dịch giả: thái bá tân

Nàng Macgaret Xinh Đẹp

Lượt đọc: 2613 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương XII
cha enrikê

❊ ❊ ❊

Đêm ập xuống một cách đột ngột, và lập tức những tia sáng cuối cùng của mặt trời đang lặn chìm ngay vào đám mây đen nặng nề khổng lồ chốc chốc lại lóe lên những tia chớp sáng rực. Mưa bão bắt đầu đổ sập xuống con tàu đang chìm. Những tiếng sấm đinh tai nhức óc. Người thuỷ thủ cầm lái con tàu đi đâu? Chỉ những cơn sóng bằng nhỏ dần chứng tỏ họ đã vào tới vịnh. Chẳng bao lâu sau tùa "Xanh Antôniô" lao vào núi đá, giật mạnh, làm Caxten lúc ấy đang cúi xuống người Macgaret bất tỉnh bị bắn vào thành tàu.

Trong bóng tối có người kêu lên: "Tàu đang chìm!". Nước chảy mạnh lên boong, nhưng Caxten không biết đấy là sóng biển hay nước mưa. Sau đó ông lại nghe có tiếng kêu: "Lên thuyền nhanh lên, không chết hết cả bây giờ!" và tiếng kêu loảng xoảng của những chiếc thuyền được hạ xuống. Con tàu lắc đi lắc lại một vài lần nữa rồi đứng yên. Trong ánh chớp Caxten nhìn thấy Bêti đang ôm Macgaret bất tỉnh trong đôi tay khoẻ mạnh của mình. Cô ta cũng nhìn thấy Caxten và nói to với ông để ông cùng xuống thuyền. Caxten đi theo cô ta, nhưng chợt nhớ tới Pitơ. Biết đâu Pitơ đang sống! Ông sẽ nói gì với Macgaret nếu để chàng chết chìm. Caxten lần tới chỗ Pitơ nằm, rồi gọi một người thuỷ thủ đang chạy ngang tới giúp đỡ. Anh ta chửi rủa câu gì đấy rồi biến mất trong bóng tối. Còn lại một mình, Caxten cố nâng thân hình nặng nề của Pitơ lên, nhưng vì tay phải của ông bất động, nên ông chỉ nâng được nửa người phía trên rồi chậm chạp kéo Pitơ tới chỗ ông nghĩ đang có thuyền.

Nhưng thuyền ở đây không có, và ông nghe có tiếng nói vọng lại phía đối diện - phải kéo lê Pitơ tới đấy. Khi hai người tới nơi, tất cả đã lắng xuống, và trong ánh chớp Caxten nhìn thấy một chiếc thuyền chở đầy người đang chao đảo trên đầu ngọn sóng, cách tàu năm mươi mét. Những người không còn chỗ trên thuyền thì bám lấy đuôi và mũi thuyền mà bơi. Caxten kêu to nhưng không ai trả lời ông, có thể không ai nghe tiếng ông giữa lúc hỗn loạn như thế.

Lúc này Caxten hiểu rằng ông đã làm tất cả những gì có thể. Ông kéo Pitơ tới chỗ có mặt boong phía trên của con tàu làm mái che, ít ra thì cũng phần nào tránh được cơn mưa, rồi đặt chiếc đầu đang chảy máu của chàng lên gối, cao hơn mực nước. Sau đó, ở cái tư thế ấy, ông bắt đầu cầu nguyện và chờ cái chết.

Ông không nghi ngờ một chút nào rằng cuộc đời của ông đến đây là chấm dứt. Trong làn chớp ông nhìn thấy boong tàu hầu như ở ngang với mặt nước biển. Đành rằng ở đây, trong vịnh, biển yên tĩnh hơn nhiều. Ông đoán biết được điều ấy vì mưa vẫn mạnh và gió vẫn ào ạt như trước, nhưng sóng biển không té lên người ông. Con tàu chìm dần, chìm dần, cho đến khi nước ngập hết boong. Ông buộc phải đi lên boong trên theo chiếc cầu thang mà từ đó Pitơ đã tấn công Đacghila. Một chốc sau Caxten cảm thấy con tàu không chìm nữa. Ông không hiểu điều ấy có nghĩa là gì. Cơn bão đã quá, gió lặng và bầu trời xuất hiện những vì sao. Trời trở nên ấm hơn, và điều này đã làm ông rất mừng, nếu không, trong bộ quần áo ướt thế này, ông có thể bị chết rét. Nhưng dù sao đây cũng là một đêm dài, dài nhất trong cuộc đời ông. Thế mà ông chẳng ngủ được để tạm quên đi nỗi đau, hay để nhẹ nhàng đón nhận cái chết.

Cứ thế ông ngồi yên, thầm đoán Macgaret còn sống hay không. Pitơ thì ông cho là đã chết từ lâu, và nghĩ không hiểu linh hồn họ trên thiên đường có chờ ông lên nhập bọn hay không. Ông nhớ lại những ngày ông sống hạnh phúc, buon bán phát đạt, cho đến lúc ông nhìn thấy khuôn mặt đáng nguyền rủa của Đacghila; về gia tài của mình và về những gì sắp xảy ra với nó. Thậm chí ông còn nghĩ rằng nếu Macgaret chết đi thì hơn, vì sông mà nhục nhã thì chẳng nên sống làm gì.

Chẳng bao lâu sau ông bắt đầu rơi vào sự lãng quên và ý nghĩ cuối cùng ông còn nhớ được là con tàu đang chìm, và theo nó, ông cũng đang chìm vào đáy sau của cái chết.

... Bỗng có tiếng người nào đấy gọi ông, ông chợt tỉnh dậy. Trời đã sáng. Trước ông là Pitơ đang đứng, tay dựa vào cầu thang. Khuôn mặt chàng tái nhợt, dính đầy máu, hai hàm rằng va vào nhau cầm cập, còn đôi mắt thì mờ đi một cách không tự nhiên.

- Thưa bố, bố vẫn sống đấy chứ? - Chẳng hỏi. - Hay cả hai chúng ta đã chết và đang ở địa ngục?

- Không, tôi còn sống, - Caxten đáp, - cả hai chúng ta đang ở thế giới bên này.

- Chuyện gì đã xảy ra? - Pitơ hỏi. - Con vừa rơi vào bóng đêm nào đó.

Caxten vắn tắt kể cho chàng nghe tất cả những gì đã xảy ra. Nghe xong, Pitơ chuệch choạng đi về phía thành tàu, và không nói một lời nào, chàng nhìn đăm đăm về phía xa.

- Con không thấy gì cả, - Cuối cùng chàng nói. - Sương mù dày quá, nhưng con nghĩ chúng ta không ở xa bờ lắm. Bố giúp con một tay. Cần phải tìm thức ăn, con yếu lắm rồi.

Caxten đứng dậy, xoa bóp đôi chân cứng đờ của mình, rồi đi lại gần Pitơ. Ông đưa cánh tay lành lặn ôm chàng, và cứ thế, cả hai người đi về phía đuôi tàu, nới Caxten nghĩ chắc phải có phòng của các thuỷ thủ. Họ tìm thấy phòng ấy và đi vào phía trong. Đây là một phòng nhỏ nhưng được bày biện sang trọng, trên bức tường phía sau có dính một cây thánh giá bằng gỗ chạm trổ. Trên sàn lăn lóc một vài mẩu thịt và một ít bánh mì khô, là thứ các thuỷ thủ vẫn hay ăn. Chắc chúng rơi từ bàn ăn xuống. Trong chiếc túi lưới treo trên bàn có mấy chiếc chai đựng rượu và nước uống. Caxten tìm cốc rót đầy rượu rồi đưa cho Pitơ. Pitơ uống hết ngay rồi đưa lại cho ông, và đến lượt mình, Caxten cũng uống một hơi hết cả cốc. Sau đó họ dùng con dao của mình cắt mỗi người một miếng thịt và ăn hết, mặc dù Pitơ phải gượng lám mới nuốt nổi vì những vết thương trên đầu và cổ. Sau đó họ lại tiếp tục uống rượu, rồi cảm thấy đã khoẻ hơn, họ rời khỏi khoang tàu.

Sương mù vẫn dày đặc, không nhìn thấy gì, nên họ lại đi vào chiếc canbin đã sụp đổ, nơi Macgaret và Bêti đã ở trước đấy. Họ ngồi xuống giường của hai và bắt đầu đợi. Pitơ để ý nhận thấy cabin được bố trí một cách sang trọng, như thể đó là nơi dành riêng cho những người đàn bà quý phái. Thậm chí đồ ăn ở đây cũng bằng bạc, và trong chiếc tủ để hở thấy có những bộ quần áo lộng lẫy. ở đấy có cả những cuốn sổ chép tay. Trong cuốn sổ Macgaret có ghi chép những điều gì đấy. Nàng còn chép cả vào đây một đoạn kinh cầu Chúa bảo vệ mình, cầu Pitơ và bố nàng được sống sót để biết sự thật những điều đã xảy ra. Macgaret cũng cầu các thánh thần cho nàng thoát nạn để sớm đoàn tụ với bố nàng và Pitơ. Cuốn sổ này Pitơ đem giấu dưới áo, để lúc rỗi có thể xem lại kĩ hơn.

Mặt trời nhô lên khỏi những dãy núi bao quanh vịnh. Rời canbin, Pitơ và Caxten leo lên núi tàu rồi đưa mắt nhìn xung quanh. Họ nhận thấy họ đang ở trong một cái vịnh khép kín bốn bên và cách bờ không hơn một trăm mét. Cột một mảnh sắt tây vào dây, họ thả xuống nước để đo độ sâu, và thấy rằng tàu mắc cạn, ở phần mũi nước chỉ hơn một mét. Sau khi biết rõ điều ấy họ quyết định bơi vào bờ.

Trước khi rời tàu, họ quay lại cabin, tìm thấy một chiếc túi da, rồi cho thức ăn và rượu nho vào đấy. Sau đó họ bỗng nghĩ tới việc tìm phòng của Đacghila. Họ đã tìm thấy nói. ở đấy họ thấy một chiếc hòm có khoá, và họ đã dùng một thanh sắt để cậy nắp lên. Trong hòm có một số vàng khá lớn - có lẽ dùng để trả côn cho các thuỷ thủ - và các đồ trang sức quý. Họ không động đến đồ trang sức, còn tiền thì chia đôi, mỗi người giấu vào mình một nửa, vì sau này có thể sẽ cần đến, nếu họ bơi được vào bờ. Sau đó họ rửa và băng bó vết thương cho nhau, rồi đi theo chiếc thang bằng dây, nơi những người Tây Ban Nha đã xuống thuyền, và thế là họ rời tàu "Xanh Antôniô".

Lúc ấy gió lặng, mặt trời chiếu sáng rực rỡ, sưởi ấm lại dòng máu đã bị giá lạnh của họ. Biển hoàn toàn yên tĩnh, và nước chỉ đến lưng. Đáy biển có cát và bằng phẳng.

Khi Pitơ và Caxten tới gần bờ, họ nhìn thấy một đám đông đang tụ tập trên đó, và nghĩ họ là dân của thành phố nhỏ Môtrin ở dọc bờ sông đổ vào vịnh. Ngoài ra họ còn nhìn thấy ở trên bờ chiếc thuyền của tàu "Xanh Antônio" đang nằm trên cát, trong thuyền rất ít nước. Điều này làm họ vui mừng, vì thế nghĩa là con thuyền đã vào bờ một cách an toàn. Cạnh đấy có năm hay sáu xác chết - chắc là xác những người thuỷ thủ bơi theo hoặc bám vào mạn thuyền, nhưng trong số các xác chết ấy không thấy có phụ nữ.

Khi Pitơ và Caxten lên tới bờ thì còn một ít người ở lại đấy. Phần lớn đã lao ra cướp phá con tàu, số còn lại đi chuẩn bị thuyền cùng nhằm mục đích ấy. Họ chỉ gặp phụ nữ, trẻ con, ba ông già và một vị linh mục. Ông linh mục có đôi mắt tham lam và láu lỉnh, khuôn mặt giả dối. Ông ta đi về phía họ, lên tiếng chào hỏi một cách lịch sự rồi nói rằng họ phải cảm ơn Chúa đã cứu sống họ.

- Chúng tôi sẽ làm điều đó, tất nhiên, - Caxten đáp, - nhưng thưa cha, xin cha cho biết những người đi cùng tàu với chúng tôi bây giờ đang ở đâu?

- Một số người đang ở đây, - ông linh mục vừa nói vừa đưa tay chỉ các xác chết. - Còn số khách thì cùng với hai tiểu thư đã về Granađa cách đây hai giờ. Hầu tước Morela có nói với chúng tôi rằng tàu của ông ta chìm và chẳng còn ai sống sót. Sương mù dày đặc không nhìn thấy gì, nên chúng tôi tin là thế thật. Vì vậy, chúng tôi không tới đây sớm hơn, nếu không... - Ông ta nói thêm một cách đầy hàm ý. - Chúng tôi là những người nghèo, mà Chúa thì ít khi cho chúng tôi những vụ đắm tàu thế này.

- Họ đi tới Granđa bằng cách nào, thưa cha? - Caxten lại hỏi. - Đi bộ à?

- Không, thưa ông, họ dùng sức bắt chết tất cả ngựa và la trong làng, mặc dù ông hầu tước có hứa sẽ trả lại và thanh toán tiền cho chúng tôi sau. Chúng tôi tin ông ấy vì chẳng còn cách nào khác. Hai tiểu thư kia thì khóc như mưa và yêu cầu chúng tôi cho họ trú lại, nhưng ông hầu tước không đồng ý, dù trông họ thật đau buồn và mỏi mệt. Mong Chúa trả lại những con ngựa kia cho chúng tôi, - ông linh mục kết thúc một cách thành thật.

- Thế có còn ngựa cho chúng tôi không? Chúng tôi có một ít tiền và có thể thanh toán được, nếu không đắt lắm.

- Chẳng còn con nào cả, thưa ông, họ bắt hết. Vả lại bây giờ các ông cũng khó mà cưỡi ngựa được, vì các ông đã trải qua nhiều thử thách như thế. - Rồi ông ta chỉ vào cái đầu bị thương của Pitơ và cánh tay quấn băng của Caxten. - Tại sao các ông không ở lại dây nghỉ ngơi chút đã?

- Vì tôi là bố của một trong hai tiểu thư ấy, và tất nhiên nó tin chắc rằng tôi đã bị chết chìm. Còn ông này là chồng chưa cưới của nói.

- Ra thế đấy! - Ông linh mục nói rồi tò mò nhìn hai người. - Nếu vậy thì quan hệ giữa cô ta và hầu tước như thế nào? Nhưng có lẽ tôi không hỏi thì hơn, vì đây không phải là lễ xưng tội, có đúng thế không? Tôi thấy thông cảm với nỗi lo lắng của ông, vì ngài quý tộc ấy nổi tiéng là một người đàn ông quá vui vẻ. Ông ta là một tín dodò tuyệt diệu, nhưng rõ ràng là rất phóng túng trong sinh hoạt. - Rồi ông linh mục mỉm cười, lắc lắc chiếc đầu cạo trọc của mình. - Nhưng thôi, thưa các ông, mời các ông vào làng, ở đấy các ông có thể nghỉ ngơi và băng bó lại vết thương của mình. Sau đó chúng ta sẽ nói chuyện.

- Ta nên đi theo ông ta. - Caxten nói với Pitơ bằng tiếng Anh. - ở đây, trên bờ biển, không có ngựa, mà ta thì không thể cứ thế này đi bộ tới Granađa được.

Pitơ gật đầu, rồi ông linh mục - họ hỏi ra, biết ông là cha Enrikê - dẫn họ đi.

Lên tới đỉnh ngọn đồi cách bờ biển khoảng mấy trăm bước chân. Họ ngoái lại nhìn và thấy bây giờ tất cả những người khỏe mạnh trong làng đã lao ra cướp phá con tàu.

- Họ làm thế để bù lại cho mình đã bị cướp mất và la. - cha Enrike nhún vai nói.

- Vâng, tôi thấy, - Caxten đáp, nhưng cha...

- ồ, không phải lo cho tôi, - ông linh mục đáp với nụ cười láu lỉnh. - Nhà thờ không làm chuyện cướp bóc, nhưng cuối cùng chúng tôi cũng sẽ nhận được phần của mình. Dân ở đây biết điều lắm. Tôi chỉ sợ khi ông hầu tước biết tàu không chìm, ông ta sẽ bắt đền chúng tôi.

Họ đi qua ngọn đồi, nhìn thấy những bức tường trắng và các mái đỏ của những cụm nhà nằm dọc theo bờ sông. Năm phút sau cha Enrikê dừng lại trước một ngôi nhà rồi dùng khoá mở cửa.

- Đây là ngôi nhà tồi tàn của tôi khi tôi ở đây, chứ không phải ở Granađa, - ông ta nói. - Tôi có vinh dự được tiếp các ông trong ngôi nhà này. Bên cạnh là nhà thờ, các ông thấy đấy.

Họ đi sâu vào một khu sân nhỏ, nơi xung quanh một chiếc vòi phun nước nhỏ có mấy cây cam, còn cạnh tường là một cây thánh giá cao bằng người. Đi ngang qua thánh giá, Pitơ cúi đầu làm dấu, nhưng Caxten không làm theo. Ông linh mục vội đưa mắt nhìn ông.

- Thưa ông, đáng lẽ ông phải cúi chào Đức Cháu đã cứu giúp ông thoát chết. Chả là ông hầu tước có nói với tôi rằng cả hai ông đã chết.

- Tay phải của tôi bị thương nặng. - không hề lúng thúng, Caxten đáp lại. - Nhưng tôi đã thầm đọc kinh trong lòng mình.

- Tôi hiểu, thưa ông, nhưng nếu ông đến đất nước này lần đầu tiên - mặc dù điều này ít có khả năng xảy ra, vì ông nói tiếng ở đây rất thành thạo, thì toi xin phép được bảo để ông biết rằng ở đây tốt hơn là không chỉ đọc kinh thầm trong lòng. Thời gian gần đây các bậc cha của toà án dị giáo trở nên nghiêm khắc hơn nhiều, và họ rất chú trọng các nghi lễ bên ngoài. Khi có dịp tiếp xúc với toà án dị giáo thiêng liêng ở Xêvin tôi đã được tận mắt nhìn thấy một người bị thiêu sống vì anh ta dám coi thường các nghi lễ đó. Chúng ta có hai tay, một đầu, thưa ông, và thêm vào đó hai đầu gối để có thể quỳ xuống.

- Xin cha tha lỗi cho tôi, - Caxten đáp. - Nhưng lúc ấy tôi đang nghĩ về chuyện khác, cụ thể là việc con gái tôi đã bị hầu tước Môrela của các ông bắt đi.

Cha Enrikê không đáp lại câu trên của Caxten, và dẫn họ đi qua phòng khác vào một phòng ngủ có các cửa sổ với chấn song cao, nên mặc dầu căn phòng rộng, nó vẫn có cái gì đấy giống hệt phòng giam. Ông linh mục để các vị khác ở lại đây, nói là đi tìm ông thầy thuốc địa phương - đồng thời ông ta cũng là thợ cạo - nếu lúc này ông ta không bận "làm nhẹ con tàu". Ông ta khuyên họ cởi quần áo ướt và nằm nghỉ.

Một người phụ nữ mang tới cho họ nước nóng và quần áo để khoác tạm lên người, trong khi chờ quần áo của họ khô lại. Pitơ và Caxten cởi áo, tắm rửa, và hoàn toàn mỏi mệt, họ lăn xuống gường rồi ngủ thiếp đi. Trước khi ngủ, họ rút tiền ra nhét vào chiếc túi đựng thực phẩm, rồi Pitơ đem giấu dưới gối. Hai giờ sau họ bị đánh thức dậy bởi sự xuất hiện của cha Enrikê và ông thầy thuốc - thợ cạo. Cùng đi với họ còn có cả ba người hầu với những bộ quần áo đã được giặt sạch và phơi khô.

Khi thấy những vết thương ở cổ và vai trái Pitơ tím bầm và bắt đầu sưng lên, ông thầy thuốc lắc đầu, tuyên bố rằng chỉ thời gian và sự yên tĩnh mới giúp được Pitơ khoẻ mạnh trở lại, và rằng có lẽ chàng được sinh ra dưới một ngôi sao hạnh phúc, vì nếu không có chiếc mũ sắt và chiếc áo da, thì chắc hẳn chàng không còn sống đến bây giờ. Vì các xương còn lành lặn, nên ông thầy thuốc chỉ phải bôi vào vết thương một miếng vải sạch. Sau đó ông ta quay sang chữa cánh tayảp của Caxten. Ông ta rửa nó bằng nước ấm và mỡ, băng bó lại rồi tuyên bố rằng hình như cơn bão có mạnh hơn ông ta tưởng, vì nó đã có thể cắm một mũi tên vào cánh tay đàn ông. Nghe thế, ông linh mục tỏ ra vẻ quan tâm.

Caxten không nói gì về nhận xét ấy. Ông đưa cho ông thầy thuốc một đồng tiền vàng, yêu cầu ông ta nếu có thể được thì kiếm ngựa và la hộ. Ông thầy thuốc rất hài lòng về khoản tiền công mà ông ta được nhận. Đối với một người Môtrin thì như thế là quá nhiều. ông ta hứa đến tối quay lại và sẽ báo tin nếu biết được ở đâu có ngựa và la. Ngoài ra ông ta còn hứa sẽ kiếm cho họ quần áo khoác Tây Ban Nha, vì mặc quần áo cũ mà đi thì e không tiện - chúng đã qúa bẩn và dính đầy máu.

Sau đó ông ta bỏ đi, cha Enrikê cũng đi theo, vì ông ta còn phải xem xét việc chia phần của cải lấy được từ con tàu, và để làm sao ông ta không bị thiệt. Người hầu gái tốt bụng mang súp đến cho Pitơ và Caxten. Sau đó họ lại nằm xuống giường và bắt đầu thảo luận sắp tới sẽ làm gì.

Caxten tỏ ra hoàn toàn nản chí. Ông nói rằng họ đã ở quá xa Macgaret, và bây giờ họ lại mất nàng, vì nàng đang nằm trong tay Môrela, họ khó lòng dứt ra khỏi. Vả lại, có lẽ nàng đã được đưa tới Granađa, thành phố của những người Mô, nơi toà án và các luật lệ Thiên Chúa không có tác dụng.

Nghe xong những lời ấy, Pitơ, người mà trái tim vẫn còn vừng vàng liền nói:

- Đức Chúa toàn năng, toàn quyền cả ở Granađa, cũng như Luân Đôn hay trên biển, là nơi Ngài vừa cứu sống chúng ta. Con tin rằng chúng ta có đủ cơ sở để cảm ơn Ngàim, vì đáng lẽ phải chết, chúng ta có thể hi vọng rằng nàng không bị thương gì. Ngoài ra, cái tên ăn cắp Tây Ban Nha chuyên bắt cóc phụ nữ kia có vẻ khá lạnh lùng. Theo lời hắn mà xét, nếu lời hắn có ít nhiều sự thật nào đó, thì mặc dù đã bắt cóc Macgaret, hắn không dám cưỡng đoạt nàng, mà chỉ muốn chiếm được tình yêu và sự đồng ý của nàng, là điều con nghĩ khó lòng xảy ra nổi... Vả lại, hắn tránh không giết người, thí dụ hắn để chúng ta sống, mặc dù có thể dễ dàng giết chúng ta.

- Bố từng gặp những người như thế, những người cho rằng có những tội lỗi có thể tha thứ được, trong những khi những tội lỗi khác thì không. Đó là kết qủ của sự mê tín.

- Thế thì ta phải cầu Chúa để hắn tiếp tục mê tín, và để chúng ta sớm đến được Granađa. Đừng quên rằng ở đấy chúng ta có bạn bè cả giữa những người Do Thái và giữa những người Mô mà trong nhiều năm qua bố đã có quan hệ buôn bán. Họ có thể che giấu chúng ta. Vì vậy, mọi việc của cat bây giờ chưa phải đã đến lúc tồi tệ nhất, vì chúng có thể còn tồi tệ hơn nữa.

- Có lẽ đúng thế thật, nếu quả chúng đã đưa Macgaret tới Granađa. - Caxten đồng ý đáp, giọng đã bình tĩnh hơn. - Ta thử hỏi ông thợ cạo và cha Enrikê xem có biết thêm điều gì không.

- Con không tin ông cha ấy lắm; ồng ta láu kỉnh và là người của Môrela. - Pitơ nói.

Cả hai cùng im lặng. - họ đã quá mệt, vả lại cũng chẳng có gì thêm để nói, mặc dù họ phải nghĩ về rất nhiều việc.

Sau khi mặt rời lặn, ông thợ cạo lại đến để băng bó các vết thương cho Pitơ và Caxten. Ông ta mang theo những bộ quần áo Tây Ban Nha, mũ và hai chiếc áo khoác nặng rất tiện cho việc đi đường xa, và bắt họ phải trả một số tiền khá lớn. Ngoài ra, ông ta còn báo tin rằng đã có hai con la tuyệt vời đang chờ họ ngoài sân. Caxten đi ra xem. Hoá ra đó chỉ là hai con vật ốm yếu đáng thương, nhưng vì không còn cách nào khác nên ông buộc phải quay vào phòng để bàn về giá cả. Cuộc bàn kéo dài vì người thợ cạo đã đòi gấp đôi cái giá đáng có. Caxten tuyên bố rằng những người nghèo, lại gặp tai nạn đắm tàu như ông, không thể trả cái giá ấy được. Cuối cùng họ thống nhất rằng ông thợ cạo sẽ dẫn hai con la về nhà mình, cho ăn uống tử tế, và sáng sớm hôm sau sẽ đem chúng lại cùng với người dẫn đường đưa họ tới Granađa. Tạm thời họ chỉ thanh toán cho ông ta tiền quần áo.

Caxten và Pitơ tìm cách mọi ở ông thợ cạo một vài tin tức gì đó về hầu tước Môrela, những người danh giá. Cứ tới Granađa hỏi, ai cũng biết. - Ông ta nói vậy.

Ông thợ cạo bỏ đi, để lại cho họ thuốc chữa bệnh. Chẳng bao lâu sau thì xuất hiện ông linh mục. Ông ta đang rất vui, vì trong số của cải cướp được trên tàu, ông ta được nhận các đồ trang sức mà Pitơ và Caxten để lại trong hòm sắt. Nhìn ông ta đem các đồ trang sức này ra ngắm ngiá một cách thích thú, Caxten đoán rằng ông ta rất tham lam và là một trong những người kinh bỉ sự nghèo đói, và vì tiền có thể làm tất cả mọi cái trên đời. Khi ông ta giận dữ nói về những tên ăn cắp đã xuống tàu trước đó và lấy cắp từ chiếc hòm sắt hầu hết tất cả số tiền vàng, thì Caxten thầm quyết định không để ông ta biết rằng những tên ăp cắp ấy là ai, nếu không, dọc đường tai họa có thể xảy ra với họ.

Cuối cùng cha Erikê cất các đồ trang sức đi và tuyên bố rằng họ sẽ ăn tối với ông ta. Nhưng ông ta cũng nói thêm rằng ông ta không thể mời họ uống rượu được, vì ông ta chỉ được uống nước mà thôi. Nghe thế, Caxten liền nhờ ông ta kiếm hộ mấy chai rượu, loại tốt nhất ở đây nếu có thể, và nói rằng ông sẽ trả tiền. Cha Enrikê cho người hầu gái đi mua rượu.

Sau khi mặc quần áo Tây Ban Nha vào người và giấu tiền vào hai chiếc thắt lưng cũng do ông thợ cạo bán, Caxten và Pitơ tới bàn ăn. Bữa ăn tối gồm có một món ăn Tây Ban Nha, gọi là "ôla pôđrila" (gần giống như thịt mỡ), bánh mì, pho mát và hoa quả. Trên bàn có cả rượu mà họ đã bỏ tiền ra mua, rất nặng và ngọn. Tuy nhiên Pitơ và Caxten hầu như không uống vì sợ ảnh hưởng tới các vết thương, nhưng họ đã hết sức mời mọc cha Enrikê. Kết quả là cuối bữa ăn, ông ta đã quên mất tính cảnh giác của mình và bắt đầu chuyện trò một cách thoải mái. Nhận thấy ông ta đã ngà ngà say, Caxten bắt đầu hỏi về hầu tước Môrela, về việc vì sao ông ta có một lâu đài ở Granađa, thủ đô của người Mô.

- Vì ông ta lai người Mô một nửa, - ông linh mục đáp. - Người ta nói rằng bố ông ta là hoàng thân Vian, còn mẹ ông ta là một phụ nữ người Mô có dòng máu hoàng tộc. Chính nhờ bà mà ông ta có được tài sản, đất đai và lâu đài ở Granađa. Ông ta sống ở đấy. Dù là con Chiên Cơ Đốc chính cống, nhưng ông ta có những sở thích của một kẻ phản đạo; giống những người Mô khác, ông ta cũng luôn giữ bên mình rất nhiều phụ nữ đẹp. Sở dĩ tôi biết được điều ấy là vì ở Granađa không có linh mục, nên tôi phải tới đấy để làm linh mục riêng cho ông ta. Ngoài ra, ông ta hay sống ở Granađa còn vì một lí do khác; ông ta lai người Mô một nửa và đại diện của vua Phecđinăng và hoàng hậu Ixaben ở triều đình của vua Granađa là Bôapđin. Là những người nước ngoài, các ông phải biết nếu còn chưa biết, rằng các vua Tây Ban Nha từ lâu đã tiến hành chiến tranh với những người Mô, nhằm chiếm nốt phần còn lại của đất nước họ như đã từng chiếm Malaga, bắt nước họ nhập đạo Cơ đốc, và dùng máu và lửa để gột họ khỏi các thứ đạo đáng nguyền rủa khác.

- Vâng, ở nước Anh chúng tôi cũng được nghe điều ấy, - Caxten nói, - vì tôi là thương gia, buôn bán với Granađa, nên thường có việc tới đây.

- Thế tiểu thư mà ông nói là con gái ông, tơi Granađa để làm gì? Còn trận đánh giữa tàu "Xanh Antôniô" và chiếc tàu Anh chúng tôi nhìn thấy hôm qua trên bờ biển mà các thuỷ thủ kể lại là trận đánh nào vậy? Và bằng cách nào mà gió lại có thể làm cắm mũi tên vào tay ông được, ông bạn lái buôn thân mến của tôi? Và tại sao chỉ các ông là bị bỏ rơi trên tàu, trong khi ông hầu tước và người khác lên bờ được?

- Thưa cha, cha hỏi quá nhiều đấy ạ. Pitơ, rót vào đây một cốt nữa cho cha đi, chứ cha chẳng chịu uống gì cả. Cứ ở đây bao giờ cũng là tuần chay không bằng! Nào mừng sức khoẻ của cha! Thế, tốt lắm! Rót nữa đi, Pitơ, nào đưa chai rượu đây cho ta. Bây giờ tôi sẽ trả lời tất cả các câu hỏi của cha và kể về vụ đắm tàu vừa qua.

Rồi Caxten bắt đầu nói tràng giang đại hải về những cơn gió, những con sóng, những ngọn núi đá, những cánh buồm bị gãy, và về việc chiếc tàu Anh đã tìm cách giúp đỡ tàu "Xanh Antôniô" như thế nào..., cho đến khi cuối cùng ông linh mục quay ra ngã xuống ngủ say, sau khi liên tục uống hết cốc này đến cốc khác do Pitơ rót.

- Bây giờ thì chúng ta nên đi nằm. - Pitơ khẽ nói với Caxten bằng tiếng Anh. - Chúng ta đã moi được khá nhiều tin ở cái thằng thám báo mặc áo linh mục này, - con nghĩ hắn đúng là một tên như vậy - mà ta hầu như chẳng phải nói gì cả.

Họ lặng lẽ đi về phòng mình, uống thứ nước do ông thợ cạo để lại, mỗi người cầu Chúa theo một cách, đóng cửa rồi nằm xuống ngủ, chừng nào các vết thương và những ý nghĩ nặng nề cho phép họ.


Nguồn: thaibatan.com
Được bạn: Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 3 tháng 9 năm 2020