Những Điều Nhỏ Bé Vĩ Đại

Lượt đọc: 2611 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Ruth

Tôi đang đứng máy tính tiền, sắp làm đến hết ca thì đau chân lẫn nhức hết cả lưng. Mặc dù tôi đã nhận thêm nhiều ca hết mức có thể, đó vẫn là một Giáng sinh ảm đạm nghèo nàn, và hầu hết thời gian Edison ở trong tâm trạng ủ ê và cáu kỉnh. Thằng bé trở lại trường đã được một tuần, nhưng trong nó đã có một thay đổi lớn - nó gần như không nói chuyện với tôi, chỉ ậm ừ đáp lại những câu hỏi, cứ ngấp nghé bên bờ vực vô lễ cho đến khi tôi mắng nó; thằng bé cũng thôi không ngồi bàn bếp làm bài mà rúc vào phòng mở nhạc đùng đùng, nhạc của Drake và một gã nào tên Kendrick Lamar nữa; điện thoại nó cứ rung báo tin nhắn suốt và khi tôi hỏi ai cần nó dữ vậy thì con trai tôi trả lời là má chẳng biết đâu. Tôi chưa nhận được thêm cuộc gọi nào từ hiệu trưởng, hay email thông báo con lơ là bài vở từ giáo viên thằng bé, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi không trông chờ chúng tới.

Và rồi lúc chúng tới thật thì tôi sẽ làm gì? Làm sao tôi có thể khuyến khích con trai tôi sống tốt hơn mức hầu hết mọi người trông đợi ở nó? Làm sao tôi có thể nói, một cách nghiêm túc, rằng con có thể là bất kỳ thứ gì con muốn trong thế giới này - trong khi chính tôi đã vất vả học tập, đạt thành tích xuất sắc để rồi vẫn phải ra tòa vì một việc mình không hề làm? Mấy ngày này, mỗi lần Edison và tôi đề cập đến chuyện đó là tôi lại thấy mắt con mình rực lên lời thách thức: Con thách mẹ đấy. Con đố mẹ dám nói mẹ vẫn còn tin vào lời dối trá kia.

Giờ học đã kết thúc; tôi biết thế vì lượng khách trẻ tràn vào tòa nhà đông như lễ hội, lấp đầy không gian với những sợi ruy băng tươi sáng của tiếng cười đùa. Không thể tránh khỏi chuyện bọn trẻ biết người chạy bàn và gọi họ, nài xin phần gà viên miễn phí hay món sundae. Thông thường chúng không làm phiền tôi; tôi thích bận rộn hơn là chậm chạp. Thế nhưng hôm nay, một cô bé tiến lại chỗ tôi, đuôi tóc óng vàng đung đưa, tay cầm điện thoại trong khi đám bạn xung quanh túm tụm lại để cùng đọc tin nhắn với cô bé. “Chào mừng tới McDonald’s,” tôi lên tiếng. “Tôi có thể giúp gì cho quý khách?”

Có một hàng người đang chờ phía sau, thế mà cô nhỏ lại nhìn sang đám bạn. “Tớ nên nói gì với cậu ấy bây giờ?”

“Nói cậu không thể nói chuyện lúc này vì phải gặp một người,” một đứa con gái trong đám gợi ý.

Đứa khác lắc đầu. “Không, đừng viết gì hết. Để cậu ta chờ đi.”

Khách hàng phía sau bắt đầu thấy bực. “Xin thứ lỗi,” tôi thử lại lần nữa, dán một nụ cười lên mặt. “Quý khách có sẵn sàng gọi món chưa?”

Đứa con gái ngẩng đầu lên. Cô bé có đôi gò má đánh phấn hồng lấp lánh kim tuyến; nó khiến cô bé có vẻ trẻ con kinh khủng, và tôi không chắc đó là ấn tượng mà vị khách của tôi muốn tạo ra. “Ở đây có hành rán không?”

“Không, đó là Burger King. Thực đơn của chúng tôi ở trên kia.” Tôi chỉ lên phía trên đầu. “Nếu chưa sẵn sàng, quý khách có thể tránh sang bên?”

Vị khách nhìn hai người bạn, và chân mày cô bé nhướng lên tới tận chân tóc như thể tôi đã nói gì xúc phạm lắm. “Đừng lo, má à, chỉ hỏi vậy thôi...”

Tôi sững lại. Cô bé này không phải người da đen. Cô bé không thể nào khác người da đen hơn được nữa. Vậy sao cô bé lại nói với tôi kiểu đó?

Bạn cô bé chen lên phía trước và gọi một phần khoai chiên lớn; đứa bạn còn lại gọi Coca ăn kiêng và gà cuộn tortilla. Vị khách này thì gọi một Phần ăn Hạnh phúc, và tôi giận dữ cho hết các món vào hộp, hiểu được sự mỉa mai.

Ba khách hàng sau, tôi vẫn còn dõi theo cô bé qua khóe mắt trong lúc cô nhỏ này ăn bánh kẹp pho mát.

Tôi quay sang người chạy bàn đang đứng làm việc ở chỗ máy tính tiền với tôi. “Tôi sẽ trở lại ngay.”

Tôi bước tới khu vực ăn uống nơi cô bé này đang tám với mấy đứa bạn. “... Thế là tớ nói thẳng vào mặt cô ả, Ai đốt cái tampon của mày mà nhảy dựng lên vậy…

“Xin thứ lỗi,” tôi cắt ngang. “Tôi không thích cách cô nói chuyện với tôi ở quầy.”

Gò má cô bé đỏ bừng lên. “Ồ, được thôi. Xin lỗi,” cô bé nói nhưng môi giật giật.

Rồi đột nhiên người quản lý tiến lại đứng cạnh bên tôi. Jeff từng là quản lý trung cấp ở một nhà máy sản xuất ổ bi rồi bị cắt giảm nhân sự khi nền kinh tế suy thoái, ông điều hành một nhà hàng như thể chúng tôi đang phân phát bí mật quốc gia chứ không phải khoai chiên. “Ruth? Có vấn đề gì à?”

quá nhiều vấn đề. Từ việc tôi không phải của cô bé này tới việc một giờ sau, cô nhỏ sẽ chẳng nhớ gì cuộc nói chuyện này nữa. Thế nhưng nếu chọn đúng giờ phút này để đứng lên bảo vệ mình, tôi sẽ phải trả giá. “Không có gì,” tôi trả lời Jeff và trong im lặng, tôi trở về với chiếc máy tính tiền của mình.

Ngày của tôi chỉ đi từ tệ tới tệ hơn khi tôi rời chỗ làm và thấy sáu cuộc gọi nhỡ từ Kennedy. Tôi lập tức gọi lại. “Tôi tưởng cô đã đồng ý rằng làm việc với Wallace Mercy là một ý tưởng tồi tệ,” cô ấy xổ luôn, thậm chí không buồn nói lời chào.

“Cái gì? Thì tôi đã đồng ý rồi mà. Tôi vẫn đồng ý đây.”

“Vậy ra cô không hề biết chuyện ông ta tổ chức diễu hành ủng hộ cô ở trước tòa án?”

Tôi đứng khựng lại, để dòng người xung quanh lách tránh tôi. “Cô giỡn tôi đó hả? Kennedy, tôi không có nói chuyện với Wallace.”

“Chị cô sóng vai cùng ông ta đấy.”

Ra thế, bí ẩn đã được giải đáp. “Chị Adisa thường thích gì là làm nấy.”

“Cô không kiểm soát được chị ta à?”

“Tôi đã cố suốt 44 năm nay mà có được đâu.”

“Cố hơn đi,” Kennedy bảo tôi.

Và đó là lý do tôi bắt xe buýt tới căn hộ của chị, thay vì đi thẳng về nhà. Lúc Donté mở cửa cho tôi vào, chị Adisa đang ngồi trên ghế sofa chơi Candy Crush trên điện thoại, mặc dù đã gần tới giờ cơm tối. “Ồ, xem con mèo tha về cái gì kìa,” chị cất lời. “Em đã ở đâu vậy hả?”

“Mấy tuần qua điên quá. Giữa công việc, xem lại bằng chứng cho phiên xử án, em chẳng có phút rảnh rỗi nào.”

“Chị mới ghé qua hôm kia. Edison không nói em sao?”

Tôi đá chân chị xuống để tôi có chỗ ngồi lên ghế. “Chị tới để báo em rằng người bạn thân mới nhất của chị là Wallace Mercy hả?”

Mắt Adisa sáng lên. “Em thấy tin tức hôm nay rồi à? Hình chụp chỉ có cùi chỏ và tới chỗ này trên cổ chị, nhưng em có thể nhận ra từ cái áo khoác. Chị đã mặc cái có cổ da báo...”

“Em muốn chị ngừng lại,” tôi nói. “Em không cần Wallace Mercy.”

“Con luật sư da trắng của em bảo em vậy à?”

“Chị Adisa,” tôi thở dài. “Em không bao giờ muốn bị ai đó đem ra làm biểu tượng.”

“Em còn không cho cha Mercy một cơ hội. Em biết có bao nhiêu người trong chúng ta đã gặp chuyện giống em không? Đã bao nhiêu lần người ta nói không với họ vì màu da họ? Vấn đề lớn hơn là chuyện của riêng em, và nếu chuyện đã xảy đến với em có thể mang tới một kết quả gì tốt đẹp, tại sao lại không để nó đến chứ?” chị Adisa ngồi dậy. “Tất cả những gì ông ấy muốn chỉ là cơ hội được ngồi lại với chúng ta, Ruth à. Trên truyền hình quốc gia.”

Tiếng chuông báo động gióng inh ỏi đầu tôi. “Chúng ta,” tôi lặp lại.

Adisa tránh mắt đi chỗ khác, “Ừ thì,” chị thú nhận. “Chị đã ngụ ý rằng mình có thể làm em đổi ý.”

“Vậy ra chị làm thế này không phải để giúp em. Chị chỉ muốn được người ta biết tới. Chúa ơi, Adisa. Đây là đỉnh điểm mới của sự thấp hèn đấy, ngay cả là đối với chị.”

“Đó là ý gì hả?” Chị tôi đứng dậy và nhìn tôi trừng trừng, tay chống nạnh. “Em thật sự nghĩ chị sẽ lợi dụng em gái của mình như vậy sao?”

Tôi thách thức chị. “Chị thật sự sẽ đứng đó với mình mẩy ướt nhẹp và nói rằng trời không mưa hả?”

Trước khi chị tôi kịp trả lời thi có tiếng rầm do cánh cửa bật ra đập vào tường. Tabari nghênh ngang bước ra từ phòng ngủ với một người bạn. “Mày đã cướp một thằng lái xe tải vì cái nón đó hả?” thằng bé phá lên cười. Hai thằng cao hứng, ồn ào, quần xệ đến nỗi tôi không biết chúng còn bận tâm mặc quần làm gì nữa. Tất cả những gì tôi nghĩ là tôi sẽ không bao giờ để Edison ra ngoài với bộ dạng như thế, kiểu như nó sắp dọa người.

Thế rồi đứa bạn của Tabari quay sang và tôi nhận ra đó là con trai tôi.

“Edison?”

“Chẳng phải thật tốt sao,” chị Adisa nói, mỉm cười. “Khi mấy anh em họ thân thiết với nhau?”

“Mẹ làm gì ở đây vậy?” Edison hỏi bằng một giọng khiến tôi hiểu đây không phải một bất ngờ thú vị.

“Con không có bài tập phải làm à?”

“Làm rồi.”

“Đơn ứng tuyển vào đại học?”

Thằng bé nhìn tôi, mi mắt hơi sụp xuống. “Tuần nữa mới nộp lận.”

Lận[55]?

“Có chuyện gì sao ạ?” thằng bé hỏi. “Lúc nào mẹ cũng dạy con rằng gia đình quan trọng lắm mà.” Thằng bé nói từ đó như thể đó là tiếng chửi.

“Chính xác thì con và Tabari định đi đâu đấy?”

Tabari ngẩng lên. “Xem phim, dì à,” thằng bé đáp.

“Xem phim.” Làm quái gì có chuyện đó, tôi nghĩ. “Hai đứa định xem phim gì?”

Thằng nhỏ với Edison nhìn nhau rồi phá lên cười. “Chúng con sẽ chọn khi tới đó,” Tabari nói.

Chị Adisa bước lên, tay khoanh lại. “Em có vấn đề gì với chuyện đó hả, Ruth?”

“Có. Em có đấy,” tôi bùng nổ. “Bởi vì em nghĩ khả năng là con trai chị sẽ đưa Edison tới sân bóng rổ hút cỏ thay vì đi xem ứng viên tiếp theo của giải Oscar.”

Chị tôi há hốc. “Em đang đánh giá gia đình chị,” chị rít lên, “trong khi em phải ra tòa vì tội giết người?”

Tôi chụp lấy tay Edison. “Con đi với mẹ,” tôi thông báo rồi quay sang Adisa. “Chị tham gia phỏng vấn với Wallace Mercy vui vẻ nhé. Nhớ nói với ông ta, và với công chúng yêu thương, rằng chị và em chị không còn nói chuyện với nhau nữa.”

Với câu cuối cùng đó, tôi kéo con trai ra khỏi nhà chị. Tôi giật cái nón khỏi đầu thằng bé khi chúng tôi xuống tầng dưới và bảo nó kéo quần lên. Mẹ con tôi đi được nửa đường tới trạm xe buýt thì thằng bé mở miệng. “Con xin lỗi,” Edison nói.

“Con nên thế,” tôi đáp lại, gắt lên với thằng bé. “Con mất trí rồi hả? Mẹ có nuôi dạy con để thành người như vầy không.”

“Tabari không tệ như mấy đứa bạn của anh ấy.”

Tôi bắt đầu bước đi, và không nhìn lại. “Tabari không phải con của mẹ,” tôi nói.

Khi có thai Edison, tất cả những gì tôi biết là tôi không muốn trải nghiệm sinh con của mình giống trải nghiệm của Adisa - chị nói bản thân thậm chí không nhận ra đã có bầu sáu tháng với đứa đầu tiên, và hạ sinh đứa sau trên tàu điện ngầm. Còn tôi, tôi muốn sự chăm sóc tốt nhất mà tôi có thể nhận được; bác sĩ tốt nhất. Vì Wesley đang làm nhiệm vụ, tôi tranh thủ má làm người trợ sinh. Tới thời điểm, chúng tôi đón taxi đến Mercy West Haven vì má không biết lái xe còn tôi đang ở trong tình trạng không thể lái. Tôi đã có kế hoạch sinh thường từ trước, bởi vì là một y tá hộ sinh, tôi đã viết đi viết lại khoảnh khắc này trong trí đến ngàn lần, nhưng cũng như tất cả những kế hoạch chu đáo khác, cái này cũng đi đời. Lúc tôi được đẩy vào phòng mổ, má đang hát khúc thánh ca rửa tội, và khi tôi tỉnh dậy sau ca mổ, má đang ôm con trai tôi.

“Ruth,” má nói với tôi, ánh mắt chan chứa tự hào đến nỗi nó rực lên màu sắc tôi chưa từng thấy. “Ruth, nhìn xem Chúa đã cho con cái gì này.”

Má đưa đứa nhỏ cho tôi, và đột nhiên, tôi nhận ra mặc dù đã lên kế hoạch cho lần sinh con đầu tiên tới từng phút một, tôi vẫn chưa giây nào tính đến chuyện sẽ xảy ra tiếp theo. Tôi không biết cách làm một người mẹ. Con trai tôi gồng mình cứng ngắc trong tay tôi, và rồi thằng bé há miệng ra òa khóc, như thể thế giới này là một sự sỉ nhục đối với nó.

Hoảng hốt, tôi nhìn lên má. Tôi là một học sinh toàn được điểm A; tôi là người luôn nỗ lực quá mức kỳ vọng và luôn đạt kết quả tốt quá mức kỳ vọng. Tôi chưa bao giờ nghĩ việc này - mối quan hệ tự nhiên nhất trong tất cả các mối quan hệ - lại khiến tôi cảm thấy mình sao mà kém cỏi. Tôi đung đưa đứa bé trên tay, nhưng việc đó chỉ khiến thằng nhỏ khóc lớn hơn. Đôi chân bé nhỏ đạp đạp như thể nó đang đi trên một chiếc xe đạp tưởng tượng; đôi tay vung vẩy, những ngón tay bé xíu nắm lại cứng ngắc. Tiếng gào khóc của nó càng lúc càng gắt hơn, một cơn giận dữ lúc cao lúc thấp bị ngắt quãng bởi những tiếng nấc. Má nó đỏ ửng vì gắng sức, như thể thằng bé đang cố nói với tôi điều gì mà tôi không được trang bị để hiểu.

“Má?” tôi kêu cứu. “Con phải làm gì đây?”

Tôi giơ tay ra cho má, hy vọng bà sẽ đón lấy đứa nhỏ và xoa dịu nó. Thế nhưng bà chỉ lắc đầu. “Con nói cho thằng bé biết con là gì của nó,” bà hướng dẫn rồi lùi lại, chừng như để nhắc tôi đây là chuyện tôi phải tự mình làm.

Thế là tôi cúi mặt xuống gần gương mặt con. Tôi áp thằng bé vào sát dưới tim tôi, chỗ nó đã ở trong nhiều tháng. “Tên con là Edison Wesley Jefferson,” tôi thì thầm. “Mẹ là mẹ con, và mẹ sẽ cho con cuộc sống tốt đẹp nhất bằng tất cả khả năng của mẹ.”

Edison chớp mắt. Nó nhìn tôi qua cặp mắt đen thẫm, như thể tôi là một bóng đen nó phải phân biệt với phần còn lại của thế giới mới mẻ, xa lạ này. Tiếng khóc của nó bật lên hai lần nữa, như một đoàn tàu rời ga, rồi tắt ngúm.

Tôi có thể cho bạn biết chính xác giây phút con tôi thả lỏng vào thế giới mới mẻ xung quanh. Tôi biết vì đó cũng là khoảnh khắc tôi thả lỏng.

“Thấy không,” má thốt lên, từ chỗ nào đó sau lưng tôi, chỗ nào đó nằm ngoài quả cầu bao bọc mẹ con tôi. “Má đã bảo mà.”

Cứ hai tuần một lần, Kennedy và tôi gặp nhau, ngay cả khi chẳng có tin gì mới. Thỉnh thoảng cô ấy nhắn tin cho tôi, hoặc ghé qua McDonald’s để nói lời chào. Trong một chuyến thăm như thế, cô mời tôi và Edison tới nhà ăn cơm tối.

Trước khi tới nhà Kennedy, tôi thay đồ đến ba lần. Cuối cùng, Edison gõ lên cánh cửa phòng tắm. “Chúng ta tới nhà luật sư của mẹ,” thằng bé hỏi, “hay đi gặp nữ hoàng?”

Thằng bé nói đúng. Tôi không biết sao mình lại lo sợ nữa. Có điều việc này cứ như bước qua một lằn ranh vậy. Để cô ấy tới đây rà soát thông tin về vụ kiện của tôi là một chuyện, nhưng lời mời này thì không dính dáng gì tới công việc hết. Lời mời này giống như... một lời mời giao tế hơn.

Edison mặc một chiếc áo sơ mi cài nút với quần kaki, thằng bé đã được dặn dò phải cư xử như quý ông, không thì về nhà nó sẽ chết dưới tay tôi. Khi chúng tôi bấm chuông, người chồng - Micah, đó là tên anh ta - ra mở cửa, với một bé gái cắp dưới nách như một con búp bê vải. “Chắc cô là Ruth,” anh lên tiếng, đón lấy bó hoa tôi đưa và bắt tay tôi nồng nhiệt, rồi chuyển sang bắt tay Edison. Anh ta quay đi, rồi quay về phía ngược lại. “Con gái Violet của tôi đang ở đâu đó gần đây thôi... tôi mới thấy con bé mà... tôi chắc là nó muốn chào cô lắm.” Trong khi anh vặn người hết bên nọ tới bên kia, bé gái cũng lắc qua lắc lại, mái tóc tung bay, tiếng cười nắc nẻ rơi dưới chân tôi như bong bóng.

Cô bé trượt ra khỏi vòng tay bố và tôi quỳ xuống. Violet McQuarrie trông giống như một phiên bản thu nhỏ của người mẹ, chỉ khác là cô bé đang diện bộ váy công chúa Tiana. Tôi chìa ra một chiếc lọ đựng đầy đèn trắng nhỏ, và bật công tắc để nó sáng lên. “Đây là quà cho con,” tôi bảo cô bé. “Nó là một chiếc lọ tiên.”

Mắt bé gái mở to. “Ôi chao,” Violet hít một hơi, cầm lấy cái lọ rồi chạy mất.

Tôi đứng dậy. “Nó cũng là một cái đèn ngủ tuyệt vời,” tôi nói với Micah trong lúc Kennedy bước ra từ nhà bếp, mặc quần jean, áo len dài tay và đeo tạp dề.

“Cô đã tới rồi!” cô ấy reo lên, tươi cười. Cằm luật sư của tôi có dính nước xốt mì Ý.

“Phải,” tôi đáp. “Tôi lái xe ngang qua nhà cô phải đến hàng trăm lần rồi đấy chứ. Tôi chỉ không biết là cô sống ở đây.”

Và đến nay vẫn sẽ không biết, nếu tôi không bị cáo buộc giết người. Tôi biết cô ấy cũng đang nghĩ vậy, nhưng Micah đã vớt vát tình hình. “Nước uống? Tôi có lấy cho cô cái gì không Ruth? Chúng tôi có rượu vang, bia, gin và tonic...”

“Rượu vang là được.”

Chúng tôi ngồi xuống trong phòng khách. Ở đó đã có sẵn một dĩa phô mai trên bàn cà phê. “Trông kìa,” Edison thì thầm với tôi. “Một cái giỏ đầy bánh quy mặn.”

Tôi bắn cho thằng bé một cái nhìn có thể khiến chim đang bay trên trời rớt xuống.

“Hai vợ chồng cô thật tử tế khi mời chúng tôi đến nhà,” tôi lịch sự nói.

“Nào, khoan cảm ơn tôi đã,” Kennedy đáp lại. “Bữa tối với một đứa nhóc bốn tuổi không phải là trải nghiệm ăn tối sang chảnh chuẩn nhà hàng đâu.” Cô mỉm cười với Violet, cô bé đang ngồi ở đầu kia bàn cà phê tô màu. “Khỏi phải nói, mấy ngày này chúng tôi không ra ngoài chơi nhiều nữa.”

“Tôi vẫn nhớ hồi Edison ở vào tuổi đó. Tôi khá chắc là cả năm liền tối nào chúng tôi cũng ăn mì ống với phô mai.”

Micah ngồi vắt chân. “Edison, vợ chú kể rằng cháu học rất giỏi.”

Phải. Bởi vì tôi đã “quên” không kể Kennedy rằng thằng bé vừa mới bị đình chỉ gần đây.

“Cảm ơn chú,” Edison trả lời. “Cháu đang đăng ký vào đại học.”

“Ồ, vậy à? Tuyệt quá. Cháu muốn học ngành gì?”

“Lịch sử, có lẽ. Hoặc chính trị.”

Micah gật đầu, tỏ ra hứng thú. “Cháu hâm mộ Obama phải không?”

Tại sao người da trắng cứ nghĩ như vậy thế?

“Lúc ông ấy ra tranh cử thì cháu còn hơi nhỏ,” Edison đáp. “Nhưng cháu đã cùng mẹ đi ủng hộ chiến dịch của Hillary, khi bà ấy ra làm đối thủ của Obama. Cháu đoán vì bố mình, cháu khá nhạy cảm với vấn đề quân sự, và lúc đó quan điểm của Hillary về cuộc chiến tranh Iraq có vẻ hợp lý hơn; bà công khai ủng hộ việc xâm nhập còn Obama phản đối từ đầu.”

Lòng tôi tràn ngập sự tự hào. “Chà,” Micah thốt lên, bị ấn tượng. “Chú mong có ngày thấy tên cháu trên phiếu bầu cử.”

Violet, rõ là đã chán cuộc hội thoại, bèn bước qua chân tôi để tới đưa Edison một cây bút sáp màu. “Muốn tô màu không?” cô bé hỏi.

“Ừm, ừ, được thôi,” Edison đáp. Thằng bé quỳ xuống, sóng vai với cô con gái nhà Kennedy, để với tới cuốn sách tô màu. Cu cậu bắt đầu biến bộ váy của Lọ Lem thành màu xanh lục.

“Không,” Violet cắt ngang, một nữ hoàng chuyên quyền tí hon. “Cái đó phải màu xanh biển chứ.” Cô bé chỉ bộ váy của Lọ Lem trong cuốn sách tô màu, một nửa bị bàn tay to lớn của Edison che mất.

“Violet,” Kennedy nhắc, “chúng ta phải để cho khách của mình có sự lựa chọn của họ, con nhớ không?”

“Dạ không sao đâu, cô McQuarrie. Cháu cũng không muốn phá hỏng hình tượng Lọ Lem đâu ạ,” Edison đáp.

Violet tự hào đưa cho thằng bé cây bút sáp đúng màu, xanh lam. Edison cúi đầu xuống và bắt đầu tiếp tục tô tô vẽ vẽ.

“Tuần sau cô bắt đầu quá trình chọn bồi thẩm đoàn à?” tôi hỏi. “Tôi có phải lo về chuyện đó không?”

“Không, dĩ nhiên là không rồi. Chỉ là...”

“Anh Edison?” Violet hỏi. “Đó là sợi xích hả?”

Thằng bé đưa tay lên sợi dây chuyền hay đeo gần đây, kể từ khi bắt đầu chơi với thằng anh họ. “Ừ, chắc thế.”

“Vậy thì anh là nô lệ,” con bé nói tỉnh bơ, kiểu đó-là-sự-thật.

“Violet!” Micah và Kennedy đồng thanh gắt lên tên con bé.

“Ôi Chúa ơi, Edison. Ruth. Tôi xin lỗi,” Kennedy hoảng hốt bào chữa. “Tôi không biết con bé nghe cái đó từ đâu nữa...”

“Ở trường ạ,” Violet thông báo. “Josiah bảo Taisha rằng người trông giống bạn ấy từng phải đeo dây xích và trong quá khứ họ từng là nô lê.”

“Chúng ta sẽ nói chuyện này sau,” Micah bảo. “Được không, Vi? Đây không phải là chuyện để nói lúc này.”

“Không sao,” tôi lên tiếng, mặc dù có thể cảm nhận không khí căng thẳng trong phòng, như thể có người đã lấy hết oxy. “Cháu có biết nô lệ là gì không?”

Violet lắc đầu.

“Đó là khi ta thuộc về sở hữu của người khác.”

Tôi nhìn trong lúc cô bé suy nghĩ về lời giải thích đó. “Giống như thú cưng ấy ạ?”

Kennedy đặt tay cô ấy lên cánh tay tôi. “Cô không phải làm chuyện này đâu Ruth,” nữ luật sư khẽ nói.

“Cô không nghĩ đã có lúc tôi phải làm thế này rồi à?” Tôi lại nhìn sang con gái cô ấy. “Cũng tương tự thú cũng, nhưng có khác một chút. Trước đây lâu lắm rồi, người trông giống cháu và bố mẹ cháu đã tìm ra một nơi trên thế giới có những người trông giống cô, Edison và Taisha. Khi đó bọn cô đang sống rất tốt - xây nhà, nấu ăn, biến không thành có - và họ cũng muốn có cái đó ở đất nước họ. Thế là họ bắt những người trông giống cô về theo họ mà không hỏi ý kiến bọn cô. Bọn cô không có lựa chọn nào khác. Vậy, nô lệ là một người không được lựa chọn bản thân làm gì, hoặc người khác làm gì với họ.”

Violet đặt cây bút màu trong tay xuống. Mặt cô bé nhăn lại, ra chiều suy nghĩ.

“Bọn cô không phải là những người nô lệ đầu tiên,” tôi bảo cô bé. “Trong một cuốn sách cô thích, gọi là Kinh thánh, có rất nhiều câu chuyện. Người Ai Cập biến người Do Thái thành nô lệ và bắt họ xây những ngôi đền trông giống những hình tam giác khổng lồ, được dựng nên từ gạch. Người Ai Cập có thể bắt người Do Thái làm nô lệ vì họ nắm trong tay quyền lực.”

Thế rồi, như tất cả những đứa bé bốn tuổi khác, Violet quay trở lại chỗ ngồi của nó bên cạnh con trai tôi. “Chúng ta tô màu Rapunzel đi,” cô bé thông báo - nhưng rồi khựng lại. “Ý là,” cô bé sửa lời mình, “anh có muốn tô màu Rapunzel không?”

“Có chứ,” Edison đáp.

Có lẽ tôi là người duy nhất nhận ra, nhưng trong lúc tôi giải thích cho Violet, thằng bé đã tháo sợi dây đeo trên cổ và đút vào túi.

“Cảm ơn cô,” Micah nói, hết sức chân thành. “Đó là một bài học hoàn hảo về lịch sử người da đen.”

“Vấn đề nô lệ không phải lịch sử người da đen,” tôi chỉ ra. “Đó là lịch sử của tất cả mọi người.”

Có tiếng thiết bị báo giờ reo lên, và Kennedy đứng bật dậy. Khi nữ luật sư đi vào bếp, tôi lẩm bẩm cái gì đó về việc muốn giúp cô ấy rồi đứng dậy đi theo. Vừa vào trong, cô quay lại, gò má đỏ bừng. “Tôi thật sự rất, rất xin lỗi về chuyện đó.”

“Đừng. Cô bé còn nhỏ. Cô bé chưa biết nói thế là không hay.”

“Ừm, cô đã giải thích rất tốt, tốt hơn tôi có thể nhiều.”

Tôi nhìn theo trong lúc Kennedy thò tay vào lò lấy ra một cái lasagne. “Cái lúc Edison đi học về và hỏi có phải chúng tôi từng là nô lệ, thằng bé cũng bằng tuổi Violet. Và điều cuối cùng tôi muốn là phải nói chuyện đó và khiến cho thằng bé cảm thấy như một nạn nhân.”

“Tuần trước Violet bảo tôi rằng nó ước mình cũng giống Taisha, bởi vì cô bé được đeo hạt cườm trên mái tóc.”

“Rồi cô đã nói thế nào?”

Kennedy ngập ngừng. “Tôi không biết. Chắc tôi đã làm hỏng cả. Tôi nói cái gì đó đại để như mọi người đều khác biệt và đó là điều khiến cho thế giới này thật tuyệt vời. Tôi thề, mỗi lần con bé hỏi tôi mấy vấn đề chủng tộc là tôi biến thành một cái quảng cáo Coca-Cola.”

Tôi bật cười. “Cũng không thể trách cô, chắc chắn là cô không nói về chuyện đó nhiều bằng tôi được. Có công mài sắt có ngày nên kim mà.”

“Nhưng cô biết không? Lúc tôi bằng tuổi con gái mình, tôi cũng có một Taisha trong lớp - chỉ khác mỗi cái tên cô bạn ấy là Lesley. Và Chúa ơi, tôi muốn là Lesley biết mấy. Tôi từng mơ thấy mình tỉnh dậy và có được làn da nâu bóng. Thật chứ không đùa đâu.”

Tôi nhướng mày giả bộ kinh hoàng. “Và từ bỏ tờ vé số trúng giải độc đắc của cô à? Không đời nào.”

Kennedy nhìn tôi, chúng tôi cùng phá lên cười, và trong khoảnh khắc đó, chúng tôi chỉ là hai người phụ nữ, đứng bên một đĩa lasagne, nói ra sự thật. Trong khoảnh khắc đó, với những khiếm khuyết và lời thú nhận kéo theo nhau như đuôi một chiếc váy, chúng tôi có nhiều điểm chung hơn khác biệt.

Tôi mỉm cười, Kennedy mỉm cười, và ít nhất trong khoảnh khắc đó, chúng tôi thật sự, thật sự nhìn thấy nhau. Đó là một khởi đầu.

Đột nhiên Edison xuất hiện trong nhà bếp, tay chìa ra điện thoại của tôi. “Có chuyện gì vậy?” tôi trêu con trai. “Đừng nói con bị đuổi việc vì dám biến Ariel thành một cô nàng tóc nâu đấy nhé?”

“Mẹ, là bà Mina,” thằng bé nói. “Con nghĩ mẹ nên nghe điện thoại.”

Dịp Giáng sinh năm mười tuổi, tôi được tặng một cô búp bê Barbie da đen. Tên nó là Christie và nó giống y hệt những con búp bê của chị Christina, chỉ màu da là khác, và Christina thì có cả một chiếc hộp giày đầy quần áo Barbie, một món đồ xa xỉ mà má tôi không mua nổi. Thay vào đó, má làm cho Christie một tủ quần áo từ vớ và khăn lau chén cũ. Má dán cho tôi cả một ngôi nhà mơ ước từ những chiếc hộp giày. Tôi hạnh phúc khôn tả, như thể đang ở trên mây. Món quà này còn tuyệt vời hơn bộ sưu tập của chị Christina nữa, tôi nói với má, bởi vì cả thế giới này chỉ mình con có nó. Chị Rachel, mười hai tuổi, chế giễu tôi. “Em thích gọi chúng là gì thì gọi,” chị bảo tôi. “Nhưng chúng chỉ là đồ nhái.”

Hầu hết bạn bè của chị Rachel đều ngang tuổi chị, nhưng họ cứ làm như đã mười sáu tuổi rồi. Tôi không chơi với họ thường xuyên lắm, vì họ đi học ở Harlem còn tôi bắt xe tới Dalton. Thế nhưng vào dịp cuối tuần, nếu có sang chơi, họ sẽ trêu tôi vì tóc tôi dợn sóng chứ không xoắn tít giống họ, và vì tôi có làn da sáng. “Cô em cứ tưởng mình ngon lắm,” họ nói, rồi cả lũ dúi mặt vào lưng nhau cười khúc khích như thể đó là câu kết một trò đùa bí mật. Khi má bắt chị Rachel trông tôi vào dịp cuối tuần và chúng tôi bắt xe buýt tới trung tâm, tôi sẽ ngồi phía trước trong khi tất cả bọn họ ngồi sau. Họ gọi tôi là Afrosaxon[56], thay vì tên thật. Họ hát theo những ca khúc tôi không biết. Khi tôi nói cho Rachel biết tôi không thích bạn chị chọc ghẹo tôi, chị bảo tôi đừng nhạy cảm quá sức như vậy. “Họ chỉ đùa chơi thôi,” chị nói. “Có lẽ nếu em bớt xù lông nhím, họ sẽ thích em hơn đấy.”

Một ngày nọ, tôi tình cờ đụng phải đám bạn của chị trên đường đi học về nhà. Chỉ khác là lần này Rachel không ở đó với họ. “Ồ, xem chúng ta có gì ở đây này,” cô cao nhất, Fantasee kêu lên. Cô ta kéo bím tóc chân rết của tôi, kiểu tóc đang thịnh với các bạn gái ở trường tôi khi đó. “Cô em nghĩ mình ngon lắm,” Fantasee chế giễu và ba người bọn họ vây tôi lại. “Gì hả? Cô em không thể tự mở miệng nói cho mình mà phải chờ chị làm thay sao?”

“Dừng lại đi,” tôi nói. “Để em yên. Làm ơn.”

“Tao nghĩ có đứa cần được người ta nhắc nhớ về nguồn cội của nó.” Họ túm ba lô tôi, kéo khóa ra, đổ hết tập vở vào những vũng nước trên mặt đất, đẩy tôi ngã vào bùn. Fantasee chụp cô búp bê Christie và bẻ hết tay chân nó. Đột nhiên, như một thiên thần báo thù, chị Rachel xuất hiện. Chị lôi Fantasee ra và tát vào mặt cô ta. Chị gạt chân một đứa khác và đấm túi bụi một đứa nữa. Khi cả đám đã bị đánh gục hết, chị đứng thẳng bên trên chúng với nắm đấm của chị. Bọn con gái đó bò ra xa, như mấy con cua trong rãnh, rồi lập cập đứng dậy chạy mất. Tôi quỳ xuống cạnh bên con búp bê Christie đã bị bẻ nát, và chị Rachel quỳ xuống bên tôi. “Em không sao chứ?”

“Dạ,” tôi đáp. “Nhưng chị... chị đã đánh bạn chị đau.”

“Chị có những đứa bạn khác,” Rachel trả lời. “Em là đứa em gái duy nhất của chị.” Chị kéo tôi đứng dậy. “Đi thôi, lau chùi cho em sạch sẽ cái nào.”

Chúng tôi thả bộ về nhà trong im lặng. Vừa thấy mớ tóc và cái quần rách của tôi là má lùa tôi vào phòng tắm ngay. Những khớp ngón tay của chị Rachel được bà chườm đá.

Má tôi cố dán Christie lại, nhưng cánh tay nó cứ bung ra và phía sau đầu nó có một chỗ lõm vào vĩnh viễn. Khuya hôm đó, chị Rachel bò vào giường tôi. Chị từng làm thế hồi chúng tôi còn nhỏ, vào những đêm trời bão sấm. Chị đưa tôi một chiếc ghế làm từ hộp thuốc lá rỗng, một hộp sữa chua và vài tờ báo. Những mẩu rác vụn mà chị đã dán hồ và quấn keo lại với nhau. “Chị nghĩ Christie có thể dùng đến thứ này,” chị nói.

Tôi gật đầu, lật đi lật lại chiếc ghế trong tay. Chắc hẳn nó sẽ gãy ngay khi Christie tựa người lên đó, nhưng điều đó không quan trọng. Tôi giở chăn lên và Rachel nhích sát lại bên tôi, áp lưng tôi vào lòng chị. Chúng tôi vượt qua đêm đó như vậy đấy, như thể chúng tôi là đôi song sinh người Xiêm[57], chia sẻ chung một trái tim giữa hai cơ thể.

Má tôi bị đột qụy lần đầu khi đang hút bụi. Cô Mina nghe tiếng bà ngã xuống, và thấy bà gục trên rìa tấm thảm Ba Tư, mặt úp vào nắm tua như thể đang xem xét nó. Cơn đột quỵ thứ hai đến khi bà đang trên xe cấp cứu chở đến bệnh viện. Khi chiếc xe và chúng tôi tới nơi thì bà đã mất. Tôi thấy cô Mina đang chờ chúng tôi, thổn thức và hoảng loạn. Edison ở lại với cô trong lúc tôi đi gặp má mình.

Một y tá tốt bụng đã để má nằm đó cho tôi. Tôi vào ngăn phòng nhỏ phủ rèm và ngồi xuống bên cạnh má. Tôi cầm tay má, vẫn còn hơi ấm. “Tại sao tối qua con không gọi má?” tôi lẩm bẩm. “Tại sao con không đi thăm má cuối tuần rồi?”

Tôi ngồi bên mép giường, rồi rúc mình vào dưới tay má trong một lúc, tai áp vào vùng ngực bất động của bà. Đây là cơ hội cuối cùng để tôi được làm con của má.

Đó là một việc lạ lùng, bỗng dưng thấy mình không còn mẹ nữa. Giống như bất chợt mất đi bánh lái đã giữ mình đi đúng hướng, mà hồi nào giờ tôi có để ý tới nhiều đâu. Giờ thì ai sẽ dạy tôi làm mẹ, dạy tôi đối mặt với cái lạnh lùng của người đời, dạy tôi sống khiêm nhường, ai đây?

Má đã dạy con rồi, tôi nhận ra điều đó.

Trong im lặng, tôi băng ngang phòng tới chỗ bồn rửa. Tôi đổ đầy nước xà phòng ấm vào một cái khay và đặt nó bên cạnh má tôi. Tôi kéo tấm khăn phủ trên người bà, sau khi sự can thiệp y tế đã thất bại. Đã lâu lắm rồi tôi không thấy má mình trần trụi, nhưng việc đó giống như nhìn vào một tấm gương đã biến dạng thành méo mó dưới tác dụng của thời gian. Rồi bộ ngực của tôi trông cũng sẽ thế này, bụng tôi nữa. Đây là vết rạn da khi mang thai mà bà nhìn vào đó để nhớ tôi. Đây là đường cong của sống lưng đã làm việc cật lực để bà có ích. Đây là những vết chân chim hiện ra khi bà cười.

Tôi bắt đầu tắm rửa cho má, cũng bằng cách tôi tắm một đứa trẻ sơ sinh. Tôi đưa khăn lau cánh tay và đôi chân má. Tôi chùi kẽ những móng chân bà. Tôi đỡ bà ngồi dậy, tựa bà vào ngực tôi. Bà nhẹ bỗng. Trong lúc nước chảy dọc xuống lưng bà, tôi tựa đầu vào má, cái ôm chỉ từ một phía. Bà đã đưa tôi đến với thế giới. Tôi sẽ giúp bà từ giã nó ra đi.

Khi đã xong, tôi ôm má trong tay, nhẹ nhàng đỡ bà nằm lên gối. Tôi kéo tấm phủ lên và ém nó dưới cằm bà. “Con yêu má lắm, má ơi,” tôi khẽ nói.

Tấm màn bị giật tung ra, và chị Adisa đứng đó. Trái với nỗi đau lặng lẽ của đứa em này, chị khóc òa lên, nức nở thật to. Chị lao vào ôm chầm lấy má, nắm chặt tấm khăn phủ lên hình hài bà.

Như bất cứ ngọn lửa nào, tôi biết rồi chị sẽ dịu lại. Thế là tôi chờ cho đến khi tiếng khóc của chị lắng thành tiếng nấc. Khi chị quay lại và thấy tôi đứng cạnh, tôi thật sự nghĩ rằng đó là lần đầu tiên chị nhận ra có tôi ở trong phòng.

Tôi không biết là chị dang tay ra cho tôi hay tôi giơ tay ra cho chị, thế nhưng chúng tôi đã ghì chặt nhau như đang bám lấy hy vọng sống cuối cùng. Lời nói của chúng tôi lẫn vào nhau - Cô Mina gọi em à? Gần đây má có cảm thấy mệt không? Khi nào là lần cuối cùng chị nói chuyện với má? Nỗi bàng hoàng và đau đớn như một vòng luẩn quẩn, chạy từ tôi sang chị và trở lại với tôi.

Chị Adisa ôm tôi thật chặt. Bím tóc của chị rối trong tay tôi. “Chị đã bảo Wallace Mercy đi tìm đối tượng phỏng vấn mới,” chị khẽ thì thầm.

Tôi lùi lại một lúc, đủ để ánh mắt chúng tôi giao nhau.

Chị Adisa nhún vai, như thể tôi vừa nêu ra một câu hỏi. “Em là đứa em gái duy nhất của chị,” chị nói.

Lễ tang của má tôi là cả một Sự kiện, đúng như cách bà muốn nó diễn ra. Nhà thờ lâu năm của má ở Harlem chật ních những giáo dân đã nhiều năm quen biết bà. Tôi ngồi ở hàng ghế đầu tiên bên cạnh Adisa, mắt hướng vào cây thập giá gỗ khổng lồ treo trên tường, giữa hai khung cửa kính màu lớn, với một đài phun bên dưới. Trên bệ thờ là áo quan của má tôi - chị em tôi đã chọn cái đẹp nhất mà tiền có thể mua được, vốn là điều cô Mina khăng khăng thực hiện, và cô cũng là người chi trả cho lễ tang này. Edison đứng gần Mục sư Harold, có vẻ bàng hoàng trong bộ vét đen quá ngắn ở cổ tay và cổ chân nó, chân đi giày bóng rổ. Thằng bé mang kính râm, mặc dù chúng tôi đang ở trong nhà. Thoạt đầu tôi nghĩ hành động đó thật thiếu tôn trọng, nhưng rôi tôi vỡ ra. Là y tá, tôi thấy cái chết viếng thăm con người suốt, thế nhưng đây là lần đầu của con trai tôi; nó còn quá nhỏ hồi bố nó được đưa về trong chiếc quan tài phủ lá cờ Tổ quốc.

Một hàng dài người nhích dọc lối đi từng chút một để tiến lên nhìn mặt má tôi lần cuối, một vũ điệu của cái chết. Bà đang mặc bộ váy màu tím yêu thích nhất có đính kim sa ở hai vai, đôi giày da màu đen thường làm chân bà nhức nhối, và đôi bông tai kim cương cô Mina và ông Sam tặng bà làm quà Giáng sinh dạo nọ mà bà chẳng bao giờ đeo vì sợ một chiếc sẽ rớt ra và bà sẽ mất nó luôn. Tôi muốn chôn bà trong chiếc khăn choàng may mắn, nhưng bất chấp đã lục tung căn hộ của má, tôi vẫn không tìm được nó để đem tới cho người làm lễ. “Cô ấy trông thanh thản quá,” tôi nghe, hết lần này tới lần khác. Hoặc là “Cô ấy nhìn cũng y vậy, phải không?” Cả hai đều không đúng. Bà trông như một hình minh họa trong sách, chỉ có hai chiều, trong khi lẽ ra bà phải bước ra từ trang giấy.

Khi tất cả mọi người đã nhìn mặt má tôi lần sau cùng, Mục sư Harold bắt đầu làm lễ. “Các quý ông quý bà, những người anh chị, người em... đây không phải một ngày đáng buồn,” ông cao giọng nói. Ông mỉm cười nhìn Tyana, cháu gái tôi, lúc này đang thổn thức vào những búi tóc quấn nhỏ xíu xiu của bé Zhanice. “Đây là một ngày hạnh phúc, vì chúng ta tới đây để mừng người bạn thân thiết, người mẹ và người bà dấu yêu của chúng ta, Louanne Brooks, vì cuối cùng cô ấy cũng được thanh thản và bước đi bên Chúa. Hãy cùng cầu nguyện cho cô ấy.”

Tôi cúi đầu, nhưng vẫn kịp đưa mắt nhìn một vòng nhà thờ, lúc này đang râm ran lời cầu nguyện. Tất cả những người đến đây dự lễ, ai cũng trông giống chúng tôi, chỉ trừ cô Mina và Christina, và ở phía sau, là Kennedy McQuarrie và một bà lão nữa.

Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cô ấy đến, nhưng dĩ nhiên là Kennedy phải biết chuyện rồi. Tôi đã đón nhận cái tin ngay tại nhà cô ấy.

Vậy mà, cảm giác vẫn như có một lằn ranh mờ ảo, như rượu vang và phô mai ở nhà nữ luật sư. Như thể tôi đang cố đặt cô ấy vào trong một chiếc hộp và cô ấy cứ thoát ra ngoài vậy.

“Người bạn của chúng ta, Louanne, sinh ra năm 1940,” mục sư nói, “là con út trong bốn người con của Jermain và Maddie Brooks. Cô ấy có hai con gái, và đã cố gắng cả đời để nuôi dạy hai con thành những người phụ nữ tốt, mạnh mẽ, sau khi cha họ bỏ đi. Cô đã cống hiến đời mình để phục vụ người khác, tạo ra một mái nhà hạnh phúc cho gia đình đã thuê cô hơn năm mươi năm qua. Trong giáo đoàn này, cô ấy là người đã thắng nhiều ruy băng ở hội chợ với món bánh nướng và bánh ngọt của mình hơn bất kỳ ai khác, và tôi tin rằng ít nhất năm ký ở bụng tôi đây là từ bánh của Lou. Cô ấy yêu thánh ca, chương trình đàm thoại The View, yêu nướng bánh và Thiên Chúa, và cô vẫn còn ở đây giữa chúng ta qua hai người con gái và sáu đứa cháu ngoại yêu dấu của mình.”

Ca đoàn cất giọng hát hai khúc yêu thích nhất của má tôi: Chúa ơi hãy nắm tay con,Tôi sẽ bay xa. Rồi mục sư trở lại bục. Ông hướng mắt lên cả giáo đoàn. “Chúa tốt lành!” ông cao giọng nói.

“Mãi mãi!” mọi người đồng thanh đáp.

“Và Chúa đã gọi thiên thần của người về nhà với vinh quang!”

Sau một tràng Amen, ông mời những con người đang xúc động đứng dậy và chứng kiến ảnh hưởng của má tôi lên cuộc đời họ. Tôi nhìn vài người bạn của má đứng lên, bước đi thật chậm, như thể họ biết mình có thể là người kế tiếp. Cô ấy đã giúp tôi vượt qua bệnh ung thư vú, một người nói. Cô ấy đã chỉ tôi khâu đường diềm. Cô ấy không bao giờ thua trò Bingo. Nhờ vậy mà tôi vỡ ra nhiều điều mới - tôi biết má là má của tôi, nhưng với những người kia, bà lại là ai đó hoàn toàn khác - một người hướng dẫn, người đồng lõa, người để thổ lộ tâm tình. Trong lúc những câu chuyện định hình nên con người của má tôi ngày còn sống, mọi người cùng khóc, lắc lư và cầu nguyện.

Chị Adisa siết tay tôi, rồi bước lên bục. “Má tôi,” chị nói, “vô cùng nghiêm khắc.” Đám đông bật cười trước tiết lộ này. “Bà nghiêm khắc về cách cư xử, bài tập về nhà, chuyện bạn trai bạn gái, giới hạn cả mức da trần chúng tôi được phép để lộ lúc ra ngoài. Có cả tỷ lệ, phải không Ruth? Nó thay đổi theo mùa, nhưng đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến phong cách của tôi.” Chị Adisa cười nhẹ, nhớ lại. “Tôi còn nhớ có một lần, trước thái độ của tôi, bà đã bày ra một bộ chén đĩa và muỗng nĩa trên bàn cơm tối, và bà bảo tôi, Con gái, khi con rời bàn, chúng có thể nằm lại.”

Ồ phải, cô ấy đã làm vậy, tôi nghe có tiếng nói sau lưng mình.

“Vấn đề là, tôi là một đứa trẻ hoang dại, ngông cuồng. Có lẽ đến giờ vẫn thế. Và má cứ rầy rà chị em tôi về những thứ mà các bậc cha mẹ khác chừng như chả để ý bao giờ. Lúc đó, tôi cảm thấy việc đó bất công lắm lắm. Tôi từng hỏi bà nếu tôi mặc một cái váy ngắn giả da màu đỏ thì có ảnh hưởng gì tới kế hoạch vĩ đại của Chúa không, thế là bà nói một điều tôi không bao giờ quên được. Rachel, bà bảo tôi, Các con chỉ thuộc về má trong một khoảng thời gian quý báu và ngắn ngủi. Má sẽ đảm bảo sao cho quãng thời gian đó không ngắn hơn mức cần thiết chút nào. Lúc đó tôi còn trẻ quá, lại quá kích động nên có hiểu được điều má nói đâu. Nhưng giờ tôi đã hiểu. Thế này, điều mà ngày trước tôi không hiểu là mặt trái của đồng xu kia: Má chỉ là má của tôi trong một khoảng thời gian quý báu và ngắn ngủi.”

Nước mắt trào ra, chị bước xuống và tôi đứng dậy. Nói thật lòng, tôi không nghĩ chị Adisa có thể phát biểu hay đến thế, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, bao giờ chị cũng là người dũng cảm hơn. Tôi, tôi lùi về phía sau. Tôi không muốn phát biểu ở tang lễ, nhưng chị Adisa bảo mọi người sẽ trông chờ nó, và tôi đành nghe theo chị. Kể một câu chuyện ấy, chị gợi ý. Thế là tôi bước lên bục, hắng giọng, và nắm lấy hai bên bục gỗ với sự căng thẳng dâng trào. “Cảm ơn mọi người,” tôi nói, và cái micro rít lên. Tôi lùi lại. “Cảm ơn mọi người vì đã tới đây nói lời tạm biệt má tôi. Bà sẽ rất hạnh phúc khi biết mình được quan tâm đến vậy, và nếu mọi người không tới thì trên thiên đường bà sẽ lắc đầu về cách cư xử của mọi người.” Tôi đưa mắt nhìn ra - đó là một câu đùa, nhưng không ai cười cả.

Nuốt nước bọt, tôi gắng tiếp tục. “Má luôn đặt mình ở sau cùng. Mọi người đều biết má sẽ đảm bảo cho ai cũng được no bụng, không thiếu một ai - cấm có chuyện bạn rời khỏi nhà tôi với cái bụng đói. Như Mục sư Harold, tôi cá là tất cả mọi người đều đã nếm thử bánh nướng và bánh ngọt được ruy băng xanh của bà. Một lần nọ, bà nướng bánh Rừng Đen cho cuộc thi ở nhà thờ và tôi khăng khăng muốn giúp. Dĩ nhiên, lúc đó tôi đang tuổi chẳng giúp được chút gì. Đã vậy tôi còn đánh rơi cái muỗng đo vào trong tô bột mà chẳng dám nói cho bà biết vì xấu hổ, thế là cái muỗng dính trong ruột bánh luôn. Khi giám khảo cuộc thi cắt bánh ra và thấy nó, má biết chính xác đã xảy ra chuyện gì. Thế nhưng thay vì nổi giận với tôi, bà bảo giám khảo đó là bí quyết để ruột chiếc bánh ẩm. Hẳn là mọi người vẫn nhớ chuyện hồi năm ngoái, nhiều ổ bánh dự thi có muỗng đo bị nướng ở bên trong - giờ thì mọi người hiểu tại sao rồi đó.” Có tiếng cười khúc khích vang lên, và tôi thở ra, không nhận ra nãy giờ mình đang nín thở. “Tôi nghe mọi người nói rằng má rất tự hào về mớ ruy băng của bà, về tài nướng bánh, nhưng các bạn biết không, điều đó không đúng. Má đã phải nỗ lực rất nhiều. Làm việc gì bà cũng nỗ lực. Niềm kiêu hãnh, bà dạy chúng tôi, là tội lỗi. Và trên thực tế, bà chỉ tự hào về một điều duy nhất, là chị em tôi.”

Khi nói lời này, tôi nhớ lại vẻ mặt của má khi tôi cho bà biết về vụ kiện. Ruth, bà đã thốt lên, khi tôi ở tù về và bà muốn gặp tôi tận mặt, để đảm bảo rằng tôi vẫn ổn, làm sao chuyện này có thể xảy đến với con? Tôi hiểu ý của má. Tôi là đứa con vàng của bà. Tôi đã thoát khỏi vòng luẩn quẩn. Tôi đã thành đạt. Tôi đã vươn khỏi cái trần mà cả đời bà đã đập đầu vào. “Bà rất tự hào về tôi,” tôi lặp lại, nhưng lời này như những chiếc bong bóng nước, vừa gặp không khí là nổ tung ngay, để lại thoang thoảng cái mùi thất vọng.

Sẽ ổn thôi, con yêu, tôi nghe, từ đám đông. Và: Ừm, con ổn.

Má tôi chưa bao giờ nói ra, nhưng bà có còn tự hào về tôi không? Tôi là con gái bà, thế đã đủ chưa? Hay việc tôi bị ra tòa vì tội giết người mà tôi không phạm cũng như một vết bẩn má đã cố hết sức để tẩy đi cho sạch?

Bài phát biểu của tôi còn dài nữa, nhưng nó biến mất rồi. Những con chữ trên tấm thẻ ghi chú của tôi chẳng khác gì được viết bằng chữ tượng hình hay mật mã. Tôi nhìn chúng, nhưng không từ nào có ý nghĩa gì nữa. Tôi không thể tưởng tượng ra một thế giới mà tôi phải ngồi tù nhiều năm. Tôi không thể tưởng tượng ra một thế giới không có má.

Rồi tôi chợt nhớ một điều bà từng bảo tôi, cái đêm tôi trở về từ tiệc ngủ của chị Christina. Khi nào con sẵn sàng cho bọn ta, bọn ta sẽ chờ con. Khoảnh khắc đó, tôi cảm nhận được một sự hiện diện mà trước đó tôi chưa từng cảm thấy. Có lẽ là chưa bao giờ. Nó rắn chắc như một bức tường, và thật là ấm áp. Đó là một cộng đồng những người biết rõ tên tôi, mặc dù không phải bao giờ tôi cũng nhớ tên họ. Đó là một giáo đoàn mà ngay cả khi tôi đã bay khỏi tổ, họ cũng không bao giờ ngừng cầu nguyện cho tôi. Đó là những người bạn tôi không biết mình có, những người có ký ức về tôi mà tôi đã đẩy lùi về sau tâm trí, quên đi.

Tôi nghe tiếng nước chảy của đài phun đằng sau và nghĩ về nước, cách nó bốc lên không như một màn sương, đùa với việc làm một áng mây, và trở lại dưới hình hài một cơn mưa ướt. Bạn sẽ gọi đó là rơi xuống? Hay trở về nhà?

Tôi không biết mình đã đứng đó bao lâu, thương khóc. Chị Adisa đến bên tôi, chiếc khăn choàng của chị mở rộng như đôi cánh vĩ đại của loài diệc lớn. Chị ấp lấy tôi trong lớp lông vũ của tình yêu thương vô điều kiện. Chị dẫn tôi đi.

Sau khi ca đoàn ngân nga hát Sớm và rất sớm trong lúc áo quan được đưa khỏi nhà thờ và chúng tôi nối đuôi theo sau nó; sau nghi lễ trước mộ phần nơi mục sư phát biểu thêm lần nữa, chúng tôi tề tựu về căn hộ của má - không gian nhỏ mà từ đó tôi đã lớn lên. Những người phụ nữ của nhà thờ đã làm tròn nhiệm vụ của họ; trên tấm khăn trải bàn màu hồng xinh đẹp là những tô khoai tây trộn và bắp cải trộn khổng lồ cùng nhiều dĩa gà chiên. Hầu như mặt phẳng trống nào cũng có những chùm hoa lụa, và ai đó đã phòng xa đem thêm ghế gấp vào, dẫu không đủ chỗ cho tất cả mọi người.

Tôi rút vào náu thân trong nhà bếp. Tôi nhìn những dĩa đầy bánh chocolate hạnh nhân và bánh chanh, rồi bước tới chỗ cái kệ sách nhỏ xíu trên bồn rửa. Có một quyển sổ nhỏ màu đen và trắng ở đó, tôi mở nó ra và suýt nữa quỵ xuống trước những ngọn đồi và thung lũng nhọn là nét chữ viết tay của má. Bánh khoai lang nướng, tôi đọc. Giấc mơ dừa. Bánh chocolate làm tim anh tan chảy. Tôi mỉm cười với công thức cuối cùng - đó là món tôi đã nấu cho Wesley, trước khi anh cầu hôn, và đáp lại chuyện đó má tôi chỉ nói, Má đã bảo mà.

“Ruth,” tôi quay lại khi nghe tiếng gọi và thấy Kennedy cùng bà lão da trắng mà cô đưa đi cùng, trông bà thật lúng túng và lạc lõng trong căn bếp của má.

Tôi thò vào vực thẳm để tìm lại cách cư xử cho đúng mực. “Cảm ơn hai người vì đã đến. Điều đó rất có ý nghĩa với tôi.”

Kennedy bước tới. “Tôi muốn cô gặp mẹ tôi. Ava.”

Bà lão chìa tay ra theo kiểu miền nam, như một con cá mềm oặt, chỉ ấn đầu ngón tay bà vào đầu ngón tay tôi. “Xin chia buồn với cô. Đó là một buổi lễ rất đẹp.”

Tôi gật đầu. Thật sự, có gì để nói đâu?

“Cô sao rồi?” Kennedy hỏi.

“Tôi cứ nghĩ má sắp bảo tôi tới nhắc Mục sư Harold nhớ dùng đế lót ly trên cái bàn cà phê đẹp của bà.” Tôi không có từ ngữ nào để diễn tả cho cô ấy biết cảm giác khi thấy cô có mẹ ở bên, biết rằng tôi chẳng còn được như vậy nữa. Cảm giác như một quả bong bóng, khi người ta đã thả sợi dây rồi.

Kennedy nhìn xuống quyển sổ đang mở trên tay tôi. “Cái gì vậy?”

“Sổ công thức nấu ăn. Nó chỉ mới xong một nửa. Má cứ nói sẽ viết lại hết những món ngon nhất của bà cho tôi, nhưng lúc nào bà cũng bận nấu nướng cho người khác.” Tôi nghe ra chua chát trong mỗi lời mình. “Má tôi đã lãng phí cuộc đời bà, làm nô lệ cho người ta. Đánh bóng đĩa bạc, nấu ăn ba bữa một ngày và chà toilet suốt nên da bà luôn thô ráp. Chăm sóc cho đứa con nhà người.”

Ở mấy chữ cuối cùng, giọng tôi vỡ ra. Rơi xuống vực.

Ava, mẹ của Kennedy, thò tay vào ví. “Ta đề nghị đến đây hôm nay, cùng với Kennedy,” bà lên tiếng. “Ta không biết mẹ cô, nhưng ta biết một người như bà. Người ta quan tâm rất mực.”

Bà giơ ra một tấm ảnh cũ, kiểu có đường viền. Trên đó là hình một phụ nữ da đen mặc đồng phục người giúp việc, trong tay ôm một bé gái nhỏ. Cô bé có mái tóc sáng màu như tuyết, và bàn tay đặt lên má người giúp việc tạo nên sự tương phản gay gắt làm sao. Giữa họ không chỉ có nhiệm vụ người làm - cô chủ. Giữa họ có niềm tự hào. Có tình yêu. “Ta không biết mẹ cô. Nhưng Ruth à, bà đã không phí phạm cuộc đời.”

Nước mắt dâng lên trong mắt tôi. Tôi trả bà Ava tấm ảnh, và Kennedy kéo tôi lại giữa vòng tay siết chặt của cô. Khác với những cái ôm cứng nhắc mà tôi nhớ từ những phụ nữ da trắng như cô Mina hay hiệu trưởng trường phổ thông, cái ôm này không có cảm giác gượng ép, cao ngạo hay giả dối.

Nữ luật sư buông tôi ra, để chúng tôi có thể nhìn thẳng vào mắt nhau. “Tôi rất tiếc cho mất mát của cô,” Kennedy nói, và có cái gì đó nổ lách tách giữa chúng tôi: một lời hứa, một tia hy vọng rằng khi chúng tôi ra đứng trước tòa, đôi môi cô sẽ không buông ra câu đó.

Chú thích:

[55] Edison nói: They ain’t due for another week. Từ ain’t là tiếng lóng của người da đen. (Dịch giả phỏng dịch)

[56] Chơi chữ, nhái theo từ Anglo-Saxon. Afrosaxon là một người gốc Phi nhưng không thích những thứ giống một người gốc Phi, cư xử như người da trắng.

[57] Cặp song sinh nổi tiếng người Xiêm, Chang và Eng Bunker, là thành viên đoàn xiếc lừng lẫy của P.T. Barnum.

« Lùi
Tiến »