Nhiều người Ý tiếc thương cho sự suy đồi của Giáo hội trong cải cách về giáo lý và trong vai trò tấm gương dẫn dắt về luân lý. Ở Venice, trung tâm của các hoạt động giao thương của đất Ý với các lãnh thổ không theo Cơ Đốc giáo, chủ nghĩa hoài nghi đang thịnh và sự chỉ trích dành cho giới tăng lữ khi ấy đã rất phổ biến trong người dân; Hồng y Giáo chủ Caraffa báo cáo với Giáo hoàng Clement VII (năm 1532) rằng rất ít đàn ông ở Venice từng tới xưng tội; và chính Clement đã mô tả “tư tưởng dị giáo Luther” là đã lan rộng trong cả giới tăng lữ lẫn không có chức sắc trong Giáo hội trên đất Ý. Renée, con gái của Louis XII, và vợ của Ercole của Este (Ercole d’Este), người cai trị Ferrara, là một người Kháng cách đã được xác nhận, và đã tiếp đón Calvin tại đó. ỞModena, Lucca, và Rome, các học viện chứa chấp nhiều người dị giáo, một số người trong đó còn có thái độ hoài nghi hơn cả Luther.
Nhưng, tất nhiên, đất Ý không thể đi theo Kháng cách. Dân thường ở đó, mặc dù chống lại giới tăng lữ, vẫn sùng đạo mặc dù họ không tới nhà thờ. Họ yêu những nghi lễ quan trọng đã tồn tại từ rất lâu, yêu quý những vị thánh vẫn trợ giúp hoặc an ủi họ, yêu thứ tôn giáo hiếm khi bị nghi ngờ, tôn giáo đã nâng cuộc đời của họ từ tình cảnh nghèo khổ trong những căn nhà lên sự tuyệt mỹ của những tấn kịch tuyệt vời nhất từng được tưởng tượng ra - sự cứu rỗi cho con người đã sa ngã, bằng cái chết của Chúa của anh ta.
Sự giàu có của ngôi giáo hoàng là một báu vật truyền đời và đem lại nguồn thu; và người Ý nào đề xuất chấm dứt cơ chế nhận cống nạp ấy, đối với đa số người Ý, dường như đang ở bên bờ mất trí. Tầng lớp thượng lưu tranh chấp với ngôi giáo hoàng với tư cách một thế lực chính trị trên miền Trung Ý, nhưng họ trân quý Công giáo như một sự hỗ trợ tối quan trọng cho trật tự xã hội và việc điều hành đất nước một cách yên ổn. Họ nhận ra rằng vinh quang của nghệ thuật Ý đã gắn liền với Giáo hội thông qua những cảm hứng đến từ những huyền thoại của nó và sự hỗ trợ bằng tiền bạc. Chính Công giáo đã trở thành một nghệ thuật; những yếu tố dục tính của nó đã nhấn chìm những yếu tố khổ hạnh và thần học: tranh kính ghép mảnh, hương tế, âm nhạc, kiến trúc, điêu khắc, hội họa, thậm chí kịch nghệ - tất cả những điều này đều tồn tại bên trong Giáo hội và thuộc về Giáo hội, và trong dàn hợp xướng tuyệt diệu của những yếu tố này, chúng dường như không thể tách rời khỏi Giáo hội. Các nghệ sĩ và học giả của đất Ý không cần phải cải giáo từ Công giáo sang tôn giáo khác, bởi họ đã cải Công giáo thành học thuật và nghệ thuật.
Hàng trăm, hàng nghìn học giả và nghệ sĩ được ủng hộ bởi các giám mục, Hồng y Giáo chủ, và giáo hoàng; nhiều người theo chủ nghĩa nhân văn, một số người theo chủ nghĩa hoài nghi, đã lên đến những vị trí cao trong Giáo hội. Đất Ý quá yêu quý những vẻ đẹp mà nó có thể đạt tới, đến nỗi không thể để vẻ đẹp của nó bị hủy hoại khi phải công nhận những sự thật không thể đạt tới. Và nếu những Teuton cuồng tín ấy, hoặc tiểu giáo hoàng có tính khí khó chịu ấy ở Geneva, hoặc nhà cai trị tàn nhẫn ngai vàng của nước Anh ấy tìm ra sự thật thì sao? Những thứ vô lý mà những người cải cách ấy đang kêu gào sẽ khiến người ta thất vọng biết bao - ngay lúc giới trí thức ở Ý đã quên đi địa ngục và sự đọa đày!
Hệ quả, lý lẽ của người Ý đều chỉ để ủng hộ sự cải cách bên trong Giáo hội. Và, thật vậy, những giáo sĩ trung thành trong nhiều thế kỷ đã thừa nhận - tuyên bố - nhu cầu về cải cách Giáo hội. Sự bùng nổ và phát triển của phong trào Cải cách Kháng nghị đã khiến nhu cầu và yêu cầu ấy trở nên cấp thiết hơn. “Một dòng chảy khổng lồ của những lời lăng mạ trong hàng trăm, hàng nghìn cuốn sách nhỏ và tranh biếm họa trút xuống đầu giới tăng lữ”. Trận cướp bóc thành Rome đã chạm vào lương tri và các nguồn thu của các Hồng y Giáo chủ quần chúng nhân dân, những người đã bị trận cướp bóc ấy làm cho kinh sợ, cả trăm linh mục nhấn mạnh rằng tai họa ấy là một cảnh báo từ Chúa Trời. Giám mục Stafileo, khi thuyết giảng vào năm 1528 trước Rota (một nhánh tư pháp của Giáo triều Rome), đã giải thích tại sao Chúa Trời trừng phạt thủ đô của thế giới Công giáo, gần như hoàn toàn bằng những khái niệm Kháng cách: “Bởi tất cả các thịt đã trở nên mục ruỗng, chúng ta đã trở thành những công dân của không chỉ thành phố Rome linh thiêng, mà còn của Babylon, thành phố của sự suy đồi”. Như những gì Luther đã nói trước đó.
Vào đầu nhiệm kỳ của Giáo hoàng Paul III, luật gia nổi tiếng Giovan Battista Caccia đã trình với Giáo hoàng một bản chuyên luận về việc cải cách Giáo hội. Lời tựa của bài luận này viết: “Tôi thấy rằng Giáo hội Thần thánh của chúng ta đã bị thay đổi đến mức nó dường như không còn bất cứ dấu hiệu nào của chất phúc âm, và không thể tìm thấy ở nó bất cứ dấu vết nào của sự khiêm nhường, tính chừng mực, sự tiết dục, và sức mạnh Tông đồ”. Paul thể hiện thái độ của mình bằng việc công nhận sự tận tâm trong công trình này. Ngày 20 tháng Mười một, năm 1534, ông giao cho các Hồng y Giáo chủ Piccolomini, Sanseverino, và Cesi nhiệm vụ lập ra một chương trình khôi phục luân lý cho Giáo hội; và vào ngày 15 tháng Một, năm 1535, ông ra lệnh thi hành nghiêm ngặt các sắc lệnh cải cách của Leo X vào năm 1513. Vướng vào các vấn đề chính trị của ngôi giáo hoàng và Hoàng đế, đứng trước sự đe dọa của người Turk đang tiến công, và không sẵn sàng làm thay đổi cấu trúc vận hành của Giáo triều Rome bằng những cải cách triệt để giữa những khủng hoảng trên, Paul đã trì hoãn việc tích cực cải cách, nhưng những người đàn ông mà ông đã đưa vào vị trí Hồng y Giáo chủ gần như đều nổi tiếng về sự chính trực nhất quán và sự tận tâm.
Phong trào cải cách từ bên trong giành chiến thắng khi thủ lĩnh của nó, Caraffa, trở thành Giáo hoàng Paul IV (năm 1555). Các tu sĩ vắng mặt khỏi tu viện mà không có sự phê chuẩn chính thức và không chứng minh được rõ ràng sự cần thiết của việc ra khỏi tu viện đều nhận được lệnh quay về ngay lập tức. Vào đêm ngày 22 tháng Tám, năm 1558, giáo hoàng ấy ra lệnh đóng tất cả các cổng của thành Rome, và tất cả những tu sĩ lang thang đều bị bắt giữ, ở khắp các Lãnh địa của Giáo hoàng, người ta làm theo những quy trình tương tự, và một số kẻ vi phạm bị gửi đi làm nô dịch trên các con thuyền. Các tu viện không còn bị giao nhiệm vụ dùng thu nhập của chúng để chu cấp cho các chức sắc tôn giáo vắng mặt. Các giám mục và trưởng tu viện nào đang không thực sự phục vụ Giáo triều Rome ở một chức vụ Cố định được yêu cầu trở lại vị trí của họ hoặc sẽ mất nguồn thu nhập. Cấm cùng lúc giữ nhiều nguồn thu nhập. Tất cả các bộ phận của Giáo triều Rome được yêu cầu loại bỏ bất cứ người nào bị nghi ngờ mua bán chức tước trong những cuộc bổ nhiệm vào các vị trí trong giới tăng lữ. Rome giờ đây mang một bầu không khí không hề dễ chịu của tính đạo đức và sự ngoan đạo mang tính hình thức. Ở Ý - và ở những nơi khác bên ngoài nó, mặc dù ít rõ ràng hơn - Giáo hội đã cải cách giới tăng lữ và đạo đức, trong khi cố tình giữ nguyên những giáo lý của nó.
THÁNH TERESA
Nhân vật có một không hai trong số những nhà cải cách thuộc giới tu sĩ là Teresa của Avila ở Tây Ban Nha. Cha của bà là một Hiệp sĩ Castilia của Avila, người luôn tự hào về sự ngay thẳng và lòng trung thành của ông đối với Giáo hội; mỗi đêm ông đọc cho mọi người trong gia đình ông nghe về cuộc đời của các vị thánh; mẹ của Teresa là một người khuyết tật, người làm dịu đau đớn của mình bằng những câu chuyện về các hiệp sĩ.
Trí tưởng tượng của Teresa vào thời thơ ấu dao động giữa tình yêu lãng mạn và sự hy sinh vì đạo của bậc thánh nhân. Những người hâm mộ bà tìm đến khi vẻ đẹp của bà đến thời kỳ rực rỡ nhất; bà phải lòng một trong những người đó; cha gửi bà vào một nữ tu viện. Tại đó, bà mắc phải chứng động kinh, và những trận động kinh này khiến bà kiệt sức. Cha bà đưa bà ra khỏi nữ tu viện và gửi bà tới sống với chị gái cùng cha khác mẹ ở miền nông thôn. Trên đường tới đó, một người chú tặng cho bà một cuốn sách của Thánh Jerome. Những dòng chữ sinh động của nó mô tả những điều khủng khiếp của địa ngục và khắc họa những hành động yêu đương tán tỉnh như từng bước trong hành trình tới sự đày đọa vĩnh viễn dưới địa ngục. Teresa đã đọc trong trạng thái bồn chồn không yên. Năm 1534, bà trở về Avila, và tại đó gia nhập Nữ Tu viện Hiện thân dòng Carmel (Carmelite Convent of the Incarnation).
Trong một thời gian, bà đã hạnh phúc với những thủ tục lặp đi lặp lại, khiến lòng người nguôi ngoai, gồm những buổi thánh lễ, những lời cầu nguyện tập thể, và những buổi xưng tội thanh tẩy. Những tưởng tượng lãng mạn của bà được chuyển thành những lần xuất thần mang tính tôn giáo; khi bà nhận Ban Phước, bà cảm nhận bánh thánh như Christ đang thực sự ở trên đầu lưỡi, và rồi vào trong huyết quản của mình.
Khi những cảm nhận mang tính tôn giáo của bà ngày càng mãnh liệt, bà ngày càng cảm thấy nhức nhối trước kỷ cương lỏng lẻo của nữ tu viện. Các nữ tu sống không phải trong những gian phòng nhỏ của tu sĩ mà trong những căn phòng thoải mái, họ ăn uống thoải mái bất chấp kỳ nhịn ăn hằng tuần, họ trang sức bằng các vòng cổ, vòng tay, và nhẫn; họ tiếp khách viếng thăm trong phòng khách riêng và tận hưởng những kỳ nghỉ dài ngày bên ngoài những bức tường của nữ tu viện.
Bệnh động kinh của Teresa vẫn tiếp diễn, và trầm trọng hơn khi xuất hiện những con tê liệt ngắn nhưng đau đớn, và cuối cùng giam chân bà trên giường. Bà dứt khoát từ chối tất cả những phương pháp chữa trị bằng y học và hoàn toàn chỉ dựa vào cầu nguyện. Trong suốt 3 năm, bà chịu đựng giày vò và cầu nguyện. Thế rồi, một buổi sáng năm 1540, bà tỉnh dậy và thấy mình không còn bị tê liệt nữa. Bà đứng đậy và đi bộ, và hằng ngày tham gia một cách tích cực hơn vào những công việc điều hành của nữ tu viện. Sự hồi phục của bà được ca tụng như một phép mầu, và bà tin rằng đó là một phép mầu. Bà vẫn tiếp tục nhìn thấy những ảo cảnh, nhưng giờ đây chúng biểu hiện qua những trạng thái xuất thần mang tính tôn giáo. Trong một lần xuất thần như vậy, bà dường như cảm thấy “một thiên thần quá đôi đẹp đẽ đâm một mũi tên bằng vàng”, đầu bọc lửa, “xuyên qua trái tim tôi nhiều lần, để rồi nó chạm tới ruột gan tôi. Quá chân thực, nỗi đau ấy, đến nỗi tôi buộc phải rên xiết, nhưng nó cũng quá ngọt ngào đến nỗi tôi không muốn được thoát ra khỏi nó. Không niềm hạnh phúc nào của cuộc đời có thể đem lại cảm giác mãn nguyện được như thế. Khi vị thiên thần ấy rút lại mũi tên, Ngài để lại tôi, toàn thân đang cháy bỏng với một tình yêu vĩ đại của Chúa Trời”. Đoạn văn này và các đoạn khác trong những ghi chép của bà là các dữ liệu phù hợp cho các diễn giải phân tâm học, nhưng không ai có thể nghi ngờ sự chân thành cao độ của vị thánh này. Bà thực sự tin rằng mình đã nhìn thấy Chúa Trời, và rằng, trong những ảo cảnh ấy, những vấn đề bí hiểm nhất trở nên rõ ràng đối với bà.
Với lòng tin được củng cố bởi những ảo cảnh này, Teresa, vào năm thứ 58 của cuộc đời, đã quyết định cải cách hội nữ tu dòng Carmel. Bà tổ chức ra một nữ tu viện mới, và chuyển tới nữ tu viện này những nữ tu và tín đồ mới nào chấp nhận một lối sống nghèo khổ tuyệt đối. Các tu sĩ dòng Carmel gốc đã mặc những bộ quần áo sám hối tồi tàn, luôn đi chân trần, đã ăn uống thanh đạm và thường xuyên nhịn ăn. Teresa yêu cầu những tu sĩ dòng Carmel Chân trần của mình tuân theo những nguyên tắc gần giống, không phải để xem những nguyên tắc ấy là mục tiêu, mà như một biểu tượng của sự khiêm nhường và từ chối thế giới đầy cám dỗ này. Cả nghìn chướng ngại được dựng lên; người dân Avila phản đối kế hoạch ấy, xem nó như đang đe dọa chấm dứt tất cả những sự liên lạc giữa các nữ tu và người thân của họ.
Trưởng giáo phận từ chối cho phép thực hiện cuộc thử nghiệm ấy. Teresa đã thỉnh cầu Giáo hoàng Pius V và giành được sự chấp thuận của ông. Bà tìm được 4 nữ tu tham gia với mình, và nữ tu viện Thánh Joseph mới đã được chính thức tôn phong vào năm 1562 trên một con phố hẹp ở Avila. Các nữ tu ấy đi dép bện bằng thừng, ngủ trên rơm, không ăn thịt, và nghiêm túc chỉ ở bên trong nhà họ.
Cách quản lý của Teresa đầy sự trìu mến, vui tươi, và cũng kiên quyết. Nữ tu viện ấy khép kín, không tiếp xúc với thế tục; các khung cửa sổ được che kín bằng vải; nền nhà lát gạch đóng vai trò những chiếc giường, bàn, và ghế. Một chiếc đĩa xoay được đặt trên tường, bất kể ai mà các nữ tu không nhìn thấy mặt đặt thức ăn nào vào đó, chỗ thức ăn ấy đều được tiếp nhận một cách biết ơn, nhưng các nữ tu không được phép cầu xin. Họ xoay xở để duy trì cuộc sống bằng cách quay sợi và may vá, sản phẩm của họ được đặt bên ngoài cổng tu viện; bất cứ người mua nào cũng có thể mua thứ anh ta thích và, đổi lại, để lại đó bất cứ thứ gì anh ta muốn. Bất chấp những khổ hạnh này, các thành viên mới vẫn đến; và một trong số họ là người phụ nữ xinh đẹp và được săn đón, tán tỉnh nhiều nhất ở Avila.
Trưởng tu viện dòng Carmel bị ấn tượng đến mức ông đề nghị Teresa lập những tu viện tương tự tại những nơi khác ở Tây Ban Nha. Năm 1567, cùng với một vài nữ tu, bà di chuyển trên một chiếc xe bò thô sơ, vượt qua hơn 112 km đường sá hiểm trở để tới Medina del Campo, lập ra ở đó một nữ tu viện dòng Carmel Chân trần. Nơi duy nhất khả dĩ cho bà lập tu viện là một tòa nhà bị bỏ hoang đã hư nát với những bức tường bở vụn và mái nhà dột, nhưng khi những người dân thị trấn nhìn thấy các nữ tu cố gắng sống trong ngôi nhà ấy, các thợ mộc và thợ lợp mái đã tới, không hề được yêu cầu và không được trả lương, để sủa chữa ngôi nhà và làm những đồ nội thất đơn giản.
Giữa những chuyến đi và những cực khổ, Teresa đã viết những cuốn sách hướng dẫn nổi tiếng về cách thờ phụng huyền bí. Trong một trong những cuốn sách này, bà hé lộ việc những bệnh tật của bà đã quay trở lại. “Cứ như thể nhiều dòng chảy căng phình đang chảy ào ạt, bên trong não tôi, qua một vách đứng; và rồi một lần nữa, khó có thể bị chìm giữa tiếng nước chảy, là tiếng những con chim đang ca hát. Tôi đã làm cho não mình mệt mỏi và khiến những cơn đau đầu trở nên tồi tệ hơn”. Những cơn động kinh của bà trở lại, và dạ dày của bà cảm thấy nó khó có thể giữ lại được thức ăn. Dẫu vậy, bà vẫn đi, trong cơn đau đớn, từ nữ tu viện này sang nữ tu viện khác, những tu viện mà bà đã lập ra, kiểm tra, cải thiện, và truyền cảm hứng. Ở Malaga, bà gặp phải một cơn động kinh khiến bà tê liệt; bà hồi phục, đi tới Toledo, và gặp phải một cơn co giật nữa; một lần nữa hồi phục, bà tiếp tục tới Segovia, Valladolid, và Burgo cho tới Alba de Tormes. Tại đó, một con xuất huyết phối buộc bà phải dừng lại. Bà vui lòng chấp nhận cái chết của mình, với niềm tin rằng bà sẽ rời bỏ một thế giới của đau đớn và xấu xa để đến với tình bằng hữu vĩnh cửu của Christ.
Trong khi đó, một vị thánh nổi tiếng hơn đã ra khỏi Tây Ban Nha để cải cách Giáo hội và khiến thế giới lay động.
IGNATIUS LOYOLA
Ông sinh ra trong lâu đài Loyola ở tỉnh Guipuzcoa của xứ Basque vào năm 1991. Ông được nuôi dạy để trở thành một người lính và không thể hiện bất cứ sự quan tâm hay hứng thú nào đối với tôn giáo. Những gì ông đọc gần như hoàn toàn bị giới hạn trong các câu chuyện về tinh thần hiệp sĩ. Ông phải lòng hoàng hậu mới của Tây Ban Nha, Germaine de Foix; ông chọn bà làm “Bà hoàng trái tim”* của mình và mơ mộng về việc giành được một chiếc khăn tay đăng ten từ tay bà nhờ chiến thắng trong một giải đấu.
Trong tự truyện của mình, ông thú nhận rằng ông đã có những mối tình không được đẹp đẽ, cao thượng đến vậy, như một cách giải khuây thường thấy trong cuộc đời một người lính. Khi người Pháp tấn công Pamplona, ông đã hăng hái chiến đấu để bảo vệ nó; ông bị một vết thương nghiêm trọng ở chân phải, và khả năng phẫu thuật kém cỏi đã khiến cái chân đó mãi mãi ngắn hơn chân còn lại. Trong thời gian dài dưỡng thương trong lâu đài của gia đình, ông yêu cầu được đọc sách; những cuốn sách khả dĩ cho ông đọc lúc đó là Cuộc đời của Christ (Life of Christ) và Flos Sanctorum, nhắc lại và tô vẽ cho những khổ đau, đày đọa của các vị thánh. Ông quyết tâm phải sánh ngang với họ về lòng dũng cảm, ngay khi chân lành lại, ông sẽ dẫn một đội quân Cơ Đốc giáo chống lại người Hồi giáo. Ở ông, giống như ở Thánh Dominic, sự mãnh liệt của niềm tin người Tây Ban Nha khiến tôn giáo không phải là sự mộ đạo trong yên lặng, mà là sự toàn tâm dâng hiến trong một cuộc thánh chiến.
Ông đã đọc được rằng Chén Thánh từng được giấu trong lâu đài Montserrat ở tỉnh Barcelona. Tại đó, theo huyền thoại nổi tiếng nhất, Amadis đã cầu nguyện suốt một đêm trước một bức tranh Đức mẹ Đồng trinh để chuẩn bị cho việc được phong tước hiệp sĩ. Ngay khi đã có thể đi xa, Ignatius cưỡi một con la và bắt đầu hành trình tới đền thiêng ở nơi xa xôi ấy. Tới Montserrat, ông thanh tẩy linh hồn mình bằng 3 ngày xưng tội và ăn năn, trao quần áo đắt tiền của mình cho một người ăn xin, và mặc một chiếc áo dài bằng vải thô của người hành hương.
Ông trải qua đêm 24ngày 25 tháng Ba, năm 1522,một mình, như người ta kể lại, trong nhà nguyện của một tu viện dòng Benedict, quỳ hoặc đứng trước án thờ của Đức Mẹ. Ông thề sẽ vĩnh viễn sống trong nghèo khổ và trinh bạch. Sáng hôm sau, ông nhận lễ Tiệc Thánh, trao con la của mình cho các tu sĩ, và khập khiễng lên đường đi về Jerusalem.
Ông đi thuyền từ Barcelona vào tháng Hai năm 1523. Ông lại Rome trong 2 ngày, và chạy thoát khỏi nó trước khi tinh thần đa thần của nó có thể khiến ông không giữ được sự trung trinh của mình. Ngày 14 tháng Bảy, ông lên một con thuyền đi từ Venice tới Jaffa. Ông gặp phải rất nhiều tai họa trước khi tới được Palestine, nhưng những viên kiến đã chống đỡ cho ông về mặt tinh thần. Chính Jerusalem cũng là một khổ nạn: những người Turk, khi ấy kiểm soát thành phố này, cho phép các khách viếng thăm Cơ Đốc giáo vào thành, nhưng không được kết nạp ai vào Giáo hội, trưởng giáo phận, người theo dòng Thánh Francis và được giáo hoàng giao nhiệm vụ giữ gìn sự yên bình cho vùng, đã yêu cầu vị thánh của chúng ta trở về châu Âu. Vào tháng Ba, năm 1524, ông trở lại Barcelona.
Có lẽ giờ đây ông đã hiểu rằng, mặc dù ông hoàn toàn làm chủ cơ thể mình, ông chỉ là nô lệ của những tưởng tượng của mình. Ông quyết tâm mài giũa tâm trí mình bằng giáo dục. Dù lúc này đã 33 tuổi, ông vẫn tham gia cùng các nam sinh trong việc học tiếng Latin. Nhưng mong muốn được giảng dạy vẫn thường mạnh hơn ý nguyện được học tập. Không lâu sau, Ignatius, cái tên đầy tính sách vở mà người ta dùng để gọi ông, bắt đầu thuyết giảng cho một cộng đồng những phụ nữ yêu kiều mà ngoan đạo. Những tình nhân của họ lên án ông như một kẻ giành giật phụ nữ của người khác và đánh đập ông một cách tàn bạo.
Thất vọng với Tây Ban Nha, ông lên đường tới Paris, luôn đi bộ và mặc bộ quần áo hành hương, nhưng giờ đây ông còn lùa theo một con cừu thô đầy sách trên lưng. Ở Paris, ông sống trong nhà tế bền và đứng trên phố cầu xin thức ăn và bố thí để có học phí. Ông vào trường Đại học Montaigue, nơi khuôn mặt tái nhợt và hốc hác, cơ thể thiếu ăn, bộ râu không được chăm sóc, và quần áo cũ kỹ của ông biến ông thành một điểm thu hút sự chú ý của những cặp mắt lãnh đạm và vô tình, nhưng ông theo đuổi những mục đích của mình với sự mãnh liệt, toàn tâm toàn ý, đến mức một số sinh viên bắt đầu kính ngưỡng ông như một vị thánh. Dưới sự hướng dẫn của ông, họ đã tham gia những hoạt động tâm linh bao gồm việc cầu nguyện, sám hối, và suy ngẫm. Năm 1529, ông chuyển tới Đại học Thánh Barbe, và ở đó, ông cũng thu nạp được các môn đồ. Hai người bạn ở cùng phòng với ông, theo hai cách khác nhau, đã dần tin vào tư cách thiêng thánh của ông. Pierre Favre - tức Peter Faber - đã phải hứng chịu nhiều đau khổ từ những nỗi lo sợ có thực hoặc mê tín, và dưới sự ảnh hưởng của những nỗi lo sợ ấy, ông đã thề mãi mãi trinh bạch. Người bạn cùng phòng còn lại, Francis Xavier, đến từ Pamplona, nơi Loyola đã từng đi lính. Ông thuộc một dòng dõi lâu đời gồm nhiều tổ tiên xuất chúng; ông đẹp trai, giàu có, kiêu hãnh, một gã phóng đãng hiểu biết về các quán rượu ở Paris và những cô gái của các quán rượu ấy. Nhưng ông thông minh trong việc học; ông đã có một bằng thạc sĩ từ trước đó, và khi ấy đang nhắm tới một bằng tiến sĩ. Một ngày, ông nhìn thấy một người đàn ông với khuôn mặt mang những nốt sưng của bệnh giang mai, trải nghiệm này khiến ông khựng lại trong giây lát. Một lần, khi Francis đang giải thích chi tiết tham vọng được tỏa sáng trên thế giới của ông, Ignatius đã trích một câu trong Phúc Âm để nói với ông: “Một người sẽ được gì nếu anh ta giành được cả thế giới và đánh mất linh hồn của mình?” Xavier không thể nào quên câu hỏi đó. Ông bắt đầu tham gia cùng Loyola và Faber trong những hoạt động tu tập tâm linh.
Họ buộc chính mình sống trong khổ hạnh, nhịn ăn, ngủ mà chỉ mặc những chiếc áo mỏng và nằm trên sàn của một căn phòng không được sưởi, đi chân trần và gần như không mặc gì giữa trời tuyết để tôi luyện cơ thể, và cũng để khuất phục nó. Ignatius đóng khuôn những hoạt động tu tập này trong một hình thức tu tập cổ xưa của dòng Thánh Benedict, nhưng đổ vào cái khuôn đó sự nhiệt tình về cảm giác và trí tưởng tượng, thứ đã khiến cuốn sách nhỏ của ông trở thành một thế lực tạo ra thay đổi trong lịch sử hiện đại.
Lời kêu gọi suốt đời toàn tâm cho tôn giáo của họ đã được đáp lại bởi 9 sinh viên ở Paris, những người sẵn sàng chấp nhận nó. Ông đề xuất rằng khi thời cơ đến, họ sẽ cùng nhau đi tới Palestine và tại đó họ sẽ sống một cuộc đời giống cuộc đời của Christ hết mức có thể. Ngày 15 tháng Tám, năm 1534, Loyola, Faber, Xavier, và 7 người khác, trong một nhà nguyện nhỏ ở Montmartre, đã thề nguyện suốt đời trinh bạch và sống trong nghèo khổ, và thề rằng chính họ, sau 2 năm học hỏi sâu hơn, sẽ lên đường và sống ở Đất Thánh. Vào mùa đông năm 1536-1537, họ đi bộ xuyên qua Pháp, vượt qua dãy Alps, và xuyên qua Italy để tới Venice, nơi họ hy vọng sẽ tìm được đường tới Jaffa. Nhưng Venice khi ấy đang trong chiến tranh với người Turk; chuyến đi ấy là bất khả thi. Loyola và các môn đồ của mình nhất trí rằng nếu, sau khi chờ đợi một năm, đường tới Palestine vẫn cứ đóng lại với họ, thì họ sẽ hiến dâng bản thân cho giáo hoàng để thực hiện bất cứ phụng vụ nào mà giáo hoàng giao cho họ. Faber xin được một quyết định cho phép để tất cả bọn họ được phong làm linh mục. Vào mùa thu năm 1537, Loyola, Faber, và Laynez lên đường từ Venice tới Rome để xin giáo hoàng chấp thuận kế hoạch của họ. Họ đi bộ trên suốt quãng đường, xin thức ăn, và sống chủ yếu chỉ bằng bánh mì và nước. Nhưng họ vui vẻ hát suốt đường đi, cứ như thể họ biết rằng từ nhóm nhỏ của họ, một tổ chức cực kỳ thành công và đầy sức ảnh hưởng sẽ ra đời và phát triển.
Họ được đón tiếp bởi Giáo hoàng Paul III, bị khuyên ngăn không nên đến Palestine, và rồi tái tổ chức thành Đoàn Jesus (Compania de Jesus), tức những binh lính nhập ngũ suốt đời trong một cuộc chiến chống lại sự bất tín hay hoài nghi và tất cả những thế lực nhắm tới sự tan rã của Giáo hội. Khi các tân binh được tiếp nhận vào Đoàn Jesus, việc định hình các nguyên tắc và luật lệ của nó trở nên cấp thiết. Nhiệm vụ phục tùng được bổ sung vào hai nhiệm vụ sống trinh bạch và sống trong nghèo khổ; họ sẽ phải phục tùng vị “trưởng tu”* mà họ đã chọn ra, và sự phục tùng mà họ dành cho vị trưởng tu viện này chỉ thua sự phục tùng họ dành cho giáo hoàng.
Một lời thề thứ tư được thực hiện để “phục vụ Giáo hoàng Rome như giáo chức đại diện cho Chúa Trời trên trần thế” và “để thi hành ngay lập tức, mà không hề chần chừ hay xin miễn thực hiện, tất cả những gì mà giáo hoàng đương nhiệm hoặc người kế vị ông có thể sẽ chỉ thị cho họ, vì lợi ích của các linh hồn hoặc để truyền bá đức tin Công giáo” ở bất cứ đâu trên thế giới. Năm 1539, Loyola xin Hồng y Giáo chủ Contarini đệ trình các điều khoản tổ chức này lên Giáo hoàng Paul III. Giáo hoàng đã vượt qua được mọi sự phản đối và, bằng một sắc lệnh vào ngày 27 tháng Chín, năm 1540, đã chính thức lập ra tổ chức mà sắc lệnh đó gọi là Dòng Jesus (Societas Jesus)*.
Ngày 17 tháng Tư, năm 1541, Ignatius được bầu làm trưởng tu của tổ chức mới đó. Trong vài ngày sau đó, ông rửa bát đĩa và thực hiện những nhiệm vụ khiêm nhường nhất. Từ năm 1547 đến năm 1552, ông đã soạn ra Constitutions, văn bản mà, với một số sửa đổi nhỏ, chính là luật lệ của các giáo sĩ Dòng Tên ngày nay. Từ căn phòng nhỏ, tuềnh toàng của mình, bằng kỹ năng tuyệt vời và thẩm quyền tối cao, ông đã lãnh đạo những phong trào của đội quân nhỏ của mình trên khắp các miền châu Âu và ở các miền khác trên thế giới. Nhiệm vụ lãnh đạo Dòng Jesus đang ngày một bành trướng, thiết lập và quản lý hai đại học cùng một vài quỹ từ thiện khác, thực sự là quá mức đối với sức chịu đựng về tinh thần của ông khi ông già đi, và dù vẫn nhân từ với những người yếu ớt, ông trở nên khắc nghiệt với những cấp dưới thân cận. Ông nghiêm khắc nhất với chính mình. Ông đã ăn nhiều bữa với chỉ một nắm hạt, một mẩu bánh mì, và một cốc nước. Khi ông qua đời (năm 1556), nhiều người Rome cảm thấy rằng một luồng gió sắc lạnh đã ngừng thổi, và một số người đi theo ông có cảm xúc lẫn lộn, vừa nhẹ nhõm vừa đau buồn. Người ta phải mất một thời gian dài sau đó mới có thể nhận ra rằng người Tây Ban Nha bất khuất này là một trong những người đàn ông có sức ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử hiện đại.
Đến khi ông mất, cả trăm trường Dòng Tên đã được lập ra. Thông qua giáo dục, ngoại giao, và thành tâm thờ phụng, thông qua nhiệt tình được định hướng bởi kỷ luật, thông qua sự hòa hợp giữa mục đích và khả năng. Thông qua những biện pháp đa dạng và tài tình, các giáo sĩ Dòng Tên vào năm 1536 đã đẩy lùi được trào lưu Kháng cách và thu lại được phần lớn đất Đức, hầu như toàn bộ Hungary và Bohemia, và toàn bộ vùng Ba Lan Cơ Đốc giáo về với Giáo hội. Hiếm có khi nào một nhóm nhỏ như vậy lại đạt được nhiều thành tựu một cách nhanh chóng đến thế. Năm này qua năm khác, uy tín và sự ảnh hưởng của nó ngày càng lớn, cho đến khi, trong khoảng 20 năm tính từ lúc nó chính thức được thành lập, nó được công nhận là sản phẩm xuất sắc nhất của Cải cách Công giáo.
Khi, cuối cùng, Giáo hội cũng dám triệu tập một hội nghị gồm đủ các thành phần để dẹp yên xung đột giáo thuyết và chữa lành các vết thương của nó, các giáo hoàng đã giao phó việc bảo vệ thẩm quyền đang bị thách thức của chính họ và liên tục bảo tồn tôn giáo cổ xưa này vào tay chỉ một vài giáo sĩ Dòng Tên - vào học vấn, lòng trung thành, sự khôn ngoan, sự tháo vát và khả năng hùng biện của họ.
HỘI NGHỊ TRENT (1545-1563)
Cả nghìn tiếng kêu, rất lâu trước Luther, đã kêu gọi một hội nghị để cải cách Giáo hội. Luther đã cầu xin từ giáo hoàng cho tới một hội nghị gồm đủ các thành phần, Charles V đã yêu cầu có một hội nghị như vậy với hy vọng sẽ rũ bỏ được các vấn đề Kháng cách mà ông ta đang gặp phải, và có lẽ rũ bỏ cả trách nhiệm chấn chỉnh Clement VII. Vị giáo hoàng đang có quá nhiều phiền nhiễu này có thể tìm được cả trăm lý do để trì hoãn việc triệu tập một hội nghị, cho đến khi ông ta nằm ngoài tầm ảnh hưởng của nó. Paul III có tất cả những nỗi lo sợ mà Clement có, nhưng dũng cảm hơn.
Năm 1536, ông tuyên bố thành lập một hội nghị đủ thành phần ở Mantua vào ngày 23 tháng Năm, năm 1537, và ông mời những người Kháng cách tham dự. Ông mặc định rằng tất cả những người tham dự sẽ chấp nhận các kết luận của hội nghị đó; nhưng những người Kháng cách, những người sẽ chỉ chiếm thiểu số ở đó, khó có thể chấp nhận một bổn phận như vậy. Luther khuyên mọi người không nên tham dự hội nghị, và hội nghị Kháng cách ở Schmalkalden đã gửi trả thư mời của giáo hoàng mà không mở nó ra. Sau nhiều cuộc thương lượng và trì hoãn, Giáo hoàng Paul đã đồng ý cho hội nghị nhóm họp ở Trent, dưới chân dãy Alps vào ngày 1 tháng Mười một, năm 1542. Charles V, với hy vọng thuyết phục được những người Kháng cách tham dự, đã yêu cầu trì hoãn hội nghị, và chỉ đến ngày 13 tháng Mười hai, năm 1545, “Hội nghị Giáo hội Cơ Đốc giáo toàn thế giới lần thứ Mười Chín” mới bắt đầu các phiên họp chính thức của nó.
4 Hồng Giáo chủ, 4 tổng giám mục, 12 giám mục, 5 trưởng tu của các tổ chức tu sĩ, một số trưởng tu viện, và một vài nhà giáo thuyết là thành phần hội nghị này. Trong khi ở các Hội nghị Constance và Basel, các linh mục, quân vương, và một số dân thường, cũng như các giám mục, có thể bỏ phiếu, ở hội nghị này chỉ các Hồng y Giáo chủ, giám mục, trưởng tu, và trưởng tu viện mới được bỏ phiếu, và các lá phiếu được quyết định bởi cá nhân; vì thế các giám mục người Ý - đa số họ mắc nợ ngôi giáo hoàng - đã áp đảo hội nghị bằng thế đa số của họ. Các “Giáo đoàn” ngồi ở Rome dưới sự giám sát của giáo hoàng đã chuẩn bị sẵn các vấn đề có thể được đệ trình để tranh luận. Do Hội nghị tuyên bố rằng nó được dẫn dắt bởi Thánh Linh, một đại biểu người Pháp đã châm chọc rằng người thứ ba trong Ba Ngôi vẫn đều đặn đến Trent trong chiếc túi của người đưa tin đến từ Rome.
Vào tháng Năm, năm 1546, Paul phái hai tu sĩ Dòng Tên, Laynez và Salmeron, đi giúp đỡ các giáo sĩ đại diện cho giáo hoàng về các vấn đề giáo thuyết và biện hộ cho giáo hoàng; sau đó Peter Canisius và Claude Le Jay gia nhập với họ. Sự uyên bác khó ai bì kịp của các tu sĩ Dòng Tên ấy đã cho họ sức ảnh hưởng đặc biệt quan trọng trong các cuộc tranh luận, và tinh thần chính thống giáo cứng cỏi của họ đã dẫn Hội nghị tới việc tuyên bố chiến tranh chống lại các tư tưởng Cải cách thay vì tìm kiếm sự thống nhất và hòa giải. Rõ ràng, nhận định của đa số là: không một sự nhượng bộ nào đối với những người Kháng cách có thể chữa lành vết thương ly giáo; rằng những người Kháng cách khi ấy đã quá đông đảo và đa dạng đến mức không một sự nhượng bộ nào có thể thỏa mãn người này mà không làm người khác phật ý; rằng bất cứ sự thay đổi đáng kể nào trong những giáo lý truyền thống sẽ làm suy yếu toàn bộ hệ thống và sự ổn định về giáo thuyết của Công giáo; rằng việc chấp nhận quyền lực của tu sĩ trong thế giới phàm nhân sẽ làm suy yếu thẩm quyền về luân lý của giới tăng lữ và của Giáo hội; rằng thẩm quyền là thứ không thể thiếu để đạt được trật tự về xã hội; và rằng một hệ giáo thuyết được sáng lập một cách thẳng thắn trên nền tảng đức tin sẽ làm chính nó mất đi sức mạnh bằng việc lệ thuộc vào sự thất thường của lý lẽ cá nhân.
Hệ quả, phiên họp thứ tư của Hội nghị (tháng Tư, năm 1546) tái khẳng định mọi điều khoản trong Tín điều Nicene, tuyên bố thẩm quyền ngang nhau cho truyền thống của Giáo hội và Kinh Thánh, cho Giáo hội độc quyền giải nghĩa và giải thích Kinh Thánh, và tuyên bố bản Vulgate bằng tiếng Latin của Jerome là bản dịch và văn bản chuẩn mực. Thomas Aquinas được xem là người có toàn quyền giải nghĩa giáo thuyết chính thống giáo, và tác phẩm Summa theologica được đặt trên một án thờ chỉ ngay dưới Kinh Thánh và các Giáo Dụ*. Công giáo, với tư cách một tôn giáo có thẩm quyền không thể phủ nhận, trên thực tế ra đời từ Hội nghị Trent, và biểu hiện ở dạng một phản hồi không hề khoan nhượng trước sự thách thức của tư tưởng Kháng cách, chủ nghĩa duy lý, và sự phán xét riêng tư. “Bản nhất trí giữa các quý ông” của Giáo hội Phục hưng với tầng lớp trí thức đã đến hồi kết.
Phiên họp thứ mười ba của Hội nghị (tháng Mười, năm 1551) tái khẳng định giáo thuyết Công giáo về sự hóa thể: linh mục, khi dâng bánh mì và rượu của Tiệc Thánh, thực chất đang biến mỗi thứnày thành thân thể và máu của Christ. Vì thế, dường như việc lắng nghe những người Kháng cách chẳng đem lại lợi ích nào, nhưng Charles khăng khăng nhấn mạnh phải làm vậy. Công tước Wurtemberg, Tuyển hầu tước Maurice của Saxony, và một số thị trấn miền Nam đất Đức đã chọn các thành viên cho một đoàn đại biểu Kháng cách, và Melanchthon đã viết ra một tuyên ngôn của giáo thuyết phái Luther để đệ trình lên Hội nghị. Ngày 24 tháng Một, năm 1552, các đại biểu Kháng cách diễn thuyết trước hội nghị ấy. Họ đề xuất rằng các nghị định của các Hội nghị Constance và Basel về thẩm quyền cao hơn cả giáo hoàng của các hội nghị này phải được Công nhận, rằng các thành viên của hội nghị hiện nay phải được giải thoát khỏi những lời tuyên thệ trung thành với giáo hoàng (khi ấy là Julius III); rằng tất cả các quyết định mà Hội nghị đã đạt được cho đến giờ phút này phải bị hủy bỏ; và rằng những cuộc bàn luận mới về vấn đề này phải được tiến hành bởi một hội nghị lớn hơn, trong đó các đại biểu Kháng cách phải có sự góp mặt đáng kể, đủ để thực sự đại diện cho tất cả những người Kháng cách. Julius III đã cấm cân nhắc các đề xuất này.
Các diễn biến không ngờ tới về quân sự đã gây những ảnh hưởng quan trọng lên tôn giáo. Tháng Một, năm 1552, vua của Pháp đã ký một hiệp ước liên minh với những người Kháng cách ở Đức; vào tháng Ba, Maurice của Saxony đã lãnh đạo một đội quân Kháng cách chống lại Innsbruck, Charles V tháo chạy, và không một lực lượng nào có thể ngăn Maurice thâu tóm Trent và nuốt chửng cả Hội nghị nếu ông muốn. Các giám mục lần lượt biến mất, và vào ngày 28 tháng Tư, Hội nghị Trent chính thức tạm ngừng. Theo Hiệp ước Passau (ngày 2 tháng Tám) Vua Ferdinand của Đức thừa nhận quyền tự do tôn giáo của những người Kháng cách, những người đã chiến thắng về mặt quân sự. Họ không còn chút hứng thú hay quan tâm nào với Hội nghị.
Sau nhiều trì hoãn khác nhau, phiên họp thứ mười bảy của Hội nghị đã diễn ra vào ngày 18 tháng Một, năm 1562, Theo yêu cầu của Ferdinand, giấy thông hành an toàn sẽ được gửi cho bất cứ tín đồ Kháng cách nào quan tâm đến việc tham dự Hội nghị; không một ai tới. Cuối cùng, thẩm quyền của giáo hoàng không bị làm giảm đi mà còn được mở rộng, và mọi giám mục được yêu cầu tuyên thệ hoàn toàn tuân phục giáo hoàng. Khi vấn đề cơ bản này đã được giải quyết ổn thỏa, Hội đồng nhanh chóng giải quyết các vấn đề còn lại của nó. Việc hôn nhân của tu sĩ bị cấm, và các hình phạt nghiêm khắc được ban hành để cải thiện đạo đức và kỷ cương trong giới tăng lữ. Các quyền lực của Giáo triều Rome bị hạn chế. Các luật lệ được bãi bỏ nhằm mục đích cải cách âm nhạc và nghệ thuật Giáo hội; những hình ảnh khỏa thân sẽ được che vừa đủ để tránh kích thích những tưởng tượng mang tính nhục dục. Người ta biện hộ cho các tục sám hối, ân xá, và cầu khấn hay viện đến các vị thánh và điều chỉnh chúng sao cho tinh tế hơn.
Hội nghị thẳng thắn thừa nhận những hành vi lạm quyền dẫn đến cuộc nổi loạn của Luther; một sắc lệnh đã tuyên bố rằng: “Về việc ban lệnh ân xá… Hội nghị tuyên bố rằng tất cả những tội liên quan đến việc đó sẽ hoàn toàn bị hủy bỏ, như một nguồn con của sự ngược đãi ghê tởm giữa những tín đồ Cơ Đốc giáo”. Khi Giáo hoàng và hoàng đế đã nhất trí rằng Hội nghị giờ đây đã hoàn thành mọi nhiệm vụ và không còn hữu ích, cuối cùng nó cũng đượỢC giải tán vào ngày 4 tháng Mười hai năm 1563 bất chấp những bài diễn thuyết vui tươi của những đại biểu khi ấy đã phát chán. Cách xử lý của Giáo hội vẫn không thay đổi sau nhiều thế kỷ.
Cải cách Công giáo hay Cải cách “Kháng nghị” đã thành công ở những mục tiêu quan trọng nhất của nó. Người ta vẫn tiếp tục, ở các nước Công giáo và Kháng cách, nói dối và ăn trộm, dụ dỗ các trinh nữ và buôn bán chức tước, giết người và gây chiến tranh. Nhưng đạo đức của giới tăng lũ đã tốt hơn, và sự tự do hoang dã của Phục hưng kiểu Ý đã được thuần hóa về một mức vừa đủ phù hợp với những vỏ bọc giả dối của nhân loại.
Mại dâm, trước đó vốn là một ngành lớn ở Rome và Venice thời Phục hưng, giờ đây đã phải hoạt động lén lút; việc giữ bản thân trinh bạch trở thành một thứ mốt. Cá tính vui tươi của nước Ý thời Phục hưng đã phai nhạt; phụ nữ Ý đánh mất một phần sự quyến rũ và niềm phấn khởi vui tươi đến từ sự tự do của thời kỳ tiền Cải cách; một giá trị đạo đức có ý thức đã tạo ra một thời kỳ gần như mang tính thanh giáo trên đất Ý. Đường lối tu tập lánh đời trong tu viện đã hồi sinh.
Các cuộc cải cách trong giới tu sĩ có ảnh hưởng đáng kể và kéo dài. Mặc dù chế độ quân chủ kiểu giáo hoàng được tán dường như một chế độ chống lại chế độ quý tộc kiểu giám mục của các hội đồng và hội nghị, điều này thể hiện tinh thần của thời đại ấy, khi giới quý tộc ở mọi nơi, ngoại trừ ở Đức, đang đánh mất quyền lực về tay nhà vua. Các giáo hoàng giờ đây Có địa vị luân lý cao hơn các giám mục, và thứ kỷ cương cần thiết cho cải cách trong giới tu sĩ sẽ chịu ảnh hưởng từ một ngôi quyền lực tập trung hơn là một ngôi quyền lực đã bị phân tán. Các giáo hoàng chấm dứt chế độ gia đình trị và đã giải quyết những sự trì hoãn tốn kém và nạn mua chuộc, hối lộ trắng trợn của Giáo triều Rome.
Theo các nhà nghiên cứu không theo Công giáo, hệ thống quản lý hành chính của Giáo hội, đã trở thành một hình mẫu về tính hiệu quả và liêm chính. Buồng tối để xưng tội được đưa vào sử dụng (năm 1547) và rồi trở thành bắt buộc (năm 1614); linh mục không còn bị cám dỗ bởi vẻ đẹp của người xưng tội, mà thỉnh thoảng họ lại bắt gặp. Những kẻ rao bán lệnh ân xá đã biến mất. Thay vì rút lui trước sự lấn tới của phái Kháng cách và những suy nghĩ tự do, Giáo hội Công giáo đã bắt đầu chiếm lại được tâm trí của những người trẻ và lòng trung thành của những người có quyền lực.
Tinh thần của các tu sĩ Dòng Tên - tự tin, tích cực, giàu nhiệt huyết, và kỷ luật - đã trở thành tinh thần của Giáo hội có tính chiến đấu.