Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6425 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ BA
lạc mạo phong, nhi đồng diệt hổ. bổn cũ làm lại, hùm nọ sa cơ.

CON MÈO VỆN

Trên cái lan can khoảng khoát và lồng lộng gió mát này, tầm mắt được mở rộng ra đến vô cùng, vô tận. Phóng tầm mắt tới tít tắp chân trời xa mú, chỉ thấy những rặng bần sẫm màu thưa thớt, chen lấn cùng với đám dừa nước hình răng cưa xanh thẳm, lô nhô.

Tầm mắt của hai đứa nhỏ dường như bị níu lại bởi một vật gì đó đang luồn lách trong đám lau sậy mịt mùng ở tận ngoài kia. Từ phía bìa rừng, vật lạ nọ rẽ bờ, rẽ bụi, chầm chậm tiến lại. Có lúc nó phải vòng vèo để tránh những gốc cây mục, gò mối cao, có lúc nó dừng hẳn lại, lưỡng lự, phân vân. Tưởng chừng như nó định bỏ cuộc nửa chừng, nhưng cuối cùng rồi vật lạ nọ vẫn không đổi ý; rõ ràng chủ ý của nó là muốn tiếp tục luồn lách về hướng nầy, hướng nhà sàn của bọn trẻ. Gặp cuộc đất bằng phẳng, đám cỏ tranh cao mú, dày mịt bị nó xô dạt qua hai bên giống như có một con tàu nhỏ đang phăng phăng rẽ sóng giữa đại dương...

❃ 

Vật lạ nọ đã đến gần, thật gần, khoảng sậy lớn trước sân nhà chợt xao động mạnh, rồi thì “phóc” một cái, nhảy ra...

Tưởng... gì! Hóa ra, đó chỉ là một con “mèo vện”. Hai chị em nhà nầy, từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, chưa từng thấy có con mèo nhà ai mà đẹp đẽ và bự đến như vầy. Hồi còn ở trong thành Gia Định, nhà tụi nhỏ cũng có nuôi mấy con mèo tam thể. Nhưng cái giống tam thể chỉ có vá vàng, vá đen thôi chớ làm gì mà rằn rực được như con mèo này, nhứt là ở cái mặt, dòm thiệt là có vằn có vện. Mà dễ gì kiếm được một con mèo bự cỡ này. Mèo gì mà bự gần bằng con trâu. Con này thì cỡ ông Năm, bác Ba, tính luôn cả tía má tụi nó nữa - cả xóm hiệp lại, chưa chắc đã ẵm lên nổi - mèo ở rừng có khác.

Con mèo vện dường như đoán được ý nghĩ của tụi nhỏ nên mới vừa vọt ra, nó đã xán lại sát bên hàng rào, lượn qua lượn lại, thân thiện phô bày hết cái vẻ đẹp duyên dáng, uyển chuyển của họ nhà mèo. Đó rồi nó nằm ngửa, phềnh cái bụng tròn vo trắng nõn, mềm mại như cái gối bông, cả bốn cẳng nó cứ guồng tít như người quay tơ, kéo sợi. Chưa đã, nó còn lật người lại, ngồi vững vàng trên hai chân sau, cái đầu gục gặc, còn hai chân trước thì chắp lại, xá lia xá lịa như tế sao.

Hai đứa trẻ dán mắt mê say vào con vật dễ thương đương làm trò này, vô tình chân chúng từ từ nhích sát ra ngoài lan can. Mắt tròn xoe, hai đứa trẻ liếc nhìn nhau, trong bụng cùng có chung một ý nghĩ: “Con mèo rừng ngộ nghĩnh, bự tổ chảng, lại biết làm trò như vầy. Mình mà không sớm dụ nó về nuôi, lỡ có ai đó sớt trước thì uổng vô cùng”.

Trên gác cao, cháo trắng nấu trong cái nồi đất đã sôi ba đào chuyển động. Bữa ăn sáng của chị em tụi nó đó. Trước khi ra đồng, bà Tư đã chuẩn bị sẵn cho tụi nhỏ một nồi cháo trắng đặt trên cái cà ràng đỏ lửa, bên cạnh là một chén lớn đầy ú muối hột, đâm với ớt hiểm rừng đỏ tươi, cay xé họng.

❃ 

Hai đứa nhỏ xáp lại bên nồi cháo.

Con mèo vện phốc ra giữa sân, lăn mấy vòng, gừ gừ mấy tiếng ra vẻ thích thú. Lấy đà, nó nhảy vút một cái, từ mí sân nó cuộn mình lăn lông lốc, cái lưng chạm mạnh vô cửa rào nghe cái “bịch”. Làm như nó muốn thử coi cửa rào có chắc không vậy. Nó lại đủng đỉnh cạ cạ mình vô mấy thân tre đực. Hay là nó ngứa, muốn cạ lưng cho đã ngứa? Chắc vậy rồi. Cạ lưng đã đời rồi mà hàng rào tre đực vẫn chắc nịch, không thèm lung lay, lung lưỡng gì ráo, con vật dễ thương này mới tìm lỗ chun vô nhà. Loay xoay hoài mà chun vô vẫn không đặng vì vướng cái đầu vằn vện gai râu - đầu không xuôi thì đuôi sao lọt...

Chán chê với cái trò chơi này, lát sau con vật há họng ngáp một cái thiệt lớn, rướn mình vươn vai làm cho xương cốt khua lắc cắc. Đó rồi nó quay mòng mòng, giỡn với cái đuôi của mình. Xà quần với cái đuôi một hồi coi bộ mệt, chú chàng mới chịu nằm yên, duỗi dài ra phơi nắng, táp ruồi. Hai chân để trước mặt, nhàn tản đập đuôi, ve vẩy từ bên nầy qua bên kia, xua ruồi, đuổi muỗi. Nó lười biếng ngoẻo đầu lên hai chân trước, đôi mắt hiền từ ngó hai chị em Lực, Quyên lom lom.

Thằng Lực tư lự hồi lâu, lát sau nó e dè nói nhỏ với chị:

— Hay là mình mở cửa rào, dụ nó vô nhà chơi đi chị. Rồi lựa lúc nó không để ý, mình đóng sập cửa lại, nhốt nó luôn ở trong nhà, nó hết đường chạy về rừng. Mình kiếm dây cột cổ, rồi giấu kỹ trong buồng, tới chiều tối tía má về, mình cũng không thèm nói.

Đợi tới chừng nào ăn cơm, mình mới khoe: “Bữa nay nhà mình có khách, có gì đãi khách không hè? Tía má mới hỏi, khách đâu sao tui không thấy, chừng đó mình mới đẩy nó ra trình diện, chắc là tía má khen mình dữ lắm!”.

Con Quyên cũng hồ hởi:

— Em tính “hạp” ý chị đa, nãy giờ trong bụng chị cũng nghĩ thầm như vậy Nhưng mà tía má đã dặn rồi, dẫu có cháy nhà cũng không được mở cửa ra, bộ em không nhớ hay sao?

— Mình đâu có mở bét ra, mình chỉ hi hí một chút xíu thôi, vừa đủ cho nó chun vô, xong mình đóng lại liền, tía má ở ngoài ruộng, làm sao biết được.

Nói là làm, hễ làm là làm cho được, hai đứa nhỏ mới xăng xái leo xuống dưới nhà. Viễn cảnh được nuôi một con mèo bự ngộ nghĩnh, dễ thương, để giỡn chơi cho vui cửa vui nhà, đã khiến cho chúng quên phứt đi cái bụng trống trơn, đang sôi ọt ọt, vì từ sớm đến giờ chưa có miếng cháo nào vào bụng.

Ông Tư cẩn thận không ai bằng. Trên cái then ngang chặn cửa, ông có khoan một cái lỗ nhỏ, cài lại bằng một cây đinh mười phân, phải rút cây đinh đó ra thì mới đẩy cái then qua được. Người lạ ở bên ngoài, dẫu có luồn tay vào, cũng không thể nào đẩy cho cái then nhúc nhích.

Quyên thò tay ra rút cây đinh. Một áng mây u ám bỗng lướt nhanh qua đôi mắt hiền từ, trong veo như thủy tinh của con mèo, rồi bất ngờ lóe sáng một tia nhìn kỳ dị. Môi trên nhành ra một nụ cười hiểm ác, con vật le cái chót lưỡi đỏ hỏn liếm mép một cách thèm thuổng, một mùi tanh tưởi xộc lên thoang thoảng...

Áng mây lạ bay qua, tia nhìn tắt ngóm, hai con mắt nhanh chóng trở lại bình thường, khuôn mặt to lớn lại hiền từ như cũ. Quyên đã rút xong cây đinh, nó chuẩn bị đẩy cái then ngang qua...

Bỗng rùng rùng nổi lên một trận gió lớn, từ ngoài sông cái lồng lộng thổi vào, làm rung động cả ngôi nhà. Ngôi nhà tội nghiệp run lên bần bật, vặn mình răng rắc. Ngọn gió cuốn cờ lồng lên, ào ào chuyển động, thổi lùa qua cái lan can, làm cho cửa sổ trên gác mở ra đóng lại rầm rầm. Có tiếng đổ vỡ ở bàn thờ, con Quyên sực tỉnh, nó vội vàng chạy nhào lên phía nhà trên.

Trận gió gở đã hỗn hào lật nhào cái bài vị gia tiên, úp sấp mặt xuống bàn thờ. Con Quyên lật đật bắc ghế leo lên, sửa lại cái bài vị cho ngay ngắn. Nó kính cẩn chắp tay xá xá cái bài vị ông bà ba cái rồi leo xuống, đi thụt lùi vài bước rồi mới dám quay lưng đi thẳng ra phía cầu thang. Ngọn gió quái đã làm cho con Quyên quên phứt đi cái vụ phải mở cửa ra để dụ con mèo.

 ❊

Quyên chuẩn bị múc cháo ra tô, chợt có tiếng thằng Lực réo nghe giựt ngược:

— Chị Hai! Chị Hai! Ra đây mà coi nè! Con mèo nó làm gì kỳ quá! Chắc là nó đói dữ lắm!?

Hai đứa nhỏ ló đầu ra ngoài lan can. Con mèo vện đói thiệt. Nó đứng thẳng lên bằng hai chân sau, giống hệt như một con khỉ hát xiệc, hai chân trước nó chắp lại, xá lia xá lịa như xin ăn. Cái miệng lớn bằng ba cái đấu đong gạo, há rộng ra đỏ hỏn, nước mồm, nước miếng chảy ra choàm ngoàm.

Lấy hai cái đũa bếp nhắc nồi cháo nóng xuống. Không kiếm đâu ra được cái giẻ nhắc nồi, con Quyên đành phải lấy hai cái đũa bếp cặp vào hai bến hông nồi, rồi khệ nệ rinh cả cái nồi cháo đang sôi ùng ục đem ra ngoài. Cái lan can ông Tư đóng quá cao để đề phòng thú dữ.

Con mèo vện vẫn ngồi chầu hẫu dưới đất, ngỏng cổ lên chờ ăn. Mắt nó dán chặt vào hai đứa trẻ.

— Lực ơi Lực, nhắc giùm chị cái ghế.

Đứng chênh vênh trên cái ghế đẩu nhỏ xíu, khập khiễng, Quyên chồm mình ra ngoài lan can.

Cô bé nghiêng mình đưa cả nồi cháo nóng đang sôi sùng sục, bốc hơi nghi ngút ra ngoài. Rồi vừa từ từ nghiêng nồi rót xuống, hai chị em vừa đồng thanh nói như dỗ dành:

— Có bao nhiêu đó thôi! Ăn từ từ, thổi rồi mới ăn nghe hôn! Coi chừng phỏng miệng đa. Úy! Trời đất ôi!

Hai cánh tay nhỏ bé không giữ nổi nổi cháo nóng, hai cái đũa bếp trật ngang, nồi cháo lật úp mặt, từ trên cao rớt xuống cái vèo.

Tưởng mồi ngon rớt xuống, theo phản xạ tự nhiên, con vật vội tung mình lên cao, hả họng thiệt bự, táp cái phập, gọn bân.

 ❊

Mặt trời đã lên cao quá ngọn sào. Mọi người đang cắm cúi bên thửa ruộng mới vừa phát hoang. Bỗng nổ ra một tiếng rống kinh thiên động địa như xé trời mấy, làm rung động lá cây ngọn cỏ. Chim chóc nháo nhác bay vụt lên không, đen đặc cả góc trời. Tiếng rống kinh hồn đó phát ra từ hướng bìa rừng Tân Hưng Thượng.

Như có linh tính chẳng lành, bà Tư mặt cắt không còn hột máu, líu cả lưỡi, khản cả tiếng, hớt hơ hớt hải réo ông Tư:

— Cột trâu lại, rồi... chạy về... chạy về nhà coi sắp nhỏ... ra sao rồi ông ơi! Tôi... sợ... sợ quá!

Quẳng cái cuốc, ông Tư thót lẹ lên bờ mẫu. Không kịp chùi chân vô đám cỏ, ông đã réo:

— Bác Năm! Thằng Ba, thằng Sáu đâu rồi! Mau chạy về nhà coi bầy trẻ ra sao rồi...

Rồi không chờ ai đáp lại, ông chụp lẹ cây đòn xóc, quay lưng mà chạy, ba chưn bốn cẳng, vắt giò lên cổ, nhanh hơn tên bắn.

Tiếng gầm rống long trời lở đất vẫn vang động cả góc trời, càng lúc càng lớn, càng gấp, càng hộc lên trời những tiếng bi thương phẫn hận. Lá khô rào rào rơi xuống như mưa, đồi cây gò đá như muốn nứt tét hết ra...

Cắm đầu mà chạy bán mạng như điên một hơi về nhà, ông Tư lòng nóng như lửa đốt. Càng về tới gần nhà, tiếng gầm rống nghe càng lồng lộng. Lúc nhận ra tiếng rống phát ra từ hướng nhà mình, ông Tư mới điếng hồn, hai cẳng ông cơ hồ như mất hết sức lực, chỉ muốn khuỵu xuống giữa đường.

❃ 

Bốn phương tám hướng, dân chúng nháo nhác, chụp vội chụp vàng, mác thong, rựa ngoéo, xà búp, xà no. Cái nào ở gần, tiện tay thì chụp trước, rồi mới nhớ tới giáo mác, cung tên. Tù và rúc, mõ tre khua, thùng thiếc đánh, rền trời như nhái đêm mưa, từ làng trên cho chí xóm dưới, mõ cả bốn làng, cùng vống lên một lượt. Có người luýnh quýnh, kiếm không ra mõ, gõ thôi muốn lủng mâm đồng, đập thôi muốn trầy ván gõ.

Bỗng nổi lên một hồi trầm hùng vang dội, nhịp ba dồn dập, từ phía nhà làng dội lại, vượt lên trên hết những tạp âm náo loạn kia, tiếng vang xa như sấm động: “Tùng, tùng, tùng! Tùng, tùng, tùng!”. Cỗ trống ngũ liên nầy chỉ được phép gióng lên khi nào trong bốn làng có xảy ra các việc bách cấp: thủy, hỏa, đạo, kiếp...[9]

Từ khắp các đường ngang nẻo tắt, ngõ ngách trong làng, tráng đinh ùn ùn kéo nhau ra, lăm lăm giáo mác cung tên. Cứ hai ba người, họ nhập lại thành một tốp cho đỡ sợ, rồi anh nọ níu lưng anh kia, rồng rắn kéo nhau đi, như đàn kiến đen vác trứng chạy mưa, hướng về phía tiếng gầm rú kinh thiên động địa đó.

Lúc ông Tư về tới gần nhà thì tiếng gầm rống thưa lần và yếu đi, chỉ còn lại tiếng thở khò khè, hổn hển, thỏn mỏn gần như hết hơi rồi từ từ tắt ngúm.

Vừa qua khỏi khúc quanh trước trảng tranh, cảnh tượng bày ra trước mắt khiến ông Tư điếng hồn, buông rơi cái đòn xóc trên tay rồi từ từ khuỵu xuống...

Cả một vuông cỏ tranh, rộng cỡ một công đất trước cửa nhà, bị cày xới tanh bành như vừa trải qua một cơn địa chấn. Không một cọng cỏ nào còn nguyên, dường như cả đàn voi dữ vừa mới xéo qua...

Và kia! Kia kìa! Ở chính giữa trung tâm cơn địa chấn ấy, trên khuỷnh đất rộng bằng hai tấm đệm ken lại ấy, hiện ra nguyên hình một ông cọp bự bằng con bò mộng, nằm banh càng, chỏng gọng, cả bốn vó chỏng hết lên trời trong tư thế rướn cổ lên như muốn ngớp thêm không khí. Cái miệng đỏ hỏn há rộng bằng cái thúng góc tư. Hai bên mép, rớt rãi sủi bọt trào ra trắng xóa. Hai con mắt trợn ngược như muốn lọt tròng, rách khóe. Mùi xú uế bốc lên không trung ngùn ngụt như một đám sương mù, nồng nặc xông lên sặc mũi, khiến cho người ta lộn mửa.

Con vật trong cơn giãy chết đã vãi cả phân tươi nhão nhoét thúi ình lẫn với nước tiểu khai rùm, bắn ra tung tóe cả một vùng.

Chú thích:

[9] Thủy, hỏa, đạo, kiếp: đánh trống để hộ đê khi có lụt, hoặc gọi dân đến cứu hỏa, bắt trộm đạo, báo tin có giặc tới. Có khi còn được ghi là thủy hỏa đạo tặc.

« Lùi
Tiến »