Nguyễn Tri Phương

Lượt đọc: 721 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chú Thích

.

1. Lời của tác giả 1944.

2. Vasco de Gama: sinh năm 1460(?) tại Bồ Đào Nha và mất năm 1524 tại Ấn Độ. Ông được xem là nhà thám hiểm, nhà hàng hải châu Âu thành công nhất của Kỷ nguyên khám phá (BT).

* Trong quyển sách này, những tựa đề ở chương mục do Biên tập viên bổ sung và những chú thích nào Biên tập viên chú thích thì sẽ ghi rõ Biên tập (BT).

3. tức Quảng Ngãi (BT).

4. tức Sóc Trăng (BT).

5. tức dứt (BT).

6. tức dời (BT).

7. tức dốc (BT).

8. Áo mặc vào mùa đông (BT).

9. Khu vực (vùng) biên cương (BT).

10. Áo mặc vào mùa hè (BT).

11. tức Sơn Trà (theo tên gọi ngày nay, là một bán đảo thuộc quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng - BT).

12. Cửa biển Thuận An, thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế (BT).

13. tức Tây Ban Nha (BT).

14. tức dấy (BT).

15. Ngự sàng: Giường nằm của vua (BT).

16. Hốc Môn: tức Hóc Môn, là một huyện ngoại thành thuộc thành phố Hồ Chí Minh (BT).

17. Khâm thiên giám: cơ quan quan sát về thiên văn, tìm hiểu bầu trời, vì sao để tính toán ngày giờ tốt xấu của các triều đại phong kiến (BT).

18. Nguyên bản in 1956 ghi là sông Tiêm Đức, nhưng có lẽ là sông Thiên Đức (BT).

19. Đàn hặc: chỉ trích, chất vấn tội lỗi của quan lại thời phong kiến. (BT)

20. Không phải (BT).

21. Nguyên bản in 1956 là chữ 歲 (tuế), nhưng có lẽ là chữ 揚 (dương) theo phiên âm bên dưới. (BT)

22. Bàng (BT).

23. Nguyên bản in 1956 phiên âm là chữ “Mạnh”, nhưng từ chữ 命 ở câu trên, phải là chữ “Mệnh”, tức mệnh lệnh, truyền mệnh, sai khiến. (BT)

24. Nguyên bản in 1956 là chữ 戒 (giới), nhưng có lẽ là 戎 (nhung) theo phiên âm bên dưới. (BT)

25. Nguyên bản in 1956 phiên âm là chữ “vương”, nhưng từ chữ 亡 ở câu trên, phải là chữ “vong”. (BT)

26. Dữ: cùng, đều (BT)

27. Xem chú thích 1 trang 126 (BT).

28. Nguyên bản in 1956 là chữ 橫(hoành), nhưng có lẽ là chữ 墜 (trụy) theo phiên âm bên dưới. (BT)

29. Nguyên bản in năm 1956 là chữ 廓 (phiên âm là chữ khuếch, khoác: có nghĩa là mở rộng ra, nới rộng ra), nhưng theo câu phiên âm bên dưới, có lẽ là chữ 郭 (quách: có nghĩa là lớp tường bao bên ngoài thành, cái thành ngoài). (BT)

30. Tác giả đôi câu đối này là ông Thám hoa Vũ Phạm Hàm.

31. Cũng có sách dịch: “Kia thành quách, kia non sông, trăm trận phong trần còn thước đất; Là trời sao, là sông núi, mười năm tâm sự với trời xanh”. (BT)

32. Tiên Đàm là bút danh của nhà văn Nguyễn Tường Phượng (1899 - 1974), tự là Kỳ Sơn, biệt hiệu Mai Lâm. Ông sinh tại làng Nội Duệ, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ông là nhà văn chuyên nghiên cứu văn học sử. Năm 1936, ông cùng Hoàng Thúc Trâm, Phan Mạnh Danh... sáng lập tạp chí Tri Tân. Ông làm chủ bút tạp chí này đến năm 1945. (BT)

33. Trong gia phả ghi 18 tuổi, nhưng tính đến Minh Mệnh nguyên niên thì là 20 tuổi.

34. Lời (BT).

35. Lê Văn Khôi dấy loạn, lấy thành Phiên An.

36. Đích thân thúc đẩy binh lính vượt thành... (BT)

37. Thiếu 1 chữ. (BT)

38. Thiếu 1 chữ. (BT)

39. Thiếu 4 chữ. (BT)

40. Hà Tiên và An Giang. (BT)

41. Trời. (BT)

42. An ủi thưởng công khó nhọc. (BT)

43. Có sách ghi Nặc Ong Nôn. (BT)

44. Có sách ghi Nguyễn Bá Hữu. (BT)

45. Có sách ghi Cao Hữu Bằng. (BT)

46. Chầu vua (BT).

47. Cơ: 1 đơn vị quân đội thời lúc bấy giờ, gồm khoảng 400 người. (BT)

48. Nhóm (BT).

49. Khám xét tường tận. (BT)

50. Thiếu 2 chữ. (BT)

51. Có sách ghi Tôn Thất Trì. (BT)

52. Có sách ghi Đào Trí. (BT)

53. Có sách ghi Nguyễn Hiển. (BT)

54. Có sách ghi Nùng Hùng Khai. (BT)

55. Có sách ghi Tiêm Đức, xem thêm chú thích ở trang 93. (BT)

56. Có sách ghi Lê Văn Thanh. (BT)

57. Thời kỳ này, ở vùng biển nước ta xuất hiện nhiều nhóm hải tặc có nguồn gốc khác nhau, như giặc Oa (Oa khấu), giặc Đồ Bà, giặc Tàu Ô… Giặc Tàu Ô dùng để chỉ những toán cướp biển từ Trung Quốc sang. Trong các thư tịch nước ta còn có tên gọi khác là thủy phỉ, hải phỉ… (BT)

58. Thiếu 2 chữ. (BT)

59. Tức kinh đô Huế. (BT)

60. Tức Nguyễn Tri Phương. (BT)

61. Theo nhời cụ Nguyễn Đình Trọng tức Cử Tốn thì ông Nguyễn Tri Phương ngậm sâm chờ triều đình phát hặc, khi tiếp chỉ bị tội và giáng Tham tri. Ông bỏ sâm mà chết.

62. Theo gia phả nếu tính từ năm 1800 đến 1873 thì 73 tuổi.

63. Đây là loại kết án xưa của triều Nguyễn, tức phạm tội chết nhưng chưa hành quyết ngay mà giam giữ lại, một thời gian sau sẽ đưa ra xét xử lại. (BT)

64. Thiếu 3 chữ. (BT)

65. Có sách dịch là Quân (BT).

66. Cũng có thơ viết như sau (BT):

“Vẹn ngàn góc bể dặm chơi vơi

Vui tỏ phân nhau một bước đời

Cá lại Long giang hai ngã nước

Nhạn về Du hợp một phương trời

Nửa hồ cố cựu trông lai lảng

Cạn chén tư hương gió lộng khơi

Hãy kịp Tràng An mau trở lại

Thăm người viếng cảnh hỡi người ơi!”

« Lùi
Tiến »