Thời đại Elizabeth I ở nước Anh là sự hợp nhất của thời Phục hưng (Shakespeare), Cải cách Kháng nghị (Elizabeth), và thời Khai sáng (Bacon), trong một sự tập trung có tính bùng nổ của thiên tài và lịch sử.
Cả trăm yếu tố đóng góp vào kết quả phức tạp này: sự giải phóng của nước Anh khỏi sự kiểm soát từ bên ngoài lên đời sống tôn giáo và trí thức của nó; 45 năm của sự ổn định và phát triển về chính trị dưới sự lãnh đạo của một nữ hoàng công minh và các thành viên hội đồng khiêm nhường của bà; việc tích trữ và sử dụng của cải của giới tu sĩ vào đời sống giáo dục, chính trị, và kinh tế của nước Anh; sự phát triển của nông nghiệp, Công nghiệp, hàng hải, thương mại, và tài chính ở một quốc gia đang bùng nổ với năng lượng và tính sáng tạo đã được giải phóng việc Hạm đội Tây Ban Nha bị đánh bại vào năm 1588; việc nước Anh nhờ đó làm chủ Bắc Đại Tây Dương; con đường dễ dàng hơn để tiếp cận một Bắc Mỹ đang mời gọi đầu tư và thương nghiệp; sự lan rộng của giáo dục, sự gia tăng số lượng gấp nhiều lần của trường học và đại học, hiểu biết ngày càng rộng của những người đàn ông và phụ nữ Anh về văn minh, văn chương, và nghệ thuật Ý, Pháp, và Tây Ban Nha.
Những diễn biến này và nhiều diễn biến khác đã đẩy tâm trí và tinh thần của một dân tộc kiên cường, khắc kỷ, và dám nghĩ dám làm lên những tầm cao mà trước và sau đó chưa dân tộc nào đạt đến.
Pháo đài này vốn được xây vì chính nó
Chống lại bệnh dịch và bàn tay của chiến tranh
Giống người vui vẻ này, thế giới nhỏ bé này,
Hòn đá quý giá này, đặt giữa biển bạc,…
Mảnh đất được ban phước lành này, đất này, lãnh thổ này, nước Anh này.
Người con nổi tiếng nhất của đất nước này đã hát như thế (Richard II, Hồi 3,Cảnh 2).
Một vấn đề nước Anh vẫn chưa giải quyết: Làm thế nào khôi phục sự bình yên trong tâm trí và tâm linh sau một cuộc cách mạng tôn giáo khiến nước Anh bị chia cắt thành cả tá tín ngưỡng, hoặc để lại một nước Anh chẳng có nổi đức tin tôn giáo nào, và mời gọi tình trạng hỗn loạn về đạo đức đến cùng với việc rũ bỏ những vị thần trước đây đóng vai trò những người bảo hộ trật tự và hòa bình, và một thời được người ta nể sợ và tôn vinh. Các tín đồ Công giáo và Kháng cách, Thanh giáo và Chủ nghĩa Epicurus, những người theo thuyết bất khả trị lẫn những người vô thần, cạnh tranh với nhau trên một đấu trường rộng nhất kể từ thời Cơ Đốc giáo đến với hòn đảo này.
Raleigh và Marlowe chẳng buồn che giấu tư tưởng vô thần của họ: Raleigh phải chịu hình phạt chặt đầu sau những lần liên tục mắc tội và được tha bổng; Marlowe chết trong một trận ẩu đả ở quán rượu. Nhiều người London, đặc biệt là những người trong triều đình, theo thuyết bất khả tri*, nhưng giữ đó làm bí mật ngoại trừ trong các nhóm riêng của họ. Shakespeare xót xa cho việc ông đã đánh mất niềm tin tôn giáo, xem đó như việc khiến cuộc đời con người chỉ còn là một loạt liên tiếp những nỗi đau và sầu khổ không thể nào tha thứ, mà đỉnh điểm của nó là sự chuyển hóa của ngay cả những tâm hồn có đức hạnh nhất thành một giấc mơ không thành. Nỗi oán giận của ông, về việc tư tưởng thần học bị đánh bại bởi sinh học, đã nhuốm sự u ám lên những vở kịch vĩ đại nhất của ông, biến chúng thành những bản cáo trạng sâu cay nhất về cuộc đời con người trong văn chương nước Anh.
SỰ BỊ QUAN CỦA SHAKESPEARE
Năm 1582, Shakespeare, 18 tuổi, phải chấp nhận một cuộc hôn nhân “shotgun”* với Anne Hathaway, 25 tuổi, cả hai đều ở Stratford-on-Avon. Sáu tháng sau, cô sinh cho ông một người con gái, Susanna; và vào năm 1585, một cặp sinh đôi, Hamnet và Judith. Rất có thể vào cuối năm đó, ông đã bỏ vợ và các con; sau đó chúng ta mất dấu ông cho đến lúc tìm thấy ông, khi đó 28 tuổi, ở London, sống ổn với nghề diễn viên và đã viết kịch; vở Richard III (năm 1593) của ông đã khiến Marlowe và những tiền bối khác phải sửng sốt với chiều sâu phân tích, sự mãnh liệt của cảm xúc, và những giây phút chớp nhoáng xuất sắc của những đoạn thoại vui tươi, những thanh niên đầy sức sống của thủ đô khi ấy đã kêu lên rằng: “Một con ngựa! Một con ngựa! Cả vương quốc của ta để đổi lấy một con ngựa!” Nhưng chính trong môi trường đầy biến động và khiến người ta phải vỡ mộng ấy,Shakespeare - có lẽ để giành được một món quà từ một nhân vật nào đó có tước hiệu và cũng là người mà ông nguyện dành tặng những tác phẩm cho - đã viết những truyện thơ của ông - Venus và Adonis (Venus and Adonis) và Vụ cưỡng dâm Lucrece (The Ravishmen of Lucrece) và, theo phong cách Petrarch, 154 bài thơ sonnet, lơ lửng giữa tình yêu đồng tính và tình yêu dị tính.
Tất cả những người được khai sáng trong cộng đồng nói tiếng Anh đều quen thuộc với những chủ đề và niềm vui thích trong 37 vở kịch mà Shakespeare đã viết, một phần hoặc toàn bộ, nhưng có lẽ người ta đã biểu lộ quá ít sự phân vân trước thái độ chỉ trích cay độc gần như tàn bạo, đôi khi thét lên trong hết vở kịch này đến vở kịch khác. Giữa vẻ tráng lệ vui tươi trong phong cách của chúng, một nốt âm thống khổ, gần như mang tính chỉ trích sâu cay, được thét lên, ngay cả trong những vở hài kịch vô tư; trong Sẽ theo ý ngài (As You Like It, 1600), “Quý ngài Jacques u sầu” nhắc nhở chúng ta rằng thứ duy nhất chắc chắn trên đời là cái chết:
Và như thế, từ giờ này qua giờ khác, chúng ta chín và chín,
Và rồi từ giờ này qua giờ khác, chúng ta mục rữa và mục rữa,
Và theo cách ấy, câu chuyện kết thúc. (Hồi 2, Cảnh 7)
Trong vở Hamlet (năm 1601) một tội ác tàn bạo đã khiến người con trai cực kỳ ưu tú của nạn nhân trở nên đau đớn chua chát đến nỗi tìm đến một nghĩa địa, như một sự kết thúc của tất cả những điều tuyệt vời: “Horatio, chúng ta phải trở về với những mục đích thật tầm thường, tại sao trí tưởng tượng không thể theo kịp hạt tro bụi cao quý của Alexander, cho đến khi nó bịt kín lỗ nút thùng rượu ư?” (Hồi 5, Cảnh 1). Thế giới, trong quan điểm của Hamlet, “là một khu vườn đầy cỏ dại, lớn lên để cho ra những hạt giống độc; những thứ thối tha và bẩn thỉu đơn thuần đã chiếm hữu khu vườn ấy” (Hồi 1, Cảnh 2). Trong vở Othello (năm 1604), Iago đại diện cho sự xấu xa, lừa dối, và sự phản bội, và sống sót trong chiến thắng: Desdemona là cái tốt, chân thật, và chung thủy, và bị giết hại.
Kẻ giết người trong vở Macbeth phán xét cuộc đời một cách tàn nhẫn:
Ra ngoài, ra ngoài, cây nến chóng tàn!
Cuộc đời chỉ là một cái bóng biết đi, một diễn viên tồi
Khệnh khạng và phiền muộn trong những giây phút của anh ta trên sân khấu,
Và rồi chẳng còn ai nghe đến anh ta nữa, đây là một câu chuyện
Được kể bởi một kẻ ngu ngốc, ồn ào và đầy phẫn nộ,
Chẳng thể hiện điều gì. (Hồi 5, Cảnh 5)
Có phán xét nào về cuộc đời có thể chua cay hơn thế? Có. Hãy xem xét Timon của Athens, từng là một triệu phú người Athens được vây quanh bởi những người bạn hay tâng bốc và niềm nở. Khi ông mất hết tiền bạc và thấy bạn bè biến mất chỉ trong một đêm, ông hoàn toàn rũ bỏ thế giới văn minh một cách không hề luyến tiếc và lui về sống đơn độc trong rừng, nơi mà ông hy vọng mình “sẽ cảm thấy rằng những con thú tàn nhẫn nhất vẫn tử tế hơn loài người”. Ông ước rằng Alcibiades là một con chó, “rằng tôi có thể sẽ yêu quý anh theo cách nào đó chăng”. Ông sống bằng rễ cây; đào và tìm thấy vàng. Bạn bè một lần nữa xuất hiện; ông đuổi họ đi bằng sự khinh miệt đầy đả kích; khi các cô gái làng chơi đến, ông cho họ vàng, với điều kiện họ sẽ lây bệnh hoa liễu cho nhiều người đàn ông nhất có thể:
Sự thiêu hủy gieo mầm
Trong xương rồng của con người; tấn công vào cẳng chân sắc của họ,
Và những cuộc hôn nhân của những người đàn ông hư hỏng. Hãy chặn họng gã thầy cãi ấy,
Để anh ta sẽ không bao giờ có thể biện hộ cho những tư cách hư hỏng nữa.
Và tiếng anh ta vang lên the thé; viên tư tế (tu sĩ) sẽ khản cả cổ
Người la rầy trước sự thối rữa của da thịt,
Và không tin chính mình; Hãy để nó ăn mòn cho cái mũi thấp xuống*,
Ăn đến khi nó hoàn toàn phẳng lì, hãy làm cho sống mũi hoàn toàn biến mất…
Và hãy để những kẻ khoác lác về chiến trận mà chẳng có lấy một vết sẹo
Phải nhận lấy nỗi đau nào đó từ các cô; hãy lây bệnh dịch cho tất cả
Những kẻ mà hành động của các cô có thể đánh bại và chế ngự
Cái gốc của sự cường tráng. Vẫn còn hàng ở đây:
Hãy nguyền rủa những kẻ khác, và để thứ này nguyền rủa các cô. (Timon của Athens, Hồi 4, Cảnh 3)
Trong một phút tột đỉnh của hận thù, ông cầu xin tự nhiên ngừng sinh ra con người, và hy vọng rằng những con thú ác độc sẽ sinh sôi để quét sạch loài người. Những điểm thái quá của thái độ căm ghét con người này khiến nó có vẻ không thực, chúng ta không thể tin rằng Shakespeare đã cảm nhận được tư tưởng trịch thượng nực cười này đối với những người đàn ông mang tội lỗi, sự bất lực hèn nhát này trong việc chấp nhận thực tế cuộc Sống. Một reductio ad nausean - lập luận bằng cách đây đi đay lại - như vậy gợi ý rằng con bệnh đang thanh lọc chính nó, và rằng Shakespeare sẽ sớm mỉm cười trở lại.
Trong những vở kịch cao trào, tồn tại một sự công nhận trong do dự rằng, bất chấp những điều xấu xa của thế giới này, vẫn tồn tại những niềm hạnh phúc và sung sướng, bất chấp những kẻ hung ác hay những nhân vật phản diện, vẫn tồn tại nhiều anh hùng và một số vị thánh • với mỗi Iago, lại tồn tại một Desdemona; với mỗi Goneril, lại tồn tại một Cordelia; với mỗi Edmund, lại tồn tại một Edgar hoặc một Kent; thậm chí trong vở Hamlet, một luồng gió tươi mới thổi đến từ lòng trung thành của Horatio và sự dịu dàng đăm chiêu của Ophelia. Sau khi diễn viên và nhà viết kịch mệt mỏi này bỏ lại sự hỗn loạn tiêu hủy và sự cô đơn giữa chốn đông người của London để đến với những cánh đồng xanh và tình cảm gia đình trong ngôi nhà của ông ở Stratford, ông sẽ lấy lại được tình yêu của người đàn ông mạnh mẽ đối với cuộc đời.
GIẢNG HÒA
“Ông ấy đã thường”, theo John Aubrey (1626-1697), “tới đất nước nơi ông sinh ra mỗi năm một lần”. Năm 1597, ông mua “New Place”, ngôi nhà lớn thứ hai ở Stratford với giá 60 bảng, nhưng ông vẫn tiếp tục sống ở London. Cha ông mất năm 1601, để lại cho ông hai ngôi nhà ở Stratford. Một năm sau đó, nhà soạn kịch giàu có này mua 127 mẫu đất gần Stratford. Năm 1605, ông mua một cổ phần trong các khoản thuế thập phân của Giáo hội và ba hội khác với giá 440 bảng. Trong khi ông viết những vở kịch vĩ đại nhất của mình, ông đã nổi tiếng ở Stratford như một doanh nhân thành công, thường xuyên tham dự vào các vụ kiện tụng liên quan đến các khoản đầu tư của mình.
Con trai ông, Hamnet, qua đời năm 1596. Năm 1607, con gái ông, Susanna, kết hôn với một thầy thuốc xuất chúng ở Stratford, và một năm sau cô cho nhà thơ của chúng ta “lên chức” ông ngoại. Ông giờ đây đã có những mối ràng buộc mới để thu hút ông về quê nhà. Rõ ràng, chính ở nơi đó, ông đã soạn ra Cymbeline (1609), Câu chuyện mùa đông (The Winter’s Tale, 1610), và Bão tố (The Tempest, 1611). Tác phẩm cuối cùng trong 3 tác phẩm trên chứng minh rằng ông vẫn là bậc thầy về nghệ thuật soạn kịch và cảm hứng thơ ca. Này là Miranda,người ngay ở hồi đầu đã bộc lộ bản tính của mình khi, đứng trên bờ và nhìn thấy một vụ đắm tàu, kêu lên: “Ôi, tôi đã đau khổ cùng những người mà tôi thấy đang phải chịu đau khổ!” Và này là Prospero, nhà ảo thuật già tốt bụng, bỏ lại cây đũa nghề, và chào thế giới thinh không hư ảo của mình một lời tạm biệt trìu mến. Chúng ta nghe thấy Shakespeare trong lời tạm biệt của Prospero với nghề của ông:
Những cuộc liên hoan say sưa của chúng ta giờ đã kết thúc, Những diễn viên này của chúng ta,
Như tôi đã đoán trước với bạn, đều là những linh hồn,
Và tan chảy vào thinh không, vào thinh không
Và, như kết cấu nô căn cứ của lời tiên tri này,
Những ngọn tháp vươn tới tận mây, những cung điện tráng lệ,
Những ngôi đền nghiêm trang, rồi chính Địa Cầu vĩ đại,
Vâng, tất cả những gì nó thừa hưởng, rồi sẽ tan biến,
Và, như cảnh hào nhoáng không đáng kể này phai tàn,
Chẳng để lại dù chỉ là một mảnh vụn. Chúng ta là thứ như thế
Như những giấc mơ cứ thế được tạo ra, và cuộc đời nhỏ bé của chúng ta
Trở nên tròn đầy bằng một giấc ngủ.
Nhưng hiện tại đây không phải là tâm trạng chủ đạo; ngược lại, vở kịch này là Shakespeare đang thư dãn, nói về những con sông nhỏ và những bông hoa, hát những bài hát như “Full fathom five” và “Where the bee sucks there suck I”. Và, bất chấp tất cả những ngại ngần cảnh giác, chính thi sĩ đang già đi này là người đã cất tiếng nói, thông qua lời tạm biệt của Prospero:
… Những ngôi mộ, theo lệnh ta
Đã đánh thức những người đang nằm dưới đó, mở ra, và để họ bước ra
Bằng nghệ thuật đầy sức mạnh của ta. Nhưng ma thuật thô sơ này
Ta, tại đây, tuyên bố từ bỏ nó… Ta sẽ bẻ gãy chiếc gậy phép của mình,
Chôn nó ở những sải nhất định trong lòng đất,
Và sâu hơn bất cứ nơi nào âm thanh từng vọng đến
Đó chính là nơi ta sẽ dìm cuốn sách của mình.
Và có lẽ cũng chính Shakespeare, khi vui mừng trước tin vui từ con gái và cháu ngoại, đã thốt lên, thông qua lời của Miranda:
Ôi kỳ diệu!
Nơi đây có biết bao nhân cách tốt đẹp!
Nhân loại mới đẹp làm sao! Ôi thế giới mới tươi đẹp
Nơi có những người đẹp đến thế!
Nhưng giờ đây, khi đã học được cách yêu cuộc sống, ông phải chuẩn bị cho cái chết. Edgar đã nói với Gloucester trong vở Vua Lear :
Con người không thể lựa chọn và phải biết chấp nhận thời khắc ra đi của mình,
Cũng như thời khắc anh ta chào đời;
Chúng ta ra đời như quả còn xanh và lìa đời khi đã chín. (Hồi 5, Cảnh 2)
Sự trưởng thành, chứ không phải sự vĩnh hằng, mới nên là mục tiêu của chúng ta. Ngày 25 tháng Ba,năm 1616, Shakespeare viết di chúc. Tháng Tư, theo John Wall (1661-1681), giáo chức đại diện tòa thánh của Nhà thờ Stratford, Shakespeare, Drayton, và Ben Jonson đã có một bữa tiệc vui vẻ, và dường như đã uống nhiều rượu, bởi Shakespeare đã qua đời do một cơn sốt mắc phải ở bữa tiệc đó. Cái chết đến vào ngày 23 tháng Tư, năm 1616. Thi thể của ông được chôn dưới thánh đường của Nhà thờ Stratford. Gần đó, trên sàn, được khắc vào một bia đá không mang một cái tên nào, là một lời văn trên mộ mà giai thoại địa phương cho rằng tác giả của nó là Shakespeare:
Những người bạn tốt, vì Chúa Jesus, hãy đừng
Đào vào đám tro bụi được chứa ở chỗ này.
Chúa phù hộ cho bạn, người đã bỏ qua cho những tảng đá này.
Và nguyền rủa hắn, kẻ dịch chuyển hài cốt của ta.
BACON, ESSEX VÀ ELIZABETH
Francis Bacon mới khác Shakespeare làm sao - cảm xúc chỉ là thứ yếu so với trí tuệ, thất bại bị vượt qua bởi hy vọng, những thăng trầm của cuộc sống chìm xuống giữa viễn cảnh lớn nhất về chiến thắng sắp tới của tâm trí con người. Đã có khi nào sự lạc quan như vậy sống sót được qua một thất bại tàn phá tâm trí nặng nề đến như thế?
Ông đã có tất cả những lợi thế, và nhận được một thất bại rõ ràng gây nguy đến cả tính mạng. Ông sinh ra (năm 1561) giữa những khí phái của giới quý tộc - Ở Nhà York, nơi ở chính thức của Đại Thủ Ấn, người cũng là cha ông, Ngài Nicholas Bacon: Nữ hoàng Elizabeth khi ấy gọi cậu bé Bacon là “Đại Thủ Ấn nhỏ tuổi”. Thể chất yếu đuối của cậu đã đẩy cậu từ các môn thể thao sang việc học tập, trí tuệ nhanh nhạy của cậu yêu thích kiến thức một cách đầy khao khát; không lâu sau, sự uyên bác của cậu trở thành một trong những điều kỳ diệu của thời kỳ dài rộng ấy. Sau 3 năm ở Cambridge, ông được cử tới Pháp cùng ngài đại sứ Anh để ông có thể học cách trị quốc. Trong thời gian ông ở đó, cha ông qua đời, trước khi mua phần bất động sản hỗ trợ mà ông vốn định dành cho Francis, người khi ấy là cậu con trai nhỏ tuổi hơn; và chàng thanh niên ấy, đột nhiên rơi vào tình cảnh khó khăn trong việc duy trì cuộc sống, đã trở về London để học luật ở trường Gray’s Inn.
Là một trong những cháu trai của William Cecil, Đại Thủ Quỹ của vùng đó, ông cầu xin William để có được một vị trí chính trị nào đó; sau 4 năm chờ đợi, ông gửi cho William một lời nhắc kỳ dị rằng “sự chống đối trong nhiều năm của cháu sẽ dần yếu đi, cùng với sự sờn mòn của bộ suit cháu mặc” - ông hẳn nên biết rằng trò đùa dí dỏm ngăn trở sự thăng tiến về chính trị. Dẫu vậy, trong năm ấy, năm 1584, mới chỉ 23 tuổi, ông được bầu vào Nghị viện.
Bá tước Essex thích thú với sự sắc sảo trong trí tuệ của Bacon và thường mời ông đưa ra những lời khuyên. Nhà hiền triết trẻ tuổi này đã khuyên nhà quý tộc trẻ tuổi ấy hãy ra vẻ, nếu ông không thể thực sự, khiêm tốn, hãy điều tiết chi tiêu của mình, và hãy xem việc mình được dân thường yêu quý như một rào cản giữa ông và nữ hoàng. Bản thân ông cũng gần như không biết khiêm tốn, như trong bản thỉnh cầu mà ông gửi cho Cecil (năm 1591):
Giờ đây, ở mức độ nào đó, cháu đã trở thành một người xưa cũ; 130 năm đồng nghĩa với rất nhiều cát trong chiếc đồng hồ cát… Sự bần tiện trong đẳng cấp của cháu, ở mức độ nào đó, thực sự khiến tâm trí cháu lay động… Cháu thú nhận rằng mình có những mục tiêu tu tập to lớn lẫn những mục tiêu phàm trần bình thường, bởi cháu đã thu được tất cả những kiến thức có thể thu được trong lĩnh vực của mình… Điều này, bất kể nó là sự tò mò hay tính tự đắc, hay bản chất tự nhiên… đã có địa vị quá kiên cố trong tâm trí cháu, đến nỗi nó không thể bị loại bỏ.
Edward Coke, một người mà về lý thuyết sẽ phù hợp với chức vụ ấy hơn - chức vụ tổng chưởng lý - đã được lựa chọn, thay vì Francis Bacon.
Bất chấp lời khuyên của Bacon, Essex gia nhập phái chủ chiến và dự định đưa chính mình thành người lãnh đạo một đội quân. Lòng dũng cảm hăng hái của ông ở Cadiz khiến ông được người dân yêu quý quá mức, đến nỗi không phù hợp với “gu” của Hội đồng Cơ mật, thất bại ở vùng Azores cùng sự ngông cuồng, khẩu khí sắc bén, và niềm kiêu hãnh không hề suy giảm của ông khiến triều đình không ủng hộ ông và nữ hoàng thì khó chịu. Khi bà thẳng thừng từ chối đề cử của ông - đề cử Ngài George Carew vào vị trí chịu trách nhiệm về Ireland, ông đã quay lưng về phía bà với cử chỉ khinh thường. Trong con lôi đình, nữ hoàng đã bạt tai ông và hét: “Cút về với lũ Quỷ dữ đi!” Ông nắm lấy gươm của mình và hét vào mặt bà “Đây là sự lăng nhục mà ta sẽ không nhẫn nhịn chịu đựng. Ta cũng sẽ không nhẫn nhịn ngay cả khi sự lăng nhục này đến từ cha của bà.” Ông nhanh chóng bước ra khỏi phòng trong sự giận dữ, và tất cả triều thần cho rằng ông sẽ bị cấm bước vào Tháp London (năm 1598)*. Thay vì làm thế - có lẽ để tống ông đi cho khuất mắt - nữ hoàng đã bổ nhiệm ông làm quan toàn quyền phụ trách Ireland.
Bacon đã cảnh báo rằng ông nên tránh cái nhiệm vụ bạc bẽo ấy - nhiệm vụ kháng lại một tôn giáo bằng một đội quân - nhưng Essex lại muốn một đội quân. Ngày 27 tháng Ba, năm 1599, ông dời đến Dublin trong sự tung hô của quần chúng, trong những lo âu của bạn bè, và trong sự thỏa mãn của kẻ thù. Sáu tháng sau đó, khi nhiệm vụ của ông đã thất bại, ông gấp rút trở về Anh mà không có sự cho phép của chính phủ, lao nhanh vào phòng thay đồ của nữ hoàng mà không hề báo trước, và cố gắng giải thích cho thất bại của mình. Bà lắng nghe lời giải thích của ông trong cơn thịnh nộ, và giao ông cho Đại Thủ Ấn (cha của Bacon) ở Nhà York cho đến khi người ta có thể điều trần về các cáo buộc chống lại ông.
Người dân London xì xào, bởi họ không hề hay biết về thất bại của ông và nhớ lại những chiến thắng. Hội đồng Cơ mật ra lệnh mở một buổi xét xử bán công khai, và giao cho Bacon - với tư cách một luật sư đã thề sẽ biện hộ cho nữ hoàng - nhiệm vụ thảo một bản cáo trạng chống lại Essex. Ông yêu cầu được miễn thực hiện nhiệm vụ này, nhưng hội đồng khăng khăng giữ nguyên quyết định. Ông đã thảo ra một bản cáo trạng với những ý giảm nhẹ nhất có thể.
Essex Công nhận tính xác thực của bản cáo trạng ấy và xin được hoàn toàn tuân phục. Mọi chức vụ của ông bị đình chỉ, và ông bị yêu cầu ở trong nhà cho đến khi nữ hoàng cảm thấy vừa lòng để có thể trả tự do cho ông (ngày 5 tháng Sáu, năm 1600). Bacon cầu xin cho ông, và ngày 26 tháng Tám, ông được trả tự do.
Tại Nhà Essex của chính mình, ông tiếp tục truy cầu quyền lực. Một trong những người thân tín của ông là Henry Wriothesley, một người bảo trợ cho Shakespeare và cũng là Bá tước Southampton. Essex phái ông tới Ireland để đề nghị Mountjoy, khi ấy là quan toàn quyền ở đó, trở về Anh cùng với quân đội Anh và giúp Essex giành chính quyền. Mountjoy từ chối. Đầu năm 1601, Essex viết thư cho James VI của Scotland, đề nghị ông giúp đỡ và hứa sẽ ủng hộ ông thành người kế vị Nữ hoàng Elizabeth; James gửi lại cho ông một bức thư khích lệ ở mức vừa phải. Những tin đồn hoang đường lan khắp thủ đô khi ấy đang rộ lên: rằng Robert Cecil đang lên kế hoạch đưa công chúa cả của Tây Ban Nha lên làm Nữ hoàng Anh; rằng Essex sẽ bị cầm tù trong Tháp London, rằng Raleigh đã thề sẽ giết ông ta. Có lẽ để ép Essex phải lộ bài tẩy của mình, bá tước Essex trẻ đã khiến nữ hoàng yêu cầu Essex đến và tham gia Hội đồng Cơ mật. Bạn bè cảnh báo với ông rằng đây là một âm mưu để bắt giữ ông. Một người bạn của ông, ngài Gilly Merric, đã trả tiền cho Đoàn kịch Quan Thị thần* để, vào cùng buổi tối hôm đó tại Southwark, họ diễn vở Richard II của Shakespeare, một vở kịch mô tả cảnh ngôi vương bị phế truất theo cách hợp với Công lý.
Sáng hôm sau (ngày 7 tháng Hai, năm 1601), khoảng 300 người ủng hộ Essex, với nhiệt huyết sôi sục và được vũ trang, đã tập hợp ở sân trong của nhà ông. Khi quan đại thủ ấn và ba nhân vật quyền cao chức trọng khác tới để hỏi nguyên nhân của cuộc tập hợp bất hợp pháp này, đám đông ấy đã bắt nhốt họ và kéo vị bá tước khi ấy đang ngần ngại đi cùng họ tới London và làm cách mạng. Ông đã hy vọng rằng toàn dân sẽ nổi dậy hưởng ứng lời kêu gọi của ông, nhưng các nhà thuyết giáo đã yêu cầu họ ở trong nhà, và họ tuân theo. Các lực lượng của chính quyền đã đánh tan tác những người nổi loạn. Essex bị bắt và tống giam ở Tháp London.
Ông nhanh chóng bị đưa ra xét xử với tội phản nghịch. Hội đồng đã yêu cầu Bacon giúp Coke trong việc chuẩn bị và trình bày các lý lẽ của chính quyền. Một lời từ chối hẳn sẽ hủy hoại sự nghiệp chính trị của ông; còn sự chấp thuận của ông trên thực tế đã hủy hoại danh tiếng của ông sau khi ông qua đời. Khi Coke ấp úng trong việc trình bày bản cáo trạng, Bacon đã đứng lên và trình bày với sự rõ ràng đầy sức thuyết phục. Essex thú tội và khai ra tên của những người đồng lõa với ông ta. Nằm trong số những người này bị bắt và chặt đầu.
Tương truyền, Essex đã gửi cho nữ hoàng một chiếc nhẫn mà bà từng tặng cho ông, với lời hứa rằng sẽ tới giúp ông nếu ông gửi lại chiếc nhẫn ấy vào thời khắc ông cần bà giúp đỡ. Nếu chiếc nhân này đã được gửi đi, thì có vẻ nó chưa bao giờ tới được chỗ bà. Ngày 25 tháng Hai, năm 1601, ở tuổi 35, Essex đã hiên ngang tiếp nhận số phận mà khi đó trở thành dấu ấn an bài nhân cách của ông. Trong suốt một năm, ở Tháp London, người ta đã bêu cái đầu đã bị chặt và đang mục rữa của ông.
PHÉP MẦU TAN BIẾN (1601-1603)
Việc nhìn thấy cái đầu ấy, hoặc việc biết rằng nó đang nhìn xuống mình cả ngày lẫn đêm, hẳn đã góp phần gây ra tâm trạng u sầu trong những năm cuối đời của Elizabeth. Bà ngồi một mình hàng giờ liền trong nỗi u buồn trầm lặng. Bà vẫn duy trì những cuộc vui chơi tiêu khiển trong triều đình, và đôi lúc giả vờ vui tươi, nhưng sức khỏe của bà không còn và trái tim bà đã chết. Nước Anh đã ngừng yêu quý bà; nó cảm thấy bà đã sống quá lâu và nên nhường chỗ cho một nhân vật trẻ hơn của hoàng gia. Nghị viện cuối cùng của bà nổi loạn mạnh mẽ hơn bất cứ nghị viện nào trước đó, để chống lại những xâm phạm của bà vào quyền tự do của nghị viện, việc bà nguỢC đãi những người Thanh giáo, những độc quyền mà bà tặng cho những người mình yêu quý nhất. Trước sự bất ngờ của tất cả mọi người, nữ hoàng đã nhún nhường ở điểm cuối cùng trong các điểm trên và hứa sẽ chấm dứt việc lạm quyền. Tất cả các thành viên của Hạ viện đều đến cảm ơn bà, và họ quỳ xuống khi bà nói với họ “Tuyên ngôn Hoàng kim” đầy lo âu của bà, thực tế đã trở thành những lời cuối cùng bà nói với họ (ngày 30 tháng Mười một, năm 1601):
Đối với ta, không một viên đá quý nào, kể cả viên đá quý giá nhất từ trước đến nay, có thể sánh với sự yêu quý mà các khanh dành cho ta. Bởi ta thực sự trân trọng nó hơn bất cứ kho báu nào… và dù Chúa Trời đã nâng chúng ta lên địa vị cao quý, ta vẫn xem đây là niềm vinh quang cho vương miện mà ta đang đội, rằng ta đã cai trị cùng với sự yêu quý của các khanh.
Bà yêu cầu họ đứng lên, và rồi tiếp tục:
Việc làm một vị chua và đội một chiếc vương miện là một việc đầu vinh quang trong mắt những người đứng ngoài nhìn vào, nhưng đối với những người phải đội vương miện, nó không dễ chịu đến thế… Riêng phần ta, nếu việc thực hiện những trọng trách mà Chúa Trời đã đặt lên bai ta, mà việc duy trì cảnh quang của Người và giữ cho các khanh được an ổn không phải vì lương tri, theo bản tính của mình, ta sẽ sẵn lòng nhường vị trí ta đang giữ cho bất cứ người nào khác, và vui lòng được giải phóng khỏi vinh quang của tất cả những nặng nhọc của công việc này, bởi ta không hề khao khát được sống hay cai trị lâu hơn đời mình, và sự cai trị phải lì lợi ích của các khanh. Và dù các khanh đã có và sẽ có thể có nhiều quân vương vĩ đại hơn là anh minh hơn trên ngôi vị này, các khanh chưa bao giờ và cũng sẽ không bao giờ có được một quân lương yêu quý các khanh hơn ta.
Những tin đồn lan khắp châu Âu, rằng bà đang hấp hối do chống ung thư. Nhưng bà thực ra đang hấp hối vì đã sống quá lâu. Cơ thể bà không còn có thể chịu đựng những niềm vui và những nỗi u sầu,những xúc động mạnh và gánh nặng của những năm tháng tàn nhẫn. Tháng ba năm 1603, sau khi đã phơi mình một cách quá liều lĩnh ra trước cái lạnh của mùa đông, bà đã lên con sốt. Trong suốt 3 tuần, nó đã làm bà trở nên tiều tụy. Trong phần lớn thời gian của 3 tuần ấy bà ngồi trên một chiếc ghế, hoặc dựa trên những chiếc gối tựa. Bà không gọi bác sĩ, nhưng bà yêu cầu được nghe nhạc. Cuối cùng, người ta cũng thuyết phục được bà nằm lên giường.
Tổng giám mục John Whitgift biểu lộ hy vọng rằng bà sẽ sống được lâu hơn, bà quở trách ông ta. Ông quỳ xuống bên cạnh giường bà và cầu nguyện. Khi ông nghĩ rằng mình đã cầu nguyện đủ, ông cố gắng đứng dậy, nhưng bà yêu cầu ông tiếp tục; và một lần nữa, khi “hai đầu gối của người đàn ông có tuổi ấy đã mỏi mệt”, bà ra ý cho ông cầu nguyện thêm. Ông được buông tha chỉ khi, đến đêm muộn, bà chìm vào giấc ngủ. Bà không bao giờ thức dậy nữa.
Bà không phải là một vị thánh hay hiền nhân, mà là một người phụ nữ nóng nảy và đầy nhiệt huyết, tràn đầy tình yêu với cuộc sống. Không phải tất cả những thần dân của bà đều có thể, như Shakespeare đã nghĩ, “ăn uống trong an ổn, dưới những nhánh nho của chính họ, thứ họ đã trồng được, và hát những bài ca hòa bình vui tươi”, những người Thanh giáo, và ở một mức độ nhất định là cả những người Công giáo, đều đã phải chịu những ngược đãi và bất lợi nào đó. Sự anh minh trong việc cai trị của bà phần nào thuộc về những vị quan phục vụ bà. Những lần không quyết đoán của bà đã được chứng minh là một sự may mắn, có lẽ do tính ngẫu nhiên của việc thay đổi, đôi khi chúng đem đến một điểm yếu trong chính sách, yếu đến nỗi những kẻ thù của bà, tức những kẻ phiền phức bên trong triều đình của chính bà, phải giúp bà sống sót qua những cơn khó khăn ấy. Nhưng bà đã thực sự sống sót, và bà đã lên đến đỉnh cao bằng những phương thức đường đường chính chính hoặc không được trung thực.
Bà lên ngôi khi nước Anh đã kiệt quệ và bị khinh thường, và để lại một nước Anh thịnh vượng và hùng mạnh khi ra đi; và những rường cột của học vấn và văn chương đã trở nên mạnh mẽ trong tầm vóc của sự thấu hiểu của bà và sự thịnh vượng của những thần dân của bà. Bà tiếp tục chế độ gia đình trị của cha mình, nhưng điều tiết nó bằng tinh thần nhân đạo và sự dễ mến.
Phủ nhận vai trò của chồng và con mình, bà đã trở thành mẹ của nước Anh, yêu thương nó hết lòng, và dốc cạn tất cả những gì mình có vào việc phụng sự nó. Sáng suốt trong việc lựa chọn các thành viên Hội đồng, và được giúp đỡ bởi những người cố vấn, bà là nhà cai trị vĩ đại nhất mà nước Anh từng có.
NHỮNG NỐT THĂNG TRẦM CỦA FRANCIS BACON (1603-1621)
Giữa lễ đăng quang trong bình yên của James VI của Scotland lên ngôi James I của nước Anh, Francis Bacon, trong một bức thư nịnh hót theo phong thái của thời kỳ đó, đã gợi ý với nhà vua rằng mình phù hợp và xứng đáng cho một vị trí trong chính quyền. Trước đó, ông đã phục vụ trong Nghị viện được 19 năm, trở nên nổi tiếng về kiến thức rộng, suy nghĩ có tính xây dựng, và những phát biểu rõ ràng và gây ấn tượng sâu sắc.
Một cách đều đặn, ông gửi cho nhà vua các “bản ghi nhớ mang tính hùng biện, với những lời khuyên khôn ngoan: làm thế nào để cải thiện sự thấu hiểu lẫn nhau giữa Hạ viện và Thượng viện, để thống nhất các nghị viện của nước Anh và nước Scotland, để chấm dứt tình trạng ngược đãi do khác biệt về tôn giáo, để bình định Ireland bằng cách xoa dịu những người Công giáo ở nước này, để trao quyền tự do lớn hơn cho những người theo Công giáo ở Anh mà không mở cửa cho những đòi hỏi của giáo hoàng, và để tìm ra một vùng dung hòa giữa những người theo Anh giáo và những người Thanh giáo. Theo đánh giá của nhà sử học nghiên cứu tỉ mỉ nhất về chính trị của thời kỳ này, việc triển khai chương trình này hẳn sẽ là để đẩy lùi những thứ xấu xa của nửa thế kỷ tiếp theo”. James gạt các đề xuất ấy sang một bên, xem chúng như những thứ quá tiến bộ so với quan điểm của Công chúng, và tự thỏa mãn với việc đưa Bacon vào trong số 300 tước hiệp sĩ được phong hàng loạt vào năm 1603. Ngài Francis đã phải tiếp tục chờ đợi.
Dẫu vậy, năng lực của ông với tư cách một luật sư đã từ từ đưa ông đến với sự giàu có. Đến năm 1607, ông ước tính tài sản của mình là 24.155 bảng. Trên cơ ngơi xa hoa của ông ở Gorhambury, được chăm nom bởi những người hầu được chọn lọc và đắt giá và những thư ký lanh lợi như Thomas Hobbes, ông có thể tận hưởng sự đẹp đẽ và tiện nghi mà ông quá đỗi yêu quý. Ông rèn luyện sức khỏe bằng việc chăm sóc vườn và xây dựng giữa những khu vườn một nơi nghỉ dưỡng tốn kém dành cho những giờ phút riêng tư đậm chất học giả của mình. Ông viết như một triết gia và sống như một ông hoàng. Ông không nhìn thấy bất cứ lý do nào để những người duy lý phải sống cuộc đời không một xu dính túi, hay để Solomon không lên ngôi vua.
Ông không bị tụt lại quá nhiều. Năm 1607,James, cuối cùng cũng trân trọng ông, đã bổ nhiệm ông vào vị trí tổng luật sư (solicitor general)*; năm 1613 vào chức tổng chưởng lý (attorney general); năm 1616 vào vị trí thành viên Hội đồng Cơ mật; năm 1617 vào chức Đại Chưởng Ấn (Lord Keeper of the Great Seal); năm 1618 vào chức Pháp quan (Chancellor of the Exchequer)*. Các tước vị mới được bổ sung để làm cho quyền lực của ông thêm vẻ vang: năm 1617, ông được phong tước Nam tước Verulam thứ Nhất; năm 1621, tước Tử tước St. Albans. Khi James tới Scotland, ông ta đã để cho Pháp quan của mình cai quản nước Anh. Bacon “cho các đại sứ những cuộc hội kiến trọng thể”, và sống trong sự xa hoa ở Gorhambury đến nỗi “cứ như thể cả triều đình đang ở đó, chứ không ở Whitehall hay St. James”.
Ông giành được tất cả, ngoại trừ danh dự. Để theo đuổi địa vị, Bacon đôi khi hy sinh nguyên tắc. Với tư cách tổng chưởng lý, ông sử dụng quyền ảnh hưởng của mình để đảm bảo những phán quyết trên tòa án phù hợp với mong muốn của vua. Với tư cách Đại Chưởng Ấn, ông biện hộ và bảo vệ những độc quyền áp bức nhất. Với tư cách quan tòa, ông đã tiếp nhận những món quà lớn từ những người kiện ở tòa án của ông. Tất cả những điều này đều là những phong tục không nghiệm của thời đại ấy: các công chức nhận được mức lương rất thấp, và họ đền bù cho bản thân bằng những “món quà” từ những người mà họ đã giúp đỡ. James thú nhận: “Nếu ta trừng phạt những người nhận hối lộ, chẳng mấy chốc ta sẽ chẳng còn một công chức nào dưới quyền cả”; và chính James cũng nhận hối lộ.
Nghị viện nhóm họp vào tháng Một năm 1621 giận dữ nổi loạn chống lại nhà vua. Họ ghét Bacon trong vai trò người ủng hộ mạnh mẽ nhất cho nhà vua, người đã ra phán quyết rằng việc độc quyền là hợp pháp. Nếu họ chưa thể phế truất nhà vua, thì nó vẫn có thể buộc tội vị quan thừa hành của ông ta. Vào tháng Hai, nó lập một ủy ban điều tra về các tòa án. Tháng Ba, ủy ban này báo cáo rằng nó đã phát hiện ra nhiều điểm bất thường, đặc biệt trong cách làm việc của vị Pháp quan. Người ta cáo buộc ông dính líu đến 23 vụ tham nhũng. Ông cầu xin nhà vua cứu mình, với dự đoán rằng những kẻ lúc này công kích Pháp quan sẽ sớm Công kích vào Ngai vàng”. Vua James khuyên ông thừa nhận các cáo buộc và làm một tấm gương để răn đe tình trạng mua chuộc trong các cơ quan công quyền. Ngày 22 tháng Tư, Bacon gửi lời thú tội của mình tới Thượng Nghị viện. Ông thừa nhận đã nhận các món quà từ những người đi kiện, như những quan tòa khác đã làm; ông phủ nhận việc những quyết định của mình đã bị ảnh hưởng bởi những món quà đó - trong một vài vụ kiện, ông đã ra phán quyết bất lợi với người đưa quà.
Các Thượng Nghị sĩ kết án ông phải trả một khoản phạt 40.000 bảng, bị cầm tù trong Tháp London một cách vô thời hạn và chỉ được tha chừng nào nhà vua vừa ý; vĩnh viễn không đủ năng lực để giữ bất cứ chức vụ Công nào trong khối Thịnh vượng chung, không bao giờ được ngồi trong Nghị viện hoặc đến gần Cung điện. Ông bị đưa tới Tháp London vào ngày 31 tháng Năm, nhưng được thả trong vòng 4 ngày dưới mệnh lệnh của nhà vua, người đồng thời miễn cho ông khoản tiền phạt có thể khiến người ta phá sản kia. Vị Pháp quan đã được uốn nắn, trừng trị này lui về Gorhambury và cố gắng sống một cách đơn giản hơn. Rawley, người viết tiểu sử cho Bacon, đã tìm thấy phát biểu sau đây, được viết ở dạng mật mã, trong những giấy tờ mà Bacon đế lại khi qua đời: “Tôi là quan tòa Công bằng nhất ở nước Anh trong thời gian 50 năm này. Nhưng thời gian 200 năm này là sự phê bình công bằng nhất trong Nghị viện”.
Bản cáo trạng này đem lại những tác động tích cực. Nó làm giảm thiểu tình trạng tham nhũng trong cơ quan nhà nước, và nó tạo ra một tiền lệ về trách nhiệm của quan thừa hành của vua trước Nghị viện. Nó đưa Bacon từ lĩnh vực chính trị, nơi ông ta mang tư tưởng tự do về quan điểm nhưng thể hiện sự phản động trong hành động thực tế, về với một cuộc theo đuổi khác của ông ta - theo đuổi khoa học và triết học - nơi ông ta sau này sẽ “rung hồi chuông tập hợp mọi minh triết”*, và sẽ tuyên bố, bằng những ngôn từ tráng lệ, cuộc nổi dậy của lý trí và triển vọng mà nó hứa hẹn.
CUỘC ĐỔI MỚI VĨ ĐẠI
Triết học từ lâu đã là nơi Bacon ẩn náu để trốn tránh những lo toan, nếu không muốn nói rằng đây là tình yêu bí mật và thiên hướng hạnh phúc nhất của ông. Trước năm 1605, ông đã xuất bản được cuốn Sự tăng tiến tri thức (The Proficience and Advancement of Learning), nhưng giờ đây việc đó đối với ông có vẻ giống một bản cáo bạch hơn là một màn biểu diễn. Năm 1609, ông đã viết thư cho giám mục của vùng Ely: “Giá như Chúa Trời cho tôi thời gian nghỉ phép để viết một cuốn sách công bằng và hoàn hảo về triết học,…” và vào năm 1610 cho Isaac Casaubon “để mang đến một trật tự tốt hơn cho đời sống của con người… bằng sự giúp đỡ của những suy ngẫm hợp lý và chân thực - đây là điều tôi nhắm tới”.
Trong những năm còn đương nhiệm và đầy ưu phiền, ông đã ấp ủ - với một giả định hấp tấp của những ngày còn dư dả - một kế hoạch bao trùm để đổi mới khoa học và triết học, và bảy tháng trước khi sa sút, ông đã tuyên bố kế hoạch ấy trong một tác phẩm bằng tiếng Latin, gửi tới toàn châu Âu, được đặt tên một cách táo bạo là Cuộc đổi mới vĩ đại (Instauratio magna). Chính trang bìa của cuốn sách đã là một lời thách thức: nó trưng ra hình một con thuyền căng buồm vượt qua các Cột chống trời của Hercules để tiến vào Đại Tây Dương; và ở nơi mà một châm ngôn thời Trung Cổ đã đặt ra giữa những chiếc cột này một lời cảnh báo Ne plus ultra (Không đi quá giới hạn này), Bacon đã viết, “Multi pertransibunt, et augebitur slientia” (Nhiều người sẽ vượt qua, và tri thức sẽ được bồi đắp).
Khi nhận thấy rằng “trong những gì mà hiện nay người ta đang làm với khoa học, chỉ có một vòng quay cuồng, và sự kích động không hồi kết, kết thúc ngay ở nơi nó bắt đầu”, ông kết luận rằng “chỉ còn một con đường: … thử một thứ gì đó hoàn toàn mới, dựa trên một kế hoạch tốt hơn, và bắt đầu một sự tái thiết hoàn toàn trong khoa học, nghệ thuật [thực dụng], và trong tất cả những kiến thức của loài người được dựng lên dựa trên nền móng đúng đắn”.
Toàn bộ dự án này được ông thực hiện để dâng lên James I, với những lời xin lỗi vì “đã cướp mất của bệ hạ quá nhiều thời gian, do công trình này đòi hỏi lượng thời gian như vậy”, nhưng hy vọng rằng kết quả của nó sẽ “đi vào ký ức về tên tuổi và vinh quang của thời đại của bệ hạ” - điều đã thực sự xảy ra. James là một người đàn ông thực sự có hiểu biết và thiện chí, nếu người ta có thể thuyết phục được ông tài trợ cho kế hoạch ấy, liệu có tiến bộ nào mà nó không thể đạt được?
Như Roger Bacon, vào năm 1968, đã gửi cho Giáo hoàng Clement IV tác phẩm Opus majus (Công trình vĩ đại của mình, để tìm kiếm sự hỗ trợ cho một cuộc mở rộng kiến thức mà ông đề xuất, giờ đây một người trùng tên với ông đã thỉnh cầu vị vua của mình thực hiện, như một “công trình của hoàng gia”, việc tổ chức và sắp xếp các nghiên cứu khoa học và việc thống nhất về mặt triết học những kết quả nghiên cứu vì lợi ích vật chất và đạo đức của nhân loại. Ông nhắc James nhớ tới những “vị vua triết gia” - Nerva, Trajan, Hadrian, Antoninus Pius, và Marcus Aurelius - những người đã đem đến cho Đế chế La Mã một chế độ cai trị tốt trong suốt một thế kỷ (năm 96-180 TCN).
Trong một bản cáo bạch với tầm vóc to lớn - Distributio operis - ông đã đưa ra một bản kế hoạch cho việc làm táo bạo này. Đầu tiên, ông sẽ thử một cách phân loại mới cho những bộ môn khoa học đã có sẵn hoặc đang được mọi người mong muốn, và phân chia các vấn đề và lĩnh vực nghiên cứu cho các bộ môn khoa học này, ông đã làm được điều này trong tác phẩm Sự tăng tiến tri thức, được ông dịch và mở rộng trong cuốn De augmentis scientiarum (năm 1623) để tiếp cận được độc giả quốc tế. Thứ hai, ông sẽ xem xét tỉ mỉ những hạn chế của logic đương đại và tìm kiếm một “sự vận dụng lý trí con người một cách hoàn hảo hơn”, so với cách vận dụng mà Aristotle đã công thức hóa trong các bài chuyên luận logic của mình, mà tập hợp các bài chuyên luận này được biết đến với cái tên Bộ công cụ (Organon); Bacon đã làm được điều này trong tác phẩm Bộ công cụ mới (Novum organum) (năm 1620). Thứ ba, ông sẽ bắt đầu viết một “lịch sử tự nhiên” của “các hiện tượng của vũ trụ” - thiên văn học, vật lý học, sinh học. Thứ tư, ông sẽ liệt kê, theo một “Thang bậc của Trí thức”, những ví dụ về hoạt động khảo cứu khoa học tuân theo phương pháp mới của ông. Thứ năm, với tư cách “người Tiên phong”, ông sẽ mô tả “những thứ mà chính tôi đã khám phá ra”.
Và thứ sáu, ông sẽ bắt đầu diễn giải chi tiết triết lý mà các bộ môn khoa học truy cầu và sau này sẽ được phát triển và chứng nhận, và các bộ môn khoa học tự nhiên. “Tuy nhiên, việc hoàn thành phần cuối cùng trong kế hoạch… vượt quá cả sức lực lẫn hy vọng của tôi”. Đối với chúng ta, những người đang lặn ngụp và thở hổn hển giữa một đại dương của tri thức và các chuyên ngành, chương trình của Bacon dường như cực kỳ vô vọng; những tri thức khi ấy không quá mênh mông và tỉ mỉ, và sự xuất sắc của những phần mà ông đã thực hiện được cho phép người ta dung thứ cho sự tự tin thái quá trong toàn bộ bản kế hoạch. Khi ông nói với Cecil rằng tôi đã lấy tất cả các tri thức làm lĩnh vực chuyên môn của mình”, ý ông không phải là ông có thể ôm trọn mọi tri thức một cách chi tiết, mà chỉ là ông đặt ra mục tiêu khảo sát cả bộ môn khoa học “thực nghiệm”*, với tầm nhìn bao quát lên sự phối hợp và khích lệ của chúng. William Harvey đã nói về Bacon rằng ông “đã viết về triết học như một đại chưởng ấn”; vâng, và lên kế hoạch cho nó như một vị tướng.
Chúng ta cảm nhận được tầm cỡ và sự sắc sảo của tâm trí Bacon khi chúng ta theo dõi ông trong Sự tăng tiến tri thức. Ông đưa ra các ý tưởng của mình với sự khiêm nhường hiếm thấy ở ông, mà theo ông thì chúng không hơn âm thanh mà các nhạc Công tạo ra khi họ tinh chỉnh nhạc cụ của mình là bao”. Ông kêu gọi sự nhân rộng và ủng hộ của các đại học, thư viện, phòng thí nghiệm, vườn sinh vật, bảo tàng khoa học và công nghiệp; kêu gọi việc trả lương cao hơn cho các giáo viên và nhà nghiên cứu, việc có các ngân quỹ dư dả hơn để tài trợ cho các thí nghiệm khoa học, việc liên lạc, hợp tác, và phân chia lao động tốt hơn giữa các trường đại học ở châu Âu. Ông không đánh mất quan điểm của mình trong việc tôn thờ khoa học; ông bảo vệ một nền giáo dục phổ cập và khai phóng, bao gồm văn học và triết học, xem nó như việc Cổ xúy một sự phán xét các mục đích một cách sáng suốt, để đi đôi với sự cải tiến mang tính khoa học cho các phương thức.
Nhiều đòi hỏi của ông đã được khoa học đáp ứng - đòi hỏi về các ghi chép lâm sàng tốt hơn, đòi hỏi về việc kéo dài cuộc sống bằng sự phát triển của y học dự phòng, đòi hỏi việc kiểm tra kỹ lưỡng các “hiện tượng tâm linh”, và đòi hỏi về sự phát triển tâm lý học xã hội. Ông thậm chí còn dự đoán được những nghiên cứu đương đại của chúng ta về kỹ thuật để thành công.
Phần thứ hai và táo bạo nhất của Cuộc Đổi mới vĩ đại là nỗ lực công thức hóa một phương pháp khoa học mới. Aristotle đã nhận ra, và đôi khi thực hành, tư duy quy nạp, nhưng phương thức tư duy logic chủ đạo của ông vẫn là tư duy diễn dịch, và tư tưởng của nó vẫn là tam đoạn luận. Bacon cảm thấy tác phẩm Bộ công cụ cũ đã kìm hãm, khiến khoa học không phát triển, bằng việc nó tập trung vào tư duy lý thuyết hơn là quan sát thực tế. Cuốn sách Bộ công cụ mới của ông đề xuất một phương tiện và hệ thống mới cho quy trình khoa học: việc nghiên cứu chính tự nhiên bằng tư duy quy nạp, thông qua trải nghiệm và thí nghiệm. Mặc dù chính cuốn sách này cũng không được hoàn chỉnh, với tất cả những điểm thiếu sót và chưa hoàn hảo, nó vẫn là sản phẩm xuất sắc nhất của triết học Anh quốc, là lời kêu gọi rõ ràng đầu tiên đến một Thời kỳ Lý trí.
Nó được viết bằng tiếng Latin, nhưng với những câu văn rắn rỏi và sáng sủa đến nỗi một nửa cuốn sách toát lên sự dí dỏm. Những dòng đầu tiên đã diễn đạt súc tích một triết lý, tuyên bố cuộc cách mạng tư duy quy nạp, báo trước Cách mạng Công nghiệp, và trao một động lực thực sự cho Hobbes, Locke, và John Stuart Mill:
Con người, với tư cách kẻ phụng sự hoà diễn giải Tự nhiên, chỉ có thể làm và thấu hiểu trong giới hạn của những gì anh ta đã quan sát được, trong thực tế hoặc trong thế giới tư duy, về quy trình của Tự nhiên, anh ta không biết, cũng không thể làm bất cứ điều gì vượt quá giới hạn của những thứ ấy… Kiến thức của loài người và quyền năng của loài người gặp nhau tại một giới hạn, bởi vì ở những nơi nào mà người ta không biết được quy trình, người ta không thể tạo ra được ảnh hưởng. Để ra lệnh được cho Tự nhiên, người ta phải tuân phục nó.
Và như Descartes, người mà trong tác phẩm Bàn Uề phương pháp (Discourse on Method) vào 17 năm sau đó đã đề xuất khởi đầu triết học bằng việc nghi ngờ mọi thứ, Bacon ở đây đã đòi hỏi “một sự sàng lọc các trí thức”, như bước đầu tiên trong Cuộc Đổi mới Vĩ đại:
Kiến thức của loài người, như chúng ta đang có hiện nay, chỉ là một đống hỗn tạp và khó lĩnh hội không hơn không kém, và nó được tạo ra từ sự cả tin và sự tình cờ, và cũng từ những khái niệm trẻ con từ đầu đã được tiêm nhiễm vào chúng ta.
Vì thế, chúng ta phải, ngay từ điểm xuất phát, xóa sạch tất cả những thành kiến, định kiến, giả định, và giả thuyết. Chúng ta thậm chí phải quay lưng lại với Plato và Aristotle, chúng ta phải quét sạch ra khỏi tư tưởng của mình các “thần tượng”, hoặc những ảo tưởng và lỗi tư duy, những thứ sinh ra từ những thói phán xét riêng của mỗi cá nhân hoặc những niềm tin và giáo lý truyền thống của nhóm mà ta là thành viên, chúng ta phải vứt bỏ tất cả các mẹo logic của tư duy ảo tưởng*, tất cả những sự ngớ ngẩn về ngôn từ của tư duy không mạch lạc. Chúng ta phải bỏ lại sau lưng tất cả những hệ thống diễn dịch hoành tráng ấy, những thứ đề xuất người ta rút ra cả nghìn chân lý vĩnh cửu từ chỉ một vài tiên đề và nguyên lý.
Khoa học không có một chiếc mũ thần nào cả, mọi thứ được lấy ra từ chiếc mũ ấy trước hết phải được bỏ vào trong chiếc mũ bằng sự quan sát hoặc thí nghiệm. Và không phải bằng sự quan sát tùy tiện đơn thuần, cũng không phải bằng “sự liệt kê đơn giản” các dữ liệu, mà bằng “trải nghiệm… được tìm kiếm bằng thí nghiệm”. Ngay sau đó, Bacon, rất thường xuyên bị xem thường như một người không đếm xỉa đến phương thức khoa học chân chính, tiếp tục mô tả phương thức thực sự của khoa học hiện đại:
Phương thức chân chính của trải nghiệm trước tiên thắp sáng ngọn nến [bằng giả thuyết] và rồi bằng những phương thức của ngọn nến ấy, nó chỉ ra con đường, cùng lúc ấy bắt đầu bằng trải nghiệm đã được sắp đặt theo trình tự hợp lý,… và từ đó rút ra những tiên đề [“những kết quả đầu tiên”, những kết luận tạm thời], và từ những tiên đề đã thiết lập được, nó lại rút ra những thí nghiệm mới… Chính thí nghiệm sẽ là người phán xét.
Tuy nhiên, Bacon thận trọng với các giả thuyết; quá thường xuyên, những giả thuyết được gợi ra bởi truyền thống, định kiến, hoặc khao khát - các “thần tượng”; ông không tin vào bất cứ quy trình nào mà trong đó giả thuyết, bất kể theo cách có ý thức hay vô thức, sẽ chọn ra từ trải nghiệm những dữ liệu xác nhận giả thuyết và che đậy,hoặc không thể nhìn thấy, những bằng chứng chống lại giả thuyết.
Bacon cảm thấy rằng mục đích tối hậu phải là áp dụng phương thức khoa học vào việc phân tích nghiêm túc và việc kiên quyết định hình lại cá tính của nhân loại. Ông thúc giục người ta nghiên cứu về các bản năng và cảm xúc, những thứ mà mối liên hệ giữa chúng và tâm trí con người giống như mối liên hệ giữa gió và biển. Ở đây, lỗi sai không chỉ nằm trong quá trình tìm kiếm tri thức, mà còn nằm ở việc truyền tải nó. Con người có thể được tái tạo bởi một quá trình giáo dục đã được khai sáng, nếu như chúng ta sẵn lòng thu hút những tâm trí hạng nhất vào lĩnh vực sư phạm, bằng cách cho những tâm trí ấy những thù lao và sự vinh danh đúng mức. Bacon ngưỡng mộ những tu sĩ Dòng Tên với tư cách những nhà giáo dục. Vị Pháp quan tự tin này kết luận rằng: “Tôi đặt cuộc tất cả vào sự chiến thắng của nghệ thuật trước Tự nhiên trong cuộc đua này”.
TRIẾT LÝ CỦA MỘT CHÍNH TRỊ GIA
Ở đây, chúng ta cảm nhận được một tâm trí mạnh mẽ - một người đàn ông, người duy nhất trong cả một thế kỷ, thông thạo cả triết học lẫn chính trị. Sẽ thật thú vị khi biết được suy nghĩ của một triết gia trong lĩnh vực chính trị, và suy nghĩ của một chính trị gia trong lĩnh vực triết học.
Ông không để lại bất cứ hệ thống nào trong lĩnh vực triết học, cũng không để lại bất cứ thứ gì phô bày những suy nghĩ của mình, ngoại trừ trong lĩnh vực logic. Chúng ta phải thu thập các quan điểm của ông từ những nhận định tình cờ và những mảnh không hoàn chỉnh trong văn chương, bao gồm Tiểu luận (Essays, năm 1597, 1612, 1625). Với sự tự cao cố hữu trong giọng văn, ông đã viết, với tinh thần dâng hiến những điều sau đây tới Điện Buckingham: “Thần thực sự có tưởng tượng rằng… cuốn sách này có thể sẽ tồn tại cho đến chừng nào sách vẫn tồn tại” - nhưng thực sự nó có thể sẽ như vậy. Trong những bức thư trang trọng của mình, văn phong của ông cầu kỳ và phức tạp đến nỗi vợ ông phải thú nhận: “Tôi không hiểu được những trang sách gấp bí ẩn đến mức khó hiểu mà ông ấy viết”, trong tác phẩm Tiểu luận, ông dồn vào đó thậm chí còn nhiều nỗ lực hơn, khép ngòi bút của mình vào với sự rõ ràng, và đạt được một sức mạnh biểu đạt súc tích đến mức rất ít trang viết tiếng Anh có thể sánh ngang với những trang viết ấy, xét về việc những vấn đề quan trọng được các phép so sánh minh bạch ép thành một hình thức biểu đạt hoàn hảo. Cứ như thể Tacitus đã bắt đầu yêu thích triết học và hạ mình để diễn đạt cho rõ ràng.
Trí tuệ của ông đầy chất trần tục. Ông nhường môn siêu hình học cho những người theo chủ nghĩa thần bí hoặc những kẻ hấp tấp, thậm chí tham vọng tối hậu của ông cũng hiếm khi vượt ra khỏi một mảnh ghép cục bộ để đến với cái toàn thể. Tuy nhiên, đôi khi ông dường như lao vào chủ nghĩa duy vật tất yếu: “Trong tự nhiên, không thứ gì thực sự tồn tại, ngoài những thể vô hình vận động… theo một quy luật cố định”; và “những nghiên cứu về tự nhiên thu được kết quả tốt nhất khi chúng bắt đầu bằng vật lý học và kết thúc bằng toán học”; nhưng “tự nhiên” ở đây có thể chỉ có nghĩa là thế giới bên ngoài.
Ông thích các triết gia theo chủ nghĩa hoài nghi thời trước Socrates hơn là Plato và Aristotle, và ông ca ngợi Democritus, người theo chủ nghĩa duy vật. Nhưng ông chấp nhận một sự phân biệt rõ ràng giữa thân xác và linh hồn, và dự đoán được việc Bergson sẽ chỉ trích giới trí thức với tư cách một “người theo chủ nghĩa duy vật hợp hiến”: “Hiểu biết của con người bị đầu độc bởi việc nhìn thấy những gì diễn ra trong các bộ môn cơ khí,… và vì thế tưởng tượng rằng điều gì đó tương tự cứ thế diễn ra bên trong bản chất phổ quát của vạn vật”.
Ông phản đối lý thuyết sinh học theo chủ nghĩa cơ giới của Descartes ngay từ trước khi nó ra đời. Với thái độ nước đôi cẩn trọng, ông “gia vị” cho triết lý của mình bằng tôn giáo, “như thể đang nêm nếm bằng muối: Tôi thà tin vào tất cả những huyền thoại và ngụ ngôn trong Cổ tích (Vàng], trong sách Talmud, và trong kinh Alcoran, còn ham tin vào việc cấu trúc vũ trụ này tồn tại mà không có một tâm trí nào”.
Ông đặt chủ nghĩa vô thần vào vị trí của nó trong một đoạn văn nổi tiếng được lặp lại hai lần. Ông phân tích các nguyên nhân của chủ nghĩa vô thần, xem đó là… “nhiều sự chia rẽ trong tôn giáo, nếu như có nhiều sự chia rẽ như vậy, bởi vì, nếu chỉ có một sự chia rẽ chủ đạo, thì bất kể sự chia rẽ ấy là gì nó cũng đều làm tăng sự nhiệt thành của cả hai bên, nhưng nhiều sự chia rẽ khác nhau sẽ dẫn đến tư tưởng vô thần. Một sự chia rẽ khác là tình trạng bê bối không thể chấp nhận được của các linh mục, tu sĩ. Và cuối cùng là những thời kỳ tri thức, đặc biệt với hòa bình và thịnh vượng, bởi vì, khó khăn và nghịch cảnh thực sự khiến tâm trí con người tuân phục tôn giáo hơn”.
Ông đặt ra một nguyên tắc rằng “mọi kiến thức đều bị giới hạn bởi tôn giáo”. Theo Rawley, giáo sĩ của ông, ông “thường xuyên lui tới những phụng vụ của nhà thờ, khi sức khỏe của ông cho phép… và qua đời với đức tin chân chính, được xác lập vững vàng, vào Giáo hội nước Anh”. Dẫu vậy, giống người tiền nhiệm vĩ đại của mình, William của Ockham, ông chấp nhận sự phân biệt rạch ròi giữa chân lý thần học và chân lý triết học: đức tin tôn giáo có thể sẽ giữ lấy những niềm tin mà khoa học và triết học có thể sẽ chẳng tìm được bằng chứng nào để hậu thuẫn, nhưng triết học chỉ nên dựa vào lý trí, và khoa học nên tìm kiếm những cách giải thích hoàn toàn vô thần về mặt nguyên nhân và hệ quả vật lý.
Bất chấp niềm say sưa của mình đối với tri thức, Bacon xếp nó phía dưới luân lý; nhân loại sẽ không được lợi gì nếu như việc mở mang kiến thức không khiến người ta nhận từ hơn. “Trong tất cả các đức hạnh và phẩm giá của tâm trí, lòng tốt là phẩm hạnh tuyệt vời nhất”. Tuy nhiên, niềm say mê thường thấy của ông lắng xuống khi ông nói về các phẩm hạnh Cơ Đốc giáo. Hành vi có phẩm hạnh phải được thực hành với sự tiết chế, bởi những kẻ xấu xa có thể sẽ lợi dụng những người tốt bụng một cách bất cẩn. Một chút che giấu là điều cần thiết đối với thành công, nếu không muốn nói là đối với văn minh. Tình yêu là một sự điên rồ, và hôn nhân là một sợi dây thòng lọng. “Người đàn ông đã có vợ và con đã mạo hiểm, bởi những người ấy là những thứ cản trở tính dám nghĩ dám làm”. Ông đồng ý với các giáo hoàng về cuộc đời độc thân của giới tu sĩ: “Một cuộc sống độc thân là điều tốt đối với tu sĩ, bởi lòng nhân từ sẽ khó có thể tưới ẩm mặt đất khi nó phải làm đầy một cái bể”. Tình bằng hữu tốt hơn tình yêu, và những người đàn ông đã kết hôn sẽ có những tình bạn không bền vững.
Triết lý chính trị của ông đối diện với các điều kiện hơn là các lý thuyết. Ông nói những lời tốt đẹp về Machiavelli, và thẳng thắn tiếp nhận nguyên tắc rằng các nhà nước không bị ràng buộc bởi nguyên tắc luân lý mà các công dân của nhà nước ấy được dạy. Như Nietzsche, ông cảm thấy rằng một cuộc chiến tốt sẽ khiến mọi động cơ trở nên cao đẹp và thần thánh. Trong bất cứ trường hợp nào,“một cuộc chiến công bằng và vinh quang cũng đều là cách thực sự đúng đắn” để giữ cho một quốc gia luôn ở trong trạng thái tốt. Để đạt được sự kiểm soát hoàn toàn và sự vĩ đại, điều quan trọng nhất là một quốc gia phải sử dụng vũ lực như một niềm vinh quang, một ngành học, và một nghề nghiệp chính của nó”. “Ở thời kỳ non trẻ của một nhà nước, vũ lực phát triển mạnh; ở thời kỳ trung niên, học vấn phát triển mạnh; và rồi cả hai thứ ấy cùng phát triển mạnh trong một khoảng thời gian, ở thời kỳ suy thoái của một nhà nước, thương nhân và các hoạt động buôn bán sẽ phát triển mạnh”.
Ông cảnh báo về sự tập trung của cải, xem đó như một nguyên nhân chủ yếu của sự kích động và nổi loạn. Đối với những hiện tượng này.
Biện pháp sửa chữa hoặc ngăn chặn đầu tiên là loại bỏ bằng mọi cách có thể nguyên nhân vật chất ấy tức loại bỏ ham muốn và sự nghèo đói… Mục đích của việc ấy là phục vụ việc mở cửa và cân bằng thương nghiệp, việc bảo vệ các hoạt động sản xuất; việc loại bỏ tình trạng nhàn rỗi; việc kiềm chế sự lãng phí và tiêu dùng quá mức bằng các bộ luật điều chỉnh và hạn chế chi tiêu,… việc điều tiết giá cả của những thứ có thể bán được… Trên hết, chính sách tốt phải được sử dụng sao cho các ngân quỹ và tiền bạc trong một quốc gia không bị tập trung vào trong tay chỉ một vài người… Tiền bạc giống như mùn cây, sẽ không có lợi trừ phi nó được trải đều.
Bacon cười những “triết gia” nào “lập ra những luật lệ tưởng tượng cho những khối thịnh vượng chung tưởng tượng, những bàn luận của họ giống như những ngôi sao, đem đến rất ít ánh sáng bởi vì chúng ở quá cao”. Dẫu vậy, trong Atlantis mới (The New Atlantis, năm 1624), ông vẫn mô tả say sưa một hòn đảo tưởng tượng mà trên đó người ta sống hạnh phúc dưới những bộ luật được một Vua Salomon quá cố lập ra cho họ. Thay cho một Nghị viện, một “Nhà của Salomon”: một khối tập hợp của các đài thiên văn, phòng thí nghiệm, thư viện, vườn thực vật và động vật với nhân lực là các nhà khoa học, kinh tế học, kỹ thuật viên, thầy thuốc, nhà tâm lý học, và triết gia, được lựa chọn (như trong tác phẩm Cộng hòa của Plato) bởi các bài khảo thí công bằng sau những cơ hội giáo dục công bằng, và rồi (không có những cuộc bầu cử) điều hành nhà nước, hoặc đúng hơn là cai trị tự nhiên vì lợi ích của con người. Một trong những nhà cai trị này giải thích với những người man di đến từ châu Âu rằng “mục tiêu Lập quốc của chúng tôi là kiến thức về các nguyên nhân và sự vận động bí mật của vạn vật, và sự mở rộng của những ranh giới của Đế chế Nhân loại, để đạt đến việc gây ảnh hưởng lên tất cả những thứ khả dĩ”.
Trong sự mê hoặc của Nam Thái Bình Dương này, các thầy phù thủy của Salomon đã phát minh ra kính hiển vi, kính viễn vọng, những chiếc đồng hồ tự lên dây cót, tàu ngầm, ô tô, và máy bay, họ đã khám phá ra thuốc gây mê, phép thôi miên, và những phương pháp để ghép cây, tạo ra những chủng loài mới, và truyền âm nhạc tới những nơi xa xôi. Trong Nhà của Salomon, chính trị và khoa học gắn chặt với nhau, và tất cả những công cụ và cách tổ chức nghiên cứu mà Bacon đã cầu xin James Icung cấp đều là một phần trong những công cụ của nhà nước. Hòn đảo ấy độc lập về kinh tế, nó né tránh giao thương với ngoài như né tránh một cạm bẫy dẫn đến chiến tranh; nó nhập khẩu kiến thức thay vì hàng hóa. Như thế, triết gia khiêm nhường thế chỗ cho chính khách kiêu hãnh, và chính người đàn ông trước đây vẫn khuyên rằng chiến tranh giống như một thứ thuốc bổ về mặt xã hội, giờ đây trong những năm cuối đời mình, đang mơ về một thiên đường mầu nhiệm của hòa bình.
CHÚ GÀ TRỐNG CỦA LÝ TRÍ
Như Giáo hoàng đã nghĩ, ông không phải là “người sáng suốt nhất, sáng dạ nhất, xấu tính nhất của nhân loại”. Montaigne sáng suốt hơn, Voltaire sáng dạ hơn, Henry VIII xấu tính hơn; và những kẻ thù của Bacon gọi ông là người tốt bụng, hay giúp đỡ, và nhanh chóng tha thứ. Ông tự tư tự lợi đến mức hèn mọn, sẵn sàng làm hài lòng người khác, và đủ kiêu hãnh để làm thần thánh tức giận, nhưng chúng ta cũng có những lỗi lầm này, đủ để tha thứ phần trần tục của ông ta, vì ánh sáng mà ông đã tỏa ra để soi rọi. Tính tự đại và vị kỷ là cơn gió cho những chuyến dong buồm của ông. Việc chúng ta nhìn bản thân theo cách những người khác nhìn chúng ta sẽ khiến chúng ta mất hết năng lực hành vi.
Ông không phải là một nhà khoa học, mà là một triết gia khoa học. Tầm quan sát của ông vô cùng rộng, nhưng tầm suy tưởng của ông quá rộng, đến nỗi không cho phép ông có nhiều thời gian cho những cuộc điều nghiên đặc biệt; ông đã thử một số nghiên cứu, nhưng thu được rất ít kết quả. Ông tụt lại rất xa phía sau sự tiến bộ của khoa học đương thời. Ông phản đối thiên văn học Copernicus, nhưng đưa ra những lý do hợp lý khi làm như vậy. Ông phớt lờ Kepler, Galileo, và Napier. Trong tác phẩm Atlantis mới, ông thường lưu ý đến, nhưng vẫn đánh giá quá thấp, vai trò của trí tưởng tượng, các giả thuyết, và việc tư duy diễn dịch trong nghiên cứu khoa học. Đề xuất của ông, về một bộ sưu tập cần mẫn những sự thực, rất hiệu quả ở bộ môn thiên văn học, nơi những quan sát và ghi chép về các vì sao của hàng nghìn sinh viên đã cho Copernicus tư liệu quy nạp để đưa ra những suy luận diễn dịch có tính cách mạng, nhưng nó mang những điểm tương tự với những phương pháp thực tế, mà trong thời đại của ông chúng đã giúp khám phá ra các quy luật chuyển động của các hành tinh, các vệ tinh của sao Mộc, từ trường của Trái Đất, và sự tuần hoàn của máu.
Ông không nhận rằng mình đã khám phá ra phép quy nạp. Ông không phải là người đầu tiên “lật đổ Aristotle”; những người như Roger Bacon và Petrus Ramus đã làm điều này trong hàng thế kỷ trước đó. Và vị Aristotle mà họ đã hạ bệ không phải (như Francis Bacon đôi khi đã nhận ra) là nhân vật người Hy Lạp, người trước đó thường sử dụng và ca ngợi phép quy nạp hay thực nghiệm, mà là một ille philosophus - triết gia - đã biến đổi hoàn toàn của những người Ả Rập và những người theo trường phái Kinh Viện. Ông không phải là người đầu tiên nhấn mạnh tri thức như con đường dẫn đến quyền lực; Roger Bacon đã làm điều đó, và Campanella đã nói, với sự súc tích và rắn rỏi như của Bacon, Tantum posurus quantum scimus - “Quyền lực của chúng ta tỉ lệ thuận với tri thức mà ta có”.
Có lẽ vì chính khách ấy đã nhấn mạnh không đúng mức những mục đích vị lợi của khoa học, tuy nhiên, ông đã nhận ra giá trị của khoa học “thuần khiết”, trong sự phân biệt với khoa học “Ứng dụng” - của ánh sáng”, trong sự phân biệt với “thành quả”. Ông hối thúc việc nghiên cứu những mục đích cũng như phương thức, và nhìn thấy trước rằng một thế kỷ của những phát minh có thể sẽ tạo ra những vấn đề lớn hơn những gì nó giải quyết được, nếu nó bỏ qua và không thay đổi bản chất của nhân loại. Ông có thể đã khám phá ra, bên trong sự buông thả về đạo đức của mình, cái vực thẳm không đáy được tạo ra bởi một tiến bộ về tri thức vượt quá giới hạn của kỷ luật về nhân cách.
Còn lại điều gì sau tất cả những suy luận diễn dịch này, một sự suy xét lại sau khi sự việc đã xảy ra? Chính là điều này: Francis Bacon là trí thức quyền lực nhất và có sức ảnh hưởng nhất trong thời đại của ông. Tất nhiên, Shakespeare đứng trên ông về trí tưởng tượng và nghệ thuật văn chương, về sự tinh tế trong cảm nhận và suy nghĩ, nhưng tâm trí của Bacon bao quát cả vũ trụ như một ánh đèn soi rọi và sục sạo một cách tò mò vào mọi xó xỉnh và bí mật của không gian. Tất cả những niềm đam mê kỳ thú và ngày càng phát triển của Phục hưng đều nằm trong ông, tất cả những phấn khích và kiêu hãnh của Columbus khi đang dong buồm một cách điên cuồng vào một thế giới mới. Hãy lắng nghe tiếng kêu đầy hân hoan của Cock Robin khi tuyên bố buổi bình minh:
Vì thế, tôi đã khép lại phần học tập chạm đến Kiến thức Dân sự, Toà với kiến thức dân sự, tôi đã khép lại Triết học Con người, và với kiến thức con người, tôi đã khép lại Triết học Phổ quát. Và giờ đây, tôi khi tạm dừng và nhìn lại những gì mình đã trải qua, bài viết này đối với tôi, với tất cả những gì một người có thể phán xét về sản phẩm của chính mình, cũng chẳng tốt hơn là bao so với những tiếng ồn ào hay âm thanh mà những nhạc công tạo ra khi họ tinh chỉnh nhạc cụ của mình, một thứ nghe hoàn toàn không dễ chịu, ấy thế nhưng nó là một trong những lý do vì sao âm nhạc sau đó lại trở nên ngọt ngào hơn. Vì thế, tôi vẫn luôn hài lòng với việc tinh chỉnh những nhạc cụ của những nàng thơ, những người có thể sẽ chơi những nhạc cụ ấy với đôi tay điêu luyện hơn. Và chắc chắn, khi tôi thiết lập phía trước tôi điều kiện của những thời kỳ này, những điều kiện mà trong đó tri thức đã có chuyến viếng thăm hoặc vòng tuần hoàn thứ ba của nó, trong tất cả những phẩm chất của nó, đại diện cho sự xuất sắc và nhanh nhạy của trí tuệ của thời đại này; những hỗ trợ và ánh sáng cao quý mà chúng ta có nhờ sự lao động vất vả của những tác giả cổ xưa, nghệ thuật in, thư truyền bá những cuốn sách đến tất cả mọi người, bất kể người ấy may mắn hay bất hạnh; tính cởi mở của thế giới nhờ việc mò mẫm tìm đường, qua đó tiết lộ cô oàn những thí nghiệm, và cô số điều về lịch sử tự nhiên,… tôi không thể không bị thuyết phục rằng thời kỳ thứ ba này sẽ vượt xa thời kỳ của tri thức Hy Lạp và La Mã… Về phần những công trình của tôi, nếu có bất cứ người nào có thể làm chính anh ta hoặc những người khác vừa lòng bằng việc chỉ trích những công trình ấy, thì những công trình ấy sẽ đưa ra yêu cầu cổ xưa và nhẫn nại ấy: “Verbere sed audi” (“Hãy công kích tôi nếu anh muốn, chỉ cần anh lắng nghe tôi thôi”); hãy để mọi người chỉ trích những công trình ấy, để họ có thể quan sát và đánh giá chúng.
Ban đầu, người ta không nghe theo ông; ở Anh, Pháp, và Đức, nhiều người vẫn thích phân định những cuộc tranh chấp về đức tin bằng vũ lực; nhưng khi cơn thịnh nộ của họ đã dịu xuống, những người nào không bị trói buộc vào niềm tin quả quyết đã tự tổ chức lại theo tinh thần của Bacon để mở rộng đế chế của loài người, không phải vượt qua những con người khác, mà vượt qua những hoàn cảnh và trở lực của cuộc sống con người.
Khi người Anh lập ra hội Hoàng gia London mở mang kiến thức tự nhiên (năm 1660), chính Francis Bacon là người được tôn vinh nhưnguồn cảm hứng cho sự ra đời của nó, và Nhà của Salomon trong Atlantis mới rất có thể đã chỉ ra cho nó những mục tiêu. Leibniz ca ngợi Bacon là người đã tái sinh triết học. Và khi các philosophest* của thời kỳ Khai sáng biên soạn ra bộ Bách khoa toàn thư (Encyclopédie, năm 1751), họ dùng tác phẩm này để tưởng nhớ tới Francis Bacon.
Trong tờ cáo bạch của tác phẩm này, Diderot đã nói: “Nếu chúng tôi có biên soạn nó thành công, thì chúng tôi giành được phần lớn thành công ấy nhờ on Pháp quan Bacon, người đã đề xuất kế hoạch về một cuốn từ điển phổ quát về khoa học và nghệ thuật vào thời điểm mà, nói theo cách nào đó, cả nghệ thuật và khoa học đều chưa tồn tại. Thiên tài phi thường ấy, vào thời điểm mà người ta không thể viết được lịch sử về những gì đã được biết đến, đã viết được lịch sử của thứ mà người ta cần phải học”. Và d’Alembert, trong một phút dâng trào đê mê của nhiệt huyết, đã gọi Bacon là “người vĩ đại nhất, phổ quát nhất, và hùng biện nhất trong các triết gia”. Khi thời kỳ Khai sáng bùng nổ thành Cách mạng Pháp, Quốc hội Cách mạng đã xuất bản các công trình của Bacon, bất chấp bất lợi đối với nhà nước ấy. Tinh thần chung và quá trình phát triển của tư tưởng Anh, từ Hobbes cho đến Spencer - ngoại trừ Berkeley và Hume và những người Anh theo phái Hegel - đều theo tư tưởng của Bacon.
Như vậy, chúng ta có thể đặt Francis Bacon ở vị trí đứng đầu Thời kỳ Lý trí. Ông không phải, như một số người kế nhiệm ông, là một người sùng bái lý trí; ông không tin vào bất kỳ suy ngẫm nào không được kiểm chứng bằng trải nghiệm thực tế, và cũng không tin bất kỳ kết luận nào bị vấy bẩn bởi dục vọng. “Kiến thức của loài người không phải là một ánh sáng khô khan, mà nó nhận được những yếu tố mới từ ý chí và tình cảm, từ đó nó thực hiện thứ khoa học mà người ta có thể gọi là “khoa học chủ quan”. Bởi con người thường muốn tin rằng những gì anh ta đang có, tốt hơn hết, là đúng.” Anh ta cũng không, như những philosophes của thế kỷ 18, đề cử lý trí như một kẻ thù của tôn giáo, hay một thứ thay thế cho tôn giáo; trong triết học và trong đời sống, anh ta dành không gian cho cả lý trí lẫn tôn giáo. Nhưng anh ta khước từ việc dựa dẫm vào các tập quán và thẩm quyền; anh ta đòi hỏi những lời giải thích tự nhiên và duy lý, thay vì những giả định cảm tính, những can thiệp mang tính siêu nhiên, và những huyền thoại phổ biến.
Anh ta đã dựng lên một tấm banner cho tất cả các môn khoa học, và thu hút vào đó những cái đầu hăng hái nhất của những thế kỷ tiếp theo. Bất kể anh ta có chủ định hay không, hành động táo bạo mà anh ta kêu gọi - việc tổ chức một cách toàn diện hoạt động nghiên cứu khoa học, việc mở rộng và phát tán tri thức ra toàn thế giới - mang trong nó những hạt giống của những tấn kịch sâu sắc nhất của thời hiện đại: Cơ Đốc giáo, Công giáo hay Kháng cách, chiến đấu chống lại sự lan tỏa và quyền lực của khoa học và triết học, vì sự sống còn của chúng. Tấn kịch ấy giờ đây công bố chương mở đầu của nó trước toàn thế giới.