CÂU CHUYỆN QUANH BÀN NHẬU
Buổi chiều, những người lưu dân kéo tới chật nhà. Thịt cọp được xả ra, bày đầy tràn, đầy ú trên ba bộ vạt cau trước mái hiên. Thịt cọp là chúa bổ dương. Thuở nay, chưa thấy có thứ đờn ông, con trai nào mà chê thịt cọp hết, hễ ăn được một miếng rồi thì dẫu tiên Phật gì cũng muốn ăn thêm miếng nữa. Trừ mấy vị đại lão huề thượng khổ hạnh, trường chay “đeo kiếng”[10] thì không nói làm chi, mấy ổng ăn vụng ở đâu thì mình không biết... Chớ ở miệt rừng nầy, có ông già kia đã ngoại chín mươi, đến tuổi “thọc gậy đít sàn”[11] rồi, thân mang bịnh nghiệt, nằm hệt giường liệt chiếu, gần đất xa trời, miệng đóng khói đèn, lơ cơm lơ cháo. Thấy không xong, con cháu lo đi nhắc cái hòm về để sẵn, nhưng chưa vội nhập quan, vì thấy miệng ổng vẫn còn ngáp ngáp, tay huơ huơ như bắt chuồn chuồn. Chưa chịu nhắm mắt chắc là còn nuối chờ con cháu ở xa chưa về kịp...
Bỗng nghe ông già kêu lớn một tiếng, con cháu chạy vô, thấy ổng ngồi dậy, hai mắt mở trao tráo. Ai nấy mừng rỡ hỏi thăm. Ổng mới thủng thỉnh nói rằng, hồn ổng đã lìa khỏi xác, dật dờ đi ngay ra cửa. Đã tính đi luôn, không ngoảnh đầu lại. Bỗng nghe trong bếp, lộp bộp khua băm, lao xao dao thớt. Mùi thịt cọp bốc lên thơm phức, đến nỗi ổng phải xuống nước, năn nỉ hai thằng quỷ Vô Thường cho ổng quành trở lại; ráng sức ngóc đầu dậy, chờ nếm cho được miếng thịt cọp, rồi mới đi luôn thể.
Húp hết nửa tô cháo cọp nóng hổi, nhiều hành nhiều tiêu, giấm ớt đầy đủ, tự nhiên xuất hạn dầm dề, thấy khỏe trong mình, mạnh sân sẩn. Ổng bước xuống giường, đi sai sải... sống thêm bảy năm mới chịu trút hơi thở cuối cùng, nhắm mắt xuôi tay mà ra đi vĩnh viễn...
❊
Bếp dưới rực lửa, chiếu sáng ra đến tận bờ rào, rộn rã tiếng dao thớt khua băm lộp cộp. Vui như ngày giỗ hội, mấy bà mấy cô vô ra nhộn nhịp, người dao kẻ thớt, người băm ớt, kẻ lột hành. Bà Tư huơ con dao phay to bản, phầm phập chặt thịt cọp ra từng miếng bự. Bà còn chỉ huy mấy đứa con gái: đứa xắt thịt cọp, đứa thắng mỡ cọp để dành, đứa đãi đậu xanh, đứa ngâm đậu phộng, đứa leo lên cây hái lá nhàu, lá cách, đứa lăng xăng ra sau nhà nhổ sả, nhổ gừng. Tiếng nạo dừa sồn sột vang lên tới tận nhà trên...Đám con trai cũng không chịu kém, đứa lo dựng rạp, đứa bửa củi, đứa nấu nước. Ngoài sân, ba hòn đá to dụm lại, đội một nồi cháo đậu xanh bún tàu, to tổ chảng, đang sôi ùng ục. Có cô nhỏ nọ, sớn sơ sớn sác, giở vung nổi cháo ra hớt bọt. Bỗng cô thất thanh hét lên một tiếng rồi quăng vá chạy mất...
Một dì sồn sồn bước lại gần. Chính giữa nồi cháo, trồi lên một cái đầu cọp, trợn mắt thao láo, nhăn răng trắng ởn như muốn nhát ai. Thiệt là “hổ chết còn oai”, lời tục nói đố có sai. Bà dì lấy vá quơ đảo nổi cháo, cẩn thận đậy nắp vung lại rồi nói tỉnh rụi:
— Coi vậy chớ hồi nữa dọn lên, bây ăn không kịp múc, chìa tộ xin thêm, tao sợ không có đủ mà chia.
— Ý ẹ! Thôi đi!
Cô nhỏ yếu bóng vía nọ chưa kịp hoàn hồn, vừa mới yểu điệu trở mình, bước lui vài bước, thì từ trong bóng tối im mát của mái hiên, đã chực sẵn một người khổng lồ đứng áng giữa lối đi, dang tay dạng chưn chàng hảng chê hê, chờn vờn như muốn chụp. Lại một phen thất kinh hồn vía, ôm ngực hét lên, muốn... xỉu. Cũng dì sồn sồn hồi nãy, trong nhà con trai một chục đủ đầu, ý chừng cũng ham dâu, thèm cháu, nên lật đật chạy ra đưa tay đỡ lưng cho cô nọ, nói tỉnh tuồng như không:
— Thiệt! Hết chỗ nói cái ông cọp chết bầm nầy! Chết nhăn răng rồi mà cũng còn ráng hù dọa cho con dâu tui sợ hết hồn nữa chớ!
Trong bếp nổ ra một trận cười như pháo Tết. Tưởng gì! Té ra, đó chỉ là bộ “da cọp một nắng” được xát muối phơi khô cho khỏi mốc, rồi căng thẳng băng, dựng đứng bốn cẳng, để gió rừng phập phều thổi vào cho ráo.
“Hùm chết để da”, bộ hổ bì nầy thương lái săn lùng dữ lắm, chỉ cần phơi sương sương trong mát vài ngày, là có người tới hỏi mua liền. Bán đặng tiền lắm! Mấy thuở tìm đặng bộ da cọp vừa to lớn, vừa không có chút tì vết như bộ hổ bì nầy; hơn hẳn mấy tấm da hổ của phường sán, thường bấy nhậy vết bẫy sập, chông ghim, cộng thêm dấu tên nỏ, lủng lỗ chỗ như cái rổ sảo. Mấy nhà cự phú, nhứt là dinh phủ của mấy tay quan võ, ưa chuộng lắm à nha! Họ chuyên dặn trước hổ bì. Mua đặng về, họ trịnh trọng phủ lên cái ngai đặt giữa sảnh đường, hí hửng đặt đít lên ngồi để lấy hên rồi vênh váo gọi là “hổ trướng quân cơ”, bắt chước y chang như mấy ông tướng truyện Tàu.
Nhà trên, ngọn đèn tọa đăng đã thượng toòng teng lên cây trinh ở giữa nhà. Vây quanh cái bàn tròn lớn, lủ khủ một lũ bàn con, cái bàn nầy, ông Tư phải đi mượn tận ngoài làng, mới đủ sức chứa hơn mười mấy người. Còn ở nhà dưới, khách đờn bà ngồi tràn hai bộ ván, lấn tuốt ra tới mấy bộ vạt cau ở ngoài mái hiên.
Ông già Năm là bậc trưởng thượng nên được ông Tư mời tới cắt đặt, chỉ huy đám tiệc. Không ai biết ổng bao nhiêu tuổi, cái lưng tuy đã còng mà tinh thần vẫn còn ráo hoảnh. Tóc ông bạc trắng như bông, gom lại vừa đủ bới thành cái búi tó củ nừng chổng ngược trên đầu, cứ lắc lư như con lật đật mỗi khi ông già đeo theo mấy đứa nhỏ mà nhắc chằng chằng:
— Sắp nhỏ, bây phải nhớ nghen bây! Trong bao tử ổng còn sót lại mấy cái kiềng cổ, kiềng cẳng, vòng đeo tay, cái bùa, cái niệt của mấy đứa nhỏ chết lớp trước, còn chưa tiêu. Bây phải nhớ đem chôn cho thiệt sâu, đừng đứa nào tham mà lấy, tội lắm nghe hôn. Thằng Tám! Bây có nhớ thui hết mấy sợi râu của ổng chưa? Nghe nói, ở trên mạn ngược, dân đàng thổ họ lấy râu cọp cắm vô mụt măng, lâu ngày sanh ra giống sâu cọp độc lắm đó!
— Hổng phải vậy đâu ông Năm, phân của giống sâu đó ỉa ra thì mới độc. Họ thù ghét ai, họ chỉ cần lén bỏ một chút xíu phân ấy vô lu nước. Lỡ uống vô một ngụm là coi như Ngọc Hoàng giũ sổ, Hoa Đà, Biển Thước có đội mồ sống lại thì cũng đành bó tay, bó cẳng rồi bó chiếu đem chôn.
Ông Tư trịnh trọng khoác vào cái áo the đen, không biết mượn được của ai mà vừa khít, đứng lên chắp tay xá xá, nói vài lời xã giao mời khách:
— Kính mời bà con nhập tiệc, mấy thuở mới có thịt cọp vừa tươi vừa ngon như vầy. Bà con cứ việc cầm đũa thiệt tình, dưới bếp còn nhiều lắm...
Nói rồi ông bắt đầu rót rượu ra chung. Khách mời tuy đông nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng một vị chức sắc hay hương chức hội tề nào hết nên không khí bàn tiệc cực kỳ thoải mái. Ba Hữu đẩy ghế đứng lên xin phép ông Năm trước rồi mới trịnh trọng day mặt vô nhà trong réo lớn:
— Hai đứa nhỏ đâu rồi? Ra đây trình diện mấy chú mấy bác coi nà!
Quay vào bàn nhậu, anh ta bỏ nhỏ:
— Tiệc nhậu bữa nay mà có được là nhờ công lao hai đứa nó đó đa!
Chỉ thấy một mình con Quyên bảnh tỏn trong bộ đồ mới, xúng xính chạy ra trình diện. Có điều, quần thì kéo cao tới nách, còn áo may trừ hao để dành Tết bận nên phải xắn tay mấy lọn, miệng cười ngỏn ngoẻn, lúm hai cái núm đồng tiền, ngó thiệt dễ thương. Còn thằng Lực thì giấu mặt sau lưng bà Tư, níu áo mẹ chặt cứng, chừng bị đẩy lên nhà trên, nó vùng khóc ré.
Bỏ mặc thằng nhỏ đứng níu áo mẹ khóc xếu mếu, ông Tư cúi xuống nhấc bổng con Quyên lên, đặt nó ngồi vững vàng trên bắp vế ông. Vừa cạ cạ bộ râu rễ tre tua tủa vào tóc con nhỏ, ông vừa nói, giọng không được vui:
— Thôi! Cứ để cho thằng mít ướt đó ở luôn dưới bếp với ba cái cà ràng ông táo cho rồi. Con nhỏ nầy mới thiệt là con gái rượu của tui!
Đó rồi ông thò đũa gắp một cục thịt cọp nướng sả ớt bự tổ chảng, chấm nước mắm bỏ vô chén cho nó:
— Con tui thì phải ráng ăn to, nói lớn, giống tui!
Lần lượt mấy chú mấy bác trong bàn, có người nó quen, có người lạ hoắc, ai cũng vui vẻ gắp bỏ vô chén của nó, một hai nài ép, bắt nó phải ăn cho hết, làm cho con nhỏ vừa trợn vừa nuốt, ráng phình bụng lên mà ăn cũng không xuể. Chưa kịp nuốt trôi miếng dồi cọp thì đã thấy xuất hiện trong chén món cọp khìa nước cốt dừa. Tới món cọp hon giả mộc tồn thì con Quyên đã no gần nứt bụng. Chưa hết, dì sồn sồn hồi nãy, từ dưới bếp le te chạy lên, hai tay bưng một tộ cháo đậu xanh bún tàu ú ụ, dì ân cần nói:
— Thứ nầy hiếm hiệm à nghen! Ăn vô sáng mắt, sáng dạ không thứ chi sánh bằng.
Quyên dòm vô tộ cháo mà ứ hự. Lập lờ hai con mắt cọp bự bằng hai cái trứng vịt xiêm đang ngó nó lom lom. Ông Tư xúi, rồi cả bàn tiệc ai cũng đốc vô:
— Ăn đi! Ráng ăn cho hết đi gái! Ăn mắt cọp, đêm tối đi rừng, hai con mắt mình nó sáng trưng như cặp đèn ló, ngó đâu cũng thấy rõ bưng như là ban ngày, gái à!
Xong dứt món cháo mắt cọp đó rồi thì con Quyên đứng dậy hết muốn nổi, bụng đâu mà chứa cho hết chớ. Nó cọ quậy hai chưn, nhấp nha, nhấp nhổm, cứ muốn tuột xuống cho mau, đặng chạy ra sân, chơi với mấy thằng con nít đang chạy vô chạy ra, giỡn hớt ở ngoải. Đã có mấy cái đầu con nít, lâu lâu thò vô ngoắc ngoắc, nhưng ông Tư nhất định không cho, ổng cứ ẵm riệt con nhỏ trum trủm trong lòng, hai chưn nó lòng thòng tới gần chấm đất.
Nó còn phải ngồi nán lại cho tới một lúc kia, người ta dọn lên bàn một món gì đặc biệt, chưng cách thủy trong một cái thố sành có nắp. Không biết đó là món chi mà phải đặt tay thợ nấu người Tàu ở tận trên huyện về nấu. Ông Tư cẩn thận lấy tay bịt miệng chén con nhỏ lại chặt cứng, không cho ai gắp bỏ vô, miệng la xoành xoạch:
— Không nên! Không nên! Con gái không nên ăn!
Đó là món chi mà chưng lẫn với mấy lát củ sen, lục cục, lòn hòn, đen đen, sền sệt. So niên tuế, ông Năm là bậc trưởng thượng nên ông được ưu tiên chia phần trước.
Con Quyên tò mò dữ. Nó muốn biết đó là món chi mà con gái bị cấm ăn, chắc phải ngon lắm đây, lại còn chia phần theo thứ bậc nữa chứ, vét sồn sột cho đến muỗng cuối cùng. Càng nghĩ nó càng ứa nước miếng mặc dù bụng nó vẫn còn óc nóc.
Lợi dụng lúc mấy ổng còn mải ngửa cổ tu rượu, giữa những bàn tay nâng lên để xuống đó, nó len lén nhón tay bốc thử, tọng hết vô họng, độn đầy một họng trưu trứu, lúng búng như con khỉ nhỏ. Phồng mang trợn mắt nó nhai, vừa trợn vừa nhai. Nhưng hỡi ôi! Ngon gì mà ngon! Chỉ thấy sừn sựt, nồng nặc mùi thuốc Bắc, đắng thắt họng, chẳng thấy béo bùi chi hết.
Ông Tư bắt gặp quả tang, bộp cho mấy cái quắn đít rồi đuổi xuống nhà dưới. Sẵn trớn nó vọt ra ngoài sân, chơi với lũ con nít luôn.
Con Quyên bữa đó, ních cành hông một bụng thịt cọp, gần tràn bản họng, thiếu điều phát ách, đầy đủ hết các bộ phận của một ông cọp. Hổng biết có phải vì vậy mà sau nầy, khi lớn lên, tánh nó “dữ như cọp” không?
❖
Mâm trên bây giờ đã không có đàn bà, lại không còn con nít nên mấy ổng uống thả cửa rồi bắt đầu ngả ngớn chuyển đề tài. Câu chuyện bấy giờ xoay quanh về công dụng của các bộ phận trong mình con cọp, nào là: hổ bì, hổ nhục, hổ cốt, hổ cân v.v... mà thứ nào cũng đều làm tăng khả năng giường chiếu.Ông bà mình thường nói: “Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm”, cho nên bàn tiệc lúc bấy giờ, mạnh ai nấy nói, gân cổ lên mà nói, đỏ mặt tía tai mà nói, không ai chịu thua ai, không ai nhường ai tiếng nào, ai cũng giành nói tiếng chót. Người nói lấn lướt người nghe, ai cũng muốn chứng tỏ mình là người hiểu biết, là tổ sư bồ đề, là rành rẽ hết mọi công dụng dị kỳ “ông ăn, bà sướng”.
— Số một đầu bảng, phải kể tới hổ thận à nghen, đem về ngâm rượu uống, hải cẩu thận cũng không bằng. Thiệt tình! Chỉ có bà xã biết!
— “Trai tơ đòi vợ, khóc thầm mỗi đêm” thì một miếng hổ tiên[12] cũng tuyệt đối không được nếm à nghen, kẻo tối ngủ một mình, nửa đêm trằn trọc “nói hay đừng”, thì coi chừng bung niền, nứt cạp.
— Còn nếu như chịu khó đem hổ thận, hổ tiên phơi khô rồi ngâm rượu chung với mấy vị thuốc Bắc như: bổ cốt chỉ, ba kích thiên thì nói nhỏ mà nghe... bà xã cưng lắm.
— Còn câu kỷ tử, nhục thung dung nữa chi? Một người uống, ba người vui, bà góa hàng xóm cũng vui.
— Chưa hết! Có tiền mua thêm nhơn sâm, dâm dương hoắc, rễ cây mật nhân ngâm vô nữa! Ông uống mà bà không khen thì đem tao ra chặt cổ đi. Hổng tin hả? Có bác Ba gái mầy ở dưới bếp đó! Hổng tin thì xuống dưới hỏi bả đi!
— Ý ẹ! Thôi đi! Cho ăn hết cả đùm gan cọp, tui cũng hổng dám hỏi nữa! Xúi dại không hà!
Nhưng nói gì thì nói, cả bàn nhậu ai nấy cũng đều nhất trí với nhau là: thịt cọp ăn gì bổ nấy, bổ âm, bổ dương, bổ giường, bổ chiếu. Miễn không bổ ngửa là được rồi, ai chẳng muốn mạnh như cọp chớ.
Ba Hữu mới sừng sừng có vài ly mà mặt y đã đỏ rựng lên như mặt Quan Công, còn mặt ông Tư thì hết đỏ tới xanh, hết xanh tới đỏ. Người ta nói dân nhậu mà đổi sắc liền liền như tắc kè bông, vậy mới là tay bợm, uống mấy cũng không say.
Thiệt vậy, tuy uống nhiều nhưng ông Tư vẫn còn cứng, còn nhớ tới câu “tửu trung bất ngữ...”[13] và nhứt là bổn phận chủ gia của mình nên ổng cứ nháy nhó với ông già Năm hoài, hi vọng ông già chủ xị nầy tằng hắng vài tiếng, đặng đem cái uy tín thường ngày của mình ra mà tái lập lại tôn ti trật tự cho bàn nhậu. Giống như ổng vẫn thường làm, mỗi khi cầm chầu hát bội, hễ nghe ổng gõ vô tang trống lắc cắc vài tiếng là đám đào kép xanh mặt hết hồn, bầu gánh sẽ cúp tiền cử đêm đó.
Nào dè cái ông già Ba Tri[14] hóm hỉnh nầy, vẫn ngồi nín thinh tại chỗ, chẳng nói câu nào. Răng có sếu sáo, đôi môi trống lổng phập phều, ổng cứ nhằn đi nhằn lại cái khu lẳng để mút cho hết nước ngọt, lại còn vuốt râu móm mém cười ruồi. Chẳng phải ổng nhậu say rồi quên hết bổn phận, mà vì trong bụng ổng đã nghĩ khác: “Tai họa khủng kiếp lởn vởn trên đầu bấy lâu, nay đã được nhẹ nhàng gỡ bỏ. Nãy giờ, coi bộ chẳng ai còn nhớ tới những tháng ngày “trần ai lai khổ” vừa qua, nhứt là mấy nhà có con nít nhỏ, trong lòng ai cũng cảm thấy nhẹ nhõm, từ rày về sau, chỉ còn lo an cư lạc nghiệp. Anh em mấy thuở được tề tựu đông đủ như vầy, nhứt là rượu ngon, thịt quý ê hề, món nào món nấy cũng đều lạ miệng, có món cả đời chưa được nếm qua lần nào. Thôi thì, cũng nên xính xái, không cần quản thúc họ mần chi cho tội nghiệp...”.
Càng về đêm, không khí bàn tiệc lại càng rôm rả. Món nào đem lên, chủ nhà cũng đều ân cần mời mọc: “Ăn chơi cho biết!”. Chỉ ăn chơi cho biết thôi mà thực khách gắp đà... oằn đũa, nốc tới... trớt môi, nhai muốn... vẹo mỏ.
Bà Tư thiệt xứng đáng với vai trò nội tướng, bà lăng xăng chạy lên chạy xuống như con thoi, từ nhà bếp lên nhà trên, khi thì châm rượu, lúc rội mồi, mắt bà long lanh, tay bà lanh lẹ, miệng bà mời mọc: “Đồ ăn còn nhiều lắm à nghen! Mấy chú mấy bác để dành bụng ăn thử món nầy, thịt cọp xào lăn, dưới bếp gần xong, dọn lên bây giờ”.
Dượng Sáu đang nhai sừn sựt miếng dựng cọp, chợt ngừng nhai, nghỉ gắp để oang oang đưa ra ý kiến:
— Hồi mới chạy tới, thấy ổng “banh càng” nằm chỏng gọng, cà uynh cà oang, trợn trắng trợn dọc. Thiệt là! Tức cười muốn bể bụng.
— Ta nói...! Bà con mình bữa nay chạy thôi đen đồng, quắn khói. Thiệt! Tội nghiệp nhứt là anh chị Tư, chạy trối chết, cẳng không bén đất, tóc bay xấp xãi, thiếu chút nữa là “sút đầu tóc mượn”.
— Cả một công cỏ tranh bị ổng quần cho tan nát, ổng giãy chết mà...
— Nói nghe nè: cái nồi đất, coi vậy mà xài được. Bền vô phương, ổng nhào lộn giãy chết, vật vã cả buổi trời mà nó cũng không chịu bể. Lần sau, có ghe nồi Xà-Bang[15] xuống bán, tôi mua cả chục để dành, xài tư niên mãn mùa luôn.
— Hổng biết ổng chết vì cháo nóng, phỏng bao tử, hay vì cái nồi đất mắc nghẹn ngang cổ họng làm cho ổng hết thở?
Thằng Tám nghỉ gắp nãy giờ, nó mải lo le, lấp ló cái gì đó ở trong miệng túi, hồi lâu sau nó mới quyết định trút túi ra bàn. Lăn ra hai cái nanh cọp dài gần cả gang tay, trắng ởn, nhọn liễu. Bà con trong bàn tiệc ồ lến rồi xúm nhau lại trầm trồ, thuở nay mới thấy cái nanh cọp bự như vậy là lần đầu.
— Cái nầy hổng phải dễ kiếm đâu à nghen! Anh Tư, chị Tư xỏ dây đeo cho con Quyên thằng Lực, mỗi đứa một cái để trừ tà ma. Con ranh, con sát nào ngó thấy, ắt phải tránh cho thiệt xa à nghen. Hồi nào tới giờ, tui chưa thấy nanh cọp nào bự bằng hai cái nanh nầy. Hổi róc thịt, lấy xương nấu cao, tui bẻ lại để dành, thưởng công cho hai đứa nhỏ.
Ông Tư ực ly rượu, chuyển ly qua cho ông Năm, rồi khoát tay vui vẻ nói:
— Thằng Tám, bây đem về cho hai đứa con bây đeo đi. Tao tính vài bữa nữa, kiếm bậy vài con chó săn về nuôi chơi. Nhà có nuôi chó, đeo mấy thứ nầy vô, chó hay giựt mình bất tử lắm, hổng nên.
Ông Năm vuốt râu cười khà khà:
— Hai đứa con thằng Tám, bữa nay hên lắm đó nghen mậy, mấy thuở kiếm đặng cặp nanh cọp ngon lành như vầy. Đâu, bây gõ thử vô cạnh bàn cho tao nghe coi, có phải là nanh bọng không? Thấy chưa! Tao nghi đâu là trúng đó liền hà. Thiệt cũng lạ, nanh heo rừng, người ta chuộng nanh đặc, còn nanh cọp thì phải bọng mới chính hiệu là răng nanh “Thần hổ”. Thầy pháp, thầy phù hay lấy nanh cọp bọng tiện thành kèn, thổi toe toe, tróc quái trừ yêu, tà ma quỷ mỵ gì cũng phải vắt giò bỏ chạy. Còn mấy ông tướng trường gà, bây biết không, lấy nanh cọp bọng, tiện thành cái lường cho gà uống nước. Mấy con gà rót cụp đuôi, mà uống thứ nước nầy vô rồi, nhờ oai thần hổ, trở nên sung độ, thà bỏ thây chết giữa trận tiền, chớ đá thua cũng không thèm chạy.
Tám rụt rè:
— Thiệt vậy hả ông Năm? Hay là con “kiếng” riêng cho ông Năm là bậc trưởng thượng ở đây.
— Bậy nà! Tao một chưn đã thòng xuống lỗ, chưn kia đút sẵn trong hòm rồi thì còn đeo mấy thứ đó vô mần chi cho uổng? Đã gần thành ma chúa rồi thì còn sợ gì cái đám ma con nữa mậy? Tụi nó hỏng sợ tao thì thôi, mắc gì tao phải sợ tụi nó bây À! Quên nhắc mấy cháu, nấu cao hổ cốt nhớ chừa lại cái sọ, để dành sau nầy làm phước cứu người đó đa.
— Cái đầu cọp, mấy bà dưới bếp đương nấu cháo đậu xanh, ăn cho mát đó ông Năm. Ủa! Cái sọ cọp thì có gì mà cứu người được vậy a ông Năm?
— Lật ngửa cái nắp khạp sành lên, lựa thứ nắp mới mua thì tốt nhứt. Để cái xương sọ cọp lên, vừa mài vừa tưới một phần nước lã hòa với rượu đế, có nghệ thêm càng tốt. Con nít bị chó cắn, bị phong giựt, trong uống, ngoài thoa, hiệu nghiệm như thần đó a bây.
Ba Hữu nãy giờ ngồi im, hóng tai nghe chuyện. Hồi lâu sau, anh ta cũng ngứa họng, réo vọng vô nhà trong:
— Mấy bà xào thịt cọp, sao lâu quá vậy trời? Hay là chị Tư quên lấy nắp vung đậy lại, để nó tót hết ra ngoài rồi?
Rồi anh ta hạ giọng vừa đủ nghe (để cho dưới bếp khỏi nghe):
— Nghe người ta đồn vậy đó a mấy cha, thịt cọp còn tươi mà đổ vô chảo mỡ đương sôi, nó tót hết như ếch ra khỏi chảo liền hà.
Nhà sau bỗng vang lên một tiếng “xèo” thiệt lớn. Một mùi thơm điếc mũi, xông lên tới tận nhà trên rồi có tiếng phụ nữ vọng lên lảnh lót:
— Dóc tổ! Có thấy nhảy nhót gì đâu nà! Thì cũng xào, cũng hon, cũng thơm phức như thịt heo, thịt bò vậy thôi.
Dượng Sáu nãy giờ ngồi suy nghĩ lung lắm, bấy giờ ổng mới nốc một ngụm rượu cho trôi miếng thịt cọp xuống rồi rụt rè đưa ra thắc mắc:
— Mắc cái giống gì mà quanh đi quẩn lại nó chỉ ham bắt mấy đứa con nít của đám lưu dân tụi mình thôi. Còn đám con nít sanh đẻ tại đất địa nầy thì nó hổng... thèm bắt?
Ông già Năm tiếp nhận chung rượu tới tua của mình, kê miệng đánh tróc một cái, lấy mu bàn tay quẹt mép chùi râu, khà lên một tiếng lớn rồi sửa giọng từ tốn nói:
— Không có lời nguyền nào ám vào đám lưu dân tụi mình hết. Nó ráng giữ vẻ sạch sẽ dễ thương là để xí gạt mấy đứa con nít ở trong thành Gia Định mới di cư về đây thôi. Chúng từ Gia Định thành trôi dạt về chưa đặng bao lâu. Từ thuở cha sanh mẹ đẻ tới giờ, sống luẩn quẩn nơi thành thị, tụi nhỏ có thấy được con cọp, con beo lẩn nào đâu mà biết[16]. Vậy là mình đã rõ, vì sao chỉ có đám con nít nầy mới bị nó bắt, còn tụi con nít sanh đẻ ở địa phương, thì không có đứa nào bị nó lừa. Tụi con Quyên, thằng Lực còn tính mở bét cửa rào ra, dụ nó vô nhà chơi để bắt về nuôi nữa mà.
— Chèn đét... ơi! Nó biết phân biệt nhà nào là dân cựu trào, nhà nào là lớp di dân mới tới, để mò tới kiếm ăn, thiệt là khôn hết chỗ nói. Con cọp nầy chắc nó thành tinh rồi đó ông Năm à.
Thằng Tám láu táu, tiếng nó vang vang, dưới bếp còn nghe:
— Đi đêm có ngày gặp ma, ăn quen chồn đèn mắc bẫy. Mửng cũ làm lại, trời xui đất khiến, hổng dè lần nầy, ông thầy bị tổ trát, ngủm cù đeo về tay một đứa con nít hỷ mũi chưa sạch, miệng còn hôi sữa.
Từ dưới nhà sau bà Tư đi lên, trong tay bưng một tượng thịt cọp đầy ú ụ. Kéo khăn lau mặt, bà cười hịch hạc:
— Nhờ vậy mới có thịt cọp cho mấy cha nhậu bữa nay đó đa!
Ba Hữu tự rót cho mình một chung rượu tràn phè. Kê chung rượu huyết hổ đỏ sóng sánh lên miệng, mần cái “ót” sạch bách. Khà lên một tiếng khà sành điệu, gắp một miếng thịt cọp bự tổ chảng, thảy vô miệng, vừa nhai nhồm nhàm, y vừa cất giọng lè nhè:
— Tui tính như... vầy, bầy trẻ lập đặng công đầu với làng... với xóm, tui phong tặng cho tụi nó năm... chữ... vàng là: “Dũng... sĩ...diệt...hổ...tinh”. Nghe vậy mà được hôn... a thầy Năm?
Biết tánh Ba Hữu, mỗi khi có rượu vô ba sợi sẩn sần là y xổ “nho chùm” lai láng, nghe không hết, nên ông Năm chỉ cười, nụ cười móm sọm.
— Tụi nó mũi dãi lòng thòng thì dũng sĩ cái nỗi gì!
Thằng Tám đía vô:
— Theo tui, nên đổi thành danh hiệu: “Ấu nhi diệt hổ tinh”, nghe được hơn há ông Năm?
— Trật lất! Thằng Ba đã trật chìa, còn thằng Tám mầy lại càng... trật lất! Người ta dùng chữ “ấu nhi” là để chỉ mấy đứa con nít mới đẻ hoặc cùng lắm là lẫm chẫm biết đi thôi, mấy cha nội.. .ơ.ơ.ơi!
Vỗ đùi cái chát, Ba Hữu khoái chí cười lên ha hả:
— Vậy thì “Nhi đồng diệt hổ tinh”, nghe được quá xá đi chớ. Ê! Thằng Tám, mầy... nghe tao nói vậy, mà có xuôi tai hôn... mậy?
Cho rằng đã xổ được mấy tiếng chữ Nho cao kỳ quá đỗi, để tự thưởng mình, Ba Hữu ực một hơi trót trót hai ba chung rượu ngon lành. Khà lên một tiếng nặc hơi rượu, y dằn cái chung xuống bàn nghe cái “cốp” rồi cầm be rượu không đưa lên lắc lắc. Day mặt vô nhà trong, vừa cười khè khè, y vừa kêu vói:
— Ê! Nhi đồng diệt hổ tinh đâu? Đem ra cho bác Ba thêm be rượu nữa đi con!
Từ nhà trong, con Quyên lon ton chạy ra, mỗi tay ôm một be rượu, miệng cười chúm chím, lúm hai cái lúm đồng tiền, ngó thiệt là dễ... thương.
Chú thích:
[10] Đeo kiếng: khác với mang kiếng. Nhiều ông già chỉ chịu mang kiếng chớ không chịu đeo kiếng (nói lái).
[11] Thọc gậy đít sàn: người già chết đi, con cháu không bỏ cây gậy mà thường đem thọc dưới đít sàn giường. Ông bà còn khỏe mạnh mà đứa cháu nào không biết, đem thọc cây gậy xuống đít sàn tất sẽ bị rầy la dữ lắm. (Bộ muốn trù ẻo cho ông bà chết sớm hay sao).
[12] Hổ tiên: bộ phận sinh dục của hổ đực, tiên còn có nghĩa là roi. Dần gian quen gọi là dậu hổ, phin hổ.
[13] Do câu: Tửu trung bất ngữ chơn quân tử/ Tài thượng phân minh thị trượng phu. (Trong chốn nhậu nhẹt, mà không ăn nói bậy bạ mới đúng là người quân tử. Tiền bạc phân minh rõ ràng thì đúng là trượng phu rồi).
[14] Ông già Ba Tri: nhân vật có thật ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, tên thật là Thái Hữu Kiểm. Ông lặn lội đi từ Ba Tri ra đến Kinh đô Huế, đường xa ngàn dặm, lắm đèo nhiều núi hiểm trở, đầy cọp beo, lắm giặc cướp, để gióng trống Đăng Văn, kêu oan về vấn đề đắp đập ngăn sông. Cuối cùng cũng gặp được nhà vua, trình bày nguyện vọng và được vua xử cho ông thắng kiện. Hình tượng ông già Ba Tri tượng trưng cho một lão nông Nam Bộ quắc thước, có tinh thần dũng cảm, ý chí quyết tâm, kiên trì bảo vệ lẽ phải đến cùng, bất chấp mọi hiểm nguy trở lực. Sau nầy biến tướng, có khi còn được dùng với hàm ý xấu, ám chỉ một ông lão khó chịu, câu nệ, thành kiến và hay chấp nhứt.
[15] Xà-Bang: Xà-Tón là tên một dịa danh nổi tiếng do người Miên làm nồi, nắn trách bằng đất nung thuở ấy. Sản phẩm được chở bằng ghe, đi bán khắp cả Nam Kỳ lục tỉnh (tục gọi là ghe nồi Xà-Bang)