Quốc vương An Đức Lí Á rất thú vị, hắn cảm thấy cung cấp quân lương cho binh sĩ bộ lạc quá lãng phí. Nhưng hiện giờ đang đánh trận, không thể không cung cấp, vì vậy hắn lệnh cho đại thần thông thạo số học, tính toán kỹ khẩu phần ăn của từng binh sĩ, sau đó cung cấp lương thực dựa theo tiêu chuẩn thấp nhất.
Đại thần phụ trách phát lương thực, lén cắt xén lương thực sau lưng Quốc vương, tính toán sao cho không có ai chết đói là được.
Lúc này vẫn chưa đánh trận, nhưng hơn bảy ngàn binh lính bộ lạc đã oán than ngập trời, sĩ khí giảm mạnh do bữa đói bữa no.
An Đức Lí Á cảm thấy mình thực thông minh, có thể tiết kiệm không ít lương thực, vì thế hắn hạ lệnh phổ biến phương pháp này. Hắn chiêu mộ rất nhiều thường dân ở trong và thành ngoài làm binh lính, khẩu phần lương thực của những dân quân kia cũng được phát theo tiêu chuẩn của binh sĩ bộ lạc.
Hai đội quân gặp nhau tại một thung lũng, và hơn một nửa binh sĩ của quân đội Y Mạch Lợi Na đã đói đến mức sắp không đi nổi nữa.
Đặng Hữu Chương giơ ống nhòm lên, nói với tướng lĩnh bên cạnh: "Lực lượng chủ lực tinh nhuệ của quân địch đều tập trung ở giữa trận hình, vũ khí của binh sĩ là giáo, mỗi tướng soái được trang bị kiếm và khiên. Đội hình của những binh lính tinh nhuệ rất ngay ngắn, các binh lính còn lại thì lộn xộn, đứng một chỗ xiêu xiêu vẹo vẹo."
Tạ Uyên để lại hai cái ống nhòm, Hạ Văn Bằng cũng quan sát rồi nói: "Vẫn là cách làm cũ, hơn nữa quân địch sẽ tan rã với một đòn tấn công."
Hai quân sắp giao chiến, Lý La Sinh lại có tâm trạng thảo luận vấn đề hành chính: "Chế độ của quốc gia này rất giống với chúng ta, chỉ khác tên mà thôi, sau khi đánh bại có thể nhanh chóng tiếp quản thôn làng và bộ lạc."
Chế độ của Y Mạch Lợi Na vô cùng gần với nam Ấn Độ, cũng chính là kiểu mà Tấn Vương gặp phải.
Toàn bộ đất đai trên cả nước đều thuộc về Quốc vương, lấy thôn xã làm đơn vị canh tác chung. Nhưng vẫn giữ lại bóng dáng của xã hội bộ lạc, rất nhiều thôn xã thật ra chính là bộ lạc, đất đai trên danh nghĩa là của Quốc vương, nhưng chủ yếu vẫn là tù trưởng bộ lạc nắm quyền quyết định.
Hơn bảy ngàn binh lính bộ lạc, hoặc là nói binh lính thôn xã, lúc này đang ở trong trạng thái nửa đói nửa no, bị Quốc vương ra lệnh lần lượt di chuyển về phía trước.
Bọn họ mặc áo dài nửa người bằng vải bố, áo choàng mang phong cách Đông Nam Á, cũng hơi giống kiểu của Ấn Độ. Binh sĩ quấn khăn trên trán, riêng quan quân được mặc áo giáp, cầm giáo tấn công loạn xạ.
Phía sau còn có những người ném lao, tay cầm một cây giáo ngắn, trên lưng đeo thứ gì đó giống chùy gai.
Nhóm lính bộ lạc đầu tiên xuất chiến, có khoảng bốn ngàn người. Còn lại ba ngàn người đang tiến về phía hai bên sườn, vậy mà bọn họ lại biết cách đánh bọc sườn.
Quốc vương An Đức Lí Á ngồi trên xe bò, bò u màu trắng đại biểu cho sự cao quý. Hắn cho rằng mình thắng chắc rồi, thậm chí còn không định cho quân tinh nhuệ tham chiến, ngồi nhìn trung tâm chiến trường, hắn nói với đại thần của mình: "Lực lượng của chúng ta gấp mười lần quân ngoại lai, một quân địch cũng không thể chạy thoát."
"Bệ hạ, cần phải chú ý vũ khí của đám người ngoại lai." Đại thần nhắc nhở.
An Đức Lí Á cười nói: "Để cho dũng sĩ của các bộ lạc làm tiêu hao vũ khí của quân địch. Ta sẽ cử quân đội giám sát trận chiến, giết hết những binh lính bộ lạc tháo chạy, để bọn họ xung phong ra chiến trường lần nữa. Quân địch ít như vậy, sau khi vũ khí bị tiêu hao là có thể dễ dàng đánh bại."
Vị Quốc vương này hoàn toàn không coi binh sĩ của các thôn làng bộ lạc là người, trong mắt hắn tất cả đều là hàng tiêu dùng.
Nhưng hắn coi như đã rất nhân từ rồi, Nữ vương của Mã Đạt Gia Tư Gia hai trăm năm sau mới thật sự là tàn bạo. Nữ vương thích nuôi động vật bò sát, lúc ngủ cũng phải ngủ chung với trăn cưng, hàng chục ngàn người bị hành quyết bằng cách ném vào ao cá sấu. Nữ vương nắm quyền hơn ba mươi năm, dân số cả nước giảm mạnh 2,5 triệu người (ước tính chiếm hơn 50% tổng dân số), chết do bị giết hại, chiến tranh, nạn đói và ôn dịch.
Đương nhiên, Nữ vương cũng không giết người lung tung.
Đối tượng mà nàng ta giết đều là kẻ thù chính trị thân cận với Anh và Pháp, cùng với những người dân theo đạo Thiên Chúa. Thôn làng bị thế lực Anh, Pháp xâm nhập, cả thôn làng hầu như bị giết sạch, còn nhiều lần đánh bại quân đội Anh, Pháp.
Binh lính bộ lạc tiếp tục tiến lên trong tình trạng hỗn loạn, quân đội Trung Quốc đẩy ra vài khẩu đại bác.
Đặng Hữu Chương có hơn ba mươi khẩu đại bác, tất cả đều được chuyển xuống từ các tàu chiến gặp nạn. Những khẩu đại bác cỡ lớn chưa bao giờ được sử dụng, những khẩu đại các nhỏ thì mới bắt đầu sử dụng hai năm nay, sau đó do thiếu thuốc nổ nên đành cất đi, nhưng vẫn có chuyên gia phụ trách trông coi hằng ngày.
Trước khi tìm thấy quặng sắt, toàn bộ đạn sắt đều được nung chảy để rèn kiếm và giáo. Dù sao đạn cũng có thể thay thế bằng đá, có thể nhét vào nòng pháo bắn mà không cần phải mài kỹ.
Lần này cũng sử dụng đạn bằng đá, hơn nữa còn là đá vụn dùng cho súng hoa cải.
Khi lính bộ lạc đến gần khoảng chừng một trăm mét, pháo thủ Trung Quốc lập tức châm ngòi nổ, cùng với vài tiếng nổ, vô số đã vụn bay ra như tiên nữ rải hoa.