RIÊNG MỘT GÓC RỪNG
Tia nắng ban mai yếu ớt chiếu vào một ngôi nhà sàn lẻ loi, cheo leo cắm vào một triền đồi, lưng dựa sát mí rừng, cửa trổ về hướng mặt trời mọc. Trước sân, lúp xúp vài vồng lang còi; sau hè, lơ thơ ít hàng mía đẹt, ngọn đã trổ cờ. Ngoài ra không thấy có bóng dáng heo cúi hay vịt gà chi ráo.
Trước nhà, mênh mông một trảng tranh, kéo dài ngút ngàn đến tận đám lau sậy bạc đầu, đang nhấp nhô ở tận ngoài xa. Viển ngoài cùng là rặng bần xanh thẳm, mải miết đứng dầm chân dưới con rạch lớn. Đôi chỗ bần mọc thưa thớt, hé lộ từng khoảng sông thưa loang loáng nắng. Mỗi khi có ngọn gió lướt qua, cả trảng tranh dài rợn lên nhấp nhô như gợn sóng...
Một dãy rào cây, ghép bằng thân tre đực chắc chắn, vây bọc quanh nhà, chĩa thẳng lên trời những mũi nhọn vót, tua tủa như chông. Phía ngoài cùng còn sót lại tàn tích một dãy rào thưa mục nát, rập rờn bìm bìm hoa tím, xiêu vẹo đến nỗi chẳng bảo vệ được cái chi hết mà chỉ muốn chứng tỏ rằng, nơi đây xưa kia, đã từng có dấu chưn người lui tới.
Xóm mới đã lẻ loi xa cách làng xã lắm rồi, vậy mà cái nhà sàn nầy, lại rớt thoi loi ra ngoài bìa rừng một mình. Ý chừng chủ nhân ngôi nhà nầy, chỉ muốn riêng một góc trời; không thèm chung đụng hay bà con xóm giềng với ai ráo trọi.
Nếu như không có một làn khói đen, mỏng tang như sợi chỉ nhỏ, lan nhẹ lên từ mái lá, rồi mềm mại lẫn vào bầu trời xám xịt, giống như một giọt mực tàu loang ra trên nền giấy ướt trong tranh thủy mặc, thì người ta rất dễ lầm tưởng đó là một ngôi nhà sàn hoang phế.
❖
Hai chị em Lực, Quyên mới vừa ngủ dậy. Con chị khoảng chừng bảy, tám tuổi, tác người dong dải, coi bộ muốn cao hơn mấy đứa con nít đồng chạn ở vùng nầy. Mái tóc đen tuyền dài chấm ngang lưng, nó rẽ ngôi thắt bím rồi buộc lại bằng hai cọng lạt dừa, thả đong đưa theo từng bước chân nhí nhảnh, về miệt rừng lập nghiệp đã hơn một năm rồi mà con nhỏ vẫn còn giữ được nước da trắng mát của những đứa trẻ thị thành. Con nhỏ hay cười vì nó biết rằng mỗi khi cười, khóe miệng nó lúm vô hai đồng tiền điếu. Bà Tư, má nó thường véo vào má con nói giỡn: “Cho tui xin hai đồng tiền điếu để mua vôi ăn trầu”. Thằng em thì nước da bánh ít, đầu cạo trọc theo kiểu mủn vùa, nhỏ hơn có một tuổi mà lùn hơn con chị chẵn một cái đầu.Bởi tai họa khủng khiếp đang treo lơ lửng ở trên đầu nên từ sáng chí tối, tía má tụi nhỏ nhốt kỹ tụi nó cả ngày ở trong nhà. Hết luẩn quẩn chơi ở nhà dưới rồi lại leo lên lan can từng trên ngóng, mưa không tới mặt, nắng chẳng bén lưng, không dám ló một ngón cẳng út ra ngoài hàng rào, vì sợ cọp vồ mất xác.
Không biết tới chừng nào thì tụi nhỏ mới quen được cái cảnh tù túng, cá chậu chim lồng nầy. Chẳng bù với lúc trước, hồi còn ở trong thành Gia Định, chẳng có ngóc ngách nào mà hổng in dấu chưn tụi nó, chẳng có trò chơi nào mà tụi nó không rành, không giỏi. Hễ nghe văng vẳng làng trên, xóm dưới, ở đâu có đám đánh lộn ồn ào, cho dù mắc nấu cơm hay đang chiên cá, bà Tư cũng bỏ bếp, hớt hải chạy tìm, trên tay còn dính theo đôi đũa đầy mỡ; bởi bà tin chắc như đinh đóng cột rằng thế nào cũng có con Quyên ở trong cái đám giặc chòm đó.
Vừa lôi sểnh con về, bà vừa phải vắt óc suy nghĩ, để tìm lời năn nỉ, nói phải quấy với lối xóm ra sao, cho họ không giận, không nóng ruột con mình mà sanh giặc. Người ta sẽ kéo qua mắng vốn rần rần cho mà coi: “Nó đánh con tui u đầu. Nó đá thằng cháu tui nhào lăn, trợn trắng, thiếu điều giập dái”. Hổng lẽ mỗi lần như vậy thì bà cứ đổ thừa hết cho ông Tư, vì cái tội đã dạy võ cho con quá sớm. Không có đám đánh lộn nào mà thiếu con Quyên đầu đảng. Nội ngó thấy cặp chưn mày rậm ri của nó, đậm đen như hai bệt mực tàu, lại hất ngược lên như nét xước của một chữ đại tự thư pháp thì đủ hiểu. Thiệt là đuối với nó! Còn thằng Lực thì bà không lo, vì nó tuy là con trai, nhưng nó không ngỗ như con chị, tánh nó nhát hít, hiền khô hà.
❖
Hai đứa trẻ áo trắng hiện ra như hai đốm sáng mờ ảo, làm nét chấm phá cho một bức tranh, mà gam màu chủ đạo là xám đen lạnh lẽo và rêu mốc u trầm. Chỉ một vầng lửa nhỏ hiu hắt buồn thiu, chờn vờn từ phía dưới hắt ngược lên là chút xíu màu nóng duy nhất, làm “điểm nhấn” soi rõ một phần khuôn mặt hai đứa trẻ. Vầng lửa đỏ nhảy nhót, chập chờn lay động ấy tạo thành bốn đốm lửa nhỏ li ti, nhảy nhót trong bốn tròng mắt trẻ thơ lóng lánh. Chúng đang hơ tay vào một cái cà ràng đỏ rực, trên đặt một nồi cháo đầy, sôi sùng sục.Những chi tiết đẹp đẽ sống động đó được viền quanh bởi cái khung cửa sổ hẹp té của căn gác tầng trên. Rồi tất cả lại được vây bọc từ bên ngoài bởi cái phông lạnh lẽo xám xịt của dãy lan can ngoài hút gió, của ngôi nhà sàn tăm tối và của cả toàn thể đất trời ảm đạm ngoài kia...
Chân trời u ám màu chì, vài đám mây đen rách nát, tất tưởi bay qua, thấp là đà. Gió ngoài sông lớn cứ hỗn hào thổi vào tơi bời lồng lộng, khiến cho cả ngôi nhà sàn như ông già lụ khụ, thỉnh thoảng lại vặn mình bẻ xương răn rắc.
❊
Ở thành phố lớn, nhà cửa đếm tầng, chất chồng liền nhau san sát. Còn ở đây thì không vậy, hàng xóm gần nhứt, có chổng khu la làng ba bốn bữa cũng hổng ai thèm tới, có hú tới tét họng, cổ lòi gân cũng chẳng có tiếng hú nào đáp lại. Sáng ra, bừng con mắt dậy, đã thấy rừng là rừng, rừng đằng trước, rừng đằng sau, xung quanh bốn phía gì cũng chỉ toàn là rừng với rừng. Leo lên gác cao chót vót, phóng tầm mắt ra xa mút tí tè chỉ thấy một màu xanh um thông thống, chẳng gợn một mái nhà nâu, một làn khói mỏng, thì còn nói chi tới bạn bè qua lại, hú hí làm chi cho mất công. Xa rồi những đám bạn dễ thương, những trò vui tuổi nhỏ, kỷ niệm chốn thị thành giờ đây đã xa lơ, xa lắc...Hồi mới dọn về đây, nhớ nhà cũ đứt ruột, một ngày khóc mùi mẫn hai ba chặp, làm trận làm thượng ba bốn lần. Nỗi nhớ thị thành cứ quằn quặn trong lòng, ăn cơm cũng nhớ, uống nước cũng nhớ, đi ra, đi vô, làm gì cũng nhớ. Hổng nhớ sao được! Cuộc tháo chạy cấp tốc đến nỗi, không kịp đùm túm, cụ bị đồ đạc gì để đem theo, thời giờ đâu mà từ giã bạn bè: trả cho đứa nầy mấy đồng xu, đòi nợ đứa khác cái bông vụ, trao cho nhỏ nọ bó đũa đánh chuyền...
Tối ngủ nằm chiêm bao cũng nhớ, tưởng chừng như còn ở nơi chốn cũ nhà xưa, nghe tiếng gió rít ngoài bụi cây, tiếng mưa đập vào tàu lá mà mường tượng ra cảnh ngựa xe, xa mã chốn thị thành. Sáng ra tỉnh dậy, gối đã ướt đầm...
Bỏ phố về rừng, bọn trẻ thèm bánh trái vô phương xiết kể. Mà ở cái xó tứ bề rừng rậm nầy, có gì ăn nấy, ai bán thứ gì mà mua. Bà Tư thấy con thèm đủ thứ, gạt thầm nước mắt, bà vuốt tóc con an ủi:
— Ráng chịu nhịn vài tháng, chừng nào lúa chín, gặt xong, má xúc lúa đem vô làng đổi cốm chuồi, bánh bò, kẹo đậu phông đem về, cho mấy đứa ăn đã thèm.
Mấy tháng đầu mới về còn lạ nước lạ cái, tụi nhỏ thấy cái gì cũng lạ. Ngày đầu tiên được má dẫn đi chợ, có thằng con nít đeo theo dạy cho tụi nhỏ mấy câu, về nhà học lại cho ông Tư nghe chơi, cả nhà cười lăn muốn bể bụng:
— Về Bến Te, ăn bánh Tung thu, uống tà, ngắm tăng. Ở Ba Ti qua Giồng Tôm, mua bánh táng về cuốn với cá tê tắng nướng tui.[5]
Câu sau nghe còn vui hơn nhiều:
— Dắt con tâu tắng, ga cột ngoài bụi te tụi. Tời mưa, đường cà tơn cà tợt, té tét nghe cái tẹt. Tời ơi là tời![6]
Một bà, đương ngồi bán cá ngoài chợ, chợt có bà nọ cắp thúng xề lại gần, hỏi:
— Bữa qua xổ bộng, cá tôm đặng bộn hôn chị?
— Úy cha chả! Nhóc luôn! Nhiều cả gáo[7] Con nào con nấy trọng bân, bành ky!
— Chuyến nầy khẳm à nghen!
Rồi xây qua, thấy con Quyên bẽn lẽn núp sau lưng mẹ, ló ra hai con mắt đen nháy tò mò, họ bèn xúm nhau ôm lấy nó mà nắm vuốt, trầm trồ:
— Chèn đét... ơi! Con nhà ai mà khéo đẻ, dễ thương, ngộ quá chừng, coi được đến!
— Má nó thiệt... là khéo nuôi, da trắng, tóc dài, ngộ cả gáo luôn! Lớn lên chắc lịch sự, lịch sàng[8] lắm đây. Chịu về làm dâu nhà má hôn con? Ừ đại đi con! Má cho con trái bắp.
— Đừng thèm con! Con trai bả đen thủi đen thui, xấu huơ xấu hoắc, đâu xứng với con. Con trai má đây mới là lịch sự, má lại tưng dâu hơn bả.
— Ớ! Cái chị nầy! Ăn nói lãng doang! Nói chơi, coi chừng con nít nó tưởng thiệt.
Hai đứa nhỏ mới tạm nguôi ngoai đôi chút, thì tai họa ở đâu đã ập xuống đầu đám lưu dân, làm tụi nó bị nhốt kỹ luôn ở trong nhà, cấm cố cả năm trời, khỏi đi đâu hết. Cả thế giới đối với tụi nó bây giờ, xây qua xây lại, chỉ bằng bề rộng hai chiếc chiếu ken lại, nên nói thiệt, tụi nhỏ chưa hề biết rừng rú là cái giống gì. Ở miền đất mới này, cái gì đối với tụi nó cũng đều lạ lẫm, khắc nghiệt và không hứa hẹn một điều gì tốt đẹp.
Chú thích:
[5] Về Bến Tre, ăn bánh Trung thu, uống trà, ngắm trăng. Ở Ba Tri qua Giồng Trôm, mua bánh tráng về cuốn với cá trê trắng nướng trui.
[6] Dắt con trâu trắng, ra cột ngoài bụi tre trụi. Trời mưa, đường cà trơn cà trợt... trời ơi là trời!
[7] Gáo: gáo dừa, dừa bum, dừa thúng có gáo rất lớn. Mỗi khi lội xuống xẻo bắt cá, người ta thường cột sợi dây vô lưng, lôi cái gáo theo để đựng cá. Cá đầy nhóc gáo nên có câu “nhiều cả gáo”, về sau phát triển thêm: “ngộ cả gáo” có nghĩa là đẹp toàn diện.
[8] Lịch sự: đẹp (tiếng cổ). Người Nam Bộ xưa thường hiểu lầm và dùng lầm tính từ “lịch sự”. Đối với họ, người lịch sự có nghĩa là người đẹp.