Năm 1378, Venice đang rơi vào thời bĩ vận. Hoạt động giao thương trên biển Adriatic của nó bị kìm hãm bởi hạm đội của Genoa (tên tiếng Ý là Genova) bách chiến bách thắng, những đường liên lạc của nó với các vùng chịu cống nạp đã bị chặn đúng bởi các lực lượng thù địch; người dân thành phố này đang chết đói, chính quyền của nó đang tính đến một sự đầu hàng đáng xấu hổ.
Nửa thế kỷ sau đó, Venice cai quản Padua, Vicenza,Verona, Brescia, Bergamo, cả hai bên bờ biển Adriatic ở phía Bắc thành phố này, và xa hơn là Lepanto, Patras, và Corinth. An toàn bên trong thành trì được rất nhiều đường hào bao quanh, thành phố này dường như miễn nhiễm trước những thăng trầm về chính trị của đại địa; sự giàu có và quyền lực của nó đã liên tục tăng lên, cho đến khi nó an tọa như một nữ hoàng ngồi trên ngai ở phần đầu của nước Ý. Thu nhập hằng năm của chính quyền thành phố này - 800.000 ducat (20.000.000 đô-la) vào năm 1455 - vượt qua thu nhập của chính quyền ở bất cứ thành bang nào khác trên đất Ý và ngang với nguồn thu công của cả nước Tây Ban Nha vào thời theo Cơ Đốc giáo. Những cung điện kiêu hãnh và tuyến dạo bộ uyển chuyển dọc theo Kênh Lớn của Venice đã khiến Philippe de Comines, người đã du ngoạn đến nhiều nơi, phải tuyên bố rằng đây là “con phố đẹp nhất thế giới”.
Sự giàu có của nó đến từ hàng trăm ngành nghề - đóng tàu, sắt, kính, da, dệt, đá quý - và một hạm đội thương thuyền mang các sản phẩm của Venice và của những thành bang phụ thuộc vào nó tới Hy Lạp, Ai Cập, và châu Á, và trở về với lụa, gia vị, thảm, thuốc, và nô lệ, trung bình mỗi năm, hàng xuất khẩu của thành phố này có giá trị vào khoảng 10.000.000 ducat; không một thành phố nào ở châu Âu có được giá trị giao thương như vậy.
Trong cá tính Venice (và cá tính của nước Ý), sự phóng túng và báng bổ phàm tục song hành với đức tin chính thống giáo và lòng mộ đạo được thể hiện hằng tuần. Vào Chủ nhật và các ngày lễ thánh, quần chúng tụ tập đông đúc trong Thánh đường Thánh Mark và hấp thu những “liều thuốc” của hy vọng và nỗi kinh hoàng từ những bức tượng và tranh ghép mảnh, những biểu tượng và những bài thuyết giảng. Thậm chí những cô gái bán dâm cũng đến đây sau một đêm mệt nhoài, để thanh tẩy chính mình khỏi những người đàn ông. Thánh đường vĩ đại ấy gần như hoàn toàn không đại diện cho văn minh Venice, hay nghệ thuật Venice. Được xây thành hình dạng như bây giờ từ năm 1073, trải qua mọi lần trùng tu và đổi mới, nó vẫn hoàn toàn mang chất Byzantium ở những nét trang trí bên ngoài và sự ảm đạm âm u bên trong, các nghi lễ, bài giảng, và các tranh ghép mảnh của nó nói về những huyền thoại và những điều kinh hoàng thời Trung cổ, hơn là niềm hân hoan đầy sức sống và đức tin vô tư của tinh thần Phục hưng kiểu Ý.
Bên cạnh ngôi đền khổng lồ ấy, Dinh tổng trấn (Palazzo dei Dogi) đã tập hợp những cây cột của văn minh cổ đại, những Cổng vòm La Mã, và các đỉnh chóp của kiến trúc Gothic để ôm lấy những căn phòng xa hoa của các nghị viên thuộc đẳng cấp thượng lưu, hoặc che lấp những hầm ngục ngầm dành cho những kẻ thù bất cẩn. Đối diện với Quảng trường Thánh Mark (Piazza San Marco) hay Kênh Lớn, các cung điện mọc lên hết năm này qua năm khác, khiêm nhường ở bên ngoài, nhưng bên trong được trang hoàng bằng tất cả những giàu có và ấm áp của nghệ thuật và những thứ xa hoa của thành Venice. Đây là nơi mà Byron* say sưa tiệc tùng và Wagner* qua đời. Tại đây, như trong Dinh tổng trấn, hay trong một loạt những nhà thờ, khiêm nhường hay hoành tráng, hay trong các scuoli (trường học) của các tu sĩ, các bức tranh của Gentile và Giovanni Bellini, Carpaccio, Giorgione, Titian, Tintoretto, và Veronese sẽ liên tiếp nổi lên trong một thời kỳ đầy huy hoàng. Rome sẽ khó có thể sánh được với triều đại này.
Thậm chí các kẻ thù của Venice cũng ngưỡng mộ chính quyền của nó và gửi các điệp viên đến nghiên cứu cơ cấu và sự vận hành của nó. Nó được kiểm soát bởi một chế độ đầu sỏ chính trị khép kín gồm các gia tộc lâu đời, được liệt kê trong một cuốn sách mang tên Cuốn sách màng về giới quý tộc nước Ý (Libro d’oro)*, những người sẽ chọn ra một Maggior Consiglio, tức Đại Hội đồng, và hội đồng này sẽ chọn ra 60 người để phụng sự với tư cách Nghị viên lập pháp, những người sẽ chọn một doge (tổng trấn) đứng đầu, người mà cùng với sáu thành viên của hội đồng kín sẽ lập thành Chính quyền (Signoria). Để tự vệ trước những âm mưu thù địch từ bên trong và bên ngoài, hằng năm Đại Hội đồng sẽ chọn ra một Hội đồng Mười người (Consiglio dei Dieci) đóng vai trò như một ủy ban trị an. Thông qua các điệp viên và quy trình thủ tục nhanh chóng, các phiên họp và phiên tòa bí mật, Hội đồng Mười người này trong một quãng thời gian nhất đinh đã trở thành vũ khí manh nhất của chính quyền.
Nhiều huyền thoại về hội đồng này đã ra đời, thường với sự phóng đại về mức độ bí mật và nghiêm khắc của nó. Xét tất cả các mặt, đây là một thể chế hiệu quả, duy trì được thành bang này trong sự ổn định phồn thịnh, và có khả năng đưa ra các chính sách được tính toán dài hạn, những chính sách hẳn sẽ khó có thể duy trì dưới một chính quyền chịu ảnh hưởng từ sự thay đổi thường xuyên của thái độ công chúng.
Đời sống thành Venice hấp dẫn ở bối cảnh, hơn là ở tinh thần của nó. Chế độ chuyển quyền có đủ năng lực và thể hiện sự dũng cảm trước nghịch cảnh, nhưng nó đôi khi tàn bạo và luôn luôn ích kỷ, giống những hàng xóm của mình, nó không bao giờ nghĩ rằng nó là một phần của nước Ý, và gần như không quan tâm đến việc bi kịch chính trị nào sẽ ập xuống vùng đất bị chia rẽ ấy. Nó đã vun đắp nên những nhân cách mạnh mẽ - tự lực, không ngoan, tham lam vơ vét, can đảm, kiêu hãnh, chúng ta biết đến hàng nghìn người trong số họ thông qua các bức chân dung được vẽ bởi các họa sĩ mà các nhân cách ấy đủ tao nhã để hiểu rằng cần bảo trợ. Đó là một nền văn hóa mà, khi so với nền văn hóa của Florence, nó thiếu sự tinh tế và chiều sâu; khi so với nền văn hóa của Milan dưới thời Lodovico, nó thiếu sự khéo léo và thanh nhã. Nhưng nó là nền văn hóa giàu sắc màu nhất, xa hoa, và giàu sức mê hoặc mang chất nhục dục nhất mà lịch sử từng biết đến.
NGHỆ THUẬT VENICE
Trước Titian
Màu sắc khơi gợi, tác động vào cảm quan là cốt lõi của nghệ thuật Venice, thậm chí là cốt lõi của cả kiến trúc của thành phố này. Nhiều nhà thờ và nhà ở của Venice, cũng như một số công trình thương mại, trang trí tranh ghép mảnh hoặc tranh tường trên mặt tiền.
Mặt đứng của Thánh đường Thánh Mark sáng lấp lánh với những chi tiết trang trí mạ vàng và gần như hoàn toàn ngẫu hứng; gần như mọi mặt đứng đều mang tới công trình này những hình thức mới và những nét “phá hoại” mới, cho đến khi diện mạo của nhà thờ vĩ đại này trở thành một mớ hỗn độn kỳ quặc của kiến trúc, điêu khắc, và tranh ghép mảnh, trong đó những chi tiết trang trí đã nhấn chìm cấu trúc, và cái bộ phận đã quên mất cái tổng thể. Để chiêm ngưỡng mặt đứng ấy, người ta phải đứng cách nó khoảng 175 m, ở điểm xa nhất của Quảng trường Thánh Mark; thế rồi, khối cố kết tuyệt vời của cánh cổng theo kiến trúc La Mã, đường xoi của kiến trúc Gothic, những cây cột của văn minh cổ đại, những tay vịn và chấn song kiểu Phục hưng, và những mái vòm kiểu Byzantine mới hòa quyện thành một ảo ảnh đẹp một cách kỳ lạ, một giấc mơ mầu nhiệm của Aladdin.
Giữa Thánh đường Thánh Mark và Kênh Lớn, Dinh tổng trấn đứng đó như bộ mặt kiêu hãnh của chính quyền dân sự. Được tái dựng phần lớn từ năm 1309 đến năm 1943, mặt đứng phía Nam, mà trước đó là mặt tiền, và mặt đứng phía Tây của nó, đối diện với Libreria Vecchia *, tức Thư viện Cũ cổ điển, do Iacopo Sansovino xây dựng năm 1536 như một phần huy hoàng bổ sung cho Quảng trường Thánh Mark - dãy hành lang có hàng loạt cổng vòm và các ban công kiểu Gothic thanh nhã, các đầu cột được chạm khắc một cách tinh xảo, của cung điện này có thể níu chặt đôi mắt và tâm trí của người ta trong nhiều giờ liền. Ruskin cho rằng đó là những đỉnh cột đẹp nhất châu Âu. Ở sân trong, Bartolommeo Buon Trẻ và Antonio Rizzo đã cho dựng một cổng vòm được trang trí công phu, tô điểm thêm bằng hai bức tượng kỳ lạ - tượng Adam dường như đang cãi lại rằng anh ta đã bị quyến rũ, và Eva có thể đang phân vân tại sao tri thức lại bị xem là một tội lỗi. Từ sân trong ấy,Scala dei Gianti, tức Thang của người Khổng lồ, dẫn người ta đi trên những bậc vô cùng lớn để tới các văn phòng và các phòng hội họp của Đại Hội đồng, Nghị viện, và Hội đồng Mười người.
Sự tự đắc và tự phụ lẫn niềm vinh quang được thể hiện qua việc người Venice muốn các bức tranh: các vật thể đơn lẻ khiến cho sự xuất sắc của họ trở thành bất tử - vì thế Titian mới có nhiều kiệt tác đến vậy, chính quyền khắc sâu vào tâm trí của những người mà nó quản lý những ấn tượng về quyền lực và phẩm giá của chính quyền - vì thế một số bức tranh tường xuất sắc nhất lịch sử thế giới mới được ra đời; Giáo hội muốn kể lại những câu chuyện Cơ Đốc giáo với người dân, những người mà trong đó chỉ một số ít người biết đọc - vì thế mới có rất nhiều sự tích về Thiên sứ truyền tin cho Đức Mẹ Maria, về cách Jesus giáng sinh, về chuyến Thăm Viếng của Đức Mẹ Maria tới Elizabeth, về cuộc Thảm sát người vô tội, về chuyện Joseph và gia đình trốn sang Ai Cập, về chuyện Jesus biến hình, về Bữa ăn tối cuối cùng, về chuyện Jesus bị đóng đinh trên thập giá, về chuyện Jesus được an táng, về sự Hồi sinh của Jesus, về việc Jesus thăng thiên, về sự Tử vì đạo của Jesus. Thậm chí người Hy Lạp cũng không thành công đến vậy trong việc biến những tín ngưỡng của họ thành bất tử.
Một số kích thích từ bên ngoài đã hỗ trợ sự hình thành của trường phái hội họa Venice. Hai họa sĩ từ các thành phố khác đã giúp đỡ người Venice thay đổi những diện mạo u ám và nghiêm nghị truyền thống của văn hóa Byzantium và những hình tượng thiếu sức sống của những vị thánh của Giotto. Antonello của Messina, khi đang đi công tác ở vùng Flanders, đã để ý đến bề mặt hoàn thiện sáng hơn và sự bền màu của các bức tranh sơn dầu, và những bước chuyển màu tinh tế hơn của loại tranh này, khi so sánh với tranh màu keo - trộn màu với một chất keo nào đó - khi ấy vẫn được sử dụng ở nước Ý. Khi quyết định định cư ở Venice do “quá nghiện những người phụ nữ và sự thoải mái của nơi này”, ông đã thử vẽ tranh sơn dầu, và khiến những họa sĩ vẽ bằng màu tempera bị ấn tượng đến nỗi một cuộc cách mạng về phương pháp đã đem đến thời kỳ phát triển rực rỡ đầu tiên của nghệ thuật hội họa Venice.
Hai anh em cùng cha khác mẹ - Gentile và Giovanni Bellini - đã dẫn đầu cuộc diễu hành đầy màu sắc này. Năm 1974, Chính quyền (Signoria) đã giao cho họ nhiệm vụ phục chế 14 bức tranh đang xuống cấp trong trụ sở của Đại Hội đồng. Kết quả là những bức tranh sơn dầu đầu tiên của trường phái hội họa Venice. Thành công của những bức tranh này có thể đã thôi thúc Mohammed II, người đã chinh phục thành Constantinople (năm 1453) khi ấy đang theo Cơ Đốc giáo, đề nghị chính quyền Venice cho ông ta một họa sĩ chân dung có năng lực. Chính quyền cử Gentile Bellini đến chỗ ông ta. Gentile khiến vị sultan đã có tuổi ấy trở nên phấn chấn hơn với những bức tranh gợi nhục dục, và rồi (năm 1474) đã vẽ ông như một nhân vật đầy quyền lực, người đã quen với chiến thắng.
Năm 1980, Gentile trở về Venice; Mohammed qua đời một năm sau đó, người kế vị ông, tuân theo lệnh cấm vẽ hình tượng con người của Hồi giáo, đã khiến gần như tất cả các bức tranh mà Gentile đã vẽ ở Thổ Nhĩ Kỳ phân tán và mất tích, chỉ còn lại hai bức. Gentile tiếp tục sáng tạo các họa phẩm xuất sắc cho đến khi ông qua đời (năm 1507).
Em trai ông, Giovanni (được gọi thân mật là Gian), trẻ hơn ông 1 tuổi, thọ hơn ông 9 năm, và đã đưa nghệ thuật tranh sơn dầu Venice lên đến đỉnh cao đầu tiên của nó. Ông đã đạt đến độ huy hoàng trong màu sắc, một sự thanh nhã và chính xác về đường nét, một sự tinh tế về cảm giác, một chiều sâu về cách diễn dịch ý nghĩa tác phẩm, những đặc điểm - thậm chí ngay cả khi anh trai ông còn sống - khiến ông trở thành họa sĩ được tôn vinh nhất và được săn lùng nhất thành Venice. Các nhà thờ, nghiệp đoàn, và các vị khách cá nhân dường như không bao giờ thấy chán những hình tượng Đức Mẹ và Christ của ông và vị Tổng trấn xuất sắc Loredano đã dành thời gian để ngồi làm mẫu cho một trong những bức chân dung xuất sắc nhất trong nghệ thuật trường phái Venice.
Xen vào giữa những lao động của anh em nhà Bellini và những chiến thắng của Titian là một họa sĩ đặc biệt gây cuốn hút, người mà đến ngày nay chúng ta vẫn chỉ biết được họ của ông, Giorgione da Castelfranco. Chúng ta không biết cha mẹ ông là ai, nhưng chúng ta thấy được dòng dõi của ông khi biết rằng ở năm thứ 13 của đời mình, ông được gửi tới Venice để làm người học việc của Gian Bellini. Ông phát triển với tốc độ chóng mặt, có được những đơn hàng mang tính khích lệ, mua được một căn nhà, vẽ tranh lên mặt tiền của nó, và làm căn nhà ấy tràn đầy âm nhạc và những buổi tiệc tùng say sưa, bởi ông chơi đàn buýt hay đến mức khiến người ta say mê, và thích những người phụ nữ tươi vui bằng xương bằng thịt hơn những hình ảnh đẹp đẽ nhất của họ đông cứng trên khung toan hoặc một bức tường. Bổ sung vào những điểm trên một nét rừng núi yên tĩnh, và thế là bạn có được kiệt tác đầu tiên của ông, Cô gái gypsy và người lính (The Gypsy and the Soldier): một người phụ nữ ngẫu nhiên, khỏa thân, che đôi vai bằng một chiếc khăn choàng, ngồi trên chiếc váy mà cô đã cởi ra, bên bờ một dòng suối róc rách và cho con bú, trong khi đó, ở gần cô, một thanh niên nhã nhặn đang mãn nguyện trước khung cảnh ấy đến mức anh ta mặc kệ ánh chóp khi ấy đang báo hiệu một cơn dông.
Bức Nữ thần Venus say ngủ cho thấy một bước chuyển hoàn chỉnh từ các chủ đề và quan điểm Cơ Đốc giáo sang chủ đề mang tính đa thần; Cơ Đốc giáo đã bị lãng quên, để thâu tóm được tâm trạng của Rome trong tâm trí của nhà thơ Ovid. Trong một bức tranh khác - bức Fête champêtre, hay Khung cảnh mục đồng, hiện được lưu giữ tại Bảo tàng Louvre - hai người phụ nữ khỏa thân không hề cảm thấy chút xấu hổ nào, và hai người đàn ông mặc quần áo đang thong thả ca khúc khải hoàn, đang ăn mừng sự hòa nhập của vẻ đẹp nữ tính và sự quyến rũ của miền rừng núi. Chỉ trong bức tranh xuất sắc nhất, tinh tế nhất của mình - Concert champêtre (Hòa nhạc mục đồng)* - Giorgione mới vượt ra khỏi niềm khao khát đạt đến sự nhạy cảm và nhận thức về thẩm mỹ. Một tu sĩ ngồi với một cây đàn clavico, đôi bàn tay được vẽ rất đẹp của ông đang đặt trên các phím đàn, khuôn mặt ông quay về phía một tu sĩ hói ở bên phải người xem; vị tu sĩ hỏi đặt một bàn tay lên vai vị tu sĩ đang ngồi và tay kia giữ một cây đàn cello đang dựng trên sàn. Âm nhạc đã kết thúc, hay còn chưa bắt đầu? Chuyện đó không quan trọng; điều khiến chúng ta xúc động là sự sâu lắng của cảm xúc trong vẻ nghiêm trang, tĩnh tại của tu sĩ, người mà từng sợi vải (đây là bức tranh sơn dầu trên canvas - BTV) dệt nên con người ông đã được đẩy đến mức tinh nhã, và mọi tình cảm của ông đã được nâng đến độ cao quý, nhờ âm nhạc, người ta vẫn nghe thấy những âm thanh ấy lâu sau khi tất cả các nhạc cụ đã không còn cất lên. Khuôn mặt ấy, không được lý tưởng hóa nhưng được thể hiện chân thực một cách sâu sắc, là một trong những phép mầu của hội họa Phục hưng.
Giorgione sống một cuộc đời ngắn ngủi và rõ ràng là một cuộc đời tươi vui. Ông dường như có quá nhiều người phụ nữ và hẳn đã hàn gắn tâm hồn sau mỗi cuộc tình tan vỡ bằng một cuộc tình mới, bắt đầu không lâu sau cuộc tình cũ. Vasari thuật lại rằng Giorgione đã nhiễm phải dịch hạch từ người tình cuối cùng của ông, tất cả những gì chúng ta biết là ông đã qua đời trong trận dịch năm 1511 ở tuổi 34. Ông để lại hai học trò, những người trong tương lai khiến cả thế giới xôn xao: Sebastiano del Piombo, người sẽ tới Rome, và Tiziano Vecelli, họa sĩ vĩ đại nhất của trường phái Venice.
Titian
Ông sinh ra ở Pieve thuộc dãy Dolomites (năm 1477), và mặc dù ông đã chuyển tới Venice khi 10 tuổi, những ngọn núi này, như những thực thể siêu nhiên lơ lửng phía trên sự ngớ ngẩn của nhân loại, vẫn luôn lưu lại trong ký ức và những bức tranh phong cảnh của ông. Ông học nghề dưới sự dẫn dắt của Bellini, làm việc bên cạnh Giorgione, và cảm nhận sâu sắc sự ảnh hưởng từ ông.
Ông phát triển chậm rãi, cứ như thể dành thêm thời gian cho những năng khiếu của mình được trưởng thành. Năm 1515, ông đạt đến trình độ bậc thầy với ba bức tranh đầy chín chắn. Đầu tiên, bức Ba thời kỳ của đời người những đứa bé mình trần trong sáng nằm ngủ dưới một cái cây, trong khi thần Cupid truyền cho chúng niềm khao khát; một đôi tình nhân trẻ với tình yêu đang ở thời kỳ đẹp nhất, và một người đàn ông tầm 80 tuổi đầy râu đang ngẫm nghĩ, xem xét một cái sọ. Thứ hai: Tình yêu thiêng liêng và báng bổ, trong đó hình ảnh người phụ nữ khỏa thân được thể hiện với sự hoàn hảo trìu mến, có thể đã khiến Rubens* khởi đầu một hành trình dài với những vẻ đẹp không có gì ngăn cản; ở đây, bước chuyển mang tính Phục hưng, từ hình tượng Đức mẹ Đồng trinh sang hình tượng thần Venus, dường như đã hoàn tất. Nhưng cũng trong năm này, năm 1515, Titan đã vẽ cho nhà thờ Frari một tác phẩm có lẽ là kiệt tác vĩ đại nhất của ông, Lễ thăng thiên của Đức mẹ Đồng trinh từ phàm trần lên thiên đường, cho đến nay việc được nhìn thấy kiệt tác ấy vẫn là một sự kiện không thể nào quên trong cuộc đời của bất cứ kẻ lang thang nhạy cảm nào. Đứng lặng người trước hình ảnh gợi nhớ đầy sức mạnh này, một kẻ nghi ngờ không có thiện ý cũng phải than xót về những hoài nghi của mình và thừa nhận quyền uy và vẻ đẹp của huyền thoại này.
Người bạn mà họa sĩ vĩ đại nhất trong số các họa sĩ Venice này yêu quý nhất là cây viết lỗ mãng, phóng đãng, trơ trẽn, và xuất sắc nhất thời đại ấy, một vị khách thường xuyên của các cô gái làng chơi và người bạn được ân sủng của Hoàng đế Charles V. Là con trai của một người đóng giày không mấy ai biết đến và một người mẹ không rõ danh tính, ông hài lòng với cái tên Aretino, xuất phát từ cái tên Arezzo, nơi ông sinh ra. Ông không phiền việc mình là một đứa con ngoài giá thú, bởi ông tìm thấy những bạn bè ưu tú trong nhóm những người như ông.
Ông trải qua nhiều kiểu nghèo đói khác nhau, cho đến khi ông tích lũy được rất nhiều ducat từ trí thông minh và ngòi bút của mình, những người nổi tiếng trả tiền cho ông để khỏi bị ông châm biếm, và hàng nghìn người đọc những cuốn sách của ông để tận hưởng việc nhìn thấy các triệu phú bị phê bình tơi bời và các quý tộc bị bêu riếu. Chuyển tới Venice vào năm 1521,“Người gây họa cho những ông hoàng” đã thuê những căn phòng tiện nghi ở Kênh Lớn, và tận hưởng cảnh hoạt động buôn bán cùng những niềm vui thú đi qua bên dưới khung cửa sổ phòng ông, với những tiếng ồn ào gần như chỉ ngang với tiếng ra hiệu của những người chèo thuyền và tiếng khua nước của đôi mái chèo.
Khi ấy ông ăn mặc như một quý tộc, phân phát từ thiện cho người nghèo, chu cấp cho một loạt những cô tình nhân, và giải trí cho rất nhiều người bạn. Titian vui vẻ tận hưởng lòng hiếu khách của Aretino và hưởng lợi từ việc được ông tiến cử tới những nhân vật nổi bật Có chức tước hoặc giàu có. Năm 1530, Aretino giới thiệu ông với Charles V.
Vị hoàng đế của Đế chế La Mã Thần thánh, khi ấy đã chinh phục được phần lớn đất Ý, đang bận bịu với việc tái tổ chức nó, và không thể ngồi yên để làm mẫu cho một bức chân dung mà ông nghĩ chỉ đáng giá 1 ducat (12,5 đô-la). Federigo, Hầu tước xứ Mantua, đã lắng lặng đưa cho Titian thêm 150 ducat, và cam đoạn với Charles rằng ông đang ngồi làm mẫu cho “họa sĩ xuất sắc nhất đang sống vào thời điểm đó”. Đến năm 1532, vị hoàng đế bị thuyết phục, và trong 16 năm tiếp theo ông ngồi làm mẫu cho Titian một cách thường xuyên đến mức họa sĩ này hẳn đã mong được tự do.
Hẳn ông phải cảm thấy như trút được gánh nặng khi ông chuyển sang vẽ tranh cho giáo hoàng. Paul III cũng có chất đế vương” - một người đàn ông với cá tính cương mãnh và mạnh khóe tinh vi, với một khuôn mặt mang dấu ấn hai thế hệ lịch sử, đây là một cơ hội tốt hơn cho Titian, so với cơ hội ông có trước đó với vị hoàng đế không cởi mở. Tại Bologna, vào năm 1543, Paul đã đối mặt một cách thẳng thắn với tư tưởng duy vật trong phong cách vẽ chân dung của Titian. Ở tuổi 75, mỏi mệt nhưng bất khuất, ông khoác phẩm phục giáo hoàng của mình, cái đầu dài và bộ râu lớn cúi trên một bộ khung một thời đầy quyền uy, chiếc nhẫn tượng trưng cho ngôi vị nổi bật trên bàn tay quý tộc của ông, bức tranh này và bức tranh vẽ Julius II của Raphael vẫn luôn tranh giành vị trí bức chân dung tinh tế nhất, sâu sắc nhất của Phục hưng nước Ý.
Năm 1552, Titian kết thúc những chuyến đi của mình và trở về Venice. Trước đó ông bận đến nỗi không có thời gian để chết, nhưng giờ đây, ở tuổi 75, ông có thể đã cảm thấy cái chết và một số lời kêu gọi ông, từ tín ngưỡng về những vị thần Hy Lạp, trở về với đức tin tôn giáo thời trai trẻ của ông. Ông vẽ thêm một loạt các bức tranh Cơ Đốc giáo, nhưng một sức sống dai dẳng nào đó liên tục thu hút ông về với những chủ đề đa thần, và nhiều Diana hay Aphrodite, vẫn được vẽ ra từ cây cọ của ông.
Tuyệt vời và sâu sắc nhưng những hình ảnh khỏa thân thần thoại này là những bức chân dung mà Titian giờ đây vẽ ra với cảm xúc dạt dào đến mức nghệ thuật của ông giờ đây dường như là một bản năng thứ hai. Cách ông thể hiện hình ảnh Aretino thật đáng kinh ngạc - hình ảnh gợi nhớ tới một gã vô lại thú vị, được thực hiện bởi một người bạn trung thành. Tiết lộ nhiều điều về nhân vật trong tranh, gần bằng bức chân dung mà Titian vẽ chính mình ở tuổi 89; một khuôn mặt nhiều nếp nhăn nhưng được thanh tẩy bởi dòng chảy của nhiều tháng ngày, đôi mắt xanh dương hoi u sầu, nhìn thấy cái chết, nhưng một bàn tay vẫn đang nắm một cây cọ - niềm đam mê đầy chất nghệ sĩ của ông vẫn chưa cạn.
Ông mất vào năm 1576, ở tuổi 99. Sau ông, vẫn còn những người khổng lồ, như Tintoretto và Veronese, những người đã tổ điểm cho những căn phòng của chính quyền bằng nghệ thuật của họ; chúng ta sẽ để dành họ cho những cuốn sách dài hơn. Hội họa và văn chương Venice đã ca ngợi sự vĩ đại của Venice ngay cả khi nền kinh tế của thành phố này rơi vào suy thoái giữa một vùng Địa Trung Hải bị thống trị bởi người Turk ở đầu bên này và bị bỏ hoang ở đầu bên kia bởi một châu Âu đang săn lùng vàng ở châu Mỹ.
Không một thăng trầm nào về thương mại hay chiến tranh có thể xóa sạch ký ức đầy kiêu hãnh về một thế kỷ tuyệt diệu - năm 1480-1580 - trong thời gian ấy, Mocenigi, Priuli và Loredani đã xây dựng và cứu thành Venice nguy nga, và nhà Lombardi và Leopardi đã tô điểm cho thành phố ấy bằng các bức tượng, và Sansovino và Palladio đã nâng những con kênh và mặt nước của nó lên hàng tuyệt mỹ bằng các nhà thờ và cung điện, và Bellini, Giorgione, Titian, Tintoretto và Veronese đã nâng thành phố lên ngôi thống lĩnh nghệ thuật của đất Ý, và Aldus Manutius đã lan tỏa, bằng những dạng và bản in tuyệt vời, tới tất cả những người nào quan tâm, di sản văn chương của Hy Lạp và Rome, và “Người gây họa cho những ông hoàng”, một kẻ xấu xa như quỷ dữ nhưng không gì có thể trấn áp, đã an tọa trên một chiếc ngai trên Kênh Lớn, phán xét và nghe lỏm nhân loại.
Nấn ná ở đất Ý
Chúng ta vẫn chưa cho Tintoretto,Veronese, và những người khác, những người đã tô điểm những căn phòng đầy quyền uy của Dinh Tổng trấn, sự quan tâm xứng đáng với tầm vóc của họ; chúng ta đã bỏ qua Correggio, Cellini, và những tâm hồn tận tụy dâng hiến khác, những người đã biến đất Ý thành “Ánh sáng của Thế giới” trong một quãng thời gian nhất định, và chúng ta đã quên mất thập kỷ và những nỗ lực cuối cùng của Michelangelo, người đã cho Medici quá cố một lăng mộ của những tác phẩm điêu khắc bất tử, và đặt lên đỉnh Thánh đường Thánh Peter một mái vòm mà, trong một thời kỳ của sự hoài nghi, vẫn là trung tâm và đỉnh cao của văn minh phương Tây.
Chúng ta tôn vinh Michelangelo bởi, qua một cuộc đời dài và chịu những giày vò, ông vẫn tiếp tục kiến tạo, và sáng tác cho mỗi ngành nghệ thuật chủ đạo, một kiệt tác. Chúng ta nhìn những tác phẩm này được xé ra, nói một cách hình ảnh, từ máu và thịt của ông, từ cái đầu và trái tim của ông, để lại một người đàn ông yếu đuối trong một quãng thời gian nhất định. Chúng ta thấy chúng hình thành từ hàng trăm đường đục và đẽo, bút chì và Cọ vẽ hết tác phẩm này đến tác phẩm khác, như một cộng đồng bất tử, chúng giành được vị trí riêng giữa những tạo hình vĩnh cửu của cái đẹp hoặc ý nghĩa và tầm vóc quan trọng.
Chúng ta không thể biết Thượng Đế là gì, cũng không thể hiểu được một vũ trụ, hỗn hợp của cái xấu và cái tốt hiển hiện, của nỗi đau và sự đáng yêu, của sự hủy diệt và sự cao cả, nhưng trong sự xuất hiện của một bà mẹ chăm sóc con mình, hay của một ý chí sáng suốt, đem trật tự đến với sự hỗn loạn, đem ý nghĩa đến với vật chất, đem sự cao quý đến với hình thái hay suy nghĩ, chúng ta cảm thấy mình tiệm cận nhất có thể với những sự sống và quy luật cấu thành trí huệ bất khả thông hiểu của thế giới này.