Những Điều Nhỏ Bé Vĩ Đại

Lượt đọc: 2618 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Turk

Tôi đặt hai tay lên hai bên mặt Brit và tựa trán tôi vào vầng trán vợ mình. “Thở đi,” tôi bảo vợ. “Hãy nghĩ tới Vienna.”

Hai chúng tôi chưa bao giờ tới Vienna, nhưng Brit đã tìm thấy một bức hình trong một hiệu đồ cổ và treo nó trên tường phòng ngủ vợ chồng tôi. Thành phố hiện lên trong hình, với tòa thị chính lộng lẫy, quảng trường phía trước đầy người đi bộ và những người mẹ nắm tay con mình - tất cả đều là người đa trắng. Chúng tôi luôn nghĩ mình có thể để dành tiền đi du lịch Vienna, một ngày nào đó. Khi Brit lên kế hoạch sinh con, Vienna là từ tôi dùng để giúp cô ấy tập trung.

Không phải tôi không nhận ra mình đang thì thầm với vợ chính cái từ đã giúp cô ấy tập trung khi sinh Davis - nhưng giờ tôi lặp đi lặp lại nó để giúp cô ấy thôi trông thấy hình ảnh đứa con trai đã chết của chúng tôi.

Bất thần, cửa phòng họp mở ra và nữ công tố viên bước vào. “Chiêu đó hay đấy. Bồi thẩm đoàn rất thích khi một người mẹ tỏ ra đau khổ đến nỗi không kiềm chế được mình. Nhưng đe dọa trước tòa ấy à? Không phải là hành động khôn ngoan nhất.”

Brit sừng lên. Cô ấy đẩy tôi và đứng dậy, đối diện với cô luật sư. “Tôi không tỏ vẻ,” vợ tôi nói, giọng nhẹ nhàng đến nguy hiểm. “Và cô không có quyền gì bảo tôi cái gì thì tốt và cái gì thì không, con khốn.”

Tôi nắm lấy cánh tay vợ. “Em yêu, sao em không đi rửa mặt. Để anh lo chuyện này.”

Brit thậm chí không chớp mắt. Cứ đứng trơ như một bức tường trước Odette Lawton, như một con chó đầu đàn đứng đe dọa một con chó khác cho đến lúc con kia biết điều cụp đuôi bỏ chạy. Thế rồi, đột ngột, cô ấy quay đi và đóng sập cửa lại sau lưng.

Tôi biết Brit và tôi được cho vào phòng xử án này đã là chuyện lớn, mặc dù chúng tôi sắp lên làm chứng. Đã có một buổi điều trần về chuyện đó và đủ thứ, trước khi phiên xử bắt đầu. Cô ả luật sư biện hộ khốn kiếp tưởng rằng có thể giữ chúng tôi tránh xa bằng cách yêu cầu cô lập nhân chứng, nhưng thẩm phán nói chúng tôi xứng đáng có mặt vì là bố mẹ của Davis. Tôi chắc rằng công tố viên không muốn cho ông ta lý do chính đáng nào để suy nghĩ lại về quyết định của mình.

“Anh Bauer,” cô luật sư nói, “anh và tôi cần phải nói chuyện.”

Tôi khoanh tay lại. “Tại sao cô không tập trung làm cái việc cô phải làm? Thắng vụ kiện này?”

“Công việc của tôi có chút khó khăn khi vợ anh hành xử như một tên côn đồ chứ không phải một người mẹ đang đau khổ.” Cô ta trừng mắt nhìn tôi. “Tôi không thể gọi cô ấy lên làm nhân chứng.”

“Cái gì?” tôi kêu lên. “Nhưng chúng ta đã luyện tập...”

“Phải, nhưng tôi không tin Brittany,” nữ công tố nói thẳng. “Gần như không thể lường trước được cô ấy sẽ làm gì. Và anh không nên để một nhân tố không thể lường trước lên bục nhân chứng.”

“Bồi thẩm đoàn cần được nghe câu chuyện từ mẹ của Davis.”

“Không, nếu tôi không thể chắc chắn cô ấy sẽ không gào to những lời lẽ xúc phạm và kỳ thị chủng tộc vào mặt bị cáo.” Nữ công tố nhìn tôi lạnh lùng. “Anh và vợ anh có thể căm ghét tôi và tất cả những người trông giống như tôi, anh Bauer. Và nói thật, tôi chẳng quan tâm. Thế nhưng tôi là cơ hội tốt nhất - cơ hội duy nhất - mà anh có để đòi công lý cho con trai mình. Vậy nên không những tôi sẽ bảo anh cái gì thì tốt và cái gì thì không, tôi cũng sẽ toàn quyền quyết định. Thế có nghĩa là vợ của anh sẽ không lên làm chứng.”

“Thẩm phán và bồi thẩm đoàn sẽ cho rằng có chuyện gì đó không ổn nếu vợ tôi không ra làm chứng.”

“Thẩm phán và bồi thẩm đoàn sẽ cho rằng cô ấy quá đau lòng. Và có anh ra làm chứng cũng đủ rồi.”

Phải chăng điều đó có nghĩa là tôi yêu Davis ít hơn? Bởi vì nỗi đau của tôi không đủ để khiến tôi thôi giữ mồm giữ miệng, như Brit?

“Trước khi anh đi, anh đã nghe bên biện hộ đưa ra giả thuyết rằng con trai anh bị rối loạn chuyển hóa mà không kịp phát hiện, đúng chứ?”

Đó là lúc bác sĩ nhi lên làm chứng. Có rất nhiều thuật ngữ y tế tôi không hiểu, nhưng tôi nắm được đại khái ý chính, “Ừ, đúng. Tôi hiểu,” tôi đáp. “Một cú chuyền bóng tuyệt vọng cầu may.”

“Không hẳn. Lúc anh đi rồi, bác sĩ pháp y đã xác nhận kết quả. Davis đúng là có bệnh thiếu hụt MCAD. Tôi đã cố hết sức để làm cho bồi thẩm đoàn bỏ qua lời khai của anh ta, nhưng bên biện hộ đã gieo một hạt giống và nó đã bén rễ rồi: xét nghiệm cho thấy con trai anh bị một chứng bệnh chết người, và kết quả đã về quá trễ. Và nếu chuyện đó không xảy ra, thằng bé có thể vẫn còn sống.”

Đầu gối tôi rụng rời và tôi ngồi phịch xuống mặt bàn. Con trai chúng tôi thật sự có bệnh, và chúng tôi không biết? Làm sao bệnh viện có thể sơ sót như vậy được?

Thật quá... ngẫu nhiên. Quá sức vô nghĩa.

Nữ công tố chạm vào tay tôi, và tôi không khỏi giật mình. “Đừng làm thế. Đừng cả nghĩ. Tôi nói anh biết để anh không bị bất ngờ khi đối vấn thôi. Tất cả những gì Kennedy McQuarrie làm được chỉ là tìm ra một chẩn đoán có thể. Chẩn đoán đó chưa được xác thực. Davis chưa được điều trị. Nói vậy cũng như bảo rằng con trai anh lớn lên sẽ bị bệnh tim, bởi vì đó là xu hướng di truyền của bé. Như vậy không có nghĩa là chuyện đó sẽ xảy ra.”

Tôi nghĩ về ông ngoại tôi, người đã lên cơn đau tim rồi gục chết.

“Tôi nói với anh điều này bởi vì khi chúng ta trở vào,” Odette cương quyết, “tôi sẽ gọi anh lên bục nhân chứng. Và anh sẽ trả lời đúng như đã tập ở văn phòng tôi. Tất cả những gì anh cần phải nhớ là trong vụ kiện này, không có chỗ đâu cho cái có lẽ. Không có chuyện này có thể đã xảy ra.đã xảy ra rồi. Con trai anh đã chết.”

Tôi gật đầu. Có một cái xác. Và ai đó phải đền tội.

Anh có thề sẽ nói lên sự thật?

Tay tôi gập lại trên cuốn Kinh thánh bọc da. Sau này, tôi không còn đọc kinh nhiều nữa. Nhưng việc thề trên nó làm tôi nhớ lại Ike Bự, cái thằng tôi gặp hồi ở tù. Và Twinkie.

Nói thật, tôi nghĩ về Twinkie rất nhiều. Tôi mường tượng nó đã được ra. Có lẽ đang ăn món mì đóng hộp Chef Boyardee mà nó khoái. Nếu tôi gặp nó trên đường phố thì sao nhỉ? Tại một tiệm Starbucks chẳng hạn? Liệu chúng tôi có ôm nhau? Hay sẽ vờ như chưa từng quen biết? Twinkie biết tôi là người ra sao, khi ở bên ngoài, cũng như tôi biết nó là kẻ thế nào. Nhưng ở tù, mọi thứ rất khác, và những điều tôi đã được dạy để tin vào không còn đúng nữa. Nếu lúc này chúng tôi tình cờ chạm mặt nhau, liệu thằng nhỏ có còn là Twinkle với tôi? Hay chỉ là một thằng mọi như bao thằng khác?

Rốt cuộc Brit cũng đã trở vào phòng xử, ngồi tựa vào Francis. Khi vợ tôi trở về từ nhà vệ sinh, mặt vẫn còn ẩm sau khi lau bằng khăn giấy, mũi và má hồng hồng, tôi nói mình đã cho cô công tố biết rằng không ai có quyền bảo vợ tôi cách thương khóc thế nào. Rằng tôi không thể chịu nỗi nếu Brit một lần nữa đau lòng và suy sụp, nên tôi đã bảo Odette Lawton rằng tôi sẽ không để vợ đứng ra làm chứng. Tôi nói với Brit rằng tôi yêu cô ấy, và tôi rất đau khổ khi thấy cô đau đớn.

Brit tin tôi.

Anh có thề sẽ nói lên sự thật không?

“Anh Bauer,” công tố viên hỏi, “đây có phải là đứa con đầu lòng của vợ anh, cô Brittany?”

Lưng tôi túa mồ hôi. Tôi cảm nhận được cái nhìn chằm chằm của bồi thẩm đoàn dán vào hình xăm chữ thập ngoặc trên đầu mình. Cả những người giả bộ không nhìn cũng thoáng đưa mắt liếc. Tôi nắm tay lại quanh mặt ghế. Chất gỗ cho tôi cảm giác thật tốt. Rắn chắc. Một thứ vũ khí. “Phải. Chúng tôi rất háo hức đón con.”

“Anh biết trước bé là con trai chứ?”

“Không,” tôi trả lời. “Chúng tôi muốn được bất ngờ.”

“Trong quá trình vợ anh mang thai, cô ấy có gặp biến chứng gì không?”

“Vợ tôi bị đái tháo đường thai kỳ. Bác sĩ bảo chúng tôi đó không phải vấn đề gì lớn, chỉ cần cô ấy ăn uống cẩn thận. Và cô ấy đã làm theo. Cũng như tôi, cô ấy muốn con mình khỏe mạnh?”

“Lúc sinh nở thì sao, anh Bauer? Vợ anh sinh con bình thường chứ?”

“Mọi thứ đều diễn ra trôi chảy,” tôi đáp, “nhưng nói đi nói lại, tôi có phải là người vượt cạn đâu.” Mấy người phụ nữ trong bồi thẩm đoàn mỉm cười, đúng như nữ công tố dự đoán, nếu tôi tạo ra ấn tượng rằng mình cũng như những người cha khác.

“Vợ chồng anh chọn sinh con ở đâu?”

“Bệnh viện Mercy West Haven.”

“Anh đã được bồng con trai Davis sau khi bé sinh ra, đúng không anh Bauer?”

“Ừm,” tôi đáp. Lúc chúng tôi diễn tập đoạn này trong văn phòng công tố, như những diễn viên đọc lời thoại, Odette bảo sẽ hiệu quả hơn nếu mắt tôi ngấn nước. Tôi nói mình không thể giả khóc được, chết tiệt, nhưng giờ, nghĩ tới khoảnh khắc Davis chào đời, tôi bỗng nghẹn ngào. Thật điên rồ, phải không, rằng bạn có thể yêu một người con gái nhiều đến nỗi có thể tạo ra một sinh linh mới cùng cô ấy? Giống như chà xát hai thanh củi với nhau và tạo lửa - bỗng chốc có một thứ sống động và mãnh liệt xuất hiện nơi mà một phút trước chẳng có gì. Tôi vẫn nhớ chân Davis đạp đạp tôi. Đầu thằng bé trong lòng bàn tay tôi. Cặp mắt sống động, không tập trung đó, làm tôi bối rối. “Tôi chưa bao giờ có cảm giác như vậy trong đời,” tôi thú nhận. Tôi đã đi trật kịch bản, và tôi chẳng quan tâm. “Tôi tưởng là nói xạo thôi, khi người ta nói từ cái nhìn đầu tiên, họ đã đem lòng yêu một đứa trẻ. Nhưng đó là sự thật. Như thể tôi trông thấy cả tương lai của mình trên gương mặt thằng bé.”

“Anh có biết nhân viên nào ở bệnh viện trước khi tới đó không?”

“Không. Bác sĩ phụ sản của Brit làm việc ở Mercy West Haven, nên tới đó cũng là chuyện đương nhiên.”

“Anh có trải nghiêm tốt ở bệnh viện này chứ, anh Bauer?”

“Không,” tôi quả quyết. “Không có.”

“Ngay từ lúc vợ anh nhập viện đã thế rồi à?”

“Không. Lúc đó không sao. Mọi chuyện vẫn ổn cho tới sau khi sinh Davis.”

Công tố viên bước lại bục nhân chứng. “Vậy mọi chuyện thay đổi lúc nào?”

“Khi cô y tá ban đầu đi và một y tá khác tiếp quản. Cô này là người da đen.”

Nữ công tố hắng giọng. “Có vấn đề gì ở đó, hả anh Bauer?”

Bất giác, tôi đưa tay sờ hình xăm trên đầu. “Tôi tin chủng tộc da trắng là chủng tộc thượng đẳng.”

Một vài thành viên bồi thẩm nhìn tôi chăm chú hơn, có vẻ hiếu kỳ. Một số khác lắc đầu. Có người lại nhìn xuống đùi họ.

“Vậy anh là người theo thuyết thượng tôn da trắng,” công tố viên tiếp. “Anh tin rằng người da đen, như tôi, là loại người thấp kém hơn.”

“Tôi không chống người da đen,” tôi bảo. “Tôi chỉ ủng hộ người da trắng.”

“Anh biết trên thế giới - mà thực ra là ngay tại đây - có nhiều người cho rằng quan niệm của anh rất kinh tởm chứ?”

“Nhưng bệnh viện phải điều trị cho tất cả bệnh nhân,” tôi tiếp luôn, “cả những người có quan điểm họ không thích. Nếu một kẻ xả súng ở trường học bị thương khi cảnh sát cố hạ gục hắn và được đưa tới phòng cấp cứu, bác sĩ sẽ phẫu thuật để cứu mạng hắn cả khi hắn đã giết một tá người. Tôi biết cách sống của vợ chồng tôi không phải là cách người khác chọn sống cuộc đời họ. Nhưng cái vĩ đại của đất nước này là tất cả chúng ta có quyền tin vào bất cứ thứ gì chúng ta muốn.”

“Anh đã làm gì khi phát hiện có một y tá da đen chăm sóc con trai anh?”

“Tôi đã đưa ra một yêu cầu. Tôi không muốn cô ta đụng vào thằng bé.”

“Hôm nay, y tá người Mỹ gốc Phi mà anh nói tới có mặt ở đây chứ?”

“Có.” Tôi chỉ vào Ruth Jefferson. Có lẽ cô ta đã co rúm lại.

Dù sao tôi cũng muốn nghĩ là như thế.

“Anh đã đưa ra yêu cầu đó với ai?” công tố viên hỏi.

“Y tá phụ trách,” tôi đáp. “Marie Malone.”

“Kết quả của cuộc trò chuyện đó là gì?”

“Tôi không biết, nhưng cô y tá kia được chuyển đi làm việc khác.”

“Sau đó bị cáo có tiếp xúc với con trai anh lần nào nữa không?”

Tôi gật đầu. “Davis được phẫu thuật cắt bao quy đầu. Lẽ ra đó chỉ là một quy trình đơn giản. Họ sẽ đưa thằng bé tới phòng trẻ và mang nó về khi mọi chuyện đã xong. Thế nhưng điều tiếp theo tôi biết là mọi thứ loạn lên như vỡ chợ. Người ta gào thét, gọi cấp cứu, đẩy xe thuốc nháo nhào chạy dọc hành lang, ai cũng đổ về phía phòng trẻ. Con trai tôi ở đó, và tôi chỉ... tôi đoán Brit và tôi đã biết. Chúng tôi chạy tới đó và có một đám đông quây lấy con trai tôi, và người phụ nữ, cô ta lại đặt tay lên thằng bé.” Tôi nuốt nước bọt. “Cô ta đang làm thằng bé đau. Cô ta nện lên ngực thằng bé mạnh đến nỗi thiếu điều bẻ gãy nó.”

“Phản đối!” luật sư kia kêu lên.

Thẩm phán trề môi. “Tôi cho phép điều đó.”

“Anh đã phản ứng thế nào, anh Bauer?”

“Tôi không nói gì cả. Brit và tôi, chúng tôi đều bị sốc. Ý tôi là, họ đã bảo quy trình này chẳng có gì phức tạp. Lẽ ra chiều đó chúng tôi sẽ được về nhà. Dường như bộ não của tôi không thể xử lý chuyện đang diễn ra trước mắt nữa.”

“Sau đó thì thế nào?”

Bồi thẩm đoàn, tôi nhận ra, đang hồi hộp đợi chờ. Gương mặt nào cũng hướng về tôi. “Các bác sĩ và y tá, họ di chuyển nhanh đến nỗi tôi không biết là tay ai với tay ai. Rồi bác sĩ nhi chạy vào - bác sĩ Atkins. Cô làm việc trên con trai tôi một lúc, rồi cô... cô ấy nói không thể làm gì được nữa.” Những từ đó hóa ra không gian ba chiều, một bộ phim tôi không thể rời mắt khỏi. Bác sĩ y nhìn đồng hồ. Những người khác lùi lại, tay giơ lên, như thể có ai đó đang dí súng vào họ. Con trai tôi, bất động hoàn toàn.

Một tiếng nấc bùng ra. Tôi vịn chặt chiếc ghế. Nếu tôi buông lỏng, nắm đấm sẽ chi phối tôi. Tôi sẽ tìm ai đó để trừng phạt. Tôi nhìn lên, và trong một giây ngắn ngủi, tôi để bọn họ thấy trong tôi trống rỗng thế nào. “Cô ấy nói con trai tôi đã chết rồi.”

Odette Lawton bước về phía tôi, trong tay là một hộp khăn giấy Kleenex. Cô đặt nó lên lan can giữa chúng tôi, nhưng tôi không rút lấy miếng giấy nào. Lúc này, tôi thật sự mừng vì Brit không phải trải qua cảnh này. Tôi không muốn cô ấy phải sống lại giờ phút đó.

“Anh đã làm gì tiếp theo?”

“Tôi không thể để họ ngừng lại.” Từ ngữ như mảnh kính trên lưỡi tôi. “Nếu họ không cứu con trai tôi, tôi sẽ làm việc đó. Thế là tôi lại chỗ sọt rác, lôi ra cái đồ bóp mà họ dùng để giúp cho Davis thở. Tôi cố tìm cách gắn nó vào. Tôi sẽ không bỏ con tôi.”

Tôi nghe một âm thanh, một tiếng rên ai oán mà tôi nhận ra từ những tuần Brit không thể xuống giường, nhưng lại làm cả ngôi nhà rung động bằng sức mạnh nỗi đau khổ của cô ấy. Trong chiếc ghế tòa án, vợ tôi gập lại, một dấu hỏi bằng người, như thể cả thân hình cô ấy đang hỏi vì sao chuyện này lại xảy ra với chúng tôi.

“Anh Bauer,” công tố viên nhẹ nhàng gọi, để tôi trở lại chú ý vào cô ấy. “Ở đây có người sẽ gọi anh là kẻ thượng tôn da trắng, sẽ bảo rằng chính anh là người đã gây ra mọi chuyện bằng cách yêu cầu gạt cô y tá đó ra, không cho cô ta chăm sóc con anh. Họ còn có thể đổ tội cho anh vì nỗi bất hạnh anh phải chịu. Anh sẽ đáp lại thế nào?”

Tôi hít vào một hơi sâu. “Tất cả những gì tôi cố gắng làm là cho con tôi cơ hội tốt nhất trong cuộc sống. Vậy thì tôi là một kẻ thượng tôn da trắng hả?” tôi hỏi. “Hay chỉ là một người cha?”

Trong giờ nghỉ, Odette ngồi trong phòng họp hướng dẫn tôi. “Công việc của cô ta là làm tất cả những gì có thể để khiến bồi thẩm đoàn ghét anh. Ghét một chút cũng không sao, vì điều đó sẽ cho bồi thẩm đoàn thấy động cơ của cô y tá. Nhưng chỉ một chút. Công việc của anh là làm tất cả những gì có thể để họ thấy cái họ có chung với anh, không phải cái khiến cho anh khác biệt. Trọng tâm của vụ kiện là cho họ thấy anh thương con đến thế nào. Đừng làm hỏng chuyện bằng cách tập trung vào người anh ghét.”

Cô ta để Brit và tôi lại một mình trong vài phút, trước khi chúng tôi được gọi vào phòng xử án. “Cô ta,” Brit lên tiếng, ngay khi cánh cửa đóng lại. “Em ghét cô ta.”

Tôi quay sang vợ tôi. “Em có nghĩ cô ta nói đúng? Em có nghĩ chính chúng ta tự chuốc lấy cảnh này?”

Bấy nay tôi đã suy nghĩ về điều Odette Lawson nói: nếu tôi không công khai phản đối cô y tá da đen, liệu chuyện này có kết thúc khác đi? Liệu cô ta có cố cứu mạng Davis ngay khi nhận ra thằng bé không thở được? Đối xử với thằng bé như tất cả những bệnh nhân bị đe dọa tính mạng khác, thay vì muốn làm tổn thương tôi như tôi đã làm tổn thương cô ta?

Nếu vẫn còn đây thì giờ con trai tôi đã được sáu tháng tuổi rồi. Liệu tôi có được ngắm thằng bé lẫm chẫm bò? Trông thấy tôi, liệu gương mặt nó có sáng lên?

Tôi tin có Chúa. Tôi tin Chúa sẽ công nhận những việc mà chúng tôi đã làm vì Người trên trái đất này. Nhưng thế thì sao Chúa lại trừng phạt chúng tôi, những chiến binh phụng sự Người?

Brit đứng dậy, vẻ ghê tởm lan tỏa ra nét mặt cô ấy. “Từ bao giờ anh đã trở thành một thằng ẽo ợt như vậy?” vợ tôi hỏi, rồi quay mặt khỏi tôi.

Trong vài tuần cuối thai kỳ của Brit, hàng xóm chúng tôi - một cặp người Mễ hẳn đã nhảy qua hàng rào dây thép để từ Guatemala tới nước Mỹ - đã nhận nuôi một chú chó. Đó là một trong mấy thứ có lông mềm mại trông như cục bông quái quỷ có răng, chẳng bao giờ ngưng sủa. Frida, con chó, thường vào trong sân nhà chúng tôi ị lên bãi cỏ, và không ị thì nó ăng ẳng miết. Mỗi lần Brit nằm xuống định chợp mắt là cái đầu giẻ lau ngu ngốc ấy lại tru tréo làm cô ấy bừng tỉnh. Vợ tôi sẽ nổi cáu, rồi tôi nổi cáu, và tôi sẽ đùng đùng đi qua đập cửa nhà họ, cảnh báo rằng nếu họ không bịt mõm con thú khốn kiếp của họ lại thì tôi sẽ xử nó.

Rồi một ngày kia, tôi đi làm về thì thấy thằng cha người Mễ đang đào một cái hố dưới bụi hoa đỗ quyên, và người vợ đau khổ đến cuồng loạn của ông ta đang cầm trong tay một hộp giày nhỏ. Lúc tôi bước vào nhà, Brit đang ngồi trên ghế. “Hình như con chó đã chết,” vợ tôi thông báo.

“Ra vậy.”

Cô ấy đưa tay ra sau lưng và giơ lên một chai chất chống đông. “Ngọt lắm, anh biết không. Bố đã dặn em để nó thật xa chú chó của gia đình, hồi em còn nhỏ.”

Trong một lúc, tôi chỉ biết trơ mắt nhìn vợ. “Em đã đầu độc Frida sao?”

Brit nhìn vào mắt tôi với sự lạnh lùng sắt đá đến độ trong một khoảnh khắc, tôi chỉ thấy Francis trong cô ấy. “Em không ngủ được chút nào,” vợ tôi nói. “Hoặc là con chó chết tiệt đó, hoặc là con của chúng ta.”

Kennedy McQuarrie hẳn là kiểu người sẽ uống latte bí đỏ. Tôi cá là cô ta bầu cho Obama, móc bóp ra quyên góp sau khi xem mấy cái quảng cáo về lũ chó đáng thương và tin rằng thế giới sẽ là một nơi sáng sủa tốt đẹp hơn nếu chúng ta sống chung hòa thuận.

Cô ta chính là kiểu vị tha chủ nghĩa tự do mà tôi không tài nào chịu nổi.

Tôi giữ suy nghĩ này trong đầu khi nữ luật sư bước về phía tôi. “Anh đã nghe bác sĩ Atkins làm chứng rằng con trai anh mắc một chứng bệnh gọi là thiếu hụt MCAD, phải không?”

“Ừm,” tôi đáp. “Tôi nghe cô ấy nói rằng thằng bé xét nghiệm dương tính với bệnh đó.”

Công tố viên đã hướng dẫn tôi nói thế.

“Anh Bauer, anh có hiểu rằng một đứa bé bị thiếu hụt MCAD không phát hiện mà bị hạ đường huyết có thể bị suy hô hấp?”

“Có.”

“Và anh có hiểu một đứa bé bị suy hô hấp có thể bị suy tim?”

“Có.”

“Và đứa bé đó có thể không qua khỏi?”

Tôi gật đầu. “Tôi hiểu.”

“Vậy, anh Bauer, anh có hiểu rằng trong tình huống như vậy, dù cho y tá có làm đủ mọi cách để cứu đứa bé thì cũng chẳng thể tạo nên khác biệt? Và đứa bé vẫn có thể tử vong?”

“Có thể,” tôi lặp lại.

“Anh có nhận ra rằng trong kịch bản đó, nếu con anh là đứa bé đó thì chính mẹ Teresa cũng không thể cứu bé?”

Tôi khoanh tay lại. “Nhưng đó đâu phải con tôi.”

Cô ta nghiêng đầu. “Anh đã nghe lời chứng chuyên môn từ bác sĩ Atkins và sau đó được bác sĩ Binnie xác nhận. Con trai anh quả thực có bị thiếu hụt MCAD, anh Bauer, chẳng phải vậy sao?”

“Tôi không biết.” Tôi hất đầu về phía Ruth Jefferson. “Cô ta đã giết thằng bé trước khi nó có thể làm thêm xét nghiệm.”

“Anh thật sự, thật sự tin vào điều đó sao?” cô ta hỏi. “Dù bằng chứng khoa học đã bày ra trước mắt anh như thế?”

“Tôi tin đấy,” tôi nghiến răng.

Mắt cô ả lóe lên. “Anh tin,” cô ta lặp lại, “hay là buộc phải tin vậy?”

“Cái gì?”

“Anh tin có Chúa, phải không anh Bauer?”

“Phải.”

“Và anh tin chuyện gì xảy ra cũng có lý do của nó?”

“Phải.”

“Anh Bauer, tên Twitter của anh là @WhiteMight phải không?”

“Đúng vậy,” tôi đáp, nhưng không hiểu nó có liên quan gì tới mấy câu hỏi của cô ta. Chúng như một luồng gió cứ lên tục đổi hướng vậy.

Cô ta đưa một hình chụp màn hình máy tính ra làm bằng chứng. “Đây có phải là bài đăng từ tài khoản Twitter của anh hồi tháng Bảy trước?” Tôi gật đầu. “Phiền anh đọc to nó được không?”

“Tất cả chúng ta đều đáng nhận cái xảy đến với mình,” tôi đọc.

“Vậy tôi đoán con anh đáng nhận cái đã xảy đến với bé, đúng không?”

Tay tôi nắm chặt lan can bục nhân chứng. “Cô nói gì?” Giọng tôi thấp xuống, nóng hổi.

“Tôi nói con anh hẳn đã nhận được cái bé đáng nhận,” cô ta lặp lại.

“Con trai tôi vô tội. Một chiến binh Aryan.”

Cô ta lờ đi câu trả lời của tôi. “Nghĩ lại thì, hẳn là anh cũng đã nhận được cái mình đáng nhận,...”

“Cô im đi.”

“Thế nên anh mới đổ tội cho một người phụ nữ vô can, bắt cô ấy chịu trách nhiệm cho một cái chết ngẫu nhiên hoàn toàn, không phải vậy à? Bởi nếu anh tin vào sự thật - rằng con anh mắc một chứng bệnh di truyền...”

Tôi đứng phắt dậy, nổi giận phừng phừng. “Câm mồm...”

Công tố viên hét lên, và con luật sư khốn kiếp này cũng hét lên át tiếng cô ấy. “Anh không thể chấp nhận sự thật rằng cái chết của con mình là hoàn toàn vô nghĩa và chỉ là xui rủi. Anh phải đổ tội cho Ruth Jefferson vì không thì kẻ có tội chính là anh, bởi anh và vợ đã tạo ra một đứa trẻ Aryan với DNA khiếm khuyết. Không đúng sao hả, anh Bauer?”

Ngoài khóe mắt, tôi thấy Odette Lawton đang đi về phía ông thẩm phán. Nhưng tôi đã bật dậy khỏi chỗ ngồi, chồm qua rào chắn bục nhân chứng. Con quái vật đang thiếp ngủ trong tôi đã đột ngột choàng dậy và thở ra lửa rồi. “Con khốn kiếp,” tôi gào lên, muốn chộp lấy cổ họng Kennedy McQuarrie. Tôi sắp nhào qua rào chắn bục nhân chứng thì một thằng chấp hành tòa án ngu ngốc giữ tôi lại. “Mày là kẻ phản bội giống nòi!”

Như từ nơi nào xa xôi lắm, tôi nghe thẩm phán gõ búa, ra lệnh đưa nhân chứng khỏi phòng. Tôi nghe chính mình bị lôi đi, giày kéo lê trên sàn tòa án. Tôi nghe Brit gọi tên tôi, tiếng kêu xung trận của Francis, và tiếng vỗ tay như sấm dậy của các thành viên LONEWOLF. org.

Sau đó, tôi không nhớ được gì nhiều nữa. Tôi chớp mắt và bỗng dưng đã không còn trong phòng xử án nữa rồi. Tôi đang ở trong một buồng giam đâu đó, với tường xi măng, một cái giường và một toilet.

Thời gian chờ đợi dường như vô tận, nhưng chỉ nửa giờ sau là Odette Lawton xuất hiện rồi. Khi cảnh sát mở cửa buồng và cô ta đứng đó, suýt nữa tôi đã phá ra cười lớn. Người cứu tôi là một phụ nữ da đen. Ai mà ngờ được chứ.

“Việc đó,” cô ta nói, “còn hơn cả ngu ngốc nữa. Đã nhiều lần tôi muốn giết một luật sư biện hộ nhưng chưa thật sự làm thử bao giờ.”

“Tôi thậm chí còn chưa động tới cô ta,” tôi cau mặt.

“Bồi thẩm đoàn đâu có quan tâm. Tôi phải nói với anh điều này, anh Bauer, cơn bột phát của anh trong đó đã hủy hết toàn bộ lợi thế của bên công tố trong vụ kiện này. Tôi chẳng thể làm gì nữa.”

“Ý cô là sao?”

Cô ta nhìn tôi. “Phần của bên công tố đã xong. Bên công tố nghỉ.”

Nhưng tôi thì không. Không bao giờ.


Nguồn: NXB: TRẺ - epub©vctvegroup
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 1 tháng 6 năm 2023

« Lùi
Tiến »