Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6614 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ BỐN MƯƠI BA
đêm ba mươi, bình thủy tương phùng, kiếp đào trái, bèo mây tương ngộ.

THA HƯƠNG CỐ TRI

Sài Gòn thuở ấy còn quê mùa lắm, chưa được sung túc thạnh mậu như bây giờ, đèn điện chưa có, nhà lầu còn thưa thớt lắm. Chợ Lớn chưa dính liền được với Sài Gòn, từ Sài Gòn vô Chợ Lớn, hai bên đường vẫn còn ruộng nương, vườn tược, cây trái lúc lỉu, xum xuê. Mới năm sáu giờ chiều, trời còn sớm bửng, mà nhà nhà đã lên đèn, đèn dầu lửa tù mù đỏ quạch. Tiếng ễnh ương “uểnh oang” hòa lẫn với tiếng ếch nhái “ngắt ngang” kêu ran dưới đám ruộng nước hai bên đường vẳng lại.

Thời đó, thời mà ngay tại chợ Sài Gòn, tìm đỏ con mắt, cũng khó mà kiếm cho ra được một cư dân đặc sệt chính hiệu Sài Gòn, sanh đẻ ngay tại đất địa nầy. Bởi cư dân hồi đó phần lớn ở dưới Nam Kỳ lục tỉnh đổ lên mần ăn, số còn lại là dân tứ xứ.

Nếu nói quê hương là nơi nhau rún, là nơi có mồ mả của ông bà tiên tổ, thì đất địa Sài Gòn thuở ấy chưa phải là quê hương của nhiều người, chưa đủ sức níu chưn người xa xứ. Cho nên, hễ Tết đến là họ rục rịch đóng cửa tiệm, đồng lòng hè nhau, đổ xô về xứ ăn Tết, bỏ lại một Sài Gòn hoang vắng, tiêu điều. Chỉ còn le the vài tiệm nước chú Ba, lèo tèo vài sạp vải chú Bảy, cửa đóng then gài, im ỉm tối ngày. Bởi mấy chú nầy, xứ thì có xứ, mà xa quá là... xa, về sao được mà về...

Tối ba mươi Tết năm kia, có người rắn mắt, cởi trần bận quần xà lỏn dây thun dãn, chạy ngay ra giữa bùng binh chợ Sài Gòn, chổng mông la làng: “Bớ người ta! Bớ làng xóm! Tôi buồn muốn chết rồi nè! Làng xóm ơi! Tôi đã phát điên lên rồi... nè! Đụng ai tôi cũng cắn... nè!” Vậy mà cũng không thấy Cò bót, Sen đầm hay Mã tà, Phú lích nào tới rờ trán hỏi thăm sức khỏe hoặc chớp óc lượm về bót gì ráo trọi...

❃ 

Tối ba mươi Tết năm đó, phố xá vắng tanh. Chẳng ai biết mấy giờ, chỉ nhớ là ngọn đèn đường hiu quạnh thắp bằng hơi ga đã kêu xì xì, tỏa ra một quầng sáng vàng vọt, tù mù, chiếu xuống một góc phố buồn teo, vắng ngắt.

Ngọn gió lạnh lướt qua giữa lòng phố vắng, cuốn theo mấy tờ giấy nhựt trình bèo nhèo, vài miếng lá chuối khô gói bánh bay lả tả. Một con chó hoang ốm nhom ốm nhách, thất thơ thất thểu, bước vẹo bước xiêu, đụng đâu hửi đó. Đã thèm rồi nó bèn nghếch cái cẳng sau lên góc cột đèn mà... tồ tồ.

Bỗng sau một khúc quẹo cuối phố, thình lình xuất hiện một người khách lạ, như mới từ dưới đất lù lù trồi lên. Người khách này tay xách nách mang, cụ bị đùm đề, mắt ngó dáo dác, ý chừng như va muốn kiếm xe kéo hay xe ngựa chi đó.

Bến xe ngựa đã vãn từ trưa ba mươi. Còn phu xe kéo thì ai về nhà nấy từ lúc trời chưa chạng vạng, để lo cúng kiếng ông bà ông vải, có ai đâu còn thấp thoáng giờ nầy, mà hòng kêu réo làm chi cho uổng công.

Người này đang thất vọng não nề, mệt nhọc lê bước cà rịch cà tang trên đường phố vắng, không biết đi về đâu trong đêm nay. Chợt có tiếng lạch xạch, lạch xạch, một chiếc xe kéo, bánh cao su, từ dưới con dốc lúc thúc chạy lên. Thiệt là buồn ngủ mà gặp chiếu manh, người dạ khách nầy mừng đến nỗi nhảy cà tửng lên mà ngoắc lia, ngoắc lịa.

Nhưng khi nghe khách ngỏ ý, muốn xuống bến đò dọc kinh Lò Gốm, để đón tàu khách về Bến Tre thì người phu xe từ chối phắt. Y nói, giọng nhỏ nhẹ, điềm đạm, chứng tỏ cũng là hạng người đàng hoàng, tử tế:

— Thói thường, hễ khách xỉa xu thì phu kéo. Tới bên rồi, không có đò ghe chi hết thì kệ thây khách, họ không thèm đếm xỉa làm chi. Bữa nay, chú may mắn lắm mới gặp đặng tôi. Chẳng giấu gì chú, chuyến tàu cuối đã chạy mất từ lúc chiều hai mươi chín rồi, tới mùng tám mới khai trương chạy lại. Chú mà xuống dưới đó, ngủ đêm ngoài bến tàu, hành lý đùm đề như vầy, đố khỏi “mắc mớp” bợm bãi. Cái đám bối Ba Cụm ở dưới đó, nó giựt gói người ta, chạy ngờ ngờ. Chú nên nghe lời tôi, ráng kiếm nhà nghỉ, hoặc có quen ai ở trên nầy, thì xin về ở đậu tối nay đi rồi sớm mai liệu tính thế khác.

Nói xong y quày quả bỏ đi, tiếng xe kéo lạch xạch lạch xạch xa lần. Khi đi ngang qua dưới ngọn đèn đường, y lột cái nón mê ra, quạt lạch phạch vài cái. Người khách lạ đang tiu nghỉu ngó theo, bỗng ngờ ngợ vài giây, rồi anh ta nhảy cà tửng, bỏ cả hành lý, tất tả rượt theo:

— Ý! Anh xe kéo ơi! Anh gì đó ơi? Làm ơn đình bộ cho tôi hỏi thăm. Phải anh là dân Bến Tre mình đó không?

Người phu xe kéo vụt đứng phắt lại, ghìm không kịp nên cái gọng xe thúc mạnh vô hông va cái ự. Va khum bàn tay lên che mắt, ngó lom lom người khách lạ đang hớt hải chạy tới. Va hỏi mà không sao nén được sự hồi hộp:

— Anh ở Bến Tre mà ở miệt nào? Bên Minh hay bên Bảo?

— Tôi ở bên Bảo, huyện Giồng Trôm, làng Hưng Nhượng. Quán Sơn Đốc.

— Anh ở huyện Giồng Trôm mà có nghe danh bà Ba Ngỡi hay không?

— Còn hỏi gì nữa. Tôi ở dợ, chăn trâu cho bả từ hồi tôi còn chưa đứng tới lưng con trâu lận. Cơm nhà bả tôi ăn mòn răng.

— Úy! Vậy là dân đàng mình với nhau rồi. Thôi! Khỏi nói thêm gì nữa! Quăng hết hành lý của anh lên xe đi, tôi kéo anh về nhà tôi ngủ đỡ, sớm mai ra bến, tôi cậy người gởi gắm cho anh quá giang về Bến Tre sớm.

MƠ VỀ MIỀN CỐ THỔ

Tiếng pháo đón giao thừa nổ rộ lên từng tràng, từng tràng, tràng nầy nối tiếp tràng kia. Từ xóm nầy qua xóm khác, tiếng pháo như trả lời nhau, hồi lâu sau, cả tứ bề bốn phía đều rền vang tiếng pháo.

Ngọn gió xuân mắc dịch cứ nhè khói pháo xanh, thơm nồng phưởng phất mà đưa thốc ngay vào trong lòng con hẻm nhỏ, giữa xóm lá tồi tàn, ven ngoại ô thành phố, rồi bỏ quên luôn ở trỏng, mặc cho làn khói xanh mắc kẹt xà quần, lan tỏa mù mịt, làm cay cay hai con mắt, làm xốn xốn cái tấm lòng sầu xứ của hai người đờn ông đương cởi trần ngồi ngay trong chiếu nhậu, dưới tàn cây vú sữa trong vườn. Năm cũ đã qua, năm mới lại đến...

Đêm này năm cũ bước qua,

Mà người muôn dặm đường xa chưa về.

Qua lại vài ly, anh chủ nhà bỗng kéo tay áo đưa lên chặm mắt, giọng có chút ngậm ngùi:

— Hồi nãy ở ngoài đường, nói thiệt với chú Được, tôi cũng không nhớ chú nữa. Mười mấy năm rồi, nếu không quen biết lung, chỉ hơi ngờ ngợ thôi thì đố ai mà...

— Thì tui cũng vậy. Thiệt tình! Nhớ mài mại mà cạy không ra. Hồi năm, lóng chị Quyên chạy về báo cho cả làng hay tin là anh với cái thằng cha Ba Gà, Ba Búa gì đó bị cọp tha mất xác. Báo hại, cả nhà anh khóc rùm trời, rồi lập bàn thờ, mỗi năm đều lấy ngày anh đi làm ngày đám giỗ. Ai mà ngờ! Cha nội chạy tuốt một lèo lên tới tận Sài Gòn. Sướng chưa! Bây giờ cha nội hổng chịu về mà coi, hình của cha nội được lộng kiếng “thượng lên chong ngóc, trên nóc tủ thờ, núp sau nải chuối, ngắm gà khỏa thân”. Chuyến nầy tui về, biểu chỉ hạ phứt cái mặt địa cười tích toác của anh xuống cho rồi, kẻo ở dưới chỉ cúng vái hoài, trên nầy anh tổn thọ chết.

— Ý đừng! Cứ để bả tưởng tôi chết cho rồi! Tôi có lỗi với vợ con, bỏ mẹ con nó rách rưới, còn mặt mũi nào mà dám dìa xứ.

— Sao được? Anh còn sống nhăn! Có ai như anh không, chuyện đã mười mấy năm dư, tội lỗi gì thì mưa nắng cũng đã rửa sạch mà hong khô hết trơn hết trọi rồi. Chồng còn sống sờ sờ, về mừng còn không hết, ở đó mà trách với móc.

— Nghe chú nói mẹ con nó còn mạnh giỏi. Thiệt! Lòng tôi như cất đi gánh nặng ngàn cân. Kể ra con vợ tôi ở nhà cũng giỏi thiệt hén chú! Một thân một mình mà bươn chải, chèo chống, nuôi nổi bầy con tám đứa, rồi cũng một tay bả dựng vợ gả chồng cho tụi nhỏ nữa. Hồi tôi còn ở nhà thì bả đau rề rề, trị hoài không mạnh, bịnh cứ cù cưa cù nhằn, vậy mà... Thôi! Chuyện đó tính sau, chú Được còn nhớ giờ nầy ở dưới quê mình làm gì không? Canh nổi bánh tét phải không? Hễ thấy cạn nước thì lấy nước sôi trong siêu đất châm vô thêm phải không?

— Anh Ất còn nhớ cây da ở đầu làng mình không? Cây da sọc mà không biết có từ hồi nào? Mới sanh ra tôi đã thấy nó rồi. Mình đi đâu xa về, chưa tới làng mà thấy cái bóng của nó in trên nền trời xa xa là đã thấy nao nao trong dạ rồi.

— Nghe ông bà mình kể lại thì hồi xưa, chưa có làng đã có nó rồi, trái nó chín có sọc ăn ngon thất kinh luôn, con nít đứa nào cũng háo.

— Tối nào có gió lớn, đám con nít tụi mình cũng đốt đuốc mù u, ra soi da lụm trái đó. Nhớ không?

— Làm sao tui quên được cây đuốc mù u. Trái mù u khô lụm về, đập bỏ cái gáo, gỡ ra lấy cái nhưn có dầu ở trỏng. Chuốt nhọn một cọng tre, xỏ xâu ghim chừng một chục cái nhưn đó lại - giống như ghim mứt chùm ruột vậy - đập dập dập, phơi vài nắng cho khô. Thứ đuốc con nít chơi vậy mà đốt đượm lắm à nghen, gió mạnh cỡ nào cũng không tắt. Bữa nào trời giông, da rụng lộp bộp đầy sân, mặc sức mà lụm, ham lụm đến nỗi để lửa táp phỏng tay mà cũng chưa chịu buông.

— Nói tới lửa táp mới nhớ, học trò trên vườn thuở đó đi học, phải đi theo con nước, có khi chèo xuồng tới chợ rồi mà trời còn sớm bửng, đèn hai bên dãy phố chưa kịp tắt, phải kiếm mấy gánh xôi cuốn bánh phồng mà bu cho đỡ lạnh.

— Anh phải nói là bánh phồng cuốn xôi thì mới phải, con nít tụi mình một xu là no bụng.

— Còn nhớ, bên nây gánh, một cái nổi đất bự tổ chảng, trong bụng chứa đầy than hồng đỏ rực, bọn học trò đi học sớm bu quanh đặc gật, ấm hỉnh hà. Bên kia gánh, một mâm xôi bốc hơi nghi ngút với mấy xấp bánh phồng dừa. Dựng xéo cái nồi lên cho kín gió. Chao chao cái bánh phồng trên ngọn lửa than, mà phải là than miểng gáo à nghen, than miểng gáo cháy đượm hết biết, than khác có tàn tro nên mấy bà bán phải nhốt riêng than miểng gáo để dành. Trở qua trở lại, hễ thấy cái bánh vừa chín tới, phồng lên chưa kịp quéo thì phải lẹ tay kê cái bánh lên miệng nồi mà quẹt một quẹt cho nó trải ra. Vít cục xôi để vô, rắc dừa nạo, muối mè đậu phông, túm lại lăn tròn. Mà phải nhớ lăn cho thiệt lẹ, chớ để chậm một chút, bánh phồng cứng lại là khỏi cuốn luôn, bánh ra bánh, xôi ra xôi, bời rời bạc rạc...

— Mới nghe mùi đã bắt thèm rồi, cắn vô một miếng, bánh phồng giòn rụm tan đều trong miệng ngọt thao, rồi mùi thơm của lá dứa trong xôi lẫn với dừa nạo béo béo, đậu phông bùi bùi. Bánh phồng cuốn xôi nóng hổi, vừa thổi vừa nhai. Ta nói...

Anh chủ nhà nuốt nước miếng cái ực rồi ngậm ngùi nói tiếp:

— Ai bày chi cái món bánh phồng cuốn xôi thiệt là độc đáo, xứ khác không có. Trên nầy, không ai biết cách làm mà ngoài chợ cũng không thấy bán, xứ mình là xứ bánh phồng . Trời Phật phạt tôi chú à! Hồi còn ở nhà, tôi chê bả trậm trầy: “bộ ỷ xứ mình là xứ dừa nên nấu món gì bà cũng chế nước cốt dừa vô, món ngọt đã đành, món mặn cũng vậy, tui ăn ngán ngược!”. Vậy mà bây giờ, bị đày tròi trọi ở trên nầy một mình, tôi thèm muốn rớt nước mắt mà một miếng cũng chẳng có.

— Anh còn nhớ cái nhà Hờ ngó ra con lộ thép đôi không? Tại sao kêu là nhà Hờ? Tại sao kêu là lộ thép đôi - cột thép đôi? Còn nhớ không?

— Nhớ chớ sao không! Nhà Hờ là nhà chờ, dân mình làm biếng nhớt thây, đọc chữ cũng bỏ bớt của người ta. Nhà Hờ tư bề trống trải, mình tới đó ngồi chờ, để đón xe đi thẳng lên Bến Tre hoặc tẻ xuống Ba Tri chớ đâu.

— Dây thép, Tây nó kéo dài hai sợi, dọc theo con lộ đó là để nó đánh dây thép gởi tin đi, nên mới kêu là lộ thép đôi. Con lộ nầy rải đá, kéo dài từ Bến Tre xuống tới ngã ba thì phải quẹo gắt để đổ về miệt Ba Tri. Thay vì mỗi chặng chỉ trồng được có một cây cột, thì ngay tại khúc quẹo, hổng hiểu mấy quan lục lộ nó có tính lộn hôn, nó trồng tới hai cây cột mà hai cái cẳng lại xà nẹo với nhau, bà con mình ngó thấy ngộ, nên mới kêu là cột thép đôi chớ gì.

— Hồi nhỏ, hồi còn chăn trâu ở quê nhà, luẩn quẩn dưới chưn cột thép đôi, tôi để ý dòm chừng hoài mà nào có thấy chữ Tây, chữ u gì chạy dọc ở trên đó đâu chú. Mỗi khi có gió thổi mạnh, chỉ nghe hai sợi dây thép nó run lên, kêu vi vu như tiếng đàn ngân, vậy thôi.

— Tàu khách từ Nam Vang về Sài Gòn gặp nạn, vướng cồn ở giữa sông nên tôi về trễ, đành phải ăn Tết ở lại Sài Gòn. Tôi không kịp về xứ ăn Tết đã đành, nhờ vậy mới gặp đặng anh ở đây. Đất khách gặp nhau, bình thủy tương phùng, tôi xin hỏi thiệt: “Còn anh vì sao mà phải lưu lạc tận nơi nầy, bôn ba chi xứ người. Nè! Ở làm chi cái đất Sài Gòn, gạo châu củi quế. Lộ đá có rồi, thẳng bon dây thép kéo, có tàu đò chạy, xa xôi gì mà không chịu về xứ ăn Tết với vợ con như người ta. Mắc chứng gì mà Tết nhứt cũng không thèm về quét vôi, giẫy cỏ, tảo mộ, cúng quải ông bà ông vải gì hết ráo vậy?”.

Động mối thương tâm, người chủ nhà - tức anh xe kéo, trả lời người khách lạ - tức chú Được - mà giọng của ảnh ngậm ngùi nghe như mếu:

— Chú đừng có hỏi cơ cầu tôi nữa, làm cho tôi thêm héo ruột bầm gan! Tội lắm, để thủng thỉnh rồi tôi khai. Xứ sở của mình, ai đâu mà không thương không nhớ hả chú, huống hồ chi tôi còn vợ, còn con, còn đủ cả ông bà, nội ngoại hai bên ở dưới. Ngày tôi bước chưn ra đi, đứa con gái út của tôi chừng bảy tám tuổi chớ mấy, bây giờ thì chắc con Đẹt đã tay bổng tay dắt, con đùm con đeo rồi. Xây qua xây lại, lụi hụi là tới Tết. Năm nào cũng vậy, cứ rằm tháng chạp đổ đi, từ khoảng lặt lá mai, cho tới đưa ông Táo về trời là trong lòng tôi nóng như hơ, rục rịch đi ra đi vô như gà mắc đẻ. Còn mồ mả ông bà cần phải quét vôi giẫy cỏ, còn đủ mọi thứ chuyện Tết nhứt trên đời. Vậy mà tôi kẹt cứng ở trên này, tròi trọi một thân, một mình, bó gối ngồi yên một chỗ, nghe nỗi nhớ quê hương nó cục cựa ở trong lòng... mà cũng không dám vác cái mặt mo về xứ. Bởi vì sao vậy? Từ bấy đến nay, bấm đốt ngón tay tính lại, cũng đã trót mười mấy năm ly xứ. Một lần cho tởn tới già. Tởn là tởn cái gì! Lời thề độc địa năm xưa, canh cánh ở bên lòng. Nói xin lỗi chú, có cạy miệng tôi, tôi cũng không dám nói.

Chuyện của tôi, kể ra cũng dài dòng lắm chú Được à, mà nếu có kể, chắc cũng chẳng ai tin. Năm hết Tết đến, trong túi xọc xạch chút tiền, chạnh lòng nhớ tới quê hương bản quán, trong bụng thấy nôn, ngứa cẳng muốn về, nhưng đã lỡ thề bán mạng vậy rồi nên tự nhiên tôi nghe lạnh cẳng. Đêm còn dài, mình làm thêm xị nữa đi rồi tôi kể cho chú nghe. Tại làm sao tôi bị lưu đày biệt xứ, tha phương cầu thực, lặn hụp chi ở cái đô thành chật chội, quê người, đất khách nầy. Mà dìa xứ thì ông nội tôi cũng không dám dìa nữa. Thảm lắm chú à... Tôi chỉ thèm được một lần trở về, nằm xuống trên miếng đất quê hương, ôm gốc dừa mát rượi mà ngủ vùi một giấc, rồi có vĩnh viễn ngủ luôn, không bao giờ ngóc đầu dậy nữa, chắc tui cũng chịu chú à... Nhưng mà tính đi tính lại, vô phương chú à. Tôi bây giờ như kẻ chết rồi...

Dù xa cách mấy trùng dương,

Ở đâu cũng có quê hương trong lòng .


Nguồn:
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 26 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »