, nhưng cầu xin họ kiềm chế bạo lực và sự trả thù; ông tiên đoán rằng việc viện đến bạo lực như giải pháp cuối cùng sẽ khiến họ rơi vào tình trạng còn tệ hơn trước. Ông nhìn thấy trước được rằng một cuộc nổi dậy bạo lực sẽ làm mất uy tín của phong trào đòi cải cách tôn giáo và rồi người ta sẽ đổ hết lỗi lên đầu ông. Ông khuyên các nông dân tuân phục các nhà chức trách và, trong một giây phút bất cẩn, yêu cầu họ hiểu cụm từ “tự do của người Cơ Đốc giáo” như một sự giải phóng về tinh thần, không có gì xung đột với kiếp nông nô, thậm chí với kiếp nô lệ:
Chẳng phải Abraham và những tộc trưởng và các Đấng Tiên tri cũng sử dụng nô lệ hay sao? Hãy đọc những gì Thánh Paul thuyết giảng đề đầy tớ, những người vào thời đó đều là nô lệ. Vì thế, điều khoản thứ ba của các người trái với Phúc Âm… Điều khoản này sẽ biến tất cả mọi người đàn ông thành bình đẳng… và điều đó là không thể. Bởi, một vương quốc trần thế không thể đứng vững trừ phi trong nó có một sự bất bình đẳng giữa các con người, để một số người được tự do, một số người bị cầm tù, một số người là chúa tể, một số người là thần dân.
Các thủ lĩnh nông dân xót xa, xem Luther như một kẻ phản bội và tiếp tục cuộc nổi dậy của họ. Một số người trong số họ mang giấc mơ về sự bình đẳng theo đúng nghĩa đen: các quý tộc phải phá dỡ các lâu đài của họ và sống như những nông dân hoặc người dân tỉnh lẻ; họ sẽ không bao giờ được cưỡi ngựa, bởi việc đó nâng họ lên vị trí cao hơn những người dân khác. Các mục sư sẽ là những người hầu, không phải những ông chủ, của giáo đoàn của họ, và sẽ bị trục xuất khỏi giáo đoàn nếu họ không tuân thủ chặt chẽ Kinh Thánh và chỉ Kinh Thánh. Các công nhân trong các thị trấn lên án tình trạng độc chiếm các vị trí điều hành của những người giàu, tình trạng tham ô Công quỹ của các công chức thối nát, sự gia tăng giá cả liên tục trong khi tiền lương tụt lại phía sau. Một số thủ lĩnh của cuộc nổi dậy đề xuất rằng tất cả tài sản của Giáo hội phải bị tịch thu để phục vụ các mục đích phi tôn giáo, rằng tất cả các khoản thuế và phí giao thông phải bị xóa bỏ, và rằng trên toàn Đế chế, chỉ có một đồng tiền và một hệ thống cân và đo lường.
Vào mùa xuân năm 1525, cuộc nổi dậy nổ ra rải rác ở nhiều
xã gồm các đại biểu của tầng lớp lao động đã thâu tóm được chính quyền địa phương. Ở Frankfurt-am-Main, Công xã chiến thắng đã tuyên bố kể từ đây nó sẽ là hội đồng, thị trưởng, giáo hoàng, và hoàng đế, tất cả trong một. Ở Rothenburg, các linh mục bị đuổi khỏi nhà thờ chính tòa, các hình ảnh tôn giáo bị phá hoại, một nhà nguyện bị phá hủy, và các hầm rượu của giới tăng lữ bị uống cạn trong những cuộc liên hoan chiến thắng. Gần như toàn bộ công quốc Franconia tham gia vào cuộc nổi dậy này. Nhiều lãnh chúa và giám mục, không được chuẩn bị để phản kháng, đã thế chấp nhận những cải cách mà người ta yêu cầu họ chấp nhận; một số người ngay lập tức trả tự do cho các nông nô của họ.
Nhiều người thuộc tầng lớp tăng lữ phẩm trật thấp, căm ghét hệ thống phân thứ bậc ấy, đã ủng hộ cuộc nổi dậy. Ở Leipheim, bên bờ sông Danube, khoảng 3.000 nông dân, được dẫn đầu bởi một linh mục, đã chiếm lấy thị trấn, uống sạch tất cả những rượu mà họ tìm được, cướp phá nhà thờ, đập vỡ đàn ống, làm cho mình những chiếc quần tất từ những bộ áo gi-lê của các tu sĩ, và đùa cợt bằng cách giả tỏ vẻ cung kính với một trong những người của họ, khi ấy đang ăn mặc như một linh mục và ngồi trên án thờ. Một đội quân đánh thuê được thuê bởi Liên đoàn Công quốc Swabia dẫn đầu bởi Tướng Georg von Truchsess, đã vây hãm thị trấn khiến những người nổi loạn vô phép tắc phải sợ hãi đến nỗi đầu hàng. Năm thủ lĩnh bị chặt đầu, những người còn lại được tha mạng, nhưng quân của Liên đoàn đã thiêu rụi nhiều ngôi nhà của nông dân.
Vào ngày thứ Sáu Tốt lành, ngày 15 tháng Tư, năm 1525, ba đạo quân nổi loạn dưới dự dẫn dắt của Metler, Geyer, và Rohrbach, đã vây hãm thành Weinsberg (gần Heilbronn), nơi người cai trị, Bá tước Ludwig von Helfenstein, bị đặc biệt căm ghét bởi sự khắc nghiệt của ông ta. Một đoàn đại biểu của các nông dân đã tiếp cận tường thành và đề nghị một cuộc đàm phán; bá tước và các kỵ binh của ông bất ngờ xông ra và tàn sát đoàn đại biểu. Vào ngày Chủ nhật Phục Sinh, những người tấn Công đã xuyên thủng được tường thành và hạ 40 người đàn ông có vũ trang phản kháng khi ấy. Bá tước, vợ ông ta (con gái của Hoàng đế Maximilian quá cố, và 16 ky sĩ bị bắt. Rohrbach ra lệnh cho 17 người đàn ông ấy phải chịu hình phạt chạy qua giữa hai hàng nông dân đang cầm giáo để họ đánh đập. Vị bá tước đề nghị giao toàn bộ tài sản của mình để chuộc thân; đề nghị bị từ chối do bị xem như một thủ đoạn để trì hoãn và chờ thời cơ. Nữ bá tước, trong con kiệt sức và mê sảng, đã cầu xin cho mạng sống của chồng mình. Rohrbach đã cho hai người đàn ông dụng bà dậy để bà có thể chứng kiến cuộc truy hoan của sự báo thù. Khi vị bá tước tiến tới án tử hình của mình giữa một loạt những dao găm và giáo đang bay tới, các nông dân nhắc ông ta nhớ lại những hành động tàn bạo của mình. “Ngươi ném anh trai của ta vào một hầm ngục”, một người kêu lên, “vì anh ấy không để đầu trần khi người đi qua”. “Ngươi bóc lột chúng ta như đóng ách một con bò”, những người khác hét lên, “ngươi cho người chặt đôi tay của cha ta vì ông ấy đã giết một con thỏ trên cánh đồng của chính ông ấy… Ngựa, chó, và thợ săn của ngươi đã giày xéo lên hoa màu của ta… Người đã vắt đến tận đồng xu cuối cùng của chúng ta”. Trong nửa giờ tiếp đó, 16 kỵ sĩ chịu cái chết tương tự. Nữ bá tước được phép lui về sống trong một nữ tu viện.
Các nhóm nông dân nổi loạn ở gần như mọi miền của nước Đức. Các tu viện bị cướp phá, hoặc buộc phải trả các khoản tiền lớn để được yên. Ở Mainz, Tổng giám mục Albrecht đã tháo chạy trưÓC Cơn bão, nhưng phó tổng giám mục của ông ta đã cứu lấy tòa thánh bằng cách ký vào Mười hai Điều khoản mà trả một khoản 15.000 đồng gulden để tòa thánh được yên. Ngày 11 tháng Tư, người dân thị trấn Bamberg tuyên bố không công nhận quyền cai trị của giám mục, cướp phá và đốt lâu đài của ông ta, và cướp bóc những tòa nhà chính thống giáo. Ở Alsace, cuộc nổi dậy lan nhanh đến mức vào cuối tháng Tư, mọi địa chủ theo chính thống giáo hoặc giàu có đều phải đối mặt với nỗi kinh hoàng khủng khiếp nhất đời họ. Ngày 28 tháng Tư, một đội quân gồm 10.000 nông dân đã tấn công Zabern, thánh tòa của giám mục tại Strasbourg, và cướp bóc tu viện, chiếm lấy thị trấn, buộc một phần tư những người họ bắt gặp phải tham gia với họ, bãi bỏ toàn bộ việc đóng thuế thập phân, và yêu cầu rằng từ đó trở đi tất cả các chức sắc, ngoại trừ hoàng đế, đều phải được bầu ra bởi các cuộc bỏ phiếu phổ thông, và đều có thể bị bãi miễn. Ở Freiburg-im-Breisgau, nông dân cướp bóc các lâu đài và tu viện và buộc cả thành phố phải tham gia vào Hội Huynh đệ Phúc Âm. Cũng trong tháng Năm đó, một nhóm nông dân đã đánh đuổi giám mục Würzburg ra khỏi cung điện của ông ta và đánh chén những đồ ông ta tích trữ được. Tại Neustadt ở Palatinate, Tuyển hầu tước Ludwig, bị bao vây bởi 8.000 nông dân có vũ trang, đã mời các thủ lĩnh của họ ăn tối và vui vẻ đồng ý làm theo những yêu sách họ đưa ra. Một người thời đó nói rằng: “Ở đó, người ta nhìn thấy các nông nô và người chủ của họ ngồi, ăn, và uống cùng nhau. Dường như đối với họ ông cũng có một trái tim, và đối với ông họ cũng có một trái tim”.
Giữa những dòng lũ của sự kiện này, Luther đã xuất bản, từ nhà in ở Wittenberg, vào tháng Năm, năm 1525, cuốn sách nhỏ Phản đối những bầu đoàn nông dân cướp bóc oà giết người (Against the Robbing and Murdering Hordes of Peasants). Sự quyết liệt của nó khiến các ông hoàng lẫn nông dân, mục sư lẫn người theo chủ nghĩa nhân văn, đều sửng sốt. Choáng váng trước những hành vi quá khích của những kẻ nổi loạn đang trong cơn thịnh nộ, kinh sợ một cuộc lật đổ tất cả chính quyền và luật pháp trên đất Đức có khả năng xảy ra, và nhức nhối trước những cáo buộc rằng chính những điều ông thuyết giảng đã mở cửa cho con lũ, giờ đây ông dứt khoát đặt mình vào phe của luật lệ và trật tự
Người nào, mà việc nổi loạn chống lại người đó có thể được chứng minh là hợp lẽ, mới là kẻ nằm ngoài vòng pháp luật của Chúa Trời và Đế quốc, và người đầu tiên giết được hắn ta mới đang làm đúng và làm tốt… Bởi vì, sự nổi loạn mang đến một vùng đất đầu giết chóc và đổ máu, khiến phụ nữ trở thành góa phụ và trẻ em trở thành mồ côi, và đảo lộn mọi thứ… Vì thế, hãy để tất cả những người có thể đánh, giết, và đâm, một cách bí mật hoặc công khai, nhớ rằng không gì có thể độc ác hơn, gây tổn thương hơn, hay tà ác hơn một kẻ nổi loạn. Chỉ công bằng khi người ta buộc phải giết một con chó dại…
Ông bác bỏ giả định rằng Kinh Thánh đã nhắc đến những điều kiện đảm bảo chủ nghĩa cộng sản:
Phúc Âm không nói rằng của cải là của chung, ngoại trừ trong trường hợp của những người làm một cách hoàn toàn tự nguyện những gì mà các Tông đồ và môn đồ đã làm ở Hồi IV. Họ không yêu sách, như những nông dân mất trí của chúng ta… rằng của cải của những người khác - của một Pilate hay của một Herod - phải là của chung, mà cho rằng chúng là của riêng những người ấy. Tuy nhiên, các nông dân của chúng ta lại muốn biến của cải của người khác thành của chung, và giữ của cải của họ cho riêng mình. Tốt thôi! Ta nghĩ rằng chẳng còn lại con quỷ nào dưới địa ngục; chúng đều đã biến vào bên trong các nông dân ấy rồi.
Đối với những nhà cai trị Công giáo, ông tha thứ cho họ nếu họ có lỡ đánh đập những người nổi loạn mà không qua xét xử. Đối với những nhà cai trị Kháng cách, ông khuyến nghị họ cầu nguyện, ăn năn, và thương lượng, nhưng nếu các nông dân vẫn ngoan cố, thì hãy nhanh chóng nắm lấy gươm. Bởi vì, một quân vương hay lãnh chúa phải nhớ rằng trong trường hợp này ông ta là người thừa hành của Chúa Trời và kẻ phụng sự cho cơn thịnh nộ của Ngài (Thư gửi tín hữu Rome, chương 13), những người mà lưỡi gươm được trao cho họ để sử dụng trước những kẻ như vậy:
Nếu anh ta có thể trừng phạt nhưng không làm thế - ngay cả khi hình phạt ấy về cơ bản là tước đi mạng sống của ai đó và gây đổ máu - thì anh ta cũng mắc tất cả những tội giết người và những điều xấu xa mà những kẻ này đã thực hiện… Vì thế, những người cai trị phải tiếp tục vô tư, và tấn công những kẻ ấy với một lương tâm trong sáng, chừng nào trái tim của chúng vẫn còn đập… nếu bất cứ ai nghĩ rằng điều này là quá khó, hãy để anh ta nhớ lại rằng nổi loạn là điều không thể dung thứ, và rằng từng giờ từng phút, thế giới này đứng trước tương lai bị hủy diệt.
Không may cho Luther, lời kêu gọi chiến tranh này đến với người đọc vừa đúng lúc các tầng lớp sở hữu đất đai đang bắt đầu trấn áp cuộc nổi dậy; và Nhà Cải cách ấy bị đổ lỗi một cách không công bằng về những khủng bố của cuộc đàn áp. Tuyển hầu tước Frederick qua đời ngày 5 tháng Năm năm 1525, để lại cho người kế vị lời khuyên rằng hãy tiết chế. Nhưng Tuyển hầu tước John cảm thấy anh trai ông đã nhân hậu một cách không sáng suốt. Ông hợp quân với Công tước Henry của Brunswick và Philip I, lãnh chúa của Hesse, và cùng nhau tiến về phía doanh trại của Munzer ở bên ngoài Munchausen. Hai đội quân đối địch chỉ tương xứng với nhau về số lượng - mỗi đội có 8.000 người; nhưng đội quân của Công tước đa phần là binh lính được huấn luyện, trong khi các nông dân chỉ được vũ trang một cách sơ sài. Loạt pháo liên hoàn yểm hộ đầu tiên từ những khẩu pháo của vị quân vương ấy đã giết hàng trăm người, và những người nổi loạn khiếp sợ đã tháo chạy vào thị trấn Frankenhausen (ngày 15 tháng Năm). Những người chiến thắng đã đuổi theo họ, và tàn sát 5.000 người. Ba trăm nông dân bị kết án tử hình, những người phụ nữ của họ cầu xin sự khoan dung dành cho họ, thỉnh cầu ấy được đáp ứng với điều kiện họ đập vỡ đầu hai linh mục đã kích động cuộc nổi loạn; họ làm theo trong khi các công tước thắng trận đứng ngoài quan sát. Munzer bị bắt, bị tra tấn đến mức phải thú nhận sự sai lầm trong tư tưởng của mình, và bị chặt đầu.
Trong khi đó, Georg von Truchsess, dẫn đầu một đạo quân gồm các quân vương khác, đã chiếm được thị trấn Böblingen, và từ những bức tường thành của nó, quân đội của ông nã pháo vào một doanh trại quân nổi loạn bên ngoài thành (ngày 11 tháng Năm). Những nông dân sống sót sau đợt nã pháo bị kỵ binh tiêu diệt. Chuyển sang đích tiếp theo là Weinsburg, Truchsess thiêu rụi nó, và từ từ nướng Jücklein Rohrbach, kẻ đã chỉ huy cuộc “Thảm sát Weinsberg”. Truchsess tiếp tục chiếm Würzburg, và chém đầu 81 kẻ nổi loạn đã được chọn lọc ra, để thị uy những người còn lại. Một trong những người sống sót là kỵ sĩ quân nổi loạn Gotz von Berlichingen, người mà huyền thoại về ông đã cho Goethe cảm hứng để sáng tác một vở kịch vào những ngày đầu tiên trong sự nghiệp.
Cuộc nổi loạn ở Alsace bị đập tan bởi một cuộc tàn sát từ 1.000 đến 6.000 nông dân ở Lipstein và Zabern. Đến ngày 27 tháng Năm, khoảng 20.000 nông dân đã bị giết chỉ riêng ở Alsace, không khí của một số thị trấn đầy mùi hôi thối của những xác chết. Margraf Casimir chém đầu một vài nông dân đã đầu hàng, còn một số khác bị treo Cổ; ở một số trường hợp nhẹ hơn, ông ta chặt tay hoặc móc mắt. Các vị quân vương bình tĩnh hơn đã can thiệp để giảm thiểu sự dã man của việc trả đũa. Một quý tộc cảnh báo: “Nếu tất cả những kẻ nổi loạn đều bị giết, chúng ta sẽ kiếm đâu ra nông dân để chu cấp cho chúng ta?”.
Những mất mát về sinh mạng và tài sản trong Chiến tranh Nông dân chỉ kém những thiệt hại trong Chiến tranh Ba mươi Năm. Riêng ở phe nông dân, khoảng 130.000 người đã chết trên chiến trường hoặc xử tử khi bị bắt. Đao phủ mà Truchsess thuê đã khoe khoang rằng chính tay anh ta đã giết 1.200 người bị kết tội. Các nông dân đã phá hủy hàng trăm lâu đài và tu viện. Hàng trăm ngôi làng và thị trấn đã bị tàn phá hoặc giảm dân số, hoặc trở nên bần cùng do phải bồi thường những khoản cực lớn.
Hơn 50.000 nông dân không nhà lang thang trên những con đường cái hoặc ẩn náu trong rừng. Các góa phụ và trẻ mồ CÔi đông như những quân đoàn, nhưng các tổ chức từ thiện vô tình hoặc không còn tiền. Ở Áo, Baden, và Hess, người ta nhân nhượng với nông dân; tại những nơi khác ở bờ Đông sông Elbe, tình trạng nông nô được củng cố, và sẽ tiếp tục tới tận năm 1800. Các bước phát triển về tri thức bị chấm dứt giữa chừng, sự kiểm duyệt xuất bản phẩm gia tăng, dưới sự kiểm soát của cả giới chức Công giáo lẫn giới chức Kháng cách. Trong ngọn lửa ấy, chủ nghĩa nhân văn suy yếu. Niềm hân hoan của Phục hưng trong đời sống, văn chương, và nghệ thuật phải nhường chỗ cho giáo thuyết, sự ngoan đạo, và những lúc trầm tư suy nghĩ về cái chết.
Các nông dân không bao giờ tha thứ cho Luther. Họ cảm thấy rằng tôn giáo mới đã hợp lý hóa động cơ của họ, đã khích động họ hy vọng và hành động, và rồi bỏ rơi họ trong thời khắc quyết định. Một số người trong số họ, trong cơm tuyệt vọng giận dữ, đã trở thành những người vô thần cay độc. Nhiều người trong số họ, hoặc con cháu của họ, đã trở về với nhóm các con chiên Công giáo. Một số người trong số họ đi theo những người Có tư tưởng cải cách triệt để, những người mà Luther đã lên án, và nghe thấy trong kinh Tân Ước một lời hiệu triệu gửi đến chủ nghĩa cộng sản.
Chủ nghĩa cộng sản Anabaptist
Những người có tư tưởng cải cách triệt để nhất trong giáo phái mới này lấy cái tên Anabaptist (Wiedertaufer - nghĩa là “được rửa tội một lần nữa”), từ việc họ nhấn mạnh rằng việc rửa tội, nếu được thực hiện khi mới sinh ra, phải được lặp lại khi trưởng thành hoặc, tốt hơn, nên được trì hoãn, như John người Rửa tội đã làm, cho đến khi người nhận được lễ rửa tội có thể đi theo đức tin Cơ Đốc giáo một cách có ý thức và tự nguyện.
Họ lên án tất cả các hình thức sử dụng bạo lực, đặc biệt là bởi các chính quyền. Họ từ chối phục vụ trong quân đội với lý do rằng việc cướp đi sinh mạng của con người luôn là hành động đầy tội lỗi. Họ từ chối lập các lời tuyên thệ, kể cả những lời tuyên thệ trung thành với quân vương hoặc hoàng đế. Câu chào thường gặp của họ là “Mong hòa bình của Chúa Trời đến với bạn” - lặp lại lời chào của người Do Thái và người Hồi giáo, và là một tiền mẫu cho kiểu chào của phái Quaker.
Trong khi Luther,Zwingli, Calvin, và Knox nhất trí với các giáo hoàng về sự cần thiết của sự đồng nhất về tôn giáo, các Anabaptist làm theo tư tưởng bao dung về tôn giáo*, và một trong số họ, Balthasar Hubmaier, đã viết bản biện hộ rõ ràng đầu tiên cho tư tưởng này (năm 1524). Họ tránh các cơ quan công quyền và tất cả những hành động liên quan đến kiện tụng. Họ là những người theo chủ trương vô chính phủ kiểu Tolstoy trước thời của Tolstoy những 3 thế kỷ. Một số người trong số họ tuyên bố chế độ chung tài sản; một số người, nếu chúng ta có thể tin cậy vào những người viết biên niên sử không có thiện ý, đã tuyên bố chế độ chung vợ. Tuy nhiên, nhìn chung, giáo phái này phản đối bất cứ việc chia sẻ bắt buộc nào về tài sản, và an ủi chính mình bằng hy vọng rằng trong vương quốc thiên đường sắp tới, chế độ cộng sản sẽ là điều đương nhiên và chung cho tất cả. Họ sống trong kỳ vọng tự tin về Giáng thế lần thứ Hai của Christ, người sẽ lập ra Vương quốc Thiên đường trên phàm trần, và người nào được chọn vào vương quốc ấy sẽ sống trong một thiên đường trên hạ giới, nơi chứa đầy tất cả những thứ tốt đẹp cho tất cả mọi người và không có các điều luật hay hôn nhân.
Các Anabaptist xuất hiện đầu tiên ở Thụy Sĩ vào khoảng năm 1521, nhưng Zwingli, người đã lên nắm quyền thống trị ở Zurich, đã khiến cuộc sống của họ không thoải mái đến mức họ di cư sang Đức, nơi Luther dường như đã chuẩn bị sẵn cho họ bằng cách phá vỡ những con đập được dựng lên từ phong tục và kỷ cương, biến “mỗi người thành một linh mục”, và tuyên bố tự do cho tín đồ Cơ Đốc giáo. Ở Augsburg, họ nhanh chóng trở thành những công nhân dệt may, ở Tirol là nhiều thợ mỏ, tạo ra sự tương phản giữa cái nghèo khổ của họ với sự giàu có của những người nhà Fugger và nhà Hochstetter, tức những người sở hữu các hầm mỏ và đi theo tư tưởng Anabaptist khi cuộc nổi dậy của các nông dân sụp đổ, ở Strasbourg, giáo phái này phát triển mà không gặp phải trở ngại nào trong một thời gian ngắn, bởi tính thích gây gổ của họ đã bị thu hút vào cuộc xung đột giữa những người Kháng cách và những người Công giáo. Nhưng một cuốn sách nhỏ được phát hành năm 1528 đã cảnh báo giới chức rằng “người dạy rằng mọi thứ sẽ là của chung” không có gì trong tâm trí ngoài suy nghĩ kích động người nghèo chống lại người giàu, thần dân chống lại nhà cai trị đã được Chúa Trời phong tước. Trong năm đó, Charles V ban hành một sắc lệnh đưa tư tưởng tái thanh tẩy* thành một tội tử hình.
Hội nghị Speyer (năm 1529) đã thông qua sắc lệnh của hoàng đế và hạ lệnh rằng Anabaptist ở mọi nơi đều phải bị giết như những con thú hoang ngay khi bị bắt, mà không cần xét xử. Đến năm 1530, theo Sebastian Frank, một người sống ở thời kỳ đó, 2.000 Anabaptist đã bị xử tử.
Bất chấp những vụ giết chóc này, giáo phái ấy vẫn lớn thêm, và di chuyển từ nơi này sang nơi khác trên đất Đức. Ở Prussia và Württemberg, một số quý tộc đã chào đón họ như những người nông dân hiền hòa và siêng năng. Ở Saxony, theo lời một sử gia của phái Luther đời đầu, thung lũng sông Werra đầy những người Anabaptist, và ở Erfurt, họ tuyên bố đã cử 300 nhà truyền giáo đi cải đạo cho thế giới đang chết dần này.
Ở Austerlitz, Hans Hut và những người đi theo ông đã lập ra một trung tâm của chủ nghĩa cộng sản và duy trì nó trong suốt gần một thế kỷ. Những nhà quý tộc sở hữu đất đai bảo vệ họ như những người đang làm giàu cho mảnh đất bằng sự lao động tận tâm của mình. Nông nghiệp khi ấy mang tính công xã: nguyên liệu cho nông nghiệp hoặc nghề thủ công được mua và phân phối bởi các viên chức công xã; một phần của tiền lãi được trả cho địa chủ hoặc lãnh chúa như tiền thuê đất, phần còn lại được phân phối theo nhu cầu. Đơn vị xã hội khi ấy không phải là gia đình mà là một Haushabe, tức “hộ”, chứa 400 đến 2.000 người, với một nhà bếp chung, một nhà giặt đồ chung, một trường học, một bệnh viện, và một xưởng ủ bia. Trẻ em sau khi cai sữa mẹ sẽ được nuôi dạy chung, nhưng chế độ một vợ một chồng vẫn được giữ nguyên. Trong Chiến tranh Ba mươi Năm, dưới một chỉ dụ của hoàng đế vào năm 1622, tổ chức Cộng sản chủ nghĩa này bị đàn áp; các thành viên của nó đã chấp nhận theo Công giáo hoặc bị lưu đày.
Ở Hà Lan, Melchior Hofmann, một thợ thuộc da người Swabia, đã thuyết giảng về Phúc Âm kiểu Anabaptist với thành Công ở mức nhất định. Ở Leyden, học trò Jan Matthys của ông kết luận rằng không thể nào kiên nhẫn chờ đợi sự đản sinh của Jerusalem mới được nữa, mà phải ngay lập tức đạt được nó, và bằng bạo lực nếu cần. Ông phái 12 Tông đồ đi khắp đất Hà Lan để tuyên bố tin vui. Người có năng lực nhất trong số đó là một thợ may trẻ, Jan Beuckelszoon, được lịch sử biết đến với cái tên John của Leyden, và trong vở opera của Meyerbeer với cái tên Nhà Tiên tri (La Prophete). Dù không nhận được giáo dục chính quy, ông vẫn có một trí tuệ sắc sảo, một trí tưởng tượng sinh động, một diện mạo đẹp đẽ, nói năng lưu loát, và một ý chí vững vàng. Năm 1533, ở tuổi 24, ông chấp nhận lời mời tới hỗ trợ các Anabaptist, những người đã lên nắm quyền lực ở Münster, thủ phủ giàu có và đông dân của Westphalia.
Đến nơi vào ngày 13 tháng Một, năm 1534, ông thấy thành phố đang bị vây hãm bởi một đội quân Công giáo dưới sự chỉ huy của Giám mục Franz von Waldeck. Ông tham gia cuộc kháng cự ngoan cường ấy và chẳng mấy chốc lên đến địa vị lãnh đạo với quyền lực gần như tuyệt đối trong Ủy ban Công An tối cao (ngày 5 tháng Tư, năm 1534). Các cuộc bầu cử mới được tổ chức; các Anabaptist giành được quyền kiểm soát Ủy ban và thiết lập chế độ Cộng sản như một thể chế kinh tế thời chiến. Được truyền cảm hứng bởi đức tin tôn giáo và khả năng hùng biện của John, các Công dân trong thành đã chấp nhận một chế độ chính trị thần quyền xã hội chủ nghĩa” với hy vọng rằng họ đang hiện thực hóa Tân Jerusalem mà các Tông đồ đã nhìn thấy trước.
John và các phụ tá của mình, có lẽ là để tăng thêm uy tín cho địa vị thống trị bấp bênh của họ, đã mặc những bộ quần áo tuyệt đẹp do những người giàu có đã bị trục xuất để lại. Theo một nhân chứng không mấy thiện cảm, họ tuyên bố rằng tất cả tài sản phải là của chung”, nhưng rõ ràng ít người tuân theo. Ba “trợ tế” này được giao nhiệm vụ cung cấp nhu yếu phẩm cho người nghèo; và để cấp được những khoản hỗ trợ từ thiện này, những người khá giả còn lại được thuyết phục hoặc bị buộc phải giao ra phần họ còn thừa. Đất đai khả dĩ cho trồng trọt bên trong thành phố được giao cho từng hộ, dựa trên quy mô của nó. Một sắc lệnh xác nhận quyền thống trị của chồng lên vợ.
Đạo đức xã hội được điều tiết bởi những luật lệ nghiêm khắc. Nhảy múa, thi đấu, và các vở kịch tôn giáo được khuyến khích, dưới sự giám sát, nhưng việc đánh bạc và uống say bị trừng trị một cách nghiêm khắc. Mại dâm bị cấm; gian dâm và ngoại tình bị đưa vào nhóm các tội tử hình. Một tình trạng quá nhiều phụ nữ, do sự rút chạy của nhiều người đàn ông, đã khiến các thủ lĩnh ra sắc lệnh, dựa trên cơ sở các tiền lệ trong Kinh Thánh, rằng những người phụ nữ chưa kết hôn phải trở thành “những người bầu bạn của các bà vợ - trên thực tế là những người thiếp. Bản thân John cũng có một vài người thiếp.
Mặc dù nhiều Anabaptist ở Đức và Hà Lan không chấp nhận việc những người anh em của họ ở Münster viện đến bạo lực, số Anabaptist cổ vũ cho cuộc cách mạng ấy còn đông hơn. Cologne, Trier, Amsterdam, và Leyden thì thầm những lời cầu nguyện kiểu Anabaptist, mong cuộc cách mạng ấy thành công. Ngày 28 tháng Ba, làm theo cuộc nổi dậy ở Münster, một nhóm các Anabaptist đã chiếm được và cố thủ trong một tu viện ở Tây Friedland. Đối mặt với tình trạng nổi dậy đang lan rộng này, các lực lượng bảo thủ của Đế quốc, cả Kháng cách lẫn Công giáo, đã dịch chuyển để đàn áp phong trào Anabaptist ở mọi nơi. Luther, người vào năm 1528 đã khuyến nghị họ khoan dung với những kẻ dị giáo mới, vào năm 1530 đã kêu gọi mọi người “sử dụng thanh gươm” để chống lại họ, những “kẻ báng bổ” và làm cách mạng. Hết thành phố này đến thành phố khác gửi tiền hoặc người tới Giám mục von Waldeck và quân đội của ông ta; và Hội nghị Worms (ngày 4 tháng Tư, năm 1535) đã ra lệnh đánh một khoản thuế lên toàn đất Đức để tài trợ cho cuộc tấn công vào Münster. Vị giám mục giờ đây đã có thể bao vây thành phố và cắt mọi nguồn tiếp tế của nó.
Đối mặt với đói khát và tinh thần chung ngày một rệu rã, Vua John đã tuyên bố rằng tất cả những người nào có ý muốn đều được rời khỏi thành. Nhiều phụ nữ và trẻ em, và một số người đàn ông đã nắm lấy cơ hội này. Những người đàn ông ấy bị bắt giam hoặc giết bởi binh lính của giám mục; phụ nữ được tha mạng để dùng cho nhiều công việc phục vụ khác nhau. Một trong những người chạy khỏi thành đã giữ được mạng bằng cách đồng ý chỉ cho những người đang bao vây một phần không được phòng thủ của tường thành. Dưới dự hướng dẫn của ông ta, một lực lượng lính đánh thuê landsknecht đã trèo qua được tường thành và mở được một cổng (ngày 24 tháng Sáu); chẳng mấy chốc một vài phân đội tràn vào thành phố. Nạn đói đến lúc đó đã khiến chỉ 800 người trong số những người bị vây hãm còn đủ sức cầm vũ khí. Họ lập phòng tuyến cố thủ trong khu chợ, sau đó họ đầu hàng với điều kiện được hứa ban cho một giấy thông hành an toàn để rời khỏi Münster; khi họ buông vũ khí, họ bị tàn sát hàng loạt. Các ngôi nhà bị lục soát, và 400 người sống sót đang ẩn náu đã bị giết. John của Leyden và hai sĩ quan phụ tá của ông ta bị buộc chặt vào những cây cột, từng phần trên cơ thể họ bị kẹp bằng kìm nung đỏ đến khi “gần như tất cả những người đứng trong khu chợ đều cảm thấy buồn nôn trước cái mùi kinh tởm đó”. Cuối cùng, người ta đâm dao găm vào tim họ.
Vị giám mục giành lại được thành phố của mình và nâng cao quyền lực trước kia của ông ta; kể từ đây, mọi hành động của giới chức dân sự đều lệ thuộc vào quyền phủ quyết của giám mục. Công giáo được khôi phục trong chiến thắng. Trên khắp Đế quốc, các Anabaptist, lo sợ cho mạng sống của mình, đã từ chối tất cả những thành viên nào mắc tội sử dụng bạo lực; dẫu vậy, nhiều người dị giáo ôn hòa vẫn bị hành quyết. Luther và Melanchthon khuyên Philip của Hesse xử tử tất cả những người còn trung thành với giáo phái này. Các Anabaptist đã chấp nhận bài học này, và rút về với cuộc sống yên bình, ngoan đạo, và đúng mực mà nhà nước có thể chấp nhận.
Menno Simons, một linh mục Công giáo đã cải giáo sang Anabaptist, lãnh đạo những người Hà Lan và người Đức tin theo ông một cách khéo léo đến mức các “Mennonite”* đã sống sót qua tất cả những khổ nạn và lập ra những cộng đồng nông nghiệp thành công ở Hà Lan, Nga, và Mỹ. Không có mối liên hệ rõ ràng nào giữa các Anabaptist ở châu Âu đại lục và các Quaker ở Anh hay các Baptist ở Mỹ, nhưng việc các Quaker từ chối chiến tranh và những lời tuyên thệ, và việc các Baptist nhấn mạnh việc làm lễ rửa tội khi đã trưởng thành, rất có thể xuất phát từ cùng những truyền thống về tín ngưỡng và cách hành xử tồn tại ở Thụy Sĩ, Đức, và Hà Lan dưới các dạng đức tin Anabaptist. Một nhánh của các Anabaptist đã di cư từ Đức sang Pennsylvania vào năm 1719, và định cư ở Germantown hoặc gần đó. Ở miền Đông Pennsylvania, các Mennonite “Amish” (được đặt tên theo tên của một thủ lĩnh vào thế kỷ 17. Iakob Amen) ngày nay vẫn chính thức phản đối dao cạo râu, đường sắt, ô tô, phim ảnh, báo, và máy kéo, nhưng các nông trang của họ nằm trong số những nông trang gọn gàng tinh tươm nhất và trù phú nhất nước Mỹ.
Những giáo lý làm chỗ dựa cho các Anabaptist vượt qua gian khổ, nghèo đói, và đọa đày gần như không thể hòa hợp với những triết lý nhất thời của chúng ta, nhưng bằng sự chân thành, chuyên tâm mộ đạo, và thân thiện của mình, họ cũng làm kho tàng di sản của ta thêm phong phú, và cứu rỗi nhân tính đã lu mờ của chúng ta.
CẢI CÁCH CHIẾN THẮNG (1525-1555)
Nếu Cải cách Kháng nghị thành công ở Đức, rất có thể nguyên nhân là do tâm trí của Hoàng đế Charles V và các Giáo hoàng Leo X, Adrian VI, và Clement VII bị hoàn toàn thu hút vào một cuộc tranh giành quyền lực tối cao trong thế giới Cơ Đốc giáo, và các quân vương người Đức nghĩ rằng các nguồn thu của Giáo hội Đức, nếu nằm trong tay họ, có thể được dùng vào các mục đích tốt hơn so với khi nằm trong tay Giáo hội Rome. Trong khi Ý và Pháp bận bịu với chiến tranh, người Đức đã từ bỏ việc đáp ứng các yêu cầu tốn kém của Giáo hội, và các tuyển hầu tước, từng người một, đồng thuận với việc Đức phải được nắm chủ quyền*.
Erasmus đứng ngoài quan sát trong sững sờ và đau xót khi châu Âu chia cắt chính nó bằng các giáo thuyết và chiến tranh. Ông đã ủng hộ những giai đoạn trước đó trong cuộc nổi loạn của Luther, nhưng đứng ngoài khi nó đe dọa gây ra sự sụp đổ của Giáo hội Công giáo, với tư cách một trụ cột của trật tự xã hội ở châu Âu. Ông thừa nhận phần đóng góp của mình trong việc mở ra một con đường cho Luther, tác phẩm Ca ngợi sự ngu dại của ông vào thời điểm đó đang được lưu truyền bởi hàng nghìn người trên khắp châu Âu, lấy các tu sĩ và các nhà thuyết giáo ra làm trò cười và đưa ra lý lẽ biện minh cho những chỉ trích kịch liệt thẳng thắn của Luther.
Khi các tín đồ Công giáo buộc tội ông, với tội danh đẻ ra quả trứng mà Luther đã ấp nở, ông thừa nhận: “Vâng, nhưng quả trứng mà tôi đẻ ra là một con gà mái, trong khi Luther đã cho nở một con gà chọi”. Ông lo sợ rằng sự chia rẽ của Cơ Đốc giáo thành những doanh trại thù địch sẽ đưa châu Âu trở lại thời kỳ cách đó 1 thế kỷ (như những gì nó sẽ làm với Đức trong thế kỷ tiếp theo).
Khi Luther khẩn cầu với ông, xin được tiếp tục mối quan hệ bằng hữu (ngày 18 tháng Ba, năm 1519), ông trả lời bằng cách cảnh báo Luther không nên thả những con chó chiến tranh, trong khi đó ông viết thư cho Tuyển hầu tước Frederick, yêu cầu ông bảo vệ người nổi loạn kia. Và, như bất kỳ học giả nghèo nào, ông nhớ lại những khoản trợ cấp mà giáo hoàng cho ông và vị trí ăn không ngồi rồi của mình ở nước Anh, và giữ yên lặng.
Bất kể trong trường hợp nào, việc các quân vương người Đức rút khỏi nhóm đạo Rome vẫn tiếp diễn với tốc độ ngày càng cao. Năm 1546, Luther qua đời ở tuổi 63, sau nhiều bệnh tật và đau khổ. Phúc âm của ông được tiếp nối bởi Melanchthon, và được bảo vệ bởi các tuyển hầu tước, những người mà quyền lực của họ ngày càng lớn trong khi quyền lực của vị hoàng đế Công giáo mỗi năm lại suy giảm do các cuộc chiến tốn kém, những lo âu và bận tâm ngày càng nhiều, và những căn bệnh của tuổi già. Năm 1555, ở Hội nghị Augsburg, Charles V nhún mình chấp nhận hầu hết các yêu sách của các tuyển hầu tước người Đức, những người sau đó được tự do chọn tôn giáo của riêng mình và biến tôn giáo ấy thành tôn giáo bắt buộc cho các thần dân của họ. Không có sự giả vờ bao dung về tôn giáo nào; quyền phán xử riêng tư, mà cuộc Cải cách kháng nghị đã giữ gìn trong thời kỳ đỉnh cao của cuộc nổi loạn, giờ đây đã bị bãi bỏ, chỉ vì nó đã dẫn đến rất nhiều tín ngưỡng xung đột với nhau, như những mối đe dọa xuất hiện trong tâm trí người châu Âu. Tuy nhiên, người nổi loạn bất mãn ấy đã được tự do chuyển về với một quân vương, người có tôn giáo chính thức phù hợp nhất với tôn giáo của riêng ông.
Hoặc, một công dân như vậy có thể sẽ phá vỡ tất cả những rào cản quốc gia, tìm kiếm ở Thụy Sĩ lựa chọn của ông về mặt đức tin Cải cách, giữa tư tưởng của Zwingli ở Zurich và của Calvin
Geneva; hoặc ông có thể vượt biển để đi tìm đức tin tôn giáo, với tư tưởng thần học Calvin kiểu Scotland dưới sự lãnh đạo của John Knox, hoặc với tư tưởng Công giáo Anh dưới sự lãnh đạo của Henry VIII.
Chỉ ở những tư tưởng dị giáo bí mật của một vài người theo chủ nghĩa nhân văn ở Đức, hoặc ở chủ nghĩa hoài nghi trầm lặng của một vài người Ý và người Anh, sự tự do về tinh thần mới sống sót, giữa những chuyên chế về giáo lý.