GÁI LẠ ĐỜI
Chúng nó cá cược với nhau, với bộ tướng yểu điệu tiểu thơ như vậy, con nhỏ ắt phải xỉu ngay trong lần đầu tiên gặp gỡ. Vậy mà “con nhỏ ở rừng” đã dễ dàng qua được vòng loại gay go đó. Quyên ta bấy lâu núi rừng đã trải, cỡi cọp như con nít cỡi trâu, thì giống gì mà nó sợ, việc chi mà nó hổng dám làm.
Bà chủ mướn cô vì cô là đứa mồ côi cha mẹ - bà chỉ mướn những đứa trẻ mồ côi, không còn ai thân thích ruột rà, để chăm sóc cho cậu hai - trong điền không ai hiểu vì sao - có lẽ vì bà không cách chi mướn được đứa ở nào có gốc gác căn cơ, nhà cửa đàng hoàng tử tế mà chịu ở lại lâu quá ba ngày. Còn Quyên, thừa hưởng cái tánh gan lì từ người cha, không biết sợ hãi là gì. Ông Tư đã dạy con, không hoảng sợ trước những chuyện dị thường. Ông tập cho con gái ngồi vững trân trên lưng cọp Mun, vào những đêm không trăng, ngao du khắp cả vùng rừng rậm âm u suốt từ miệt thượng Tân Hưng xuống đến tận cuối giồng Ba Mỹ hạ.
Đôi khi cao hứng, không thèm ôm cổ cọp cứng ngắt như ông già tía, cô gái nhỏ này còn giăng tay, dạng chân, đứng nhún nhảy như con khỉ hát xiếc trên lưng ông cọp lớn đang sải bon bon. Gái đâu có gái lạ đời!?
❖
Có lần, cô cỡi ông Mun xuống tận quán Sơn Đốc mua rượu về cho cha. Mấy cha nội đệ tử của Lý Bạch, Lưu Linh, đương bù khú rai rai với nhau ở trong góc quán, đã kinh ngạc đến tròn con mắt lại, khi thấy một đứa con gái ở rừng, chừng mười mấy tuổi, ăn mặc lôi thôi, dám xuống tận quán chợ mua rượu vào cái lúc đêm hôm khuya khoắc ấy, (khuya vậy, nó đi bằng cái gì nó xuống, rồi nó về bằng cái gì?). Thì thào hỏi thăm thì chủ quán chỉ nhớ mơ hồ rằng hình như nó là con nhỏ đã giết cọp bằng nồi cháo trắng, cũng đã lâu lắm rồi: “Bữa ló họ xuống quán ngộ mua dzụ nhiều lắm, ngộ không có lủ mà pán...”Dân hũ chìm, tĩn bể, hễ rượu vô ba sợi sần sần thì có cái gì mà họ sợ. Mấy ông ma men nầy, chỉ sợ nhứt là ma fam[55], ngoài ra mấy ổng hổng thèm sợ ma nào nữa hết, cho nên mấy lão gan dạ cùng mình, cả gan tổ chức đi rình. Tuy ỷ bên mình có đông người, nhưng mấy ông thần ve chai nầy cũng chỉ dám theo dõi, rình rập ở xa xa.
Ra tới chỗ giáp mé rừng, con nhỏ chúm môi huýt sáo. Từ trong bụi rậm tối đen, một hình bóng khổng lồ lông lá phóng ra, mọp mình sát đất. Con nhỏ ôm be rượu, chễm chệ leo lên lưng con vật. Chỉ cần ba cái phóng, cà rụp, cà rọc, cà rụp, người và vật đã mất hút vào giữa rừng sâu, chỉ còn để lại những dấu chân in ràng ràng trên nền cát ướt, giống y như dấu chân mèo, mà dấu nào dấu nấy cũng bự bằng cái tô úp ngược. Cả bọn tá hỏa, ù té nhau chạy, có người té đái ra quần, bò lê bò càng, đập cửa như phá, líu lưỡi kể lại, câu nọ xọ câu kia, chủ quán nghe mà không hiểu gì ráo, không hiểu là cọp cõng người hay người cõng cọp nữa...
Ngủ một giấc tới sáng, hơi rượu dã bớt, họ cũng không nhớ là lúc đó họ tỉnh hay say nữa. Ối mà thôi! Ai hơi đâu tin lời mấy cha nội đệ tử Lưu Linh, nói dóc thành tinh. Câu chuyện đó lần hồi rồi cũng trôi vào quên lãng...
Đối với Quyên, cọp chỉ là một con mèo lớn, còn rừng khuya âm u đối với cô cũng chỉ là một khu rừng bình thường thiếu ánh sáng. Cô không nhớ rõ, có lần nào mà cô tỏ ra sợ hãi khi nghe người lớn kể lại những chuyện ma rừng, quỷ núi rùng rợn hay chưa. Trong khi mấy đứa con nít khác, hai con mắt mở thao láo, ngồi chồm hổm, từ từ nhích sát lại gần người lớn, cuối cùng thì lọt thỏm cái đít vô lòng một ai đó. Cô cũng không sợ bóng tối, bãi tha ma đối với cô cũng chỉ là nơi an giấc nghìn thu của những người đã chết.
Hồi nhỏ, tánh ý hai đứa con ông Tư cũng rất khác nhau. Còn nhớ, hễ mỗi lần thằng Lực vấp té, bà Tư chạy a lại đỡ nó dậy, vừa phủi bụi cho nó, bà vừa nói, giọng chắc nụi: “Không khóc! Khóc là dở! Con trai không được khóc, con trai mà khóc cái nỗi gì”. Vậy mà thằng nhỏ vẫn cứ ức ức hoài trong cổ họng, khóc nhây, dai nhách như giẻ rách suốt cả buổi. Trong khi đó, Quyên ta sơ ý chạy va đầu vô cạnh ván, sưng một cục chù vù, bự bằng trái ổi. Bà Tư vừa lấy muối dấp lên cục u, vừa xót xa: “Ôi! Tội nghiệp con gái tôi chưa! Chết bầm cái cạnh ván nầy nghen mậy, con mắt để đâu mà dám cụng đầu vô trán con tao! Để tao uýnh cho chết cha mầy!”.
Nói rồi bà liền đi kiếm cây roi mây, quất chan chát lên mặt bộ ván ngựa bất cẩn đó, đến chừng quay lại, thì thấy đứa con gái nhỏ của bà vẫn đứng tỉnh queo, lấy tay chấm muối đưa vô miệng liếm, hai con mắt ráo hoảnh, không thèm nhỏ ra một giọt nước mắt. Ồng Tư thấy vậy cười ha hả: “Con nhỏ nầy là con gái của bà, nhưng tánh là tánh của tôi, tuổi dần, mạng hỏa. Còn cái thằng mít ướt kia thì mới là ngược ngạo, chắc tại mụ bà nắn lộn, cốt con gái!”.
Đám tôi trai, tớ gái trong nhà, sẵn sàng cá độ với nhau, coi chừng nào thì Quyên chạy tét, bỏ trốn nửa chừng như mấy đứa tớ trước. Những lời nói bóng gió, những cái nhìn xéo liếc trộm, những cái le lưỡi lắc đầu, những câu chuyện thậm thà thậm thụt bỗng dứt ngang nửa chừng như đờn đứt dây mỗi khi thoáng thấy bóng Quyên xuất hiện. Chờ hoài, chờ hủy, chờ mỏi, chờ mòn, rốt cuộc rồi thì, chúng cũng đành nhìn nhau lắc đầu, thở dài ngao ngán: “Đúng là thứ gái ở rừng! Lì lợm, trời gầm số một!”.
❃
Lẩm rẩm vậy mà Quyên đã ở lại được hơn ba tháng rồi. Tuy còn lạ nước lạ cái, lạ kiểng lạ quê, nhưng Quyên chắc chắn sẽ còn trụ được lâu trong cái nhà này, vì tình cờ nàng đã khám phá ra một điều bí mật mà mấy đứa ở trước không tài nào biết được.Nàng đã biết được vì sao mà cậu hai lúc nào cũng bứt rứt khó chịu, vật vã không yên, lúc nào cũng le lưỡi nhát ma mỗi khi có ai đó bước chưn vô buồng, không cần biết đó là người quen hay kẻ lạ.
Con nít dưới quê thường hay đeo bùa, đeo niệt. Cậu hai cũng có đeo một sợi dây tom[56] để giữ quạ giữ diều, như lời bà Ba thường nói. Ông thầy pháp[57] phải đi bắt vài ba con đỉa trâu lớn, bằng cỡ ngón tay cái, đóng đinh căng ra hai đầu trên miếng ván lớn. Lựa trời nắng tốt, đưa ra phơi mấy nắng cho khô rồi mới đem vô, sao khô tán nhuyễn, rây mịn, đóng gói vào một cái bao vải đỏ hình tam giác bằng ba lóng ngón tay, may kín lại. Cái nầy kêu là cái “phái”, kết chùm lủng lẳng chung với một sợi dây đánh bằng chỉ ngũ sắc thì mới đủ một bộ dây tom. Dây tom phải để trên bàn thờ tổ làm phép đúng bốn mươi chín ngày, mới được đem xuống cho con nít đeo, để cho tà ma không dám đeo theo quấy nhiễu đứa nhỏ.
Lạ làm sao, kể từ ngày có đeo sợi dây tom đó, cậu hai lại càng trở nên bứt rứt khó chịu, lại càng quấy phá dữ dội, quá cha hơn trước. Mọi người đều nói: “Có lẽ cậu không bao giờ chịu nhắm mắt ngủ yên như con nít người ta”.
Vừa dòm thấy cái “phái” là Quyên bắt nghi liền hà, vì lóng trước, hồi cô còn ở nhà, thằng Lực cũng có một sợi dây y chang như vậy, đeo dính trong mình, mà đâu có khóc ngày, khóc đêm, bứt rứt khó chịu như vầy. Nàng bèn để ý quan sát, thì thấy ngay trước ngực cậu ta, chỗ cái “phái” đeo lủng lẳng, da ngực chỗ đó đỏ ửng sần sùi, nổi lên từng giề, từng giề, dầy cui như giề cơm cháy.
Ngay nội nhựt hôm đó, nàng rình rình, thò tay giựt đứt phăng cái “phái” đeo trên cổ cậu hai. Quyên nhận thấy cái “phái” ướt nhẹp, vì lúc nào cậu cũng há hốc miệng, không ngậm lại được, nên nước miếng nhểu nhão, thấy mà phát gớm.
Đem ra chỗ sáng, lấy kéo hớt một góc, lộn trái cái “phái”. Một chất gì đặc khừ đen kịt như hắc ín, sền sệt trào ra. Cha mẹ ôi! Nàng rùng mình, sởn ốc, nổi da gà khi thấy toàn là đỉa. Đỉa thôi là đỉa, đỉa loi nhoi, đỉa lúc nhúc, đỉa con nhỏ bằng đầu cây tăm, như đám lăng quăng mới hớt dưới cống lên, chui rúc nhau đen kịt ở trong cái phái.
Thình lình nàng hét lên, vung tay rảy mạnh cái “phái” văng tuốt ra xa. Tay nàng đau nhói, có mấy con đỉa con, còn nhỏ như con lăng quăng mà đã hung hăng, cong đít lên, cắm đầu cắm cổ hút máu ngon lành trên ngón tay trắng hồng của nàng.
“Hèn nào mà nó không cắn cho rớm máu nổi sảy, còn ngủ nghê gì nổi nữa trời!”.
Quyên đem cái “phái” xuống sông, giặt sạch rồi bí mật hốt một mớ cát bỏ vô, may kín lại. Từ ngày được đeo cái “phái dỏm” đó, cậu hai không còn thấy bứt rứt khó chịu trong mình như trước nữa. Cậu đã tìm lại được những giấc ngủ yên lành. Cả nhà không ai biết cứ ngỡ rằng cậu đã qua thời kỳ “hết đốt”.
❃
Đem chuyện nầy kể lại cho con Thôi nó nghe - con Thôi là nhỏ bạn mới quen được mấy ngày của Quyên - tưởng đâu nó sẽ tháo mồ hôi hột, rùng mình ớn lạnh. Dè đâu, chưa kịp nghe xong nó đã trề môi, xì ra một tiếng:— Xì.ì.ì! Tưởng... gì! Chuyện đó thì có gì lạ, giống đỉa vốn sống dai mà. Chị không nghe người ta nói “sống dai nhách như đỉa” sao? Nè! Chị tắm sông phải để ý coi chừng. Chị biết chuyện nầy chưa? Chuyện nầy còn “gớm” hơn nhiều.
Quyên háo hức ôm lấy nó, thọt lét:
— Chuyện gì? Chuyện gì mà “gớm” hơn hả? Nè! Nói đi, nói mau đi!
— Có đứa con gái nọ ở miệt vườn, thường đi tắm sông, bị một cặp đỉa chun vô lỗ tai làm ổ. Từ đó nó bị từng cơn nhức đầu, liên tục hành hạ, trí óc nó trở nên lú lẫn, nhớ trước quên sau, đồ vật để đâu quên đó. Ngày nào nấu cơm cũng bị sống. Bà mẹ rầy la hoài không được.
Một bữa nọ, bà rình coi, bỗng bà sững sờ khi thấy đứa con gái cứ lấy nắp vung nồi cơm đang sôi trên bếp đè lên đỉnh đầu mình hoài. Đè một lúc, dường như hơi nóng của nắp vung nồi cơm tỏa ra làm cho nó thấy dễ chịu, nó lại đậy nắp vung lại. Chờ một lúc cho nắp vung vừa đủ nóng, nó lại tái diễn cái màn úp nắp vung nóng lên đầu. “Hèn gì mà nấu cơm bữa nào cũng sống sình!”. Bà mẹ tức giận rút cây đũa bếp giắt trên vách, bổ tưới sượi lên đầu đứa con gái.
Đứa con gái ngã ngửa, giãy tê tê. Cái sọ đã tầm phổng, tét ra làm hai toác hoác. Trời đất ôi! Đỉa từ trong đó lúc nhúc bò ra, đỉa lớn, đỉa bé, đỉa mẹ, đỉa con, đỉa mén cuồn cuộn bò ra thành dòng. Đỉa bò tràn lan không biết cơ man nào mà kể, từng đợt, từng đợt, đen kịt. Chúng còn chui ra từ mắt, từ mũi, từ miệng, từ hai cái lỗ tai. Chỗ nào chui ra được là chúng chui ra lúc nhúc, loi ngoi. Thấy lạnh mình, ớn xương sống chưa?
— Ý ẹ! Chuyện của mầy kể! Nghe “gớm” quá chừng! Rồi sau đó đứa con gái có sống lại được không?
— Đợi cho đỉa bò ra hết, lấy dây kẽm ràng cái đầu của nó lại. Nó sống tới già. Chỉ hơi bất tiện là khi nào mắc cười hung mà cố nín, thì cái đầu nó khua nghe khành khạch .
— Quỷ sứ! Con nhỏ mắc toi này! Xạo thấy bà cố!
Chú thích:
[55] Ma fam: ma femme: bà xã (gốc tiếng Pháp).
[56] Tom: gốc tiếng Miên, đây là một loại bùa có nguồn gốc từ Miên.
[57] Thầy pháp: pháp sư (thầy phù thủy)