THIÊN NHÃN PHONG THỦY SƯ

Lượt đọc: 1981 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 545
Đầu nên gối hướng nào

❊ ❊ ❊

Hoàng tổng nói: "Nghĩa là, có người bảo ngủ hướng Nam Bắc là tốt, lại có người bảo ngủ hướng Nam Bắc không tốt?"

Tôi gật đầu: "Chưa hết đâu."

"Mặt trời mọc đằng Đông lặn đằng Tây, hướng Đông là hướng sinh khí phát tiết, đại diện cho cát tường và hy vọng, nên đầu nhất định phải hướng về phía Đông mà ngủ, đây là một cách nói."

"Nhưng phần lớn các dòng sông đều chảy về hướng Đông. Nếu gối đầu về hướng Đông, có người lo ngại máu sẽ dồn từ chân lên não, dễ dẫn đến các vấn đề về mạch máu não."

"Cho nên, nhất định không được gối đầu về hướng Đông, đây cũng là một cách nói."

"Đồng thời, trong phong thủy học còn có câu: người sống ngủ Đông Tây, người chết ngủ Nam Bắc."

"Bởi vì trong văn hóa truyền thống quan niệm rằng, sau khi người ta qua đời, họ bước vào thế giới âm gian, đối mặt với sự lạnh lẽo và bóng tối. Cho nên khi hạ huyệt, người ta thường chọn đầu hướng về phía Bắc. Đây là sự tôn trọng đối với người đã khuất. Về phương hướng, phải tránh đi dương khí của phương Đông."

"Hy vọng và dương khí là để dành cho người sống, cho nên mới nói, người sống mới thích hợp ngủ theo hướng Đông Tây."

"Nhưng có từ gọi là 'quy tây' (về cõi Tây), có người cảm thấy ngủ hướng Tây là không cát lợi. Nhất định không được ngủ hướng Tây, đây cũng là một cách nói."

"Hơn nữa, người từng ngủ trên xe đều biết, ngủ xuôi theo chiều chuyển động của xe thì nghỉ ngơi mới đầy đủ. Ngủ ngược chiều sẽ rất mệt."

"Đối với bệnh nhân bị áp lực nội sọ cao trên xe cứu thương, đầu bệnh nhân bắt buộc phải hướng về phía đầu xe, đây là kiến thức y học thường thức."

"Cho nên, không được ngủ ngược với hướng tự quay của trái đất, đây cũng là một cách nói."

"Cũng có người cho rằng, đầu hướng Bắc là âm, hướng Tây là không cát, hướng Đông ảnh hưởng sức khỏe, hướng Nam là dương tốt nhất, đây cũng là một cách nói."

Sau khi tôi nói xong, Bun yên lặng suy nghĩ một lát rồi chất vấn: "Có phải anh tưởng tôi say rồi nên đang lừa tôi không?"

"Sao nghe một vòng, Đông Nam Tây Bắc đều không tốt vậy?"

"Chẳng lẽ lúc ngủ, đầu hướng lên trời mới là tốt nhất?"

Tôi cười nói: "Không phải vậy."

"Tôi chỉ nêu ví dụ thôi, cách nói nào cũng có, nhưng chúng ta đâu thể ngủ đứng được đúng không?"

"Cách nói thì cứ nói, chỉ có cái phù hợp với bản thân mới là tốt nhất, tự mình kiểm chứng mới đáng tin."

"Dựa theo mệnh cung mà xét, trong căn phòng này, ngủ đầu hướng về phía Tây là có lợi nhất cho cậu."

Hoàng tổng trêu Bun: "Vật lý học, y học và Dịch học, đều bị Tam Hợp nói hết rồi."

"Hay là cậu thử một lần đi? Dù sao cậu cũng không ngủ được, thế nào thì cũng không thể tệ hơn được nữa đâu."

Bun suy nghĩ một chút rồi bảo: "Nghe có vẻ cũng có lý, vậy thử thì thử."

Người có khí trường Ngũ Quỷ nặng, ngoài việc không ngủ được, còn có thể là ngủ mê, ngủ dậy vẫn thấy rất mệt, cũng như tình trạng ngủ muộn.

Có người có thể nói, tôi rất dễ ngủ, tôi ngủ muộn là do tôi chơi điện thoại, tôi làm việc, tôi có đủ loại nguyên nhân và lý do.

Nhưng đó đều là biểu hiện bên ngoài.

Người cứ trời tối là buồn ngủ không mở mắt nổi, rất ít khi làm việc hay chơi bời vào ban đêm.

Ngủ muộn, cũng là một hình thức khác của việc không ngủ được.

Không biết là do tâm lý của Bun, hay do cậu ta tò mò muốn thử sớm một chút.

Chúng tôi chưa uống được bao lâu, cậu ta đã nói mình muốn đi ngủ.

Sáng hôm sau lúc ăn sáng, Bun vui vẻ phản hồi rằng đã lâu rồi mới ngủ ngon như vậy.

"Về nhà tôi cũng ngủ đầu hướng về phía Tây à?" Cậu ta hỏi.

Chỉ cần là phòng ngủ có cửa mở theo mệnh cung Tây Tứ, cậu ta đều có thể gối đầu về hướng Tây.

Nghĩa là, trong lý luận Bát Trạch, người thuộc mệnh cung 2, 7, 8, 6, ở trong phòng ngủ có cửa mở tại 2, 7, 8, 6, gối đầu về vị trí 2, 7, 8, 6 là thích hợp nhất.

Nếu phòng ngủ vừa vặn nằm ở vị trí 2, 7, 8, 6 trong nhà, thì lại càng tốt hơn.

Đây chỉ là lý luận của Bát Trạch, dùng mệnh cung.

Còn có thể chọn vị trí cát tường từ góc độ cầm tinh (con giáp).

Cũng có thể chọn từ góc độ Bát Tự.

Mệnh cung, cầm tinh và Bát Tự, cái nào quan trọng hơn?

Lấy một ví dụ không được thỏa đáng lắm, điều này giống như mối quan hệ giữa ăn cơm, uống nước và đi ngủ.

Cố gắng kiêm toàn tất cả các phương diện.

Xét về cầm tinh, vẫn dùng "Chưởng trung quyết" (quyết trên lòng bàn tay).

Dần Mão (Hổ, Thỏ) thuộc Mộc, thích Thủy sinh Mộc, phương Bắc là Thủy. Phương Đông là Mộc, cũng được. Đầu hướng Bắc hoặc hướng Đông là cát.

Tỵ Ngọ (Rắn, Ngựa) thuộc Hỏa, thích Mộc sinh Hỏa, phương Đông là Mộc. Phương Nam là Hỏa, cũng được, đầu hướng Đông hoặc hướng Nam là cát.

Thân Dậu (Khỉ, Gà) thuộc Kim, thích Thổ sinh Kim.

Tuy nhiên Thổ này còn chia nhỏ thành Thổ ẩm và Thổ khô.

Thổ mùa đông và mùa xuân có thể nuôi dưỡng vạn vật, chứa nước, là Thổ ẩm ướt.

Tức là Sửu Thổ và Thìn Thổ là Thổ ẩm.

Thổ mùa hè và mùa thu có thể phơi chín hoa màu, chứa nhiệt độ nóng bức của Hỏa, là Thổ khô.

Tức là Mùi Thổ và Tuất Thổ là Thổ khô.

Trong Thổ khô chứa nhiệt độ nóng bức của Hỏa, không có lợi cho việc sinh Kim.

Cho nên Thân Dậu (Khỉ, Gà) thuộc Kim, thích Thổ sinh Kim, nên dùng Thổ ẩm.

Sửu Thổ đại diện cho hướng Đông Bắc, và Thìn Thổ đại diện cho hướng Đông Nam là cát.

Hướng Tây thuộc Kim, cũng được.

Hợi Tý (Lợn, Chuột) thuộc Thủy, Kim sinh Thủy, hướng Tây thuộc Kim. Phương Bắc thuộc Thủy cũng được, đầu hướng Tây hoặc Bắc là cát.

Còn lại bốn con giáp thuộc hành Thổ.

Thổ ẩm chứa Thủy là Sửu và Thìn, phương Bắc thuộc Thủy, Kim sinh Thủy, hướng Bắc và Tây, cũng như hướng Đông Bắc và Đông Nam tương ứng đều được.

Thổ khô chứa Hỏa là Mùi và Tuất, phương Nam thuộc Hỏa, Hỏa sinh Thổ, cũng như hướng Tây Nam và Tây Bắc tương ứng.

Nghĩa là, phương vị sinh cho mình hoặc cùng hành với mình thì tốt hơn.

Phương vị khắc hành của mình thì không tốt lắm.

Hỷ dụng thần của Bát Tự cũng tương tự như vậy.

Bất luận là Bát Tự hay nhân sinh, cứ cân bằng là cát.

Dựa vào mối quan hệ sinh khắc của Bát Tự, tìm ra ngũ hành giúp ích nhất cho sự cân bằng của Bát Tự, gọi là Hỷ dụng thần.

Hỷ Hỏa thì hướng Nam, hoặc Đông (Mộc sinh Hỏa).

Hỷ Thủy thì hướng Bắc, hoặc Tây (Kim sinh Thủy).

Hỷ Mộc thì hướng Đông, hoặc Bắc (Thủy sinh Mộc).

Hỷ Kim thì hướng Tây, hoặc hướng Thổ ẩm là Đông Nam, Đông Bắc (Thổ sinh Kim).

Hỷ Thổ thì hướng về phương vị của Thổ tương ứng (phân biệt khô ướt).

Dịch Thuật: Gemini & DeepSeek AI
Nguồn: Việt Nam Thư Quán
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 1 tháng 7 năm 2026

« Lùi Tiến »