Ông quản gia của Lãnh chúa Frederick tóm lấy tay nắm cửa thư viện bằng đồng, mắt mở to. "Nó bị khóa rồi."
Sebastian đẩy người đàn ông sang một bên và đá mạnh. Gỗ vỡ vụn dưới gót đôi bốt của anh và cánh cửa đập mạnh vào tường mở toang với một tiếng vỡ loảng xoảng.
Căn phòng bên trong mờ tối. Ngọn lửa trong lò sưởi được để cháy nhỏ, và ai đó đã rủ màn gấm nặng trên cửa sổ xuống. Ánh sáng duy nhất đến từ một ngọn đèn dầu bằng đồng leo lét trên bàn, cửa kính mờ vì băng giá tạo nên một quầng sáng dịu trên những gì còn sót lại của Lãnh chúa Frederick Fairchild.
Ông ta nằm ườn ra thiếu tự nhiên trên ghế, một tay đung đưa yếu ớt trên thảm. Máu ở khắp mọi nơi, trên mặt bàn bằng gỗ đánh bóng, trên chiếc ghế da chần, trên tủ sách và các bức tường ốp ván. Ban đầu Sebastian cho rằng kẻ đã sát hại Rachel York và Mary Grant bằng cách nào đó đã lẻn vào nhà trước mình. Và rồi ánh mắt của anh nhìn xuống khẩu súng có cán bằng ngà vẫn được nắm chặt trong tay Lãnh chúa Frederick, và anh vỡ lẽ.
Lau một dòng nước mưa nhỏ hoà lẫn với mồ hôi trên mặt mình, Sebastian bước qua tấm thảm phương Đông để giật mở rèm cửa sổ nhìn ra khu vườn phía sau. Ánh sáng nhợt nhạt của buổi chiều mưa mùa đông tràn ngập căn phòng. Fairchild đã đặt nòng khẩu súng lục vào thái dương và thổi bay phía bên phải đầu mình thành một mớ nhão nhoét đẫm máu. Sebastian vừa mới quay người khỏi cửa sổ thì ngực ông ta giật lên, miệng mở ra hút lấy không khí và thở. Ông ta đã thổi bay đi một phần lớn hộp sọ, nên Sebastian có thể thấy bộ não phập phồng bên dưới xương sọ màu trắng và mảng thịt rách đẫm máu trên da đầu của ông ta. Nhưng ông ta chưa chết.
"Lạy Chúa Thương Xót," vị quản gia nói trong hơi thở hổn hển hoảng hốt, một tay bụm miệng trong lúc chạy khỏi căn phòng. Từ đại sảnh vang lên tiếng ai đó nôn khan.
Lãnh chúa Frederick thở khó nhọc. "Lẽ ra nên đưa cái nòng chết tiệt vào miệng," ông thì thầm.
Sebastian cúi xuống bên cạnh ông. "Ngài có biết tôi là ai không?" Sự nhận biết thấp thoáng trong đôi mắt của ông. "Hắn có một bức thư của tôi. Một trong những bức thư của tôi gửi Wesley."
"Ai? Ai có những bức thư?"
"Jarvis." Cái đầu vỡ nát của ông ta di chuyển không ngừng trên chiếc ghế da đẫm máu. "Cho Hoàng tử xem. Nói nó được tìm thấy trong số các giấy tờ của Leo Pierrepont... rằng tôi đã làm việc với Pierrepont sau lưng Hoàng tử và làm hòa với Pháp." Hơi thở tiếp theo của ông rung lên trong cổ họng. "Không đúng. Không bao giờ phản bội đất nước của tôi. Không bao giờ..."
"Nhưng Hoàng tử tin vậy?"
Đôi mắt của ông ta nhắm nghiền lại như thể đang chịu đựng một cơn co thắt đau đớn, giọng nói của ông ta nhỏ dần. "Jarvis... Jarvis nói nếu tôi không lặng lẽ ra đi, ông ta sẽ công bố những bức thư. Không thể để Elizabeth... Con gái bé bỏng của tôi... Huỷ hoại con bé." Sebastian cúi về phía trước, một tay nắm lấy tay vịn bọc da của chiếc ghế. "Bức thư - làm thế nào Jarvis có được nó?"
Đôi mắt của Fairchild nhìn lại anh trừng trừng, mở to và vô hồn. Sebastian ngồi xổm xuống, bàn tay anh vẫn nắm chặt tay vịn của ghế. Anh đột nhiên ý thức được một hồi còi chói tai cảnh sát và giọng nói của ông quản gia la hét, "Trong đó. Ông ta ở trong đó. Trong thư viện."
Sebastian đứng dậy, nhảy lên một cái cửa sổ khi anh nghe thấy tiếng bước chân chạy qua hành lang cẩm thạch. Anh bước một chân trên bậu cửa.
"Ngươi! Dừng lại! Dừng lại!"
Luồn qua cửa sổ, Sebastian hạ cánh nhẹ nhàng xuống một thảm lá vàng mùa đông và đất ẩm, rồi chạy thẳng.
Charles, Lãnh chúa Jarvis, khiến người hầu của ông giật mình khi trở về Quảng trường Berkeley trước bốn giờ chiều hôm đó. Ông không phải là người có thể chất yếu ớt, nhưng những sự kiện tại Dinh thự Carlton tối hôm đó có tầm quan trọng đặc biệt. Và trong một thời đại coi trọng quá mức vẻ ngoài, một người khôn ngoan sẽ chăm chút đến những việc như vậy.
Mặc quần ống chẽn và vớ lụa cùng một chiếc áo khoác đuôi tôm, ông phản đối nỗ lực làm sáng làn da hồng hào với một chút phấn của người hầu, và bước xuống cầu thang tiến vào thư viện. Jarvis có thể sở hữu phòng làm việc tại Cung điện Thánh James và Dinh thự Carlton, nhưng những giấy tờ quan trọng nhất của ông nằm ở đây, tại Quảng trường Berkeley.
Ông phải thừa nhận rằng đã có lúc mình cảm thấy lo lắng, rằng cái chết giật gân của cô ả đó có thể tạo ra khó khăn. Nhưng cuối cùng tất cả về cơ bản đã đi theo kế hoạch. Nguy cơ tiềm tàng của một chính phủ đảng Tự do đã được ngăn chặn; Perceval và Đảng Bảo thủ sẽ tiếp tục nắm quyền và cuộc chiến chống lại chủ nghĩa vô thần, chủ nghĩa cộng hòa, và các lực lượng của quỷ dữ sẽ được tiếp tục.
Tạm dừng ở chân cầu thang, Jarvis đưa một nhúm thuốc lá hít lên lỗ mũi của mình và hít một hơi thật sâu, thở dài đầy hài lòng. Ông biết có những người không thể hiểu tại sao ông chống lại những nỗ lực không ngừng của Hoàng tử nhằm thuyết phục Jarvis thành lập chính phủ. Nhưng Jarvis biết điều mà đa phần mọi người không hiểu: những người công khai ủng hộ một bên hoặc một chính sách sẽ mất đi sự khách quan, và rằng những người tìm kiếm quyền lực thông qua chính phủ thường mất đi chức vụ của mình và do đó mất đi quyền lực. Lòng trung thành của Jarvis dành cho Anh Quốc và nhà vua, không phải cho bất kỳ đảng phái hay ý thức hệ nào, và ông không hứng thú với sự nịnh hót nhỏ mọn cũng như vẻ phô trương của chức vị thủ tướng. Sự thống trị của ông không nằm ở những vị trí phù du trong chính phủ, mà ở uy quyền của trí tuệ, sức mạnh của nhân phẩm và sự khôn ngoan cao cả của sự tận tâm không lay chuyển đối với đất nước và chế độ quân chủ.
Nhét hộp đựng thuốc hít trở lại túi áo khoác, Jarvis mở cửa thư viện, ngạc nhiên khi thấy những tấm rèm nặng ở cửa sổ vẫn mở trong buổi chiều lạnh u ám. Một chuyển động nhẹ nhàng khiến ông giật mình nhìn sang chiếc bàn, nơi có một người đàn ông trẻ tuổi đứng đó, ăn mặc xấu xí với một chiếc áo lấm bùn, đẫm nước mưa và một khẩu súng lục Cassaignard trên tay.
"Bất ngờ, nhưng thật tình cờ," Tử tước Devlin nói, đôi mắt màu hổ phách kỳ lạ lấp lánh trong lúc anh chĩa khẩu súng vào ngực Jarvis. "Xin mời vào."