Để tiện cho bạn đọc tìm hiểu thêm về thân thế, sự nghiệp của vị anh hùng tuẫn tiết Nguyễn Tri Phương, Ban biên tập chúng tôi xin trích thêm bài “Nguyễn Tri Phương” đăng trên tạp chí Tri Tân, số 184 ra thứ 5 ngày 26 tháng 4 và 187 ngày 17 tháng 5 năm 1945 của nhà báo Tiên Đàm. Do bản gốc quá cũ có một số chữ đọc không rõ, mong cố tác giả Tiên Đàm và quý vị bạn đọc lượng thứ.
Đây là những tư liệu quý, được viết cách đây hơn nửa thế kỷ, có giá trị giúp các nhà nghiên cứu, quý vị bạn đọc tra cứu, đối chiếu, Ban biên tập chúng tôi cũng cảm thấy vinh hạnh khi có thể chuyển tải những tác phẩm, bài viết theo dòng thời gian đến tay quý vị độc giả. Sau đây là bài viết.
---❊ ❖ ❊---
Gần thành phố Hà Nội có gò Đống Đa. Trên gò có một ngôi đền nhỏ, cách 20 năm trước gọi là đền Trung liệt thờ 3 vị liệt sĩ: Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu và Đoàn Thọ. Về sau không biết kẻ nào vô ý thức đã dám đứng ra trùng tu đền rồi cải gọi là “Đền Trung lương”. Năm 1920 tôi có dịp cùng các bạn trẻ đến yết đền còn thấy trên vách đề bài thơ sau đây:
Núi Thái, lông hồng đọ với nhau
Một nền chính khí trơ mưa gió
Nợ với giang sơn đành phải giả
Lòng trung chỉ có lòng trung biết
Nước đau nào quản đến thân đau
Ba khối hùng tâm trọi bể dâu
Người mà sà hủy kể vào đâu
Đỗ Phủ ngày xưa khóc Vũ Hầu.
Tương truyền bài này của ông Phan Văn Ái, người làng Đồng tỉnh (Bắc Ninh), đỗ Phó bảng, làm tham biện nha Kinh lược. Bài thơ ấy đã lột được hết tinh thần của ba liệt sĩ vì nước mà liều mình. Nay chép lên đây để biểu dương lòng trung nghĩa người xưa tức như phảng phất còn thấy chút anh hồn.
Về tiểu sử, ông Hoàng Diệu, ông Khuê Trai viết đã đăng Tri Tân số 182 nay xin lục đăng hành trạng ông Nguyễn Tri Phương, cũng là liệt sĩ chết theo thành Hà Nội.
Tiên Đàm32
---❊ ❖ ❊---
Nguyễn Tri Phương, tên cũ là Nguyễn Văn Chương, tự Hàm Trinh, hiệu Đường Xuyên. Ông là con một nhà làm ruộng ông Nguyễn Văn Đãng và bà Nguyễn Thị Thể, người làng Chí Long, tổng Chánh Lộc, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên. Ông sinh năm Canh Thân (1800) tại bản quán làng Chí Long, lúc nhỏ tính khí khác thường, ít nói mà hiếu học. Cha mẹ đón thầy cho học tập.
Đến năm 18 tuổi33 là năm Minh Mệnh nguyên niên (1820), vì nhà thanh bạch không đủ lực theo học cử nghiệp, phải xin vào làm thư lại ở bộ Hộ. Một ngày, vào yết kiến quan Thượng thư bộ ấy là Nguyễn Đăng Tuân. Quan thượng thấy ông ít tuổi mà dung mạo khôi ngô, nói năng chỉnh chu, lấy làm khen lắm, mới truyền cởi áo để ông xem tướng. Xem xong, ông bảo rằng: “Ta xem tướng nhiều người đều thua tướng con ta (con trai quan thượng đây là Nguyễn Đăng Giai, sau làm kinh lược Bắc kỳ, tức cụ thượng Giai) nhưng xem thầy trạng mạo và cốt cách hơn con ta nhiều lắm”. Từ đấy quan thượng Hộ rất thương yêu, bắt ở hầu để giúp việc tính toán về binh đinh và điền tịch; lại thấy ông viết chữ rất tốt, sai viết cả các phiến, sớ ở Bộ.
Ở Hộ bộ được ba năm, quan thượng thấy ông thông minh khác thường làm việc mẫn cán, bụng dạ lại khẳng khái, trong hàng lại điển ít ai bì kịp, mới làm sớ dâng lên đức Minh Mệnh xin trọng dụng. Vua Minh Mệnh truyền dẫn vào triều kiến. Vua thấy khen rằng: “Người này dung mạo hơn người, thật rõ không phụ nhời34 tiến cử của thầy thượng Hộ”, rồi truyền đem giấy mực sai ông làm một tờ sớ. Sớ xong dâng lên, vua khen rằng: “Dù bậc đại khoa cũng không hơn được”.
Năm Minh Mệnh thứ tư (1823), được bổ làm Biên tu ở Nội các. Năm Minh Mệnh thứ tám (1827), thăng Thị độc, năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), thăng Thị giảng học sĩ, Tham biện Nội các và năm thứ 12 (1831), thăng Hồng lô tự khanh.
Đức Minh Mệnh rất tin cẩn, sai ông qua Lữ Tống mua hàng, rủi phải giá khí cao, các quan ngự sử đàn hặc, tâu xin giáng ông xuống viên ngoại bộ Hộ. Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), lại được phục hàm Hồng lô tự khanh lĩnh Tham biện Nội các.
Năm thứ 15 (1834), được thực thụ Thị lang nhưng vẫn ở Nội các.
Một ngày kia, vua Minh Mệnh xuống các, dậy rằng: “Đạo khâm sai Gia Định bấy lâu nay không nghe đánh dẹp35 thế nào cả, vậy khanh hãy vào đó xem xét tình hình ra sao, rồi sớ về cho ta hay”. Ông vào Gia Định, chạy sớ về xin ở lại chỗ quân thứ để hiệp đồng dẹp giặc, vua Minh Mệnh ban khen.
Đến ngày hãm thành, ông xin quan Tiết chế quân vụ đại thần đem binh đi tiền đạo, một mình lên thành trước, quân binh theo sau, đánh phá, mở cửa thành cho quân của triều đình kéo ùa vào. Việc thành công, chạy sớ về kinh, Minh Mệnh đẹp lòng lắm, phán với triều đình rằng: “Nguyễn Văn Chương tuy làm quan văn, mà biết việc binh sự. Thân tiến sĩ tốt đăng thành36, đã mạnh lại có mưu, vậy thăng làm tham tri và ban cho một cái ngọc bội”.
Năm Minh Mệnh thứ 18 (1837), vua sai ông vào tra xét trong nội vụ. Ông không xét kỹ, vua Minh Mệnh quở trách, sai thượng thư bộ Hộ là Hà Duy Phiên cùng mấy ông ngự sử xét lại. Thấy ông Nguyễn Văn Chương xin trích [...]37 tây dương bố (vải trắng) [...]38, phát mãi kẻo lâu ngày mục đi, quan thượng Hộ nói: “Nguyên số vải này ngày trước ông qua Lữ Tống mua về, hoen ố nhiều lắm, nay lại xin phát mãi đi, thật chẳng khỏi điều quan ngại”. Ông Nguyễn Văn Chương to tiếng cãi lại rằng: “Đó là lỗi viên chủ thủ bất cẩn, nên sinh ra hoen ố, nay các ông trở lại hặc tôi! Sự sống, chết, họa phúc cũng còn có lịnh Thiên tử; các ông hiệp hiềm thì làm gì được tôi”.
Quan thượng Hộ tức giận, làm sớ tham dâng lên.
Vua Minh Mệnh phán rằng:
“Làm bầy tôi nhỏ mà lớn tiếng, mắng bầy tôi lớn thì đáng cách chức và giao cho bộ Hình định tội”.
Ông xin vào thỉnh tội. Vua phán hỏi:
“Như việc nhà người làm đáng tội gì?”.
Ông quỳ xuống đất lạy xin tội chết. Bộ Hình xét xong tự lên, chiếu theo luật, tội mắng đại thần thì phải bỏ tù.
Đức Minh Mệnh phán rằng:
“Tên này xét ra siêng năng và có công lao, ta tha tội tù cho nó, chỉ giáng xuống làm thư lại ở Nội vụ”.
Đến mùa đông năm ấy, lại cho khai phục hàm chủ sự sung chức Lang trung lĩnh hộ lý trong Nội vụ.
Năm Minh Mệnh thứ 19 (1838), thăng thị lang bộ Lễ sung Nội các, lại cho ăn lương hàm nhị phẩm.
Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) bổ vào tuần phủ Quảng Nghĩa (Quảng Nam, Quảng Nghĩa). Khi vào bái mạng, vua phán rằng:
“Trong tỉnh Quảng Nam có cửa bể Đà Nẵng nên đặt thêm đồn lũy và nhà đặt súng để phòng bị. Khanh vào đó, một quan tâm lo việc ấy trước, [...]39".
Vào đến nơi, ông xuống ngay Đà Nẵng, khám xét hình thế, dâng sớ tâu rằng: “Đà Nẵng quả là cửa bể xung yếu, nên đặt súng để phòng thủ”; rồi vẽ bản đồ làm thêm bao nhiêu đồn, bao nhiêu nơi trí súng, cước chú rõ ràng dâng về vua xem. Đức Minh Mệnh đều y theo hết.
Xong việc, được triệu về kinh thăng tham tri bộ Công.
Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), được bổ tổng đốc Hà An40. Lúc ấy giặc nổi lên ở Ba Xuyên, tỉnh An Giang. Quan tổng đốc Dương Văn Phong thua trận ở Sốc Trăng. Ông vào bái mạng ra đi, vua Thiệu Trị dụ rằng:
“Khanh là người ngay thẳng, siêng năng, nên trẫm sai đi là muốn để khanh lập công ở chỗ ấy, khanh nên báo công cho trẫm”.
---❊ ❖ ❊---
Nhân giời41 đang lúc nóng nực, nhà vua cho ông được nghỉ vài ba hôm rồi đi. Vào đến An Giang, ông hợp cùng chưởng vệ là Nguyễn Lương Nhàn đem binh tiễu giặc. Binh phân làm 3 đạo, đánh Trà Tân và Sốc Trăng. Giặc cự không nổi, bỏ chạy, để lại lương thảo, bị quân triều đình thiêu hủy hết.
Sớ dâng về, vua Thiệu Trị phán với đình thần rằng:
“Nguyễn Văn Chương thắng trận, thật không phụ bụng trẫm biết người mà dùng”.
Rồi thưởng một cái quân công bậc nhất. Lúc ấy trong tỉnh Hà Tiên có giặc, quan tỉnh chạy xin cầu viện. Ông sai Nguyễn Lương Nhàn đem quân đi đường bộ, còn mình thì thân dẫn quân theo sông Vĩnh Tế kéo thẳng đến Tượng sơn phá giặc. Dẹp xong, ông lại cùng Tán lý là Tôn Thất Nghị đánh Sốc Trăng, thừa lúc đêm, cướp trại giặc ở Lạc sách, được toàn thắng.
Dâng sớ về, vua Thiệu Trị ban khen và ban cho một đồng tiền vàng. Một ngày ngự triều, đức Thiệu Trị hỏi về việc giặc ở Trấn tây, ông Trương Đăng Quế tâu rằng:
“Nguyễn Văn Chương thanh thế to lắm, đánh hơn 20 trận đều thắng luôn, lấy đồn giặc hơn 10 chỗ, cướp lương thảo cấp cho dân, lại chia quân làm 4 mặt cùng đánh nên giặc thua chạy hết, chỗ Lạc hóa(?) nay đã trở nên yên ổn”.
Vua phán:
“Nguyễn Văn Chương phụng mệnh ra dẹp giặc, càng đánh càng thắng, lập được nhiều công lao”.
Và ban cho một bài thơ để úy lạo42, lại gia thăng tổng đốc Vĩnh Long, Vĩnh Tường, ban cho một cái bài bằng ngọc, một cái bài vàng, một đồng tiền vàng.
Năm sau, giặc ở Lạc hóa lại cùng người Xiêm vào đánh phá. Quan tỉnh Hà Tiên, Gia Định chạy sớ xin thêm súng cùng quân cứu viện để chống giặc. Ông Nguyễn Văn Chương dâng sớ, xin cho thêm binh thuyền đến tiếp ứng, vua ban khen.
Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842) giặc tan, bắt được tướng giặc là Nặc Ong Động(43). Nguyễn Văn Chương được ban một quả phẩm bằng vàng và một cái đồng hồ.
Năm Thiệu Trị thứ 4 (1844) bổ vào làm tổng đốc An Giang, ông dâng sớ xin vào lấy Trấn tây, đức Thiệu Trị xem sớ phê rằng:
“Việc gì làm cũng phải suy đi xét lại cho kỹ, không
nên gấp”.
Năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) nhân quân Xiêm thiết kế bắt cóc viên thuộc lại ở Tây Ninh, thị trưởng là Nguyễn Bá Hộ44, giam giữ trong quân lại phao tin có hòa thì mới tha. Quan tỉnh là Cao Hữu Dực45 làm sớ về triều.
Ông Nguyễn Văn Chương không nghe, làm sớ dâng lên xin khởi binh đi đánh rồi thừa thắng kéo thẳng đến Nam Vang, quân giặc tan vỡ.
Nhân có công to ấy, được thăng thụ Hiệp biện Đại học sĩ, sung Khâm sai quân thứ đại thần, ban cho quân công bậc nhất, một chiếc vòng ngọc, một đồng tiền và một cái kim khánh.
Đức Thiệu Trị xét việc Trấn tây, dụ các quan rằng:
“Nguyễn Văn Chương là người rất có đảm lược, mỗi khi giáp trận, đạn bắn như mưa, các tướng xin cất lọng xuống vì sợ giặc thấy mà bắn. Ông ta lại quở rằng: nếu sợ thì làm tướng làm gì, nên chế thêm cho ta 2 cái lọng nữa. Vì thế bụng quân hăng hái, chỉ một trận mà tan giặc”.
Năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), luận công ban cho ông một cái ngọc bội, một mặt kim tiền, một cái bài vàng có khắc: “An tây trí dũng tướng” và cho đem tướng sĩ về An Giang nghỉ ngơi. Tháng 5, đức Thiệu Trị có chỉ triệu ông về kinh và sai một viên nội các, một viên thị vệ ra tận cửa An Hòa mà nghênh tiếp các tướng có công đi chinh Tây khó nhọc.
Lúc ông vào bệ kiến, vua sai vời lên điện, thưởng cho một áo gấm thượng hạng, một cái quạt ngự có bài thơ rằng:
Giải y quốc sủng biên cương định
Tứ phiến hoàng phong hóa vũ huân
Thâm niệm tuyên lao hà dĩ đáp?
Đan thư vạn tải kỷ nguyên huân
Lược dịch:
Vua yêu ban áo, cõi bờ yên
Quạt rộng nhuần ơn khắp mọi miền
Nghĩ biết lấy chi đền khó nhọc?
Ghi công thẻ đỏ mãi muôn niên.
(Bản dịch của Hoa Bằng)
Hôm sau vưa ngự triều ở điện Cần chánh tuyên triệu ông lên điện, chính tay rót ban cho một chén ngự tửu và dụ rằng:
“Khâm sai đại thần Nguyễn Văn Chương ra gánh vác ở chỗ khổn ngoại, vỗ yên biên cảnh, phục được nước xa đánh dẹp được Trấn tây, thật là có tài gánh nặng ruổi xa. Nay ban cho một chén ngọc và một con lạc đà bằng vàng để ghi công”.
Lại phê cho ông lĩnh Công bộ thượng thư sung Cơ mật viện đại thần.
Năm sau, xét công lại tứ tước Tráng liệt bá và ban cho bài ngọc có khắc bốn chữ “Huân kỳ thạc phụ” sai đúc súng ghi tên gọi là Bảo đại định công đồng pháo và chép công vào bia nhà Võ miếu.
Tháng 9, vua Thiệu Trị thăng hà, đặt ông làm phụ chính đại thần. Đức Tự Đức mới nối ngôi, thì ông gặp phải tang cha, xin về đinh gian. Nhà vua dụ rằng:
“Nghe tin ông thân khanh mất trẫm lấy làm thương tiếc, nhưng trẫm mới lên ngôi, khanh thì làm phụ chính, không nên thiếu mặt ở triều. Vậy nay trẫm ban cho tiền kho 200 quan, gấm vóc, hàng, lụa, các hạng để lo tang sự cho ông thân khanh. Trẫm sẽ sai quan về tư tế, còn khanh cho phép được đoạt tình ở lại để yên lòng trẫm”.
Năm ấy, trong kinh đô và ngoài các tỉnh đều bị đại hạn, ông dâng sớ xin chịu tội.
Năm Tự Đức thứ 2 (1849) ở kinh thành và các tỉnh bị dịch chết nhiều lắm, ông cùng các ông Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản dâng sớ nói 6 điều như xin tha bớt hình ngục, hoãn việc binh thuế và chuẩn cấp cho nhân dân. Nhà vua đều y theo cả.
Năm Tự Đức thứ 3 (1850), vua Tự Đức phê cải tên cho ông là Nguyễn Tri Phương sung khâm sai tổng thống Nam kỳ quân vụ đại thần, kiêm lĩnh các tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Tường, An Giang, Hà Tiên. Lúc sắp đi, đức Tự Đức lại dặn ông vào đó phải làm việc hưng lợi trừ hại, tẩy sạch các điều lại tệ và vỗ yên dân. Ông vào đến nơi, dâng sớ về xin làm đồn điền cho dân được nhờ, đặt điếm canh cho yên dân, tha thuế đò, thuế chợ tất cả 13 khoản. Vua đều y cả. Nhân có công, ông được thăng 2 cấp.
Năm Tự Đức thứ 4 (1851), ông lại cùng ông Phan Thanh Giản dâng sớ tâu vua xin bớt sự chơi bời, siêng năng việc chính trị, chuộng điều tiết kiệm, bớt kẻ cận thần, phải cẩn thận dùng người, tỉnh giảm công việc cho nhân dân, thêm bổng hưởng cho quan lại, tất cả 8 việc. Vua Tự Đức phán rằng:
“Các bầy tôi trung ái với vua, biết có điều gì hay, khi thong thả, sẽ về tâu cùng vua”.
Nhân thế, ông xin về chiêm cận46. Vua lại phán rằng:
“Nam kỳ còn nhiều việc, khanh tự gắng lo liệu đã, chờ khi nào công việc xong, trẫm sẽ triệu về, cũng không muộn gì”.
Năm Tự Đức thứ 6 (1853), ông được thăng thụ Đông các đại học sĩ, nhưng ông xin từ, vì tự xét không có công trạng gì lớn. Vua không cho.
Lúc ấy thổ dân ở Cao Man về đầu, ngụ đồn Thông binh (thuộc tỉnh Vĩnh Tường) nhiều lắm. Quan Tuần phủ là Nguyễn Đình Tân dâng sớ tâu rằng:
“Thông binh liền ngay cõi giặc, là một nơi yếu hiểm, nay cho dân Cao Man ở nhiều e nó dòm ngó rồi sinh chuyện”.
Vua hỏi ý kiến ông, ông tâu rằng:
“Dân Cao Man cũng là thuộc quốc của mình, dân mình lên Cao Man thì không việc gì, bây giờ dân nó đến ở nhờ nước mình, mà mình lại ngăn không cho ở, như thế là bụng mình hẹp hòi lắm. Nghĩ nên cho nó ở để rõ rệt cái lòng rộng rãi của triều đình”.
Vua nghe theo.
Năm ấy xét ông ở ngoài đã lâu, nhiều công khó nhọc, thưởng cho một mặt kim khánh có khắc bốn chữ “liêm, bình, cần, cán”.
Lúc ấy, việc đồn điền trong Nam kỳ, các quan trong sáu tỉnh, có sớ chạy về nói là không tiện, đức Tự Đức phán hỏi ông phải xét lại. Ông làm sớ điều trần, có đoạn sau đây:
“…Xứ Nam kỳ đất liền với xứ Cao man, dân hay sớm ở tối tàn, nay trừ phi làm đồn điền để chiêu mộ lấy họ dạy việc khai khẩn thì những dân sẵn có ruộng nương làm ăn mới ở yên. Vả lại khai khẩn đất hoang là cốt mưu lợi để nuôi dưỡng dân cư nữa. Hiện nay, trong Nam kỳ ở sở đồn điền đã lập được 21 cơ47, hơn 100 làng. Sự chia ra từng phe48 ở mà canh khẩn, kết liên lại thành những làng xóm, dân sự sẽ vui mà an cư lạc nghiệp.
Việc đồn điền này rất lợi cho dân. Duy chỉ có bọn đàn anh khó nhọc là không bằng lòng, hay phao tin đồn nhảm. Các quan địa phương nghe nhời kẻ dưới mà tâu man. Xin bệ hạ xuống dụ cho các quan trong sáu tỉnh: tổng đốc, tuần phủ, bố chính, án sát, tri phủ, tri huyện phải thời thường qua lại xem xét tình hình, hễ kẻ nào lười nhác thì trừng phạt. Làm như vậy không đứa nào dám ăn chơi, mà bỏ trễ công việc làm ruộng, trộm cướp sẽ bớt đi, địa lợi sẽ mở mang ra được, dân sự sẽ trở nên giàu thịnh…”
Sớ ấy tâu lên, vua Tự Đức ưng chuẩn nhưng lại dụ ông phải định điều lệ để dễ việc thưởng phạt.
Ông Nguyễn Tri Phương dâng sớ xin:
“Hạn trong ba năm các phủ huyện nào giỏi việc đốc thúc mộ khẩu, đinh được 30 tên, điền được 60 mẫu thì thăng thưởng cho, phủ huyện nào chỉ được một phần năm thì không được thưởng gì cả, còn bất cập sẽ bị triều đình nghiêm trị…”
Y theo nhời đề nghị, vua cho phép thi hành. Năm Tự Đức thứ 9 (1856), án sát tỉnh Định Tường là Vương Sĩ Kiệt dâng sớ tâu rằng:
“Việc lập đồn điền quả là không tiện, bởi vì đem những tù phạm vào mà canh khẩn, nó thường quen thói cũ, rủ nhau đi ăn cướp của dân, lại thêm hay trốn tránh nữa”.
Nhà vua giao sớ ấy cho bộ Hộ xét. Bộ thần tâu rằng:
“Xét việc đồn điền lập ra nay đã thành tựu; lập thành làng xóm, khẩn nhiều đất đai, dân sự đã an cư lạc nghiệp. Nay án sát Vương Sĩ Kiệt chỉ trích một hai điều nhỏ mọn, nói làm bất tiện, thì bất quá là mua lấy tiếng ngay thẳng với vua đó thôi. Bộ chúng tôi tưởng việc ấy không cần phải xét”.
Năm Tự Đức thứ 10 (1857), nhân việc hặc tấu trên, ông xin về chiêm cận để trình bày các việc. Vua ưng cho.
Khi vào chầu, đức Tự Đức phán hỏi:
“Trong lục tỉnh, địa thế rộng lắm, sao khanh nhất nhất khám tường49 được hết?”
Ông tâu:
“Thần thường thường đi khám xét chỗ này chỗ khác, lại phái các phủ, huyện xét bẩm tình hình, nên biết rằng nay số đinh đã tăng, số điền cũng mở mang nhiều hơn các năm trước”.
Nhân lại kê trình một bản tấu:
1. Ruộng mới khẩn trên ba ngàn mẫu, lúa mới thu vào 8.000 lương, hiện đương trữ lại tỉnh thành.
2. Xin đem lúa gạo ấy phân trữ vào mỗi tỉnh một ít để ngộ thời cho quân dùng, khỏi lấy vào của kho nhà nước.
Vua ban khen và cho ông được tùy nghi thi hành.
Gặp khi binh thuyền Pháp vào cửa Đà Nẵng, bắn vào pháo đài, phá được đồn An Hải, quan tổng thống là Đình Lý bị thương, sớ về vua sai ông làm tổng thống đại thần Quảng Nam thay Đình Lý. Ông vào thì vừa gặp ba binh thuyền Pháp tiến vào Nại biên gian(?), mới đốc thúc quân bắn trừ được một chiếc, còn hai chiếc tháo lui.
Vua Tự Đức thưởng cho ông một thanh thượng phương kiếm, được quyền tiền trảm hậu tấu, và bắt ông phải trù hoạch cáo chước để phòng bị. Ông tâu:
“Súng Pháp và tàu Pháp giỏi lắm, còn quân ta thì giỏi việc ngăn giữ thôi, xin cho đắp thêm đồn lũy từ Hải Châu đến Phúc Ninh, ngoài đào hầm chữ phẩm, dưới thì thả chông gai, trên đặt mành mành với cỏ rác rồi chia binh mà ngăn giữ tại đồn Điện Hải”.
Quân Pháp tiến đánh, chia làm ba đạo! Ông suất quân vây đánh, lừa được quân Pháp sa hầm chết rất nhiều. Nhưng lần nữa quân Pháp tiến đánh, quân ta bị thua ở đồn Liên từ. Ông Nguyễn Tri Phương dâng sớ thỉnh tội, phải giáng xuống hai cấp lưu.
Năm Tự Đức thứ 11 (1858) nhân mùa lạnh, vua nhớ đến ông, lập tức cởi áo trong mình đang mặc bằng thiên thanh long tuyến nhung, sai thị vệ mang vào ban cho ông với một bài thơ.
Năm Tự Đức thứ 13 (1860), ông dâng sớ tâu rằng:
“Binh Pháp thuyền súng đã tinh, giao phong thì liều chết, binh ta không phải là tay đối thủ với họ, giữ cũng chưa xong thì đánh sao nổi. Nay xin đem binh lại các đồn mà canh giữ phòng bị cố thủ làm kế lâu dài. Lại xin cho chở lúa gạo, binh lương, súng ống đến các đồn ấy để làm binh nhu, khi nào xảy việc thì đã sẵn sàng cả”.
Vua quở rằng:
“Đã làm tướng đánh giặc mà sợ giặc, để cái lo cho vua, rồi lại không làm gì hết thì có đâu mà thành công được?”.
Lại dụ ông rằng:
“Chiến, hòa, thủ ba việc ấy nên dùng việc nào cho tốt cứ thế mà làm, chớ đừng nói triều đình không người mà giữ vậy chịu chết”.
Ông làm thêm đồn lũy và thêm quan giữ đồn để ngăn ngừa thế giặc.
Quân Pháp đánh Trà Sơn, An Điện, ông đem binh đánh một trận ở đó. Tàu Pháp thua chạy.
Vua Tự Đức mừng lắm, cho phép ban sư về kinh. Vời ông lên điện, cho ngồi dưới long ỷ, rồi ban cho nào vàng nào ngọc để úy đáp công lao.
Nhân vua hỏi về việc quân thứ Gia Định, ông tâu:
“Người Pháp giỏi, lại thêm tàu bền súng hay, mình thủ bị hơn, chớ đánh thì bại lớn, nhưng đạo làm tôi như hạ thần, nêu ra hòa với người ta, thật lấy làm nhục lắm, còn đánh mà không hơn được thì cũng là tội của ngu thần, xin theo ý nhà vua sở định, ngu thần cũng xin cúi mình hết sức cho đến chết thì thôi”.
Vua phán:
“Trẫm nghe mãi lời khanh tâu, đủ cho trẫm thấy rõ cái lòng trung thành của khanh, ai nghe thấy cũng phải chảy nước mắt”.
Quân Pháp tiến đánh hai tỉnh, An Giang, Hà Tiên, sớ hai tỉnh cáo cấp. Vua Tự Đức phán bảo ông rằng:
“Nay làm tướng súy ở Nam kỳ không ai bằng khanh cả, đình thần đều tiến cử thôi thì khanh không nên thoái thác, hãy gắng mà đi. Còn ở Quảng Nam nếu có điều gì khẩn cấp, trẫm sẽ cử một đại viên vào thay, nhưng khanh có biết ông nào đương nổi được trách nhiệm thì khanh hãy cử lên cho trẫm”.
Ông tâu:
“Nay binh Pháp lại hiệp với binh Cao man, binh Tàu đến đánh thì việc bây giờ ví với ngày trước lại khó khăn gấp năm ba phần. Còn sức dân đã mỏi, của dân cũng kém, nhưng phận làm tôi, hạ thần không dám từ nan dù đi Nam hay đi Bắc cũng xin tuân lệnh. Quảng Nam sau này nếu có giặc giã thì hai ông Phan Thanh Giản, Nguyễn Bá Nghi từng ở chỗ chính phủ, thuộc được việc quân cơ, cũng có thể đảm đương được trách nhiệm”.
Vua đều nghe theo.
Trước khi ra đi, ông còn mật tấu với vua 6 điều:
Hiện nay nhà nước nhiều việc, xin chú ý việc binh và việc tài chính, còn các việc không hệ trọng xin bớt đi.
Xin ra lệnh sai lính phu chở súng lớn vào Gia Định để có lúc cần dùng.
Xin sai ông Phạm Thế Hiển đi theo quân thứ để sai phái.
Xin sai người ra dụ ngoài Bắc kỳ cho khỏi náo động.
Xin gửi thư qua Xiêm la để nước ấy khỏi theo binh Pháp mà đánh ta.
Xin phái người qua Cao man mà giảng giải đừng kết liên với Pháp.
Vua đều y theo, ban cho ông thượng phương kiếm được tùy nghi hành sự.
Năm Tự Đức 14 (1861), Gia định [...]50 thất thủ, trận đánh đồn Chí Hòa, tán lý là Nguyễn Duy (em ông Nguyễn Tri Phương) và tán tương là Tôn Thất Tri51 đều bị đạn mà mất. Ông Nguyễn Tri Phương cũng bị thương. Sớ về kinh, vua Tự Đức sai một người ngoại khoa ngự y để vào điều trị. Đình thần tâu rằng:
“Nay Gia Định thất thủ, xin bệ hạ giáng Nguyễn Tri Phương xuống tham tri, bãi chức quân vụ đại thần cho ở ngoại mà uống thuốc”.
Vì thế, ông xin cáo một tháng để về kinh điều trị.
Quân thứ tỉnh Định Tường và Biên Hòa là Nguyễn Bá Nghi cùng với tổng đốc, là Đỗ Quản, chạy sớ về tâu rằng:
“Lúc này việc quân khó khăn lắm, sợ phòng bị không nổi”.
Vua Tự Đức xem sớ phán rằng:
“Đánh giặc là việc trọng, trừ Nguyễn Tri Phương là trọng thần, không có ai đương nổi việc ấy”.
Tháng 11, tỉnh Biên Hòa thất thủ, đình thần lại tâu xin cho Nguyễn Tri Phương phục chức, hiệp đồng với Nguyễn Bá Nghi để đánh giặc.
Vua sai tuyên triệu ông, cho khai phục hàm thượng thư, sung khâm sai Tổng thống quân vụ đại thần, ban cấp quân phù, kiếm ấn, quần áo và một trăm lượng bạc. Ông từ bạc. Vua dụ rằng:
“Trẫm biết khanh có lòng liêm khiết, nhưng đó là để cho khanh làm lộ phí, chứ to tát gì số tiền ấy mà khanh phải từ chối”.
Ông bất đắc dĩ phải nhận.
Ông vào đến Quảng Nam, cùng quan tỉnh là Đào Tri52 và Nguyễn Hiền53 trù nghi việc làm thêm đồn lũy ở Đà Nẵng. Xong việc, ông vào Bình Thuận thì vừa gặp ông Nguyễn Bá Nghi chạy giặc về đấy. Ông ta nói rằng:
“Súng tây bắn dữ quá! Không thể gìn giữ thành nổi. Tôi phải làm sớ về kinh thỉnh tội thôi”.
Vua lại dụ ông Nguyễn Tri Phương phải đi gấp vào ngay tùy thế mà làm. Khi ông vào đến Bình Thuận, thì mấy tỉnh trong Nam kỳ thất thủ cả.
Năm Tự Đức thứ 15 (1862), triều đình sai hai ông Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp vào Nam kỳ nghị hòa.
Ông Nguyễn Tri Phương về triều phục mệnh. Vua dụ rằng:
“Hôm trước có chỉ triệu khanh về, khanh xin hưu trí, nhưng đương lúc nước nhà nhiều việc, nhất là ở Bắc kỳ khanh nên tận tâm báo quốc, trẫm chưa cho về hưu”.
Ông tâu rằng:
“Đạo làm tôi phải hết lòng vì vua vì nước, nhưng Bắc kỳ trước nay lão thần chưa ra đó, không rõ tình hình địa thế, bệ hạ nghĩ thế nào thần cũng xin vâng theo”.
Vua phán:
“Thôi khanh ở lại triều một tuần nhật coi phiếu sớ chạy về thì biết tình trạng, rồi có chước gì hay, nên bàn với các ông Đoàn Thọ và Trần Tiễn Thành”.
Lúc ấy ở Tuyên Quang (Bắc kỳ) có thổ phỉ là Nông Hùng Thạo54 cùng bọn giặc Tàu hiệu cờ vàng là Hoàng Sùng Anh nổi lên vây thành Tuyên Quang. Quan tỉnh làm sớ cáo cấp, vua bàn cùng đình thần cử người ra dẹp giặc.
Có một viên đại thần là Trần Tiễn Thành tiến cử ông Nguyễn Tri Phương.
Vua Tự Đức phê cho ông làm khâm sai sung Bắc kỳ tổng thống quân vụ đại thần. Ông lĩnh mệnh ra đi.
Rồi đóng đồn ở sông Chiêm Đức55, mật thư cho quan tỉnh Hà Nội, tỉnh Sơn Tây sắm nhiều thuyền tiếp ứng, một mặt gửi thư cho quan Bắc Ninh hẹn hễ nghe pháp hiệu thì phải đem binh tiếp ứng. Ông cùng tán lý Huỳnh Tranh, tán Tương Phan Đinh Tuyền ngầm đem binh qua sông, xuất kỳ bất ý, đánh vào đồn giặc, thẳng đến tỉnh thành. Lại dùng tán lý Nguyễn Văn Trọng kéo binh lên Thái Nguyên, bắt được giặc tên là Lê Văn Thông56 và tham mưu Doãn Văn Đắc, rồi kéo binh về họp ở Bắc Ninh. Thế là ba tỉnh đều yên.
Năm Tự Đức 16 (1863), ông được thăng thụ Hiệp biện đại học sĩ sung Bắc kỳ tổng thống quân vụ đại thần.
Năm ấy, giặc Tàu Ô57 chiếm cứ miền hải đảo và vào cướp phá tỉnh Hải Dương, Hưng Yên. Ông đem binh đi dẹp, phá giặc ở Cổ Tra, Phấn Đường. Giặc tan.
Vua Tự Đức được tin, rất mừng, xuống dụ rằng:
“Khanh là bậc công thần nguyên lão, trải thờ 3 triều đánh hơn 100 trận, trước dẹp phương Nam, nay yên đất Bắc, một lòng ưu quân ái quốc, chẳng quản khó nhọc. Nay trẫm đem em gái trẫm là Đồng Xuân công chúa mà hạ giá cho con thứ của khanh là Nguyễn Tri Lâm phong phò mã đô úy để đáp ơn lớn của khanh. Trẫm sẽ sai Khâm thiên giám chọn ngày tốt, rồi sắc Tôn Nhân phủ hội đồng với hiệp biện đại học sĩ Trần Tiễn Thành chủ trương việc ấy. Khanh vì quân vụ phân phiền, miễn cho hộ triều, để lo việc quân cơ và vỗ yên dân sĩ”.
Năm Tự Đức thứ 17 (1864), nhân đánh giặc Nã sơn ở Hải Dương, phó đề đốc Vũ Tảo bị giặc bắt. Ông dâng sớ thỉnh tội, phải giáng hai cấp.
Năm Tự Đức thứ 18 (1865), đình thần tâu xin tha việc cấm nha phiến để đánh thuế cho lợi. Vua dụ hỏi ông. Ông tâu:
“Nha phiến rất hại người [...]58 cho nước, không nên đánh thuế làm gì”.
Việc ấy mới thôi. Cùng năm ấy, giặc Tàu Ô lại vào cướp phá làng Phù Long, làng Cát Bà ở ven bể. Ông cùng tán lý Nguyễn Văn Trọng đem chiến thuyền tiến đánh, bắn chìm 20 chiếc thuyền giặc, bắt được 10 chiếc, các thuyền khác bỏ chạy.
Vì có công, ông được thăng thụ Thái bảo vũ hiển điện Đại học sĩ Trí dũng tướng, Tráng liệt bá, sung Bắc kỳ tổng thống quân vụ đại thần.
Năm ấy ông đã 65 tuổi, vì vết thương cũ đau, nên dâng sớ xin trở về triều.
Nhân ở kinh thành, có bọn Đoàn Trưng, Đoàn Trực làm loạn, vua sai thượng thư bộ Công Nguyễn Văn Phong và đề đốc Nguyễn Hiền ra mời ông về và cho đón tại cửa An Hòa. Đến lúc vào chầu, vua cho ngồi, ban hỏi về tình hình và phong tục ở biên cảnh, sai may quần áo tặng ông. Nhân có việc loạn trên, ông Hiệp biện đại học sĩ Võ Trọng Bình dâng sớ, có đoạn:
“Hoàng thượng xây Khiêm cung là việc bất đắc dĩ, chớ không gấp gì, thế mà có viên đổng lý Lê Sa, biện lý Nguyễn Chất bắt dân phu làm ngày làm đêm khó nhọc, khiến đứa cuồng phu Đoàn Trưng nhất thời xướng loạn. Xin cách chức các viên đó giao sang bộ Hình xét tội. Đến bây giờ mưa gió kịp thời, xin hoãn công dịch vài tháng cho dân phu về làm ăn. Còn các bầy tôi ở triều không hay xem xét công việc để xẩy ra như thế cũng nên nghị tội. Bọn tôi ở ngoài về, nhưng làm đầu trong nước, xin chịu tội luôn thể”.
Vua nghe theo phán rằng:
“Các khanh đều ở ngoài không can gì đến việc ấy thời sao mà phải nghị tội”.
Năm Tự Đức thứ 21 (1868), Cao Bằng, Lạng Sơn có giặc Ngô Côn. Vua hỏi ý ông về việc dẹp giặc. Ông xin đi, vua lấy chỗ kinh sư59 làm trọng địa, không muốn cho đi.
Binh triều đình tiến đánh Ngô Côn, bị thua ở Từ Sơn. Tham tán Nguyễn Lễ, đề đốc Nguyễn Viết Thành tử trận, tổng đốc Phạm Chi Hương bị giặc bắt. Ông Nguyễn Tri Phương xin ra Bắc kỳ để đánh giặc.
Năm Tự Đức thứ 22 (1869), đình thần cử ông Nguyễn Tri Phương sung Bắc kỳ Kinh lược đại sứ để lo việc đánh dẹp. Vua Tự Đức không ưng phán rằng:
“Làm việc lớn phải trông vào bậc nguyên lão đại thần, nếu ngộ ngày sau không có Nguyễn khanh60 thì lấy ai mà ngăn chống bờ cõi?”
Năm Tự Đức thứ 23 (1870), các tỉnh Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng lại bị giặc Cờ đen Lưu Vĩnh Phúc thường sang cướp phá. Quan quân đi đánh bị thua luôn. Sớ tâu về vua lo lắm, vời ông vào dụ cho sung Tam Tuyên quân thứ khâm mạng đại thần, cho phép tùy nghi dẹp giặc, lại ban cho kỳ bài, kiếm, ấn, cờ mao tiết, áo nhung phục.
Ra đến nơi, ông đánh mấy trận đều thắng lợi, dùng kế tuyệt lương, Lưu Vĩnh Phúc, Bạch Quế Đường đều phục tòng và xin giúp đỡ quân ta gặp khi hữu sự. Nhân thấy Lưu Vĩnh Phúc có tài, ông mới làm sớ dâng vua thu dụng.
Năm Tự Đức thứ 25 (1872) vì có công ông được ban một cặp áo kép và được khai phục Thái tử thái bảo, Võ hiển điện đại học sĩ, Trí dũng tướng Tráng liệt bá, sung Tam Tuyên quân thứ khâm mạng đại thần.
Năm Tự Đức thứ 26 (1873) có người Pháp là Đồ Phổ Nghĩa (Jean Dupuis) chở binh khí và hàng hóa qua sông Hồng Hà lên Vân Nam để bán cho người Tàu. Lúc ấy việc thông thương ở sông Hồng Hà chưa định rõ nhưng Đồ Phổ Nghĩa cậy thế thủy quân thiếu tướng Dupré ở Sài Gòn nên không coi luật lệ nước Nam vào đâu cả.
Tháng Giêng năm Nhâm Thân (1872), Đồ Phổ Nghĩa cùng một bọn người Tàu là Bành Lợi Ký, quan tán Đinh và một viên tư phủ là Lý Ngọc Từ đem một đoàn thuyền chở gạo, muối, binh khí từ Hải Dương lên Hà Nội. Đồ Phổ Nghĩa nói là đem lên Vân Nam, nhưng đến sông Hạ Hòa thuộc tỉnh Hưng Hóa thì để lại và thông đồng với bọn Hoàng Sùng Anh, tướng giặc Cờ vàng.
Khi đoàn thuyền ấy ghé bến Hà Nội, các quan ta bắt giam hai tên khách buôn, Đồ Phổ Nghĩa liền đem quân đi bắt quan phòng thành Hà Nội và quan huyện Thọ Xương đem xuống thuyền.
Được tin ở Bắc kỳ có sự lôi thôi, triều đình cử ba ông Lê Tuấn, Nguyễn Tăng Doãn và Nguyễn Văn Tường vào Nam kỳ nhờ thiếu tướng Dupré dàn xếp hộ.
Thiếu tướng Dupré định đem quân ra chiếm Bắc kỳ đã lâu, nay gặp được cơ hội tốt, liền viết thư gọi thủy quân đại úy là An Nghiệp (Francis Garnier) về, rồi sai ra Hà Nội, cho phép tự do định liệu và dặn nhiều điều bí mật khác.
An Nghiệp đến Hà Nội ngày 5 tháng 11 năm Quý Dậu (1873), quan tỉnh Hà Nội là Phan Đình Bình, không cho người Pháp lên bộ, nói với An Nghiệp rằng: “Việc chưa có triều đình chỉ phán, nên không cho phép”, một mặt cáo cấp về kinh.
Vua Tự Đức dụ lên Tam Tuyên vời ông Nguyễn Tri Phương về giữ thành Hà Nội.
Ông tiếp dụ, nói với tả hữu:
“Việc này bởi quan tỉnh Hà Nội không biết dự bị trước, đến nay binh thuyền Pháp đã đến tỉnh thành, dù có thần toán đi nữa cũng khó lòng giữ nổi, nhưng đạo làm tôi thì phải vì nhà, vì nước, vì vua mà hết trách nhiệm dù gan óc lầy đất cũng không lấy cớ gì thoái thác được”.
Rồi ông lập tức đem theo con thứ là phò mã đô úy Nguyễn Tri Lâm đi một ngày về Hà Nội. Sau khi phân binh giữ thành, ông cùng với quan tỉnh đợi An Nghiệp dàn xếp việc Đồ Phổ Nghĩa, nhưng y không nói gì đến, còn bọn người Tàu cậy thế chủ, làm nhiều điều ngang ngạnh, nên quan Tuần phủ Bùi Thúc Kiên sai bắt đem chém. Đồ Phổ Nghĩa lên thượng du mộ quân Tàu (phần nhiều là giặc Cờ vàng), được 500 người, dự bị chống nhau với quân triều đình.
Rồi An Nghiệp không kể đến quan tỉnh, làm tờ hiểu dụ dân. Ông Nguyễn Tri Phương lấy việc ấy làm vô nghĩa, không cho nhân dân công nhận. Thế là 4 giờ sáng ngày 15 tháng 10 năm Quý Dậu (1873), An Nghiệp đánh thành Hà Nội.
Nguyễn Tri Phương và con trai là phò mã Nguyễn Tri Lâm xuất quân lên thành phía nam nghênh địch. Phò mã bị một phát đạn vào đầu, chết ngay lập tức. Còn ông Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, quân sĩ khiêng vào dinh. Người Pháp đem thuốc vào buộc, ông đều rứt ra, đưa đồ ăn ông đều phun nhổ không thèm nuốt, lại nói rằng:
“Bây giờ nếu ta chỉ miễn cưỡng lây lất mà sống, sao bằng thung dung chết về việc nghĩa”.
Rồi sai thảo sớ về kinh61. Đến ngày mồng 1 tháng 1 thì mất, thọ 74 tuổi62. Sớ về kinh, vua lấy làm thương cảm, nghĩ một nhà ông cha con, anh em đều chết vì việc nước, bỏ mình ở chốn sa trường, thật đáng nên khen; còn mấy người thấy giặc bỏ chạy cũng đáng nên răn. Khâm mạng Bắc kỳ tổng thống quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương trước sai lên Tam Tuyên đồng sức đánh dẹp, rồi rời về trấn giữ Hà Nội, lúc ra đi cơ quan có khó khăn, gấp rút lại để mất thành Hà Nội, vì nghĩa không chịu bỏ dở dang, nhịn đói mà chết thật khá thương. Nhưng giữ thành để mất, tội ấy giao đình thần công luận. Song ta nghĩ ông ấy trải thờ ba triều, lúc nguy hiểm cũng như lúc thái bình, cùng một lòng trung dũng, thành thực, ai ai cũng biết.
Nay vì nghĩa bỏ mình, vậy sức cả binh, phu tỉnh Hà Nội phải hộ tống quan cữu của ông và của phò mã đô úy về bản quán. Lại ban cho gấm 3 cây, hàng 3 cây, lụa 10 cây, tiền 1000 quan để chiếu liệu.
Đến sau, xét việc thất thủ Hà Nội, đình thần nghị tấu buộc tội để mất thành xin cách chức và trảm giam hậu63.
Vua xem nhời đình nghị, phán rằng:
“Nguyễn Tri Phương là bầy tôi trọng vọng của nhà nước, trấn chỗ [...]64 Hà Nội, không hay lo liệu ngăn ngừa, tội làm chủ súy, vốn cũng nên y theo nhời đình nghị, nhưng nghĩ rằng: ông nhất sinh trung dũng, lại tiết nghĩa trọng cả nhà, trước sau cũng đều khó nhọc, nếu so với những kẻ lây lất mà sống, không công trạng gì thì là khác xa lắm, cho nên ta gia ơn cho ông khai phục hàm Tham tri, còn tước Tráng liệt bá là công ông hồi trước dẹp giặc ở Nam kỳ, bây giờ ta không nỡ nào thu lại”.
Đến năm Tự Đức thứ 28 (1875) phê cho liệt tự vào đền công thần. Cả nhà ông tử tiết ở Hà Nội, em là Nguyễn Duy tử tiết ở Nam kỳ, con là Phò mã Nguyễn Tri Lâm cũng tử tiết ở Hà Nội theo cha, trung hiếu tiết nghĩa gồm đủ, nên sắc sai lập một ngôi nhà thờ trung hiếu trong làng và sai quan tư tế. Trong bài văn tế chính đức Tự Đức soạn ở đoạn kết có câu:
“Ô hô! Vi thần, năng trung ư quốc65
Ô hô! Vi tử năng hiếu ư thân
Duy trung, dữ hiếu, nhất môn hàm tụy...”
Dịch
Than ôi! Làm tôi biết trung với nước
Than ôi! Làm con biết hiếu với cha.
Cả trung lẫn hiếu, dồn chứa một nhà…
(Bản dịch của Hoa Bằng)
Đến năm Đồng Khánh nguyên niên (1886), phụ chính đại thần Nguyễn Hữu Độ tâu xin khai phục chức hàm như cũ và xin thờ vào chính án nhà thờ Hiền Lương. Vua chuẩn y.
Một người Pháp viết sách về việc hạ thành Hà Nội năm Quý Dậu (1873), phê bình ông Nguyễn Tri Phương là người hiểm giảo, hẹp hòi, không biết dung nạp những tư tưởng Âu tây. Chúng tôi tưởng hành trạng trên đã đủ trả nhời rõ rồi.
Ông thực là một bậc trung thần liệt sĩ. Trong 50 năm giời cúc cung tận tụy về việc nước.
Những người đồng thời với ông vẫn truyền tụng một bài thơ của ông làm tiễn Phan Thanh Giản đi kinh lược ba tỉnh Nam kỳ (Vĩnh Long, Hà Tiên, An Giang) dưới đây:
Vẹn ngàn góc biển dặm chơi vơi
Vui tẻ phấn nhau một bước dời
Cá lại Long Giang hai ngả nước
Nhạn về Dã hợp một phương trời
Nửa hồ cố cựu trăng lai láng
Cạn chén rưng tròng(?) gió tống khơi
Chày kiếp Trường An mau trở lại
Thăm người, viếng cảnh, ơi người ơi66.