dịch giả: thái bá tân

Nàng Macgaret Xinh Đẹp

Lượt đọc: 2615 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
ĐOẠN KẾT

❊ ❊ ❊

Đã mười năm trôi qua kể từ ngày thuyền trưởng Xmit lái con tàu "Macgaret" vượt qua cửa sông Građankivi một cách tài tình như vậy.

Đang cuối tháng năm. ở Êxec các rừng cây đã xanh, chim hót líu lo, và những đồng cỏ đầy hoa. ở thung lũng Đêthem tuyệt vời ta có thể thấy một ngôi nhà không cao với nhiều mái nhỏ nhọn hoắt. Đó là một ngôi nhà cổ xinh đẹp được xây bằng gạch đỏ và gỗ nay đã xạm đen vì năm tháng. Ngôi nhà đứng trên một ngọn đồi không cao. Liền phía sau là một khu rừng, còn trước mặt là một con đường hai bên có những cây sồi to, chạy dài ngang qua khu vườn, tới con đường lớn đi về phía Cônsextơ và Luân Đôn. Vào một ngày tháng Năm, một ông già tóc bạc phơ có đôi mắt đen nhanh nhẹn đang bước đi trên con đường rợp bóng cây xanh ấy. Cùng đi với ông có ba đứa trẻ - một cậu bé mười tuổi và hai cô bé hơn đang bám tay vào gấu áo ông già, và luôn miệng hỏi ông mọi chuyện.

- Ông ơi, chúng ta đang đi đâu? - Một cô bé hỏi.

- Tới thăm thuyền trưởng Xmit, cháu ạ, - ông già đáp.

- Cháu không thích thuyền trưởng Xmit, - cô bé thứ hai lên tiếng, - ông ấy to béo và chẳng bao giờ nói chuyện!

- Nhưng cháu lại thích ông ấy, - cậu bé nói xin vào, - ông ấy cho cháu một con dao tuyệt đẹp mà cháu rất cần khi chơi trò thủy thủ. Và cả mẹ, cả bố, cả ông cũng yêu ông ấy, vì ông ấy đã cứu ông khỏi bị bọn Tây Ban Nha độc ác thiêu chết. Có đúng thế không ông?

- Đúng thế, cháu ạ, - ông già đáp. - Trông kìa, một con sóc đang chạy trên cỏ. Các cháu có bắt được nó trước khi nó chạy tới cây không?

Bọn trẻ ùa lao theo, và vì cây không cao nên chúng cũng leo lên theo con sóc. Trong khi ấy Giôn Caxten - vì quả người này đúng là Giôn Caxten - đi ra khỏi cổng vườn và tiến về phía một ngôi nhà nhỏ bên đường. Trên chiếc ghế cạnh nhà có một người to béo đang ngồi. Có lẽ ông ta đã chờ khách từ trước. Ông ta chỉ cho khách một chỗ bên cạnh trên ghế. Khi Caxten ngồi xuống, ông ta hỏi:

- Sao hôm qua ông chủ không tới?

- Vì phong thấp, ông bạn ạ, - Caxten trả lời. - Tôi mắc chứng bệnh này trong khi bị giam ở tầng hầm của tòa án dị giáo đáng nguyền rủa nọ ở Xêvin. Cái tầng hầm ấy thật ẩm ướt và lạnh lẽo, - ông nói thêm.

- Thế mà đối với nhiều người nó lại quá nóng bức, - thuyền trưởng Xmit lầu bầu nói. - Vả lại, thường sau tầng hầm ấy là ngọn lửa giàn thiêu rừng rực. Kể cũng lạ là sau đó chẳng bao giờ ta còn nghe nhắc đến vụ này nữa. Tôi nghĩ tất cả do việc hoàng hậu Ixaben yêu mến Macgaret của chúng ta, nên đã không yêu cầu vua Anh can thiệp vào việc này, nghĩa là không muốn khuấy đục nước lên làm gì.

- Có thể là thế, - Caxten nói. - Quả thực lúc ấy nước có đục thật.

- Đục à? Như nước sông Tem lúc thủy triều rút vậy. Hoàng hậu Ixaben là một người phụ nữ thông minh. Không ai bằng bà biết cách làm nhục người khác như bà đã làm nhục Môrela khi trao hắn cho Bêti, và thay mặt hắn hứa sẽ công nhận cô ta là vợ hắn. Sau vụ ấy, hắn chẳng còn gì đáng nguy hiểm trong việc âm mưu chống lại nhà vua. Vâng, hắn buộc phải trở thành trò cười cho cả nước, mà những người như hẳn thì chẳng bao giờ còn làm nên trò trống gì nữa. Chắc ông còn nhớ cái câu tục ngữ Tây Ban Nha này: "Kiếm vua chém đứt cổ, lửa giàn thiêu của nhà thờ thiêu chết người, nhưng những bài hát vui ngoài phố còn tai hại hơn gấp bội". Tôi rất muốn biết những gì đã xảy ra với tất cả những người quen của chúng ta. Còn ông thì thế nào, ông chủ? Tất nhiên không kể đến Becnanđex - đã nhiều năm nay ông ta sống ở Pari và nghe nói sống không đến nỗi tồi lắm.

- Vâng, Caxten mỉm cười, - tất nhiên tôi cũng muốn biết, miễn là phải tới Tây Ban Nha.

Đúng lúc ấy bọn trẻ quay lại, cùng một lúc chạy ùa vào cổng.

- Này, những tên cướp tí hon kia, không được dẫm nát hoa của tôi đâu nhé! - Thuyền trưởng Xmit vừa quát, vừa giơ gậy ra dọa, trong khi bọn trẻ trốn sau lưng, nhăn mặt nhăn mũi trêu ông.

- Con sóc đâu, Pitơ? - Caxten hỏi.

- Bọn cháu đuổi nó từ cây xuống, ông ạ, rồi vây quanh trên bờ suối, và ở đó...

- ở đó thì sao? Có bắt được không?

- Thưa ông, không. Khi bọn cháu tưởng đã bắt được rồi thì nó nhảy xuống nước, bơi đi.

- Có một số người xử sự đúng như thế trong những tình huống khó khăn, - Caxten vừa cười nói, vừa nhớ lại một bờ sông xa xưa.

- Bực thật! - Đứa bé phụng phịu nói to. - Đáng lẽ sóc không được bơi mới phải. Nếu bắt được, cháu sẽ nhốt nó vào lồng.

- Ông nghĩ bây giờ con sóc ấy suốt đời sẽ ở lại trong rừng.

- Ông ơi! Ông ơi! - Cô bé thứ nhất ló đầu vào cổng kêu to. Có nhiều người đang cưỡi ngựa tới đây. Ông lại đây mà xem! Đẹp lắm.

Cái tin này làm hai ông già tò mò, vì thường không có nhiều người tới khu Đêthem này. ít ra thì họ cũng đứng dậy, mặc dù khá vất vả, và họ cùng đi về phía cổng. Vâng, đứa bé đã nói đúng: cả một đoàn người ngựa đông đảo đang ở cách họ khoảng hai trăm mét. Cưỡi một con ngựa tuyệt vời đi phía trước một là người đàn bà cao, mặc đồ đen bằng lụa, mặt được che bởi một chiếc mạng cũng màu đen. Cưỡi ngựa đi cạnh bà ta là một người đàn bà khác, khăn áo trùm kín người, như thể khí hậu nơi này quá lạnh lẽo. Một chú bé xinh đẹp cưỡi một con ngựa đi giữa họ. Tiếp theo là khoảng sáu hoặc tám người hầu cả nam lẫn nữ và một cỗ xe lớn chất đầy đồ đạc do bốn con ngựa khỏe mạnh xứ Flamăng kéo.

- Ai đấy nhỉ? - Vừa nhìn, Caxten vừa khẽ kêu lên.

Thuyền trưởng Xmit cũng nhìn về phía trước và hít hít mũi như ông vẫn thường làm như thế khi ở trên boong tàu vào buổi sáng đầu sương mù xa xưa nọ.

- Tôi thấy như có mùi của bọn Tây Ban Nha, - ông thuyền trưởng nói, - mà tôi thì không yêu cái mùi ấy. Ông hãy nhìn cỗ xe của họ. Nào ông chủ, ông thấy con tàu ba buồm sặc sỡ này làm ông nhớ tới ai.

Caxten lắc đầu vẻ bất lực.

- Tôi nhớ tới một cô gái cao dong dỏng, sặc sỡ đang chạy trên nền cát trắng trong cuộc đấu kiếm ở Xêvin. à, mà tôi quên rằng lúc đố ông không có ở đó.

Họ nghe một giọng nói to, lanh lảnh đang ra lệnh bằng tiếng Tây Ban Nha cho ai đó chạy đi hỏi xem cổng vào ở đâu. Caxten liền nhận ngay ra người phụ nữ đang cưỡi ngựa.

- Ôi, Bêti! - Caxten kêu lên. - Tôi xin lấy bộ râu Abraam này thề rằng đây là Bêti!

- Tôi cũng nghĩ thế, có điều ông chủ không nên nhắc đến Abraam làm gì. ở những nước theo đạo Thiên Chúa, nhắc tên Ngài là điều nguy hiểm. Ông có thể nói: "Thề bằng các chìa khóa của thánh Pitơ", hay "Thề bằng các thứ bệnh của thánh Pôn" cũng được.

- Này cháu, - Caxten nói với một trong những đứa cháu của mình, - cháu hãy chạy vào nhà nói với bố mẹ có co Bêti tới thăm, mang theo mình cả một nửa nước Tây Ban Nha. Nhanh lên: hãy nhớ tên là Bêti nhé!

Cô bé ngạc nhiên chạy đi, còn Caxten và Xmit thì đi về phía những người khách mới đến.

- Chúng tôi có thể giúp bà được gì không, thưa bà? - Caxten hỏi bằng tiếng Tây Ban Nha.

- Nữ hầu tước Môrela, nếu ông muốn... - Bà kia đáp bằng tiếng Tây Ban Nha, sau đó nói tiếp bằng tiếng Anh. - Trời ơi! Đây là Giôn Caxten, ông chủ cũ của tôi, có điều bộ râu xưa màu đen nay thành màu trắng!

- Nó bắt đầu đổi màu từ khi lão linh mục - thợ cạo cạo râu tôi trong nhà tù của tòa án dị giáo, Caxten nói. - Nào xuống ngựa đi, Bêti thân mến... à, xin lỗi, bà nữ hầu tước Môrela vô cùng danh giá và đáng kính. - Hãy hôn tôi đi!

- Cháu sẽ hôn hai mươi lần nếu bác muốn! - Bêti kêu lên, rồi từ lưng ngựa nhảy ào xuống vòng ôm của Caxten, và nếu không được ông thuyền trưởng Xmit đỡ, chắc cả hai đã ngã xuống cỏ.

- Còn ai thế này? - Bêti hỏi, sau khi hôn Caxten và bắt tay ông thuyền trưởng, - mà không cần phải hỏi nữa: Chúng có đôi mắt của cô em họ của cháu và chiếc mũi dài củ Pitơ. Bây giờ hai người thế nào?

- Rồi một vài phút nữa cô sẽ biết, hãy cho người và đồ đạc vào nhà, tuy tôi chẳng biết họ sẽ ở đâu cho hết. Còn cô thì đi với chúng tôi.

Bêti có ý lưỡng lự, vì cô ta muốn gây hiệu quả thật lớn bằng cách xuất hiện một lúc với cả đoàn tùy tùng đông đúc. Nhưng đúng lúc ấy Pitơ và Macgaret xuất hiện, - Macgaret bế một đứa bé trên tay, còn Pitơ thì vẫn như xưa: người gầy, chân và tay đều dài, khuôn mặt nghiêm khắc với đôi mắt hiền hậu. Đi sau họ là đám người hầu và cô bé Macgaret.

Đúng là một cuộc gặp gỡ thật xúc động và ồn ào. Nhưng cuối cùng cả đám tùy tùng đã được dẫn vào nhà, và đồ đạc được đỡ xuống. Theo sau họ là bọn trẻ và cậu bé Tây Ban Nha mà chúng đã kịp làm quen. Chỉ còn lại Bêti và người phụ nữ đang bọc kín mình trong khăn choàng và quần áo. Pitơ nhìn người này một lát, thấy có vẻ quen quen.

Hình như bà ta nhận thấy chàng đang quan sát mình. Như thể ngẫu nhiên, bà ta hất ngược một trong những chiếc khăn đang che kín mặt, để lộ một con mắt dịu dàng và trong sáng, và một bên má màu xạm nắng. Pitơ liền nhận ra đó là ai.

- Cô khỏe không, Inex? - Chàng vừa nói vừa mỉm cười, chìa tay cho Inex, vì quả thật chàng rất vui mừng được gặp lại nàng.

- Một du khách tội nghiệp ở một đất nước xa lạ và lạnh lẽo cảm thấy mình khỏe thế nào, thì tôi cũng khỏe thế ấy, ông Pitơ ạ, - nàng đáp bằng giọng mỏi mệt. - Nhưng tôi tự an ủi mình rằng tôi đang được gặp lại một người bạn cũ mà lần cuối cùng tôi nhìn thấy trong quầy hàng của một ông thợ làm bánh. Ông nhớ chứ?

- Nhớ! - Pitơ kêu to. - Làm sao có thể quên những chuyện như thế được? Inex, sau này cha Enrikê ra sao? Tôi có nghe nhiều tin khác nhau về ông ta.

- Khó có thể nói điều gì cụ thể về lão, - Inex đáp, hé mở đôi môi đỏ luôn mỉm cười của mình. - Trong lâu đài cổ của người Mô, nơi tòa án dị giáo làm việc, có quá nhiều phòng gia, nên dù được thông báo rất tốt, cũng khó lòng mà biết được ai bị giam ở đâu. Tôi chỉ biết một điều là lão linh mục tội nghiệp ấy đã phải khốn đốn vì chúng ta. Người ta nghi ngờ về cách xử sự của lão trong cuộc diễu hành ra quảng trường thành phố. Điều này có thể thuyền trưởng Xmit còn nhớ, - Inex hất đầu chỉ về phía ông thuyền trưởng. - Ngoài ra đối với một người có chức vụ như lão, việc tới thăm các khu Do Thái và viết các bức thư không cẩn thận quả là một điều rất nguy hiểm. Không, không phải bức thư ông đang nghĩ đâu, tôi là người biết giữ lời hứa. Đấy là những bức thư lão viết yêu cầu tôi cho xin bức thư tai hại kia. Một số trong các bức thư ấy đã lọt ra ngoài.

- Lão bị giết rồi à? - Pitơ hỏi.

- Tôi nghĩ thậm chí còn tội tệ hơn, - Inex đáp. - Lão đã bị chôn sống.

- Tội nghiệp lão! - Pitơ thở dài nói.

- Vâng, - Inex đăm chiêu đáp. - Các thầy thuốc thường không thích các loại thuốc do chính họ làm ra.

- Tôi thấy là hầu tước Môrela đã không truy lùng cô, - Pitơ nói sau khi nhìn về phía Bêti.

- Chỉ linh hồn của ông ta thôi, không hơn, thưa ông Pitơ.

- Nghĩa là ông ta đã chết? Cái gì giết chết ông ta?

- Tiếng cười, tôi nghĩ thế, hay nói đúng hơn chính việc ông ta đã trở thành trò cười đã giết chết ông ta. Ông ta đã bình phục hẳn sau lần bị ông chém bị thương. Tất nhiên sau đó ông ta phải giữ đúng như lời hứa của hoàng hậu, và đã phải công nhận Bêti là vợ của mình. Ông ta không thể không làm điều ấy sau khi Bêti đã giành lại ông ta từ tay ông, bằng chính thanh kiếm của ông, và chạy chữa lành lặn. Nhưng thế cũng chưa hết. Trên các đường phố người ta đã hát giễu ông ta, và hỏi thăm về bà mẹ nuôi của ông ta là hoàng hậu Ixaben, vì chính hoàng hậu đã thay mặt ông ta hứa và thề. Sau đó người ta còn hỏi ông ta rằng bà nữ hầu tước có làm gãy mũi giáo nào khi bảo vệ ông ta nữa không, vân vân và vân vân.

- Tội nghiệp! - Pitơ nói với vẻ thông cảm thật sự. - Số phận thật nghiệt ngã! Thà ông ta bị tôi giết chết còn hơn.

- Tất nhiên. Nhưng đừng nói điều này trước mạt Bêti - cô ta tin rằng Môrela là một người chồng hạnh phúc dưới sự che chở của cô ta. Ông ta lặng lẽ chịu đựng, đến nỗi cả tôi, căm thù ông ta đến thế mà cũng lấy làm thương hại. Ông thử nghĩ xem: một trong những người kiêu hãnh nhất Tây Ban Nha, một đại quý tộc nổi tiếng, cháu ruột của Đức vua, trụ cột của giáo hội, đại sức Tây Ban Nha ở xứ Mô, thế mà bị biến thành trò cười cho đám dân hạ lưu, và cả giứi quý tộc nữa.

- Quý tộc? Ai thế?

- Hầu như tất cả, vì hoàng hậu đã làm gương cho họ noi theo. Tội biết cái gì làm bà ta căm ghét ông ta đến thế. - Inex nói thêm, chăm chú nhìn Pitơ, nhưng không chờ trả lời, nàng tiếp: - Hoàng hậu làm điều ấy rất thông minh, bằng cách bao giờ cũng dành riêng các buổi tiếp đón thân mật cho Bêti, mời cô ta tới chơi và luôn khen ngợi vẻ đẹp kiểu Anh của cô... Mà những gì hoàng hậu đã làm thì tất cả sẽ làm theo, đến mức cô chủ dễ bốc đồng của tôi suýt nữa ngất đi vì chóng mặt. Còn hầu tước Môrela thì luôn cảm thấy khó chịu, và sau khi thành Granađa bị chinh phục, ông ta tới đó để được sống yên ổn. Bêti cũng đi theo. Cô ta là một người vợ tốt và đã tiết kiệm cho ông ta khá nhiều tiền. Cô ta mới chôn cất Môrela được một năm - ông ta chết một cách lặng lẽ, và cô ta dựng cho chồng một trong những bức tượng lớn nhất Tây Ban Nha, đến nay còn chưa hoàn thành. Đấy, tất cả câu chuyện là thế. Bây giờ cô ta đưa con trai, cậu hầu tước trẻ tuổi, tới đây, sống ở nước Anh một hoặc vài năm, vì cô ta có trái tim rất hiền hậu,và cũng rất muốn gặp lại mọi người ở đây. Vả lại cô ta cho rằng sẽ tốt hơn nếu để con trai rời Tây Ban Nha trong một thời gian. Còn tôi thì bây giờ, sau cái chết của Môrela, tôi là một thứ hai trong nhà - một lúc vừa là thư kí vừa là người thu nhận tin tức chính, vân vân.

- Cô lấy chồng rồi chứ? - Pitơ hỏi.

- Không, Inex đáp. - Lúc trẻ, tôi đã gặp quá nhiều đàn ông, và tôi nghĩ như thế là đủ. Hay có thể nói rằng, - Inex ngước đôi mắt dịu dàng và long lanh nhìn Pitơ, - đã từng có một người tôi rất cảm tình, đến mức...

Inex ngừng lời. Lúc ấy họ đang đi trên chiếc cầu nằm đối diện tòa lâu đài cổ. Cô Bêti lộng lẫy và nàng Macgaret xinh đẹp được bao quanh bởi nhiều người khác, đang vừa nói chuyện với nhau, vừa đi qua cửa vào một phòng ngoài rộng rãi. Inex nhìn theo họ. Nàng thấy cạnh chân cầu thang có chiếc áo giáp màu trắng loang lổ các vết đâm và chiếc khiên bị vỡ có vẽ hình con chim ưng vàng - món quà của hoàng hậu Ixaben, - mà Pitơ đã sử dụng để đấu và chiến thắng Môrela. Sau đó nàng lùi lại một bước rồi đưa mắt nhìn tòa nhà với vẻ dò xét.

Vươn cao lên trên mỗi mái nhà của tòa nhà là một chiếc tháp bằng đá được xây với mục đích tự vệ. Xung quanh tòa nhà là một đường hào sâu và rộng. Bên trong đường hào ấy, ở góc phía nam của lâu đài, được bao quanh bởi những cây phong và những cây tùng lâu năm, có một khu vườn nhỏ cách biệt với các đường đi lại và các bụi hoa đang nở. ở cuối khu vườn, hầu như khuất sau những cây liễu, là một bể bơi bằng đá cẩm thạch. Mới nhìn, Inex hiểu ngay rằng với sự cho phép của hoàn cảnh và khí hậu, Pitơ đã xây khu vườn này bắt chước một khu vườn khác ở một thành phố phương nam xa xôi là Granađa, bắt chước cả từng bậc thang và ghế đá. Inex quay sang Pitơ, và lấy vẻ bình thản, nàng nói:

- Thưa ông Pitơ, ông không từ chối đi dạo với tôi trong khu vườn này chiều hôm nay chứ? Hình như trên cái tháp kia không có cửa sổ nào cả.

Pitơ đỏ bừng mạt, đỏ như vết sẹo trên má. Chàng cười đáp:

- Thế nhỡ có thì sao? Ta vào nhà thôi, Inex. Chưa ai được chúng tôi vui mừng đón tiếp như cô, nhưng tôi sẽ không bao giờ đi dạo tay đôi với cô trong vườn nữa.

Chú Thích:

(1) Vua Anh từ 1485 - 1509. (Các chú thích đều của người dịch).

(1) Chữ đệm tỏ ý kính trọng, đi kèm với tên người trong cách xưng hô.

(1) Các quan chức cao cấp của giáo hội Thiên Chúa được mặc quần áo màu huyết dụ.

(1) Tiếng Anh: sir - xơ - ngài, đức ông - chữ đệm trước tên, tỏ ý tôn kính trong lúc xưng hô.

(1) Nguyên bản: 6 phút (Phút - đơn vị đo lường Anh, bằng 30,5 cm, để tiện cho người đọc, chúng tôi chuyển sang hệ mét quen thuộc).

(1) Một quận ở Luân Đôn

(1) Cung điện của các vua Granađa.

(1) Tên Pitơ tiếng Anh, đọc theo kiểu Tây Ban Nha là Pêđrô

(1) Ecmanđađa Thần thánh: Liên minh các thành phố và vùng nông thôn ở Caxtili, Lêông, Acturi và Aragông, được vua Phecđinăng và hoàng hậu Ixaben sử dụng như một công cụ trấn áp các quý tộc địa chủ. Sau này dần dần Ecmanđađa Thần thánh chỉ còn giữ vai trò như cảnh sát nông thôn.

HẾT.


Nguồn: thaibatan.com
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2020