NGƯỜI CHẾT HIỆN VỀ
Bà chủ! Bà chủ ơi! Chị! Chị... Quy... ên! Chị... Quyê...ên!
Có tiếng la oai oái, kèm theo tiếng chân chạy nghe đùi đụi. Bóng con Thôi lồng lên như ngựa vía, vừa la bài hải, vừa cắm đầu chạy. Nó nhảy tưng tưng như con bò điên sổng chuồng, băng qua mấy cái mương xéo, vọt qua mấy hàng rào xương rồng gai rồi đâm bổ xán xả tới trước mặt bà Ba, thắng lại cái rét, thiếu điều muốn nhủi đầu vô lòng bà. Án cái bóng chần vần, phà hơi thở hổn hển, nóng hổi vô mặt bà chủ. Đang ngồi bổ cau trên bộ ván ngựa, bà Ba hết hồn la:
— Trời đất! Cái gì vậy Thôi! Cái gì mà hớt hải chạy trối chết vậy! Tao dạy mầy hoài! Con gái là phải thùy mị, đoan trang, phải từ từ mà đi, thủng thỉnh mà nói. Vậy chớ ai rượt mà mầy cong lưng chạy như bị chó điên rượt nà vậy hử? chị Quyên là chị Quyên nào?
Chưa già mà lẫn hả Thôi? Còn con Quyên nào ở đây nữa mà bây mơ giữa ban ngày? Nín dứt! Việc đâu còn có đó, đâu nói mau cho tao nghe coi!
— Chị Quyên! Chị Quyên hiện hồn về. Đương đứng chần vần ở ngoài mái hiên á! Ý ẹ! Ớn xương sống qu... a... á... á... á! Má ơi...
Bà Ba lõ con mắt, dớn dác ngó ra ngoài mái hiên. Đột nhiên bà quăng con dao xuống gạch nghe cái “cạch”, rồi chết sững, mặt bà xanh xám, miệng bà há hốc... Ý ẹ! Mẹ ơi! Bà đương tỉnh hay đương chiêm bao đây!? Lẽ nào ma hiện giữa ban ngày?
Trong bóng tối im mát cạnh gốc sung già, dưới hàng ba, rành rành một bóng ma con gái, xõa tóc đứng chần vần. Đích thị là con ma Quyên da trắng, tóc dài chứ còn ai vô đây nữa.
Bóng ma giương đôi mắt u uẩn, ai oán nhìn bà không chớp, rồi từ từ rê chân nhích sát lại gần. Ba hồn chín vía bay hết lên trời, bà Ba cái mặt xanh đờn, thất sắc lết thụt lùi, rớt đít ra khỏi ván, bật ngửa tạ cái mông úc na úc núc xuống gạch nghe cái “bạch”, muốn tà xương khu. Hồn vía bà bay mất sạch, nên bà chẳng biết đau, tay bà xua lia lịa, miệng bà la chói lói:
— Quớ... quớ người ta! Quớ... quớ làng xóm! Có... có đứa nào ở đó không bây? Đừng! Đừng tới gần tao! Đừng... đừng có nhát tao. Ối không! Không... phải bà muốn... muốn... vậy đâu con! Tại...! Mà cũng tại mầy... hết á!
Vậy đó, cái con người sắt đá, cái con người vẫn thường vinh mặt tự hào: “Ma không sợ tao thì thôi, mắc gì tao phải sợ nó bây!”. Bấy giờ đã thất kinh hổn vía, bủn rủn tay chân, thiếu điều té... đái.
Mặc cho bả la làng bài hải đến gần tét họng, chẳng thấy bóng vía đứa tớ nào dám thấp thoáng, chỉ nghe văng vẳng có tiếng cười ma quái, rúc rích như pha lê vỡ đáp lại.
— Con đây mà bà! Còn sống nhăn chớ có chết chóc gì đâu!
Bà Ba vừa hổn hển, vừa cà lăm cà lặp:
— Mầy! Mầy... mà còn sống, thì có giỏi... bước... bước... ra... bước... ra... ngoài nắng cho tao coi... coi.
Bóng ma thong thả lướt ra giữa sân, rồi giậm chân bành bạch xuống đất ba bốn cái. Giữa thanh thiên bạch nhựt, bóng con ma Quyên thướt tha đổ dài trên mặt đất.
Chan hòa trong nắng sớm ban mai, rõ ràng một con Quyên bằng xương bằng thịt, hiện ra phây phây trước mắt bà, không mất miếng thịt nào. Tóc chấm lưng thon, một con Quyên hồng hào, tươi rói như vừa đi chơi xa mới về. Nó còn sống sờ sờ ra đó chớ chết đâu mà chết, coi bộ còn đỏ da thắm thịt hơn cái lóng còn ở nhà. Đã hoàn hồn lại phần nào, bà Ba ôm ngực thở phào:
— Thiệt... là! Hú hồn, hú... vía! Mồ tổ cha bây! Con quỷ nhỏ nầy, bộ nó hết chuyện chơi rồi hay sao!? Nhè tao mà nó nhát! Còn gì là mông đít của tao! Lộng quá sức lộng rồi đó nghen con! Ba cái vụ “trét ớt” hổm rày, tao chưa xét tới, nhưng chắc cũng mầy chớ ai vô đó! Để rồi bây coi tao!
Mới đầu, cả nhà ai nấy thót tim, sau đó mừng rộ, túa ra hỏi thăm lít xít lăng xăng. Khỏi phải nói, con Thôi, thằng Được và nhứt là Hai Thành, mạnh ai nấy mừng, mừng nhảy tưng tưng, mừng còn hơn xí được vàng. Thiệt là rõ ràng trước mắt còn ngờ chiêm bao, đờn ông con trai mà vừa khóc vừa cười, ngó cái mặt ảnh, coi thiệt là... ngộ.
Gặp đây mới biết bậu còn,
Tưởng đâu bậu chết, (qua) khóc mòn con ngươi.
Thôi thì, mạnh ai nấy nói, tranh nhau mà nói, tía lia tía lịa như “chệc chìm tàu”. Họ xúm nhau vây quanh, sà vào ôm, áp lại giành giật Quyên, thiếu điều muốn bồng cô mà chạy. Vui như Tết, mặt nào mặt nấy cũng tươi rói hết, ai cũng muốn giành Quyên cho riêng mình. Con Thôi nó nhào lại ôm ghì lấy Quyên chặt cứng rồi ghịt đầu cô xuống, hun lên má cô một cái “chụt” kêu thiệt là kêu. Người quân tử liếc thấy cũng phát... thèm, nhưng ảnh chỉ nuốt nước miếng cái ực, đứng xẩn bẩn một bên, lóng ngóng hỏi một câu hơi lãng:
— Đi đâu hổm rày? Làm “người ta” ở nhà lên ruột quá chừng!
— Hứ! Hỏi... vậy mà cũng hỏi!
Quyên thưởng cho ảnh một cái liếc khuynh thành, sắc còn hơn dao cau, muốn rách cái đuôi con mắt. Cũng không thể giả lơ, giả điếc với con Mực được, nó mừng quýu đuôi, cứ lắng quắng lích quých, lắc mông chen vô, xô dạt mấy người kia qua một bên, làm cho họ xửng vửng muốn té. Nó sủa ăng ẳng như muốn nói:
— Thôi chớ! Mấy người ai có phần nấy rồi, chừng nào mới tới phiên tui.
Đứng trên hai chân sau, nó rên ư ử, như nhõng nhẽo: “Hổm rày cô đi đâu? Chơi vui quá hén! Hổng ai nhớ chắt nước cơm sôi vô chậu cho tui, bữa ăn sao mà khem khổ, khô khan quá cỡ!”. Đó rồi nó cứ xà quần, xà quẩn bên chưn cô.
Ai cũng có hàng trăm câu hỏi đặt ra, báo hại cô trả lời muốn hụt hơi, đuối đừ. Tả xung hữu đột trong vòng vây yêu thương xà nùi xà túi đó, nội cái việc thở còn không xong, nói chi đến việc trả lời, cho nên thỉnh thoảng Quyên mới ú ớ trả lời được vài câu vắn tắt: “Ba người bị cọp vồ, trong lúc hai người đờn ông kia, vung dao mác lên chống cự thì nàng đã nhanh chân thót cái “rẹt” lên ngọn cây. Tới chừng nghe đâu đó yên ắng rồi, tuột cái “rột” xuống đất, lúc đó mới chưng hửng vì cọp đã tha hai người kia đi đâu mất xác. Lạc mất mấy ngày trong rừng, đói bẻ trái rừng ăn, khát vốc nước suối uống, tối ngủ phải cột mình lên ngọn cây, để khỏi phải lăn tòm cái “bịch” xuống đất, làm mồi cho thú dữ. Cuối cùng, cũng lần mò ra được tới mé rừng, xin cơm ăn rồi hỏi thăm đường về nhà”.
Tối hôm đó, Quyên lại được nằm trên chiếc giường cũ quen thuộc của mình, trong gian buồng gói nhỏ, trong lòng cảm thấy vui sướng. Cô đã trở về giữa những người thân yêu, được nhìn thấy nét mừng vui không tài nào che giấu nổi trên gương mặt của người ấy, thiệt... là cảm động.
Quyên ngủ vùi một giấc ngon lành không cựa quậy.
THỀM XƯA GIỜ HOANG PHẾ
Mấy ngày sau đó, dù ai có cạy miệng hỏi thêm, thì cô cũng vẫn “thủ khẩu như bình” im lìm như thóc - quyết không hé răng nói thêm gì nữa. Nhưng với con Thôi thì Quyên mới cầm tay tỏ thiệt:
Sau khi thoát nạn, nàng đã định bụng bỏ nhà trốn đi biệt xứ, chớ ở lại đây chi cho chướng mắt bà Ba. Mình phải biết cái thân của mình:
Phận bèo bao quản nước sa,
Lênh đênh đâu nữa cũng là lênh đênh.
Nàng đã thử trở về sống lại trong ngôi nhà cũ; ngôi nhà sàn của một thời thơ ấu êm đềm. Một đứa con gái thơ dại như nàng, hỏi biết đi về đâu giữa biển đời mênh mông, chìm nổi.
Thềm Xưa giờ hoang phế lắm rồi, lau sậy mọc lút đầu, lút cổ. Bìm bìm ngan ngát, tím cả gian nhà. Cầu thang mối ăn gần sụm, sàn gác rung rinh, kêu cót két, rên rỉ dưới mỗi bước chân, cả ngôi nhà đong đưa như muốn sập...
Chịu khó sửa sang, quét tước cho sạch sẽ rồi nàng ngủ lại mấy đêm liền ở đó. Đêm đầu nằm thao thức, trăn trở nghe tiếng gió rừng rào rạt thổi. Những hình ảnh cũ bỗng dổn dập trở về, nhấn nàng chết chìm, chết ngộp giữa những dòng thác kỷ niệm. Khuôn mặt thân yêu của ông Tư, bà Tư, của thằng Lực, dường như còn phưởng phất đâu đây. Những hồn ma cũ ấy, như đang ở trên cao, lần lượt kéo qua nhìn nàng với ánh nhìn thê thiết...
Góc hè sạt lở trong kia là nơi ngày xưa, ai là người, mới mười hai tuổi đầu, đã dộng chết tươi ông cọp chúa chỉ bằng một cái chày đơn quết bánh phồng? Còn đây nữa, phía trên lan can nhà ngoài, bìm bìm đeo kín mít, đong đưa như treo rèm cửa ấy. Nhớ hồi đó, hổng biết có con nhỏ nào, mà mới bảy tám tuổi, đã dám đổ cháo nóng làm chết sặc con quỷ Linh Miêu cán vá, muôn dặm tầm thù...
Những vật dụng, áo quần trong hai cái thúng gánh theo đó, có thể tạm cho nàng sống no đủ trong vòng vài tháng. Ngặt vì một nỗi “ruột thắt gan bào”, đau đáu một niềm khôn nguôi thương nhớ. Cho nên đến ngày thứ năm thì nàng quyết định phải trở về làng. Không phải vì cần một mái nhà che nắng che mưa ở trên đầu, hay vì miếng cơm manh áo, mà hổng hiểu vì sao cái bụng nó cứ nóng như hơ, trái tim nó cứ đau quằn quặn, cồn cào phế phủ, thắt thẻo ruột gan, nhớ đứng nhớ ngồi, nhớ lết nhớ lê... cái làng quê xa xôi. Ở nơi miệng hùm, nọc rắn đó, chắc có một người đang khóc mếu vì thương nhớ mình. Cái người mà nàng đã thương lún thương lụn, thương trọc da tóc, thương tróc da đầu. Không còn ai thân thích trên cõi đời nầy, phải đi kiếm sống giữa những người xa lạ, tà ác, nên nàng rất quý trọng những bạn bè chí cốt ấy, quý còn hơn cái mạng của mình. Đời nào mà Quyên rứt ruột lìa xa họ cho đành.
Lại còn cái buổi chiều vàng nắng tắt cuối năm ở trong vườn hôm ấy nữa chi, nhớ lại còn nghe mắc cỡ... quá chừng. Nhỏ nào mà úp cái mặt sát rạt vô ngực người ta mà rấm ra rấm rức, mà “mít ướt sút cùi”, mà nhõng nhẽo “thấu trời xanh” vậy ta? Nhỏ nào mà giả nai, giả ngỗng, làm bộ ngoan hiền để được dựa đầu, để được vuốt lưng an ủi vậy ta?
Trong quãng đời mồ côi, mồ cút của nhỏ, thì đó là những khoảnh khắc hiếm hoi, xiết bao hạnh phúc, chết cũng không quên. Phủi đít bỏ đi cái rụp sao đành! Cái tấm chơn tình đó, biết “liệng” nó cho ai? Mình đi rồi, bỏ chữ thương, chữ nhớ, chữ sầu lại cho người ta, không biết tới chừng nào thì người ta ấy mới hết buồn, hết nhớ? Đi mà hổng ngoái cổ lại nói được một lời từ giã: “Anh Hai ở lại mạnh giỏi! Tui... đi!”, thì còn nỗi đoạn trường nào hơn...
Trời hỡi! Mới nghĩ tới đó thôi mà nàng đã muốn bươn về ngay lập tức, cho dù tam tứ núi Quyên cũng trèo, thất bát sông Quyên cũng lội, cửu thập đèo gì Quyên cũng lấy trớn vọt qua. Biết dìa là nạp mạng cho “chằn” rồi, bả muốn bằm, muốn chặt ra mấy khúc thì ra, sấm sét búa rìu gì cũng thây kệ, miễn tạng mặt bạn tình chung lần cuối cho trọn tình vẹn nghĩa, rồi có chết cũng cam lòng...
Dao phay kề cổ, máu đổ chẳng màng,
Chết em, em chịu, (chớ) xa chàng, (em) hổng... xa.
Vậy thì còn chần chừ gì nữa! Sao không dông dìa quách cho rồi? Nói dìa là... dìa, hổng ân hận gì hết. Nòng nả, nôn dìa đến nỗi đang đêm hộc tốc mà dìa, băng rừng lội suối mà dìa. Đường dìa dù xa mà bước chân đi nghe sao phơi phới, ước gì chắp đặng cánh trên lưng, mà bay dìa cho thiệt lẹ nữa... cà. Đến nước nầy rồi thì Quyên cũng chấp, không thèm sợ “thằng cha” hay “con mẹ” nào ráo trọi.