dịch giả: thái bá tân

Nàng Macgaret Xinh Đẹp

Lượt đọc: 2616 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương X
đuổi theo

❊ ❊ ❊

Hầu như đúng lúc Macgaret và Bêti leo lên boong tàu “Xanh Antôniô” thì Pitơ Brum và đám gia nhân của mình về đến ngôi nhà ở Hônbôn. Vì đường lầy, Pitơ về nhà muộn hơn một tiếng. Suốt cả tháng qua chàng chờ đợi giây phút này và tin chắc rằng chàng sẽ được đón tiếp rất nồng nhiệt. Vì ngày hôm sau đã là ngày tổ chức lễ cưới giữa chàng và người đàn bà xinh đẹp mà chàng yêu say đắm. Chàng hình dung thấy Macgaret đang ngồi đợi chàng bên cửa sổ, rồi khi nàng chảy bổ ra cửa, chàng sẽ từ yên ngựa nhảy xuống ôm nàng ngay trước mặt mọi người. Bây giờ họ còn phải xấu hổ với ai nữa,k khi ngày mai đã là vợ chồng?

Nhưng Macgaret không ngồi bên cửa sổ. ít ra thì chàng không nhìn thấy nàng vì trời tối quá. Trong cửa sổ thậm chí không thấy cả ánh đèn. Ngôi nhà cổ trông thật ảm đạm. Tuy vậy, Pitơ vẫn xử sự như trước đấy đã hình dung. Chàng nhảy từ lưng ngựa xuống, chạy đến cánh cửa và muốn mở rộng nó nhưng không được- cửa đóng chặt. Chàng liền lấy chuôi kiếm gõ mạnh cho đến khi có một người nào đó đi tới mở cửa cho chàng. Hóa ra đó là người hầu lạ mặt mới được thuê, là người Macgaret đã nhờ chuyển thư. Tay anh ta cầm chiếc đèn.

Thấy anh ta, trái tim Pitơ bỗng nhiên buốt lạnh.

- Anh là ai? - Chàng hỏi và không chờ trả lời liền hỏi tiếp: - Ông chủ Caxten và tiểu thư Macgaret ở đâu?

Anh người hầu báo tin rằng ông chủ ở trên tàu chưa về, còn tiểu thưMacgaret thì khoảng ba giờ trước đây đã cưỡi ngựa đi cùng với cô Bêti và một người thủy thủ lạ mặt.

- Có lẽ tiểu thư đi đón tôi, nhưg trời tối không gặp, - Pitơ nói.

Lúc ấy anh người hầu hỏi chàng có phải Pitơ Brum không, vì có thư gửi cho chàng.

- Vâng, vâng! - Pitơ nói to rồi giật bức thư từ tay anh người hầu. Chàng bảo anh ta đóng của lại và soi đèn or chàng đọc thư. Chàng nhận ra ngay nét chữ của Macgaret.

- Thật là một câu chuyện lạ lùng! - Đọc nốt những dòng chữ cuối trong thư, chàng lẩm bẩm nói. - Ta phải đi ngay bây giờ.

Pitơ mới đi tới cửa và đang chìa tay định mở cửa thì cánh cửa bỗng mở rộng. Caxten đai vào, khỏe mạnh và không hề bị thương gì cả.

- Chào con, Pitơ! - Ông vui vẻ kêu lên. - Bố biết rằng con đã về, vì bố nhìn thấy ngựa. Nhưng tại sao không thấy Macgaret ở đây?

- Vì Macgaret đã đi tới chỗ bố. Bởi lẽ bố bị thương gần chết... hay ít ra trong thư này có nói như thế.

- Đi tới chỗ bố? Bị thương gần chết? Đưa thư đây xem nào! Mà không con đọc đi, bố chẳng thấy gì cả. Pitơ đọc to bức thư.

- Có một âm mưu gì đó ở đây. - Vất vả lắm Caxten mới nói lên được, khi nghe xong bức thư. - Và bố nghĩ rằng ở đây có bàn tay của thằng Tây Ban Nha kia, hay của Bêti, hay của cả hai đứa. Nào anh hầu, muốn sống anh hãy kể cho chúng tôi nghe những gì anh biết, nhanh lên!

- Dạ con thì có liên quan gì! - Anh người hầu hấp tấp nói, rồi kể toàn bộ câu chuyện về cuộc viếng thăm của gã thủy thủ.

- Anh hãy ra bảo mọi người lại cho bầy ngựa ra khỏi chuồng, - Caxten ngắt lời anh ta. - Còn con Pitơ, con hãy bình tĩnh và uống một cốc rượu. Rượu sẽ giúp ta hành độc. Ê, có ai trong đám người hầu của ta ở đây không nhỉ? - Ông gọi to.

Caxten ra lệnh cho đám người hầu đang chạy lại ăn lót dạ và uống một vài cốc để củng cố tinh thần và trong khi họ ăn uống, ông nói cho họ biết việc tiểu thư Macgaret bị bắt cóc, và rằng sẽ phải đuổi theo. Có tiếng ồn - đó là tiếng ngựa đã được dẫn từ chuồng ngựa tới. Tất cả chạy ra đường, nhảy lên lưng ngựa rồi phi như bay tới Tinburi. Họ cũng đi theo con đường Macgaret đã đi, không phải nghĩ vì đoán biết được điều đó, mà chỉ vì nó là con đường ngắn nhất.

Tuy nhiên, do ngựa đã mệt, đêm tối, trời lại mưa nên khi họ tới Tinburi thì chuông đồng hồ trong ngôi nhà thờ nào đó đã điểm ba tiếng. Họ phi qua chiếc bên nhỏ noiư Macgaret và Bêti xuống thuyền. Pitơ và Caxten cưỡi ngựa đi bên nhau, dẫn đầu cả đoàn người. Cả hai cùng im lặng hoàn toàn vì không biết nói gì. Bỗng nghe có tiếng quen thuộc gọi họ. Đó là anh người hầu Tômat. - Con nhìn thấy đầu ngựa của ông chủ từ xa, - anh ta nói, - và đã nhận ra chúng.

- Thế tiểu thư đâu? - Cả Pitơ và Caxten cùng đồng thanh hỏi.

- Đi rồi, đi rồi, đi với Bêti Đin trên một chuyến thuyền từ cái bên kia. Hình như họ bơi tới tàu “Macgaret”. Con dẫn ngựa tới quán trọ, nhưng người ta bảo con ngồi lại đây để chờ tiểu thư. Tiểu thư đi cách đây mấy giờ. Từ đấy con không thấy người nào và không nghe gì cả, ngoài tiếng gió và sóng cho đến khi nghe được tiếng vó ngựa của ông chủ.

- Nếu thế thì ta phải tới Tinburi để lấy thuyền - Caxten nói. - Ta phải đến tàu “Macgaret” trước khi nó nhổ neo. Có thể Macgaret và Bêti đang ở đấy chăng?

- Con nghĩ bọn Tây Ban Nha đã bắt tiểu thư đi. Con tin chắc rằng trên thuyền lúc ấy không phải là người Anh, - Tômat nói. - Anh ta chạy cạnh con ngựa của Caxten, một tay cầm dây cương.

Caxten không nói gì. Pitơ thở dài buồn bã, vì chàng cũng tin rằng trong việc này có bàn tay của bọn Tây Ban Nha.

Một giờ sau, khi bình minh hé rạng, họ leo lên boong tà “Macgaret” đúng vào lúc tàu nhổ neo. Cuộc trò chuyện với thuyền trưởng tàu “Macgaret” Giêcôp Xmit đã khẳng định những giả thiết tồi tệ nhất của họ. Không hề có con thuyền nào rời tàu. Macgaret và Bêti cũng không hề tới đây. Nhưng khoảng một giờ trước đó có con tàu nhỏ Tây Ban Nha “Xanh Antôniô” đi ngang qua, trước đó nó hạ neo ở phía trên dòng chảy. Ngoài ra, hai người chèo thuyền chở thịt tươi cho tàu “Macgaret” có kể lại rằng, khi họ đem tới tàu “Xanh Antôniô” ba con cừu và một ít gà vịt ngay trước khi tàu nhổ neo, họ đã nhìn thấy hai người phụ nữ cao dong dỏng bước lên tàu, và nghe một trong hai người đó nói bằng tiếng Anh: “Hãy dẫn tôi đến chỗ bố tôi!”

Bây giơ, sau khi biết hết mọi sự thật, họ lặng lẽ nhìn nha, sờ sững vì thất vọng. Người đầu tiên đủ dũng cảm nói lên lời và Pitơ.

- Con phải đi Tây Ban Nha để tìm lại người yêu của con nếu nàng còn sống, - chàng thong thả nói, - và giết kẻ đã bắt cóc nàng. Còn bố, bố hãy quay về nhà.

- Nhà của ta là nơi có con gái ta ở! - Caxten cũng giận dữ đáp lại. - Ta cũng đi Tây Ban Nha!

- Bố sẽ gặp nhiều nguy hiểm đe dọa ở Tây Ban Nha, nếu chúng ta tới được nước này, - Pitơ với nhiều hàm ý.

- Cả khi nếu ở đấy là cửa vào địa ngục, bố vẫn cứ đi, - Caxten tuyên bố một cách ngang bướng. - Tại sao ta lại không tham gia săn lùng quỷ dữ?

- Chúng ta sẽ cùng làm điều ấy! - Pitơ nói rồi chìa tay cho Caxten.

Đó là lời thề của ông bố và người yêu của cô con gái, người đối với họ là tất cả nghĩa sống trên đời, cho đến khi cái chết bắt đầu họ phải thôi cuộc săn lùng.

Suy nghĩ một lát, Caxten ra lệnh cho gọi tất cả thủy thủ lên boong. Khi các sĩ quan, thủy thủ và những người hầu đã đứng quanh Pitơ, Caxten liền lên tiếng nói. Ông nói không dài. Ông chỉ kể về việc bắt cóc tồi tệ kia, và tuyên bố rằng ông định cùng Pitơ Brum, là người đáng lẽ hôm nay làm lễ cưới với con gái ông, nếu không bị bắt cóc, sẽ đuổi theo tàu “Xanh Antôniô”. Với sự giúp đỡ của Chúa, họ hi vọng sẽ cứu được Macgaret và Bêti. Caxten nói thêm rằng ông hiểu đây là một việc làm mạo hiểm vì có thể xảy ra đánh nhau, mà ông thì không muốn bắt người khác, cho dù la ai đi nữa, phải miễn cưỡng liều mạng cuộc đời mình, nhất là khi họ được thuê để làm việc trên tàu buôn chứ không phải tàu chiến. Nhưng ai đồng ý theo ông, ông hứa nếu mọi việc kết thúc tốt đẹp, sẽ tặng quà và nhân đôi mức lương hiện có. Ông sẵn sàng kí giấy cam đoan điều này. Còn những ai không muốn, có thể rời bỏ con tàu ngay bây giờ.

Nghe Caxten nói xong, các thủy thủ - họ có gần ba mươi người- liền bàn bạc với nhau và với thuyền trưởng Xmít, một người dũng cảm khoảng năm mươi tuổi. Rồi họ tuyên bố rằng họ chấp nhận lời đề nghị của Caxten. Chỉ một người từ chối, đó là một chàng trai trẻ vừa mới lấy vợ. Những người còn lại thề họ sẽ tiến hành công việc này đến cùng, thuận lợi hay khó khăn cũng vậy, vì tất cả họ là người Anh và cùng căm ghét bọn người tây Tây Ban Nha. Còn hành động trắng trợn của Đacghila đã làm cho họ sôi máu vì tức giận. Ngoài ra trong số mười hai người hầu đi theo Caxten từ Luân Đôn tới đây, sáu người xin cho họ đi theo, mặc dầu hầu như tất cả họ không phải thủy thủ, vì họ yêu mến Macgaret, ông chủ và Pitơ. Caxten quyết định cho họ đi theo. Sáu người hầu còn lại lên bờ. Họ được lệnh chuyển thư của Caxten tới các bạn bè, các đại lí và bạn hàng của ông. Trong các bức thư ấy, Caxten nhờ họ chăm lo hộ các công việc, đất đai và nhà cửa ông trong khi ông vắng mặt. Ngoài ra, ông còn gửi theo họ một bản di chúc ngắn với chữ kí của ông, trong đó ông ghi rõ ông sẽ để lại toàn bộ gia sản của mình, - kể cả số tiền lãi do các công việc bán đang tiến hành sắp mang lại, và cả số gia tài, không ghi vào bản di chúc, - cho Macgaret và Pitơ, hoặc cho người nào đấy trong số họ còn sống sót, hoặc cho những người thừa kế họ. Nếu không có ai thừa kế, thì tất cả gia tài của ông, ông xin di chúc lại để đem xây bệnh viện cho người nghèo.

Sau đó, những người ở lại chia tay với các bạn mình, rồi buồn bã quay lại bờ. Liền lúc ấy, tàu nhổ neo, và làn gió nhẹ mùa xuân thổi căng buồm con tàu “Macgaret”

Vào lúc mười giờ, họ an toàn vượt qua Nô - Bencơ và gặp một số người đánh cá. Những người này báo cho họ biết hơn sáu giờ trước đó, họ nhìn thấy tàu “XanhAntôniô” đi ra của biển lamăng. Lúc ấy họ cũng nhận thấy hai người phụ nữ cầm tay nhau đứng trên boong nhìn không chớp mắt về phía đất liền. Bây giờ Caxten và Pitơ tin chắc rằng không có gì đang ghi ngờ thêm. Họ không thể thay đổi được gì nữa, và quá khổ sở vì đau buồn và đi đường mỏi mệt, họ chẳng còn gì khác để làm, ngoài việc ăn rồi vào khoang ngủ.

Vừa nằm xuống, Pitơ chợt nhớ rằng đáng lẽ vào giờ này chàng đang đứng trong nhà thờ cùng Macgaret, là người hiện giờ ở trong nanh vuốt của bon Tây Ban Nha. Rồi bằng một lời thề độc địa nhất, Pitơ thề bắt Đacghila trả giá cho sự nhục nhã và các đau khổ của nàng. Và quả thật, nếu Đacghila lúc ấy nhìn thấy khuôn mặt của Pitơ, thì chắc hẳn phải run lên vì hoảng sợ - Pitơ là một trong những người không chịu để cái ác xảy ra mà không phải đền tội. Chàng không biết tha thứ là gì, vả lại, sự xúc phạm mà người khác gây cho chàng lúc này quả là quá lớn.

Trong suốt bốn năm ngày liền gió thuận, và tàu “Macgaret”cứ theo vịnh lamăng, hi vọng sẽ đuổi kịp tàu “Xanh Antôniô”. Nhưng “Xanh Antôniô” là một chiếc tàu nhỏ, đi nhanh hơn, có trọng tải năm mươi tấn, và có số buồm nhiều hơn - bốn buồm tất cả. Còn “Macgaret” thì mặc dù là một chiếc tàu tốt nhưng chỉ có hai buồm, và không thể chạy thi nổi với “Xanh Antôniô” được. Hay có thể họ đã để mất hút tàu “Xanh Antôniô” ngoài biển?...

Sáng ngày thứ tư,khi họ đi ngang mũi Lida một cách chậm chạp nhờ một ngọn gió nhẹ, thì người lính thủy trực tàu kêu lên rằng anh ta nhìn thấy ở phía trước có một con tàu đang tiến vào vùng gió lặng.Pitơ người có đôi mắt tinh như mắt chim ưng, liền leo lên cột buồm để nhìn kĩ con tàu xa lạ. Chàng báo tin rằng theo hình dáng và trang bị thì đó là một loại tàu nhỏ, nhưng đó có phải là con tàu mà họ đang đuổi theo hay không, thì chàng không dám nói chắc, vì chưa hề nhìn thấy tàu “Xanh Antôniô”. Nghe vậy, thuyền trưởng Xmit liền leo lên, và chỉ mấy phút sau ông leo xuống nói rằng không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là tàu “Xanh Antôniô”.

Tin này làm tàu “Macgaret” sôi động hẳn lên, các thủy thủ xem lại đao, kiếm và cung tên của mình. Cung tên thì nhiều, nhưng không có đại bác và súng thần công. Các loại vũ khí này ít thấy ở các tàu buôn. Kế hoạch được vạch ra như sau: tiến lại gần tàu “Xanh Antôniô” rồi buộc chặt nó vào tàu “Macgaret” sau đó hi vọng sẽ tấn công và chiếm được tàu “Xanh Antôniô”. Tất nhiên làm thế, họ sẽ chuốc vào mình cơn tức giận của vua Anh vì ngài chẳng mảy may quan tâm tới việc hai cô gái Anh bị bắt cóc. Nhưng cả điều này bây giờ cũng không làm họ lún bước.

Chưa đầy nửa giờ sau tất cả đã sẵn sàng. Pitơ lúc này đang đi trên boong, đây là lần đầu tiên kể từ khi rời Đêthem trông chàng có vẻ hạnh phúc. Cơn gió nhẹ vẫn tiếp tục đẩy họ đi lên phía trước. Nhờ cơn gió ấy, họ đã tiến lại gần, chỉ cách tàu “Xanh Antôniô” nửa dặm. Nhưng bỗng nhiên gió ngừng thổi, và cả hai con tàu cũng đứng im một chỗ, với những cánh buồm rũ xuống. Tuy nhiên do thủy triều hay một luồng gió nào đó, hai con tàu đã xích lại gần nhau, và vào lúc chập tối, khoảng cách giữa chúng chỉ còn lại không đầy một cây số. Những người Anh hi vọng rằng trước khi trời sáng hai tàu sẽ chạm nhau và dưới ánh trăng họ sẽ nhảy sang tàu “Xanh Antôniô”. Nhưng điều ấy đã không xảy ra - khoảng gần chín giờ, những đám mây đen nặng nề bỗng che phủ bầu trời, có gió thổi mạnh từ phía bờ và đến sáng thì đứng trên tàu “Macgaret” họ chỉ nhìn thấy những đỉnh cột buồm của tàu “Xanh Antôniô” đang lướt nhanh về phía nam.

Phải qua hai tuần kéo dài nữa, họ mới lại nhìn thấy tàu “Xanh Antôniô”. Suốt cả cuộc hành trình từ Uexăng hết vịnh Bixcây có những cơn gió nhẹ và hay thay đổi thổi, nhưng khi họ vượt qua mũi Phinixtơ, thì từ phía đông bắc bỗng có một cơn gió mạnh ập đến, làm tàu “Macgaret” đi nhanh hơn. Sang ngày thứ hai, sau lúc mặt trời lặn, tàu “Macgaret”chui ra khỏi màn sương mù quyện lẫn với những cơn mưa, và các thủy thủ lại nhìn thấy tàu “Xanh Antôniô” cách họ một dặm. Mọi người lại vui mừng hẳn lên, vì bây giờ họ biết chắc rằng tàu “Xanh Antôniô” không ghé vào một trong các cảng của miền bắc Tây Ban Nha. Mặc dù tàu “Xanh Antôniô” theo dự định sẽ đến Cađich, nhưng họ lo rằng bọn người Tây Ban Nha có thể sẽ cho tàu vào trốn ở một trong các cảng của miền bắc. Nhưng chẳng bao lâu mưa rào đổ ập, và họ chẳng còn nhìn thấy con tàu của đối thủ.

Khi tàu “Macgaret” đi dọc bờ biển Bồ Đào Nha, thời tiết ngày càng trở nên xấu hơn, và khi họ vượt, qua mũi Xanh Vixăngti rồi hướng về phía Cađich thì bỗng có bão lớn. Trong lúc đó có bão, lần thứ ba họ lại thấy tau “Xanh Antôniô” lúc này đang vật lộn với sóng. Từ bây giờ cho đến cuối cuộc hành trình, trừ những giờ đêm tối, những người trên tàu “Macgaret” luôn nhìn thấy tàu “Xanh Antôniô”. Ngày hôm sau tàu “Macgaret” còn tiến lại gần tàu “Xanh Antôniô” hơn nữa, giữa lú tàu này đang cố tìm mọi cách đi vào cảng Cađich. Nhưng trong khi vật lộn với cơn bão, tàu “Xanh Antôniô” bị gãy một cột buồm. Vả lại bọn người Tây Ban Nha thấy tàu “Macgaret” có khả năng chống bão lớn hơn, chẳng bao lâu nữa sẽ đuổi kịp chúng, nên chúng thay đổi kế hoạch, và tàu “Xanh Antôniô” chuyển hướng đi về vịnh Gibranta.

Trong khi đuổi theo tàu “Xanh Antôniô”, tàu “Macgaret” đã đi qua mũi Tarp - bên phải nó là lục địa châu Phi, qua cảng Anhêxira. Tàu “Xanh Antôniô” không có ý định vào đấy. Tàu “Macgaret” cũng đi ngang qua dãy núi đá cổ xưa màu xám của Gibranta, nơi có những ngọn đèn hiệu đang nhấp nháy, và khi gần tối thì nó đã ở biển Địa Trung Hải, cách tàu “Xanh Antôniô” chưa đầy một dặm.

ở đâybão lại càng kinh khủng hơn, và các thủy thủ phải vật lộnvới những mảnh buồm rách khá vất vả. Sáng hôm sau, tàu “Macgaret” để mất một trong những cột buồm của mình. Đó là một đêm thật kinh khủng và không ai biết chắc liệu sống đến ngày mai hay không. Còn Caxten và Pitơ thì lại càng lo lắng hơn gấp bội vì sợ tàu “Xanh Antôniô” có thể chìm, mang theo luôn cả Macgaret xuống đáy biển. Tuy nhiên, khi bình minh vừa rạng họ vẫn nhìn thấy tàu “Xanh Antôniô” - có điều bị hư hỏng rất nặng - ở phía trước, bên phải. Đến trưa thì hai tàu chỉ còn cách nhau khoảng hai trăm mét, và người Anh có thể nhìn thấy các thủy thủ Tây Ban Nha đang đi lại trên tàu. Ngoài ra họ còn thấy một điều quan trọng hơn nhiều - Có hai người phụ nữ chạy từ khoang tàu ra, và một người cầm khăn trắng vẫy họ. Hai người này liền bị dẫn vào khoang, như thế cũng đủ để Caxten và Pitơ biết chắc rằng Macgaret và Bêti còn sống và biết họ đang cố giải thoát cho hai người.

Một lát sau họ bỗng thấy một chớp lửa lóe lên trên tàu “Xanh Antôniô”, và trước khi họ nghe thấy tiếng nổ thìmột viên đạn to tròn bằng gang rơi trên boong tàu “Macgaret”. Viên đạn nảy lên đánh đúng vào ngực một người thủy thủ đang đứng cạnh Pitơ và hất anh ta xuống biển. Đó là tàu “Xanh Antôniô” bắn đại bác sang, nhưng vì sau đấy không thấy bắn tiếp, nên người Anh cho rằng khi bắn, khẩu súng đã hỏng hay các phần gia cố của nó bị gãy.

Chẳng bao lâu sau sự kiện ấy, với hai cột buồm bị gãy, tàu “Xanh Antôniô” định thay đổi hướng đi về phía Malaga, là nơi ở đấy nhìn thấy rõ các ngôi nhà đứng thấp thoáng dưới chân ngọn núi Xiêra quanh năm phủ tuyết. Nhưng bọn người Tây Ban Nha không làmnổi điều đó: Khi tàu của chúng vừa đúng hướng gió, thì tàu “Macgaret” đã đứng chặng ngay trước mặt, và giữa lúc các thủy thủ Tây Ban Nha đang bận bịu với những người anh rỗi việc lúc ấy bắt đầu bắn tên về phiá chúng. Mặc dù boong tàu “Macgaret” không phải là chỗ lí tưởng lắm để bắn cung, và gió thổi mạnh làm tên bay chệch mục tiêu, họ vẫn giết được ba và làm bị thương tám hoặc chín thủy thủ tàu “Xanh Antôniô”, làm chúng phải buông dây kéo buồm, và thế là con tàu lại bị gió bão thổi quay như chong chóng.

Trên cái bệ cao ở đuôi tàu, Đacghila đứng, một tay ôm cột buồm và chỉ huy các thủy thủ của mình. Pitơ đặt tên lên cung và chờ tàu “Macgaret” đứng yên trên sóng, dù chỉ một tích tắc rồi chàn ngắm bắn.

Những lúc ấy, sóng nâng tầu “Macgaret” lên cao hơn, và thế là khi Đacghila hoảng sợ nhảy ra, mũi tên của Pitơ đã cắm phập vào cột buồm, găm luôn vào đấy cả chiếc mũ nhung to vành của hắn. Pitơ nghiến răng vì tức giận và thất vọng, nhất là khi hai con tàu lại bị sóng đánh ra xa, không còn những cơ hội tốt như thế nữa.

“Bảy lần ngắm bắn thì năm lần ta bắn trúng đồng xu ở khoảng cách năm mươi bước, và được nhận huy hiệu vô địch, - chàng lẩm bẩm một cách chán nản, - thế mà bây giờ không bắn trúng thằng khốn nạn kia để cứu người yêu của ta khỏi nhục nhã. Đúng là Chúa đã không thương hại ta chút nào!”

Cả nửa sau của ngày hôm ấy, hễ có dịp là họ bắn sang tàu “Xanh Antôniô”. Các thủy thủ tàu Tây Ban Nha cũng bắn trả lại, những tổn thất của hai bên không lớn lắm. Tuy nhiên, người Anh nhận thấy tàu “Xanh Antôniô” bị thủng, vì càng ngày nó càng ngập sâu xuống nước.

Người Tây Ban Nha cũng nhận ra điều ấy, và hiểu rằng họ chỉ có hai lối thoát: hoặc là đi nhanh vào bờ, hoặc chìm xuống biển. Thế là lần thứ hai, dưới những trận mưa trên tên của người Anh, họ đổi đi vào chiếc vịnh nhỏ Calahônđa, trong đó có cảng Môtrin, vì từ đây vào bờ không xa lắm.

- Trên bờ vịnh này là một thành phố Tây Ban Nha, - thuyền trưởng Xmit nói với Caxten và Pitơ đang đứng cạnh. - Có lần tôi đã cho tàu đậu ở đây. Nếu tàu “Xanh Antôniô” vào được tới đó, thì chỉ còn cách xin vĩnh biệt tiểu thư của chúng ta, vì chúng sẽ dẫn tiểu thư tới Granađa, từ đây tới Granađa chỉ ba mươi dặm đường núi, mà ở Granađa thì hầu tước Môrela là ông chủ toàn quyền. Hắn có cả một lâu đài ở đấy. Ta làm gì bây giờ, ông Caxten? Năm phút nữa tàu “Xanh Antôniô” sẽ ở ngay trước mũi tàu “Macgaret”. Chúng ta sẽ lao thẳng vào nó rồi tìm cách cứu hai tiểu thư, hay để chúng dẫn họ về Granađa, và ta đành bỏ cuộc?

- Không, không bai giờ! - Pitơ kêu lên. - Còn một cách nữa: ta sẽ đi vào vịnh và đánh nhau với chúng trên bờ.

- Để bị rơi vào giữa hàng trăm thằng Tây Ban Nha, để chúng cắt họng hết tất cả à? - Ông thuyền trưởng lạnh lùng nói thêm.

- Nếu chúng ta đâm vào chúng, - Caxten hỏi, từ nãy tới giờ ông trầm tư im lặng, - thì liệu chúng ta có bị chìm theo chúng không?

- Có thể, - thuyền trưởng Xmit đáp, - nhưng tàu “Macgaret” của ta được làm bằng thứ gỗ sồi nước Anh và có đầu mũi rất cứng. Tôi nghĩ nó sẽ không chìm. Còn tàu “Xanh Antôniô” thì lập tức sẽ lao xuống đáy biển, bây giờ nhưng cũng đã gần thế. Có điều hai tiểu thư có lẽ bị giam dưới khoang để không bị tên của tàu chúng ta bắn trúng, nên họ sẽ phải chìm theo tàu.

- Còn có một cách khác, - Pitơ cương quyết nói. - Ta móc tàu chúng vào tàu mình rồi nhảy sang đánh nhau. Tôi sẽ làm như thế.

Là một người đàn ông khỏe, có khuân mặt rộng ít khi thay đổi, ông thuyền trưởng Xmit nhíu mày - đó là dấu hiệu duy nhất chứng tỏ ông đang ngạc nhiên.

- Sao, giữa lúc sóng lớn như thế à? - Ông hỏi. - Tôi đã tham gia mấy cuộc chiến tranh, nhưng chưa bao giờ thấy những chuyện như vậy.

- Thế thì bây giờ ông sẽ thấy, nếu tôi có được mười người đồng ý đi với tôi, - Pitơ tuyên bố với vẻ cương quyết và giận dữ. - Còn làm thế nào được nữa? Không lẽ tôi chịu đứng nhìn người khác bắt người yêu của tôi dẫn đi ngay trước mũi mình mà không tìm cách cứu giúp? Tôi thà trao thân cho số phận và liều mạo hiểm. Nếu tôi chết thì nghĩa là số phận bắt thế, chết như một người đàn ông chân chính. Không con lối thoát nào khác.

Rồi chàng quay lại nói to:

- Có ai đồng ý theo tôi nhảy sang tàu Tây Ban Nha không? Tôi hứa sẽ cho những ai sống sót được sống nốt quãng đời còn lại của mình trong no đủ, còn những ai chết, sẽ giành được vinh quang và sự hưởng lạc nơi thiên đường.

Đám thủy thủ nghi ngờ nhìn những ngọn sóng cao đang cuộn lên xung quanh, nhìn chiếc tàu Tây Ban Nha đang từ từ chìm xuống nước, và im lặng không nói gì. Thấy thế Pitơ nói tiếp:

- Chúng ta không còn con đường nào khác. Nếu chúng ta đầm vào tàu chúng, tàu chúng sẽ chìm. Thế thì chúng ta còn cứu tiểu thư làm sao được? Nếu để yên không làm gì nó, có lẽ tự nó chìm, và cả lúc ấy chúng ta cũng đành bất lực. Có thể bọn chúng đổ bộ được lên bờ, nhưng lúc ấy chúng ta sẽ bắt các tiểu thư về Granađa, và ta khó lòng mà giành lại họ từ người Mô hay từ tay chính quyền vua Tây Ban Nha. còn nếu bắt tay chúng cột vào tàumình, chúng ta có thể cứu được các tiểu thư trước khi tàu chúng chìm xuống đáy biển hay vào được tới bờ. Có ai theo tôi không?

- Có bố đây, Pitơ! - Ông già Caxten nói. - Bố sẽ đi với con.

Pitơ ngạc nhiên nhìn ông:

- Bố? Vào cái tuổi của bố ư?

- ừ, vào cái tuổi của bố đây. Tại sao lại không? Bố còn gì nữa để lo mất?

Lúc ấy, như thể xấu hổ với sự do dự của mình, một thủy thủ to lớn bước lên phía trước và nói rằng anh ta sẵn sàng cắt cổ bọn cướp Tây Ban Nha cả vào lúc thời tiết xấu cũng như vào lúc thời tiết tốt. Theo sau anh ta là những người hầu của Caxten, rồi các thủy thủ khác. Cuối cùng gần một nửa số người trên tàu - khoảng hai mươi người - tuyên bố rằng họ đồng ý mạo hiểm đi theo Pitơ. Thấy thế, Pitơ buộc phải kêu to” “Thôi đủ, chừng này là đủ!”. Thuyền trưởng Xmit cũng tỏ ý gia nhập đám thủy thủ dũng cảm, nhưng liền bị Caxten ngăn lại, nói rằng thuyền trưởng không được phép rời khỏi tàu mình.

Tàu “Macgaret” chuẩn bị chặn đường tàu “Xanh Antôniô” lúc này đang chậm chạp đi thành một vòng tròn, trông giống một con thiên nga bị thương. Đám thủy thủ sắp sửa nhảy sang tàu “Xanh Antôniô” chuẩn bị dao, kiếm - lúc này cung tên không còn tác dụng nữa. Trong lúc ấy Caxten giao các nhiệm vụ cho thuyền trưởng. Ông ra lệnh rằng nếu ông và các bạn bị giết hay bị bắt làm tù binh, thì thuyền trưởng phải cho tàu tới Xêvin, và ở đấy bán tàu cùng tất cả hàng hóa cho các bạn hàng của ông. Đồng thời thuyền trưởng Xmít phải thay mặt ông yêu cầu họ làm tất cả những gì có thể để giải thoát cho Macgaret và Bêti nếu họ còn sống, và trừng phạt Đacghila - hầu tước Môrela, vì những tội lỗi hắn đã gây ra. Nếu cần tiền để làm những việc ấy, thuyền trưởng Xmit có thể sử dụng số tiền có được do bán tàu và hàng hóa.

Giao các nhiệm vụ ấy xong, Caxten gọi một người trong đám người hầu, bắt mang tới cho ông một chiếc áo giáp nhẹ bằng thép. Pitơ quyết định không mặc áo giáp nào cả vì chúng quá nặng. Chàng cứ mặc chiếc áo da trâu, đủ để mũi kiếm không đâm thủng. Những người khác mặc áo da trâu như thế và đội mũ sắt, là những thứ có rất nhiều trên tàu.

Trong khi ấy tàu “Xanh Antôniô” đã đi hết một vòng cung và đang tới gần cửa vào vịnh. Nó cố ở quãng xa cách tàu “Macgaret” ít nhất là năm mươi mét. Sau khi ra lệnh căng một chiếc buồm nhỏ, thuyền trưởng Xmit cầm tay lái tàu “Macgaret” cho nó tiến lên đón đường tàu “Xanh Antôniô”. Pitơ và Caxten cầm đầu nhóm thủy thủ dũng cảm náu mình ở phía mũi tàu và chờ đợi.


Nguồn: thaibatan.com
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2020