Kỳ Ảo Đất Phương Nam

Lượt đọc: 6612 | 4 Đánh giá: 8,5/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ BỐN MƯƠI MỐT
chém cha cái số gian truân, trước hàm hùm sói, vùi thân tôi đòi.

TRƯỚC HÀM SƯ TỬ, GỬI NGƯỜI ĐẰNG LA

Tưởng rằng ma quỷ đâu xa, té ra ma quỷ ở ngay trong nhà. Trong bụng Quyên cứ đắn đo, không biết có nên kể chuyện “con sâu đo” cho bà Ba biết hay không. Nín thinh mà để trong bụng hoài, cá mất thì bị đòn oan, “ức lòng” Quyên quá. Cuối cùng nàng quyết định, phải thật thà khai báo cho bà chủ biết ngay việc nầy.

Thói thường, ai chẳng binh con. Để tránh cho người mẹ khỏi phải bàng hoàng, đau xót quá, nên nàng phải lựa những lúc vắng người, ra sau hè, tập đi tập lại nhiều lần, cho thuộc lòng, cho nhuần nhuyễn, cái cách phải mở lời, phải giải thích làm sao cho rõ ràng, cho có lớp lang. Mà phải nói sao cho nhẹ nhàng, như thể đó chỉ là một chuyện rất đỗi bình thường.

Đắn đo hoài, suy tính mãi, cuối cùng, một buổi sáng đẹp trời, thừa lúc cả nhà đi vắng, chỉ có một mình bà Ba rảnh rang đang ngồi nhai trầu nhóc nhách ở nơi bộ ván. Nàng mới dám mạnh dạn xô cửa bước vào....

❃ 

Chèn đét ơi! Chuyện “kinh hồn bạt vía, động trời động đất” như vậy, mà “méc bả”, bả chỉ nghe thờ bằng nửa cái lỗ tai rồi ngó lảng ra sân, lạnh lùng buông thõng:

— Biết... rồi! Khéo vẽ chuyện làm rầy tai...

Vậy là đủ... hiểu. Đó rồi bả rút cẳng lên, ngồi xếp tè he trên bộ ván gõ, mắt chai, tai điếc, thản nhiên têm trầu bỏ vô miệng nhai nhóc nhách. Bả còn lụi hụi tháo ra, bới vô cái đầu tóc nhỏ xíu, bởi độn thêm mớ đầu tóc mượn nên cái búi nó mới bự chù vù, gần bằng cái đấu đong gạo. Lát sau, bả lại cúi xuống, giả bộ lục lọi tìm tòi hồi lâu trong cái cơi trầu chỉ để kiếm con dao chẻ cau.

Đứng ké né hoài một hồi cũng mỏi, đúng lúc Quyên chán nản dợm bước chưn ra, thì bả đã réo nó giựt ngược. Chẳng cần giữ thể diện, cũng chẳng thèm nói xa nói gần chi hết, bả huơ huơ lưỡi dao chẻ cau nhọn liễu, điểm điểm vào giữa trán nó:

— Nè! Có mồm có mép thì phải biết giữ cho cẩn thận! Không được phép dỉ hơi! Khôn hồn thì “sống để bụng, chết đem theo” Bây mà thèo lẻo, để cho thiên hạ đồn vấy ra ngoài, họ bươi tứ tung ngũ hoành lên, thì tao báo cho mà biết trước: “Không có đất mà chôn thây bây đâu!”.

 ❊

Mấy hôm sau, nhơn buổi tối thảnh thơi, rảnh rỗi. Trước khi đi ngủ, con Thôi kéo Quyên ra sau hè, ra vẻ bí mật, nó hạ giọng thì thào:

— Hồi sáng nầy, lúc em đương quét dọn, lau chùi trong buồng bà chủ, em nghe văng vẳng có tiếng ai nhắc tới chị, nên em chú ý lóng tai. Ở ngoài nhà khách, tiếng của ai đó đối đáp với bà chủ, mà là tiếng đờn ông lạ hoắc hà. Bà chủ cứ nhắc đi nhắc lại hoài: “Con nhỏ ở rừng...” rồi cái gì là: “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà” nữa. Bả còn ra lịnh: “Đó, bây liệu thế, làm sao coi cho được thì làm - thì cũng y như mấy lần trước - phải làm cho khéo”. Cuối cùng, em còn nghe bả la lớn: “Xá gì! Đó là tao ngừa trước, chớ có bề gì thì tao trám hầu, trám họng mấy ổng, rồi tao kiếm đứa khác mấy hồi”. Đó! Em nghe như vậy đó, không biết họ bàn tính chuyện chi, nãy giờ chị nghe mà có hiểu được gì hôn?

Sét nổ bên tai, đất sụp dưới chưn, cũng không làm cho Quyên xanh mặt hơn, cô thất sắc hỏi dồn:

— Mấy ngày nay, em có... có thấy... thấy bà chủ mướn... mướn... thêm đứa ở nào mới không?

— Có chứ! Có con nhỏ Hường, bà Mười xay lúa mới vừa về xứ dẫn lên, con nhỏ nầy cũng cỡ bằng tuổi chị.

Quyên đã lấy lại được bình tĩnh, cô cắn cắn môi, hỏi thêm, cố làm ra vẻ thờ ơ:

— Cha mẹ chết trụm hết, mồ côi trụi lủi phải không? Chẳng còn ai bà con thân thích ruột rà, phải không?

— Ủa! Sao chị biết? Chị nầy lạ thiệt à nghen! Chị chỉ quanh quẩn ở xó bếp, ít khi lên nhà trên, vậy mà chị nói đâu trúng đó, còn hơn là mấy ông thầy bói, giống y như cái ông quân sư “đoán việc như thần” gì đó ở trong tích chuyện Tàu á.

Quyên cười nhạt, vẻ mặt tỉnh như không, nhưng nụ cười của cô thì héo hắt và vô hồn. Đó là nụ cười của một người vừa bị tòa tuyên án tử. Con Thôi ớn lạnh thụt lùi, nó chưa từng trông thấy nụ cười nào mà “oải chè đậu” như vậy bao giờ.

Quyên ta bấy giờ mồ hôi đã nhỏ giọt, cặp mắt thẫn thờ, ngó mong ra cửa, ánh nhìn vô cảm, mông lung. Nàng đã biết chắc rằng: cuối cùng rồi, cái ngày ấy cũng tới, không ngờ nó tới quá sớm, khi tình vừa mới chớm.

Thân ta ta phải lo âu,

Miệng hùm nọc rắn ở đâu chốn nầy.

 ❊

Quyên mất tích đã mấy ngày nay, cả nhà ai nấy xôn xao. Con Thôi thẫn thờ, nó sực nhớ lại, như có điềm báo, trước đó mấy đêm - Quyên không ngủ nhà, cô lặn lội đi đâu không rõ, gần sáng mới về, vẻ mặt buồn xo, không hề hé răng nói năng gì với nó. Vừa mới hừng đông, đã thấy Quyến ngồi thù lù ở ngoài hàng ba, mình mẩy lấm như trâu dầm, lật hai cái ống quần gai quào te tua như bị cá chốt rỉa lên mà gỡ: bùn đất, cỏ may, cỏ sướt dính đầy hai cái lai quần nhóc nhách.

Con nhỏ Hường thế chỗ cho Quyên thì thà chết chớ không dám bước chưn vô buồng cậu Hai. Ngay từ ngày đầu, nó đã bị cậu hất nguyên tô cháo nóng vô mặt, phỏng lột da. Nó gục đầu ngồi ngoài cửa, có trói, có khiêng, có đẩy nó vô thì nó cũng trằn mình, nặng như cối đá, một hai níu cửa trì lại. Người ta phải rê nó như rê cái thúng gạo, mặc tình cho nó giãy, nó đánh, nó chửi, nó la... Cuối cùng, đổ lì, nó nằm lăn ra đất, đánh chết nó cũng không chịu vô, kệ thây kệ xác, mặc tình cho bà Ba đe nẹt đủ điều.

Bà Ba bỏ xụi chẳng thèm trình báo làng xã chi hết, lại còn cấm tiệt gia nhơn, không cho ai đi tìm kiếm gì ráo trọi. Hai Thành ráng làm ra vẻ trầm tĩnh, nhưng cái mặt chau vau, xăng văng xéo véo, “trong héo ngoài teo” của ảnh thì hết còn giấu ai được nữa. Mang nỗi buồn đau “canh cánh ở trong lòng”, người quân tử cứ đi ra đi vô, như gà mắc đẻ, cục tác hoài mà kiếm không ra ổ. Ai dám nghịch mạng với bà ta, vậy mà đến ngày thứ ba, ảnh hết chịu nổi, liều mình, cãi lịnh đi tìm.

Ảnh chia gia nhơn ra làm nhiều nhóm, tỏa ra khắp các hướng. Bóng chim tăm cá - mặc dầu không có hi vọng chi nhiều - như mấy lần trước - nhưng vì thương Quyên và rất nể trọng Hai Thành nên ai nấy cũng đều sốt sắng đi tìm. Riêng anh, anh dắt thằng Được bươn bả qua miệt rừng Tân Hưng là phía mà con Thôi nghi chắc là chị Quyên có đi thì phải đi về hướng đó.

Thằng Được này, tuy là đứa cà lăm cà lặp, mùng một nói một tiếng, ngày rằm mới nói thêm tiếng nữa, nhưng Hai Thành thương yêu và tin tưởng nó nhứt trong đám tôi tớ trong nhà, bởi tánh nó hiền và trung nghĩa.

Nó có tên Được vì thím Tư má nó, xí được nó ở ngoài đống rác đầu làng. Tiếng là xí được chứ kỳ thực là giả ngộ hết trơn. Thím Tư sanh nhiều mà nuôi không được đứa nào, nhà nghèo nên thím cũng không thể xin đứa con nuôi để đỡ đầu con. Tới chừng sanh đặng thằng nhỏ nầy ra, thời may, có người bày cho thím cái chước như vầy: bỏ nó ở nhà cô mụ rồi lẻn về mình không. Cô mụ phải bồng thằng nhỏ đem ra bỏ ở ngoài đống rác đầu làng (nói là bỏ chớ phải trải chiếu cho nó nằm rồi cắm dù che, lâu lâu ra dòm chừng, sợ kiến bu thằng nhỏ). Thím Tư lúc đó làm như tình cờ cắp thúng đi ngang, dòm trước ngó sau rồi phải la lớn như vầy: “úy trời đất ơi! Con cái nhà ai đây? Mèn ơi! Thằng nhỏ cứng khừ, trọng bân, vậy mà ai nỡ bỏ ra đây, kiến thui gần chết rồi nè! Ngộ không! Con người ta, người ta còn bỏ, người ta không nuôi. Thôi! Để tôi lụm về, tôi nuôi chơi!”. Đó rồi ém thằng nhỏ vô thúng, te tái ẵm về, dượng Tư cũng không cho biết.

Ai mà dè! Cái trò hý lộng quỷ thần, ‘con nuôi, con lượm, con được, con xin”, ba xạo vậy mà linh. Đứa nhỏ lớn lên, sổ sữa, cù lự hết sức. Còn cái tật cà lăm là sau nầy, lớn lên nó mới bị. Nó đi giựt dừa mướn cho người ta, sơ ý bị trái dừa khô “chạy bẹ” rớt trúng đầu, từ đó nó cà lăm ba trợn luôn.

Con Thôi “ngưỡng mộ” Hai Quyên thế nào thì thằng Được “thần tượng” Hai Thành thế đó. Khéo là! Thầy nào trò nấy, hễ hai đứa tụi nó ráp lại là sanh giặc, chỏi nhau như trâu trắng với trâu đen; thằng cà lăm đụng đầu với con nhỏ cà xốc, ăn nói đâm hông xóc óc, ngang quá ghẹ, thì hạp là hạp làm sao, xứng là xứng thế nào.

Bởi vậy, già đầu rồi mà tụi nó nói chuyện với nhau như phang ngang bửa củi, ba hồi xưng “tui”, kêu “anh”, ba hồi xưng “tao”, kêu “mầy”, bị rầy hoài mà cũng hổng chịu sửa. Thiệt... là! Uổng công cho nhị vị sư phụ đã tận tình uốn nắn.

LỆ AI CHAN CHỨA... HƠN NGƯỜI

Hai thầy trò đùm theo mấy mo cơm vắt, lội bộ dài dài vô tới miệt rừng Tân Hưng, đụng ai cũng hỏi. Hai Thành hớt hải đạp nhầu lên gai góc mà đi, thằng Được lót tót theo sau... Đi ba đồng bảy đỗi, mỏi rụng cặp giò, quần nhão hết mấy cái làng ở cạnh mé rừng mà vẫn không ra tăm tích gì hết ráo...

Tới xế trưa, mướt mồ hôi, mệt hả họng, túng thế quá mới lần vô nhà dân ở sát mí rừng mà xin nước uống. Uống gần hết nửa lu nước mưa của người ta thì mới biết, quả nhiên con Thôi đã đoán không lầm.

Cô bác ở đây có người lấp lửng dỉ hơi cho biết. Cách đây mấy ngày, họ có thấy một cô con gái, da trắng tóc dài, khoảng mười sáu, mười bảy tuổi, quảy một gánh đồ đi giữa hai người đờn ông vạm vỡ, bậm trợn, dao rựa lăm lăm. Họ có hỏi thì người đờn ông đi sau nói là đi kiếm mua heo giống. Tướng tá hai thằng cha nầy, lất láo như phường trộm trâu, thuốc chó, bộ dạng không giống lái heo, lái bò gì ráo. Cho nên cô bác có người thắc mắc mới hỏi: đi mua heo giống mà sao không đem theo đòn càn hay cần vòng chi hết, mắc giống gì mà chỉ lăm lăm mác thong với rựa ngoéo mần chi. Thằng cha xăm mình đi đầu mới trợn mắt lên, ngó bộ hung dữ lắm, làm bà con ai nấy nín khe, chẳng ai dám hó hé hỏi han chi nữa.

Hai Thành nghe qua mấy lời như sét đánh bưng tai, lùng bùng hai cái lỗ nhĩ. Linh tính như báo cho anh biết là đã xảy ra một việc chẳng lành.

Thôi đúng rồi! Những điều nghi ngờ mà bấy lâu nay, đầu óc chất phác của anh chỉ mới cảm nhận được le lói, lờ mờ; giờ đây bỗng dưng “bừng nắng hạ”. Anh đã mang máng xâu chuỗi các sự kiện lại với nhau, đã phăng lần ra manh mối, đã “dắt dây xỏ chùm” những cái chết đầy bí ẩn của mấy đứa tớ gái trước đây với việc mất tích còn nóng hổi của Quyên bây giờ.

Té ra, kẻ “mưu sĩ” sắp sẵn mưu sâu, bọn “khuyển ưng” thi hành bản án, chỉ có một mình anh là như thằng ngáo, không biết chi ráo. Điếng hồn, anh ngồi bẹp xuống đất, mình mẩy lạnh ngắt, chưn cẳng rụng rời.

Về sau - theo như lời thằng Được kể lại - Hai Thành thất sắc, lột khán bịt đầu xuống, lau cho ráo mấy giọt mồ hôi đã bắt đầu rịn ra đầy mặt, hai tay run run, lóng ngóng đến nỗi làm rớt cái khăn xuống đất, rồi không nhớ lượm lên, cứ để đầu trần mà chạy, bước thấp bước cao, liêu xiêu như thằng say rượu.

Thằng Được phải vượt lên phía trước dẫn đường, Hai Thành lẽo đẽo theo sau. Nhưng khi vừa bước chưn đến trước cửa rừng thì Hai Thành bỗng vẹt thằng Được qua một bên, bật lên như có lò xo, co giò vọt miết về phía trước, cắm đầu cắm cổ chạy thẳng một mạch vô rừng. Báo hại thằng Được rượt theo thiếu điều hụt hơi, bết bát.

Càng vào sâu trong rừng anh ta chạy càng mau, băng băng như gió như giông, càn lướt bạt mạng. Vừa qua khỏi một khúc ngoặt trong rừng, bất thình lình ảnh đứng phắt lại, như bị trời trồng, thằng Được lỡ trớn, thắng lại không kịp, nhủi đầu vào lưng anh ta cái ự.

Rừng ở đây hơi thưa, trên một khoảng đất trống, cỏ cây gãy rạp, đất cát bị xới lên, nhàu nát, tơi tả. Dường như có một cuộc thảm sát, vật lộn chí tử đã xảy ra tại đây. Dấu máu khô, thẫm màu, văng tuốt lên tới những cành cây nhỏ. Đất cát bị cày lõm xuống, nhuốm máu, bắn tung lên trên những lùm cây bụi cỏ, rải rác xung quanh.

Có dấu một vật nặng bị kéo sểnh một đoạn dài trên nền đất ướt, Hai Thành đang lò dò theo dấu, bỗng biến sắc, đứng chết lặng, mặt xám như đổ chì... Trước mắt anh là một vũng máu khô, đặc quánh, tanh tưởi, đen xì, ruồi nhặng bị động bay vụt lên kêu vo vo như một đám mây nhỏ.

Và kia! Kia kìa! Kia kìa một manh áo rách, tươm máu, vướng vào bụi cỏ, phất phơ trong gió. Áo của ai đây? Ở trong cái làng nhỏ nầy, còn ai đâu mặc áo vá quàng. Cái áo quen thuộc này, nhớ ngày nào bị gió thổi bay xuống đất, vướng vào bụi cây chùm rụm, còn biết giơ tay ra mà ngoắt, và ai là người đã nấng niu máng trả lên sào.

Áo vá vai, vợ ai (anh) hổng biết?

Chớ áo vá quàng, chí thiệt vợ anh!

Trang nam nhi văn võ kiêm toàn, lưng dài vai rộng, cao thủ đệ nhứt hạng cù lao Bảo ấy, bấy giờ như cái thân cây bị đốn sát gốc, té quỳ xuống cỏ, ngửa mặt lên trời, cắn chặt môi cho đến khi môi anh bật máu. Trang nhỏ kia, quỳ thụt lại mé sau, cũng gục đầu, mếu miệng, khóc không ra tiếng, chỉ có nước mắt lặng lẽ tuôn ra. Khoảng trời xanh kia vẫn lồng lộng ở trên đầu, mây trắng lững lờ bay như cả ngàn năm nay chúng vẫn cứ bay.

Siết chặt manh áo rách vào ngực bằng tất cả sức lực của mình, đôi vai vạm vỡ ấy bỗng rung lên bần bật, như người mắc chứng kinh phong. Cái áo xưa rày, sao mầy biết ngoắt. Cô chủ mất rồi, còn ngoắt với ai? Thôi! Còn ai đâu nữa mà mong! Còn ai đâu nữa mà tìm! Áo ở đây mà người thì...

Còn ai đâu nữa mà mong,

Hồn oan trinh nữ phiêu bồng nơi nao?

Nước mắt ở đâu bỗng tuôn ra ràn rụa... lai láng... chứa chan, khóc không thành tiếng. Đờn ông con trai mà khóc, ngó cái mặt ảnh, coi thiệt là... ngộ. Miệng thì cứ há rộng, nghẹn ứ, ngớp ngớp không khí như con cá lóc ngợp nước, nhưng tuyệt nhiên không có chút âm thanh nào thoát ra. Khóc khan nó khổ như vậy đó, cứ ức ức, è è, nghẹn ngào hoài mà không kể lể gì được hết...

Mặt trời vẫn tỏa sáng, gió vẫn thổi đều, nhưng lòng người thì đà nát ngướu như tương. Tình cảnh nầy, liệu có xứng để xuống sáu câu không hử? “Em Hai ôi! Lời tình chưa cạn tỏ, sao em nỡ bỏ mà đi cho... đành? ” Còn chờ chi nữa, (mà) uổng công đợi... chờ! Tằng... tắng... tăng..., tăng... tằng...

Vậy là tiêu mất... cặp mắt đen long lanh bướng bỉnh, thấp thoáng sau hàng rào bông bụp, mỗi sáng mù sương, và cũng tiêu luôn cả... tiếng cười, nghe sao giòn rụm.

CƯỜI LÀ TIẾNG KHÓC KHÔ KHÔNG LỆ

Không biết bằng phép mầu nào mà hai thầy trò cõng nhau về được tới nhà. Theo như lời con Thôi thuật lại thì khuya hôm đó, ông trời ổng xáng xuống một cây mưa thiệt lớn. Nghe tiếng đập cửa rầm rầm, con Thôi vừa ngáp vừa ra mở cửa, nó hết hồn tỉnh cả ngủ khi thấy cả hai thầy trò ướt loi ngoi không chừa cọng tóc.

Giữa cơn gió táp mưa sa, say cắm đầu giở chưn hổng muốn nổi, vậy mà vẫn lết được về nhà, không lủi bờ, lủi bụi, hay lọt xuống xẻo, chắc là nhờ có tiên Lưu Linh phò hộ. Thôi ta lại càng ngạc nhiên hơn nữa khi thấy “người quân tử” mà cũng quắc cần câu, cũng ụa mửa tùm lum, cũng lắc lư con tàu đi, phải nằm mẹp trên lưng thằng đệ tử để nhờ nó xốc nách cõng về. Người quân tử mà, chớ phải đâu ông thánh, cũng có lúc bị ma men hành, khi “quá hớp”, thì cũng xụm bà chè như ai...

Cả nhà bu lại hỏi thì thằng kia nó mới nhừa nhựa kể lại rằng:

— Hổng biết ổng uống tới mấy lít mà kể, muốn “mượn tửu binh để giải phá thành sầu”. Thành sầu không phá được nên ổng cứ ngồi ngật ngưởng mà uống hoài, uống không cần mồi, cũng không biết mỏi. Uống khan rồi lại cười khan - Chú Cựng mà không năn nỉ ổng về cho chú đóng cửa, thì ổng còn ngồi, ổng uống luôn tới sáng, chắc tui cũng chết quách theo ổng cho rồi... . Càng uống thì sắc mặt ổng càng đổi, hết đỏ rồi lại xanh, hết xanh rồi tới đỏ, ỵ hệt như con tắc kè bông, mà ngộ nhứt là hai con mắt thì không đỏ mà sáng quắc, còn cái miệng thì cứ láp váp hoài: “quân gì mà... ác nhơn, quân gì mà... thất đức, rồi đây có đứa phải... chết, có đứa phải... chết, đợi đó mà... coi, chống... con mắt lên mà coi cái thằng... Thành nầy! Hà... hà... hà!”.

Vậy đó, đây là lần đầu tiên trong đời, người quân tử ấy mới biết thế nào là “thương đậm, buồn sâu”.

Cái lạ nhứt là bà chủ, tuy bả ở nhà trên, nhưng chắc gì mà bả không nghe - giữa đêm hôm khuya khoắt - tiếng đập cửa rầm rầm, tiếng mở cửa lụp cụp, lạc cạc, tiếng đốt đèn, rồi kế tiếng con Thôi khóc rống lên, nghe thôi lồng lộng. Cho tới gần sáng, mệt quá nó mới lả đi một chút, vậy mà bả vẫn im re, không thèm lên tiếng hỏi han hay rầy la gì ráo. Thiệt! Không giống bả chút nào...

Nó cứ bù lu bù loa, tay khư khư nắm chặt cứng cái áo trắng vá quàng có cái lỗ thủng dính máu trước ngực mà hờ lên hù hụ: “Chị Quyên... ơi! Chị Quyên... hỡi! Chị Quyên... hời!”

Tất cả dấu tích của Quyên để lại, chỉ còn có vậy.


Nguồn:
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 26 tháng 11 năm 2025

« Lùi
Tiến »