BỆNH NGHIỆT
Năm con Quyên chớm mười sáu tuổi, trời vừa sa mưa giông thì ông Tư ngã bệnh. Bệnh gì mà như bệnh giả đò, không ai thấy ông ốm o vàng vọt hay gầy mòn chi hết. Trái lại, bà con lâu ngày gặp lại, còn quở là ông phát tướng nữa, tấm thân ông càng lúc càng vạm vỡ, chắc nịch như tạc trong đá, như đúc bằng đồng.
Ông Tư giấu bệnh, một mình mình biết, một mình mình hay, không dám hé răng hé lợi ra với vợ con. Lạ một điều, bệnh căn càng trầm trọng, thì sức lực của ông càng tăng lên vùn vụt. Một sớm kia, trong lúc phụ với bà kê lại cái cối xay bột, ông ngạc nhiên đến sững sờ khi thấy hai thớt cối xay bằng đá xanh bự tổ chảng, vậy mà chỉ cần có một tay, ông đã dỡ lên cái một.
Ông trải qua những giấc chiêm bao lạ, chỉ duy nhất một cảnh một hồi mà cứ lặp đi lặp lại hoài, lần nào cũng như lần nấy. Ông thấy cảnh vật trong các lần chiêm bao sau rõ ràng hơn các lần trước. Như được thêm thắt, tô vẽ, bổ sung để làm sáng tỏ thêm những chi tiết mà các lần chiêm bao trước hãy còn mờ ảo, nhạt nhòa...
Lúc đầu cảnh vật chỉ lung linh một màu đen trắng, chưa có hình thù gì rõ rệt và cảm giác của ông lúc đó cũng mơ hồ bất định. Đến các giấc chiêm bao sau thì sắc màu hiện ra rõ ràng, cảnh vật có thêm nhiều chi tiết hơn và cảm giác dường như cũng thật hơn. Giống hệt như khi người họa sĩ vẽ một bức tranh, lúc đầu ông ta chỉ dựng bố cục, phác thảo cái sườn, chỉ là những mảng hình khối, chưa có chi tiết nào rõ rệt. Nhưng càng về sau, qua những nét vẽ tỉ mỉ, chi tiết mới lần lần lộ ra và cuối cùng thì tô màu, vờn bóng... thế là ổng đã có được một bức tranh hoàn chỉnh.
❃
Thoạt tiên ông thấy mình đang ở trong một cái hang sâu hun hút, cuối hang là một cái giếng trời thông lên tới đỉnh. Miệng giếng càng lên cao thì càng nhỏ dần. Xa tít trên cao, lồng lộng một bầu trời đêm, cài một mảnh trăng tròn lơ lửng. Ai đem ông đến chốn nầy!?Một sức mạnh thần bí không hiểu từ đâu bỗng nhập vào người ông rồi trào dâng lên khắp mình mẩy. Ông Tư nghe cơ bắp cuộn lên từng hồi, máu nóng bừng bừng trào sôi lên khắp cơ thể. Thu mình chồm hổm, như đang ngồi trên một chảo lửa rang, chụm cả tứ chi, ông lấy hết sức bình sinh, gồng mình cứng ngắt để chống trả lại cái sức mạnh thần bí kia. Cảm giác bừng bừng cứ trào lên, trào lên dần, ứ đến cổ họng thì nhộn nhạo rồi vụt thoát ra ngoài bằng một tiếng gầm đầy thú tính.
Sáng ra, vẫn còn nằm ỳ trên bộ ván, ông ễnh bụng vươn vai, uốn xương sống nghe cái cụp... gân cốt toàn thân giãn ra lắc rắc, thấy rất đã đời nên ông còn vặn vẹo rướn mình lên trời, ngáp thêm mấy cái nữa cho đã thèm. Chưng hửng! Sững sờ! Nhỏ lớn tới giờ, chưa hề có thói quen làm vậy bao giờ. Quay lại thì thấy đám chó trong nhà, xếp hàng đứng sau lưng cả lũ, trố mắt nhìn ông bằng những ánh nhìn nghi ngại.
BỆNH NHẬP CAO HOANG[49]
Bệnh cứ nhập vào ông chầm chậm, từ từ nhưng chắc chắn. Ông cảm thấy cái thế lực vô hình, thần bí kia đang lần lần chế ngự, càng lúc càng lấn lướt con người thật của ông, rõ nhứt là vào những đêm rằm.
Vật vã giữa những cơn sốt cao, mới đầu còn nghi là sốt rét rừng, về sau mới biết là không phải, vì ông chỉ có sốt mà không rét. Càng ngày càng ít nói lầm lì, ông thường ngồi trầm ngâm cả buổi trời bên bếp lửa, lặng lẽ như một pho tượng. Trong nhà biết ý, ai đi ngang cũng len lét nhón chưn, còn đám chó săn thì ôi thôi, khỏi nói, tuyệt nhiên không con nào dám léo lại gần.
Ông thường bỏ nhà đi luôn, ban đầu chỉ thỉnh thoảng mới bỏ cơm, về sau có khi ở luôn hai ba ngày đêm trong rừng, về nhà, ngồi chưa ấm chỗ, ông lại quay lưng đi biệt, mới hừng đông đã mang gùi, xách mác vô rừng. Đến nỗi, hiền phụ như bà Tư mà cũng còn nói lẫy: “Ống ở trên rừng còn nhiều hơn ở nhà, rừng có giống gì mà ổng mê nó dữ vậy, coi trượng hơn cả vợ con”.
Chỉ có phường săn là hưởng lợi, vì mỗi lần săn chung, cánh mũi hơi phập phổng là ông có thể đánh hơi được những con thú máu nóng xa tới mấy dặm ở trên hướng gió. Nhưng hễ ông luồn rừng đi tới đâu, thì cả khu rừng đột nhiên chết lặng tới đó. Chỉ có lũ chim lệnh[50] mới dám đánh hơi, rủ nhau đeo theo sát nút, vần vũ trên đầu, giành nhau thét lên những tiếng kêu rùng rợn: Boong Kroói... , Boong... Kroósi...
Giấc chiêm bao sau, rơi đúng vào giữa đêm rằm. Giữa hai cơn sốt cao hành hạ, ông thấy mình lại rớt trúng vào khung cảnh cũ, vị trí cũ. Cũng hang sâu hun hút, cũng vầng trăng tròn đỏ quạch treo lơ lửng trên giếng trời. Nhưng lần nầy không phải chỉ có một mình ông trong hang. Cùng với bóng tối mịt mùng vây phủ, xung quanh ông là những đốm mắt xanh lè lấp lánh, đầy đe dọa. Văng vẳng đâu đây, có tiếng cãi cọ xì xào, càu nhàu, dường như bàn tán chia phần, hay đương xâu xé, giành giựt nhau cái gì đó không rõ...
Sức mạnh kinh hồn nhập vào ông lần nầy, dâng lên rất nhanh và lan tỏa rất mạnh, làm cho toàn thân ông chuyển động mãnh liệt, trương nở hết tất cả các lỗ chân lông, huyết dịch chảy rần rật trong huyết quản, gân cốt khua lắc cắc. Cơ bắp vụt phồng to, săn cón, căng cứng trong cái áo vải ú, các đường chỉ may rên lên răng rắc, rạn ra cơ hồ như muốn bựt.
Vùng một cái, ông vụt biến thành một con vật to lớn dị thường, lông lá xồm xoàm, rậm rạp. Con vật vặn vẹo rướn mình về phía mặt trăng, thất khiếu căng phồng, cổ họng ngứa ngáy, bỗng bật ra một tiếng “À uôm” vang dậy...
Giật mình tỉnh giấc, ông bàng hoàng, ú ớ mãi không thôi, ốc ác nổi cùng mình, mồ hôi toát ra đầm đìa, lạnh ngắt. Hú hồn hú vía, ông nghĩ lại, dù sao đó cũng chỉ là một giấc chiêm bao thôi. Bước ra sân nhìn trời, sao lưỡi cày vừa trở cán.
Sáng hôm sau, dưới nắng sớm ban mai tỏ rạng, trong lúc loay hoay giũ chiếu, ông lượm được các nút áo rơi vãi, văng bắn mỗi nơi một cái và... Trời đất ơi! Cái gì nữa đây! Sự thật hiển nhiên hiện ra sờ sờ trước cặp mắt dường như đã đứng tròng: cái áo vải ú đen của ông đã “rượn đường may” ráo trọi.
Chiều tối, ông đi rừng về trễ, bà Tư dọn cơm ra cho chóng ăn rồi xể rổ may lại gần ánh đèn chong để ngồi nhíp lại cho ông cái áo sút chỉ, bà càm ràm: “Lóng rày, ba sắp nhỏ bận đồ mau rách quá!”. Rồi như sực nhớ ra, bà hỏi:
— Hồi khuya nầy, ba con Quyên nằm chiêm bao thấy giống gì mà mơ lớn tiếng, nghe ghê quá vậy?
Chưng hửng, sững sờ, tế điếng cả người, miếng cơm trong miệng bỗng trở nên đắng nghét. Đôi đũa lặng lẽ dụm vào đáy chén cơm đã lạnh tanh, nguội ngắt.
❃
Từ đó, ông đâm ra sợ những đêm rằm, trăng càng tròn thì trong mình ông càng cảm thấy bứt rứt không yên. Tâm trạng bứt rứt đó chỉ có thể qua mắt được những người trong nhà chớ không thể che giấu nổi đám chó săn nòi. Với khứu giác cực kỳ tinh nhạy, chúng đánh hơi thấy được một mối hiểm nguy, tiềm ẩn vô hình đang lởn vởn trong bầu không khí. Trong các cuộc săn lớn, khi đối diện với thú dữ, hễ người chủ bình tĩnh thì lũ chó cũng sẽ bình tĩnh theo, trái lại nếu người chủ tỏ vẻ lo sợ, nao núng thì bầy chó cũng đánh hơi thấy được ngay điều đó. Tuy không đến nỗi phải bỏ chạy, nhưng tinh thần chiến đấu của chúng cũng sa sút rõ rệt.Trăng gần tròn, thì lũ chó trong nhà lại càng nhộn nhạo, xao xác không yên. Ông đi đến đâu, lũ chó cụp đuôi len lét lảng ra đến đó. Hễ ông lên nhà trên thì chúng bét xuống nhà dưới, ông trờ xuống nhà dưới thì chúng lại dồn hết lên nhà trên. Ông có việc phải đi lên đi xuống nhiều lần trong nhà thì chúng vọt hết ra sân. Đố có con nào dám léo lại gần.
Tình cảnh con nhồng già treo ở ngoài mái hiên thì lại càng thê thảm. Con nhồng nầy đem theo từ thành Gia Định, ông nài người chủ cũ của nó năm giạ lúa giống mới đổi được nó đem về cho con Quyên. Suốt cuộc trường chinh gian khổ, đồ đạc phải bỏ lại rất nhiều, nhưng cái lồng chim thì phải vác theo, bằng không thì con Quyên nó lăn ra nằm vạ, rồi nó lết. Con vật nói sõi tiếng người nầy, lanh thấy sợ luôn, hễ có động tịnh chút gì ngoài ngõ thì ở trong nầy nó đã la lên chát là, inh ỏi: “Nhà có khách! Có khách...!”.
Từ hồi về đây, khách nào mà viếng nữa nên buồn tình nó mới xoay ra nịnh nọt, bắt chước giọng bà Tư. Khi thì nhẹ nhàng, âu yếm: “Ông Tư à! Uống ít, uống ít! về sớm, về sớm!” Có lúc lại cao giọng hăm he: “Con Quyên... đâu! Coi chừng cái mông đít đó nghen!”. Vậy mà càng tới gần ngày trăng tròn, con vật vui vẻ, lanh lợi huyên thuyên đó, bỗng đâm ra củ rủ, cả ngày giấu mỏ trong cánh, rên khe khẽ trong cổ họng những tiếng “khiếp, khiếp” đầy kinh hãi.
Ông đã bỏ hẳn cái thói quen, hễ mỗi chiều ở rừng về, lại đến bên ảng nước mưa, giội ào ào từng gáo lớn nước mưa mát lạnh. Trái lại ông trở chứng, mặc áo quần kín mít, và lần hồi ông quên luôn cả việc tắm rửa, đầu cổ để chôm bôm, mình mẩy hôi như cú. Cho đến một sáng kia, từ chỗ ông nằm, bà Tư tình cờ quét ra được những túm lông vàng vàng hung hung, vương vãi ra, đầy trên mặt chiếu.
❃
Buổi sáng hôm đó bà Tư dẫn hai đứa con đi ăn đám giỗ. Giỗ hội[51] năm nay chỉ một mình bà đi, ông than mệt ở nhà. Ba mẹ con đội thúng bánh ít lên đầu, ra đến cửa rào, nghĩ sao bà Tư biểu thằng Lực ở lại coi nhà, chăm sóc cho cha nó. Hai cha con mắc võng nằm treo toòng teng trước hàng ba, nghêu ngao đọc thơ “Chàng Lía”. Gió mát thổi hiu hiu, một hồi hai cha con ngủ quên mất đất.Bà con trong đám giỗ, ai nấy cũng đều hỏi thăm ông, bà Tư trả lời lóng rày ông không được khỏe. Vắng ông Tư, giỗ hội năm đó kém vui, vì thiếu một tay ăn to nói lớn.
Không hiểu sao, suốt cả ngày hôm đó, bà Tư thấy trong mình ruột nóng như hơ, bà cứ thẫn thờ như người mất hồn, ai có hỏi gì thì cũng chỉ trả lời ừ hử cầm chừng. Có một cái gì đó, cứ trào lên trợn trạo, nhộn nhạo trong lòng khiến cho bà cảm thấy bất an.
Tan đám giỗ, trời chiều chạng vạng, ngọn đèn tọa đăng đã treo lên giữa nhà, mấy bình trà nóng được bưng ra. Mấy ông già ngồi khề khà uống trà, hút thuốc, tán dóc chuyện mùa màng, thế sự. Mấy cô gái trẻ thì chùi nồi chùi ơ, rửa tô, rửa chén. Còn mấy bà thì ngồi tụ tập trên mấy bộ vạt cau kê ở nhà dưới, ăn trầu, xỉa thuốc, chuyện nổ như bắp rang: chợ búa, giá cả, cưới hỏi, mối mai. Ai cũng ráng cầm hai mẹ con ở lại chơi thêm chút nữa, bà Tư khéo léo từ chối rồi kéo con Quyên tốc thẳng về nhà.
Nhác từ xa trông lại, ngôi nhà sàn tối đen, không một ánh đèn, hai cửa sổ tối thui như hai con mắt đui. Bà Tư hối Quyên, hai mẹ con tất tả chạy về. Còn khoảng đâu trăm bước chân nữa mới tới nhà, đột nhiên bà níu Quyên đứng lại, bước chân trở nên rón rén rụt rè. Bà cẩn thận quan sát xung quanh, linh tính như báo trước có chuyện chẳng lành.
Một cơn gió lạnh ào ạt thổi qua, ngôi nhà sàn im lìm đáng sợ.
Cổng ngoài he hé, cửa trong mở hoác, đập lật phật theo từng cơn gió rừng lạnh lẽo. Bên trong tối đen như mực, dường như không có bóng người. Sinh nghi, bà rón rén bước tới, với tay lấy ngay ngọn mác giắt trên vách rồi cùng với Quyên, hai mẹ con vòng ra lối sau nghe ngóng.
Gió đêm đưa đến một mùi tanh tưởi lợm giọng, khiến cho bà chỉ chực nôn oẹ. Lóng ngóng lục tìm con cúi trong bếp, run lẩy bẩy, hai mẹ con phùng miệng thổi cho ngọn lửa bùng lên. Mồi cái đèn chong đặt vào giữa bếp, bà nhớn nhác dòm quanh. Bỗng con Quyên níu áo mẹ, ú ớ chỉ tay vào một đống lù lù nằm ngay sát cái ảng nước mưa đặt ngoài mái hiên. Hai người rón rén bước lại gần, những gì trông thấy làm cho họ bàng hoàng, sởn gai ốc.
Dưới ánh trăng xanh lạnh lẽo, xác một con vật nằm khoanh, co mình lại như cố che giấu bộ đồ lòng rơi vãi ra ngoài, nhầy nhụa trên mặt đất. Lần theo dấu máu lênh láng kéo dài, bà biết ngay là con vật bị hại từ trong nhà, cố gắng lết ra đến chỗ khuất sau ảng nước để được chết yên thân. Thò tay vuốt mắt con vật trung thành, bà Tư rưng rưng nước mắt.
Kế bên lu nước, lại một đống to lù khác. Định thần nhìn kỹ, đó là xác con Tiên Phuông, con chó có tiếng là hung dữ nhứt; con nầy nằm nghiêng, ruột đổ lòng thòng ra ngoài. Không phải chỉ có hai con, mà rải rác từ nhà trước ra tới nhà sau, lần lượt bà tìm thấy ba xác chó nữa, thi thể đã rách nát, lạnh tanh, ruột đổ có nùi. Nhưng trong nhà tuyệt nhiên không có dấu vết đổ vỡ nào, để chứng tỏ là vừa trải qua một trận quyết chiến kinh hồn.
Một tia chớp nghi ngờ lóe lên trong óc bà, như Thiên Lôi bổ búa, làm cho bà lảo đảo. Bà Tư lắc đầu quầy quậy, cố xua đi sự nghi ngờ cứ bám riết dai dẳng trong lòng bà cả tháng nay. Co rúm người lại, bà thở hổn hển: “Ác thú dù có hung dữ, mạnh mẽ tới bực nào, thì giỏi lắm cũng chỉ bắt được có một con thôi, mấy con còn lại sẽ chạy tản lạc hết vô rừng. Còn đằng nầy cả một bầy, năm con chó săn nòi. Khá thương cho cái giống ngu trung!”.
Lần theo dấu máu, ra gần đến cửa, có vật gì trăng trắng phập phều vướng vào kẹt cửa, bà cúi xuống lượm lên. Thì ra là một manh vải, manh vải rách bươm nhưng không dính một chút máu. Trời hỡi! Đó là cái áo của thằng Lực. Tim bà thắt lại như bị một bàn tay khổng lồ xiết mạnh. Ngồi bẹp xuống đất, bà dựa ngửa lưng vô vách, hơi thở khò khè.
Qua khung cửa mở rộng, những ánh chớp lặng lẽ rạch nát màn trời bằng những tia sáng ngoằn ngoèo. Gió trận từ phía rừng sâu thổi lại, rít lên từng hồi dài, làm cho hai cánh cửa sổ trên gác rung lên bần bật.
Con Quyên, sau cơn mụ mẫm ban đầu, sực tỉnh, nó vội chụp lấy cái mõ tre, nghĩ sao nó lại bỏ cái mõ tre xuống, vớ ngay lấy cái mâm đồng. Run lên như thằn lằn đứt đuôi, nó giơ cái chày lên cao, định nện một cái thẳng cánh vào mâm đồng thiệt mạnh. Một bàn tay chụp lại, cứng ngắt, thì ra là bà Tư, má nó. Ngạc nhiên, con Quyên hỏi lại, giọng run run:
— Bộ... bộ không kêu cứu với bà con, chòm xóm hả má?
— Má nói... con không được kêu ai tới hết! Nghe... chưa! Chuyện nầy là phải “sống để bụng, chết đem theo”. Giấu kín không cho ai biết hết! Nghe... chưa!
Nhìn qua khung cửa mở rộng, về phía rừng núi tối đen, bà nghẹn ngào nói, giọng đùng đục, khao khao:
— Bây giờ má phải vô rừng kiếm ba. Con ở nhà tấn chặt cửa nẻo lại, ai kêu cũng không được mở! Nghe... chưa!
Bà gằn giọng mấy lần hai tiếng “nghe chưa”. Với tay lấy ngay cây đuốc chai giắt trên vách, châm vào bếp lửa rồi lách mình qua khung cửa. Đi được vài bước bà quay lại dặn dò, giọng quả quyết:
— Má dặn gì con nhớ chưa? Tấn chặt cửa lại! Ai kêu cũng không mở! Nhớ chưa? Ai kêu cũng không mở! Kể cả ba cũng không được mở!
Con Quyên thảng thốt, thụt lùi:
— Sao... lạ vậy má!? Tại sao tía kêu mà cũng không được mở?
Bà Tư run lẩy bẩy. Giọng bà khàn khàn, khác lạ, dặn dò mà sao nghe như trối:
— Ừ! Con phải nhớ! Ba mầy kêu cửa thì lại càng không được mở, nhứt định phải ráng cầm cự chờ má về. Cầm bằng tới sáng mà má không về, thì coi như tụi con đã mồ côi rồi đó, mỗi năm nhớ lấy ngày nầy làm ngày đám giỗ. Con phải qua nói với ông Năm, biểu họ thôi đừng tìm kiếm chi nữa, hung hiểm lắm.
Bà Tư vừa băng mình vào đêm tối, thì con Quyên cũng vừa quyết định xong. Nó không thể để cho má nó, đơn độc, một thân một mình, đêm hôm tăm tối vào tận chốn rừng sâu hiểm ác như vậy. Nó khép cửa lại, rồi hấp tấp, đâm đầu chạy theo má nó.
Ngọn đuốc của bà Tư lúc bấy giờ chỉ còn thấp thoáng xa xa như một đốm lửa nhỏ leo lét, lắt lay, giữa rừng khuya hoang vắng.
Chú thích:
[49] Bệnh nhập cao hoang: thuật ngữ Đông y, chỉ bệnh đã lậm, thuốc men châm cứu đều không chữa được.
[50] Chim lệnh: Những oan hồn bị cọp ăn, nhập vào con chim, đưa đường dẫn lối cho cọp tìm bắt người khác. Có hồn khác thế mạng thì những oan hồn kia mới đi đầu thai được (giống như ma trành ở Bắc Bộ vậy). Sự thật nó là loại chim “xỉa răng cọp”, hễ cọp nằm đâu cũng thường há họng ra cho lũ chim đó chun vô mổ thịt thối, giòi bọ giắt trong kẽ răng. Cọp nhờ vậy mà không bị sâu răng, biết ơn nên cũng không ăn thịt chim. Hễ đánh hơi có cọp ở đâu, lũ chim đó thường “theo dóm ăn tàn”, bám theo sát nút. Cũng giống như con nhồng, con sáo hay đậu trên lưng trâu để bắt sâu bọ cho trâu vậy. (Theo Đoàn Giỏi - Đất rừng phương Nam).
[51] Giỗ hội: trong kiếng họ có nhiếu người bị thảm sát, chết cùng một ngày, con cháu họ sau nầy tụ tập lại, làm đám giỗ cùng một ngày, một chỗ.