Những Cột Trụ Của Trái Đất

Lượt đọc: 25366 | 15 Đánh giá: 9,9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18

Lá thư từ vua Henry đến trong khi các tu sĩ đang trong nhà họp.

Jack đã xây một nhà họp chứa được một trăm năm mươi tu sĩ – số lượng lớn nhất trong một tu viện trên toàn nước Anh. Tòa nhà tròn có mái trần vòm bằng đá và hàng ghế theo bậc bằng đá để ngồi. Ban lãnh đạo tu viện ngồi trên băng đá xung quanh bức tường, cao hơn hàng ghế phía dưới; và Philip cùng Jonathan ngồi trên ghế trạm khắc dựa vào tường đối diện với cửa ra vào.

Một tu sĩ trẻ đọc chương thứ bảy của luật Thánh Biển Đức. “Bậc thứ sáu của đức khiêm nhường là khi một tu sĩ hài lòng với những gì tầm thường và hèn hạ…” Philip nhận ra ông không biết tên người tu sĩ đang đọc. Có phải vì ông quá lớn tuổi hay vì tu viện quá to? “Bậc thứ bẩy của đức khiêm nhường là khi một người không chỉ thú nhận bằng miệng rằng ông thấp kém nhất và hèn hạ nhất so với người khác, nhưng còn tin như vậy trong sâu thẳm của trái tim ông.” Philip biết ông chưa đạt đến bậc khiêm nhường này. Ông đã đạt được nhiều điều trong sáu mươi hai năm qua, và ông đã đạt được nó nhờ sự can đảm, quyết tâm và trí thông minh của ông; nhưng ông cần phải nhắn nhủ lòng thường xuyên rằng lý do thực sự của sự thành công của ông là sự giúp đỡ của Thiên Chúa, không có Thiên Chúa mọi nỗ lực của ông không là gì.

Đàng sau ông, Jonathan luôn cựa quậy. Jonathan còn gặp nhiều khó khăn về đức khiêm nhường hơn Philip. Kiêu ngạo là tật xấu của những người lãnh đạo giỏi. Jonatha đã sẵn sàng lãnh đạo tu viện ngay, nhưng cậu kiên nhẫn chờ. Cậu đã nói chuyện với Aliena và cậu háo hức muốn thử kỹ thuật canh tác mới như cày với ngựa, trồng đậu và yến mạch trên mảnh đất hoang trong mùa xuân. Nó cũng giống như ngày xưa, cách đây ba mươi lăm năm, khi tôi nuôi cừu lấy lông, Philip nghĩ.

Ông biết ông nên từ chức và để Jonathan nhận trách nhiệm tu viện trưởng. Ông muốn dành quãng đời còn lại cho việc cầu nguyện và chiêm niệm. Nó là một tiến trình mà ông cũng thường khuyên người khác. Nhưng bây giờ, khi ông đủ tuổi để về hưu, viễn tượng tương lai làm ông sợ. Ông vẫn khỏe mạnh và trí óc ông minh mẫn hơn bao giờ hết. Một đời sống trong cầu nguyện và chiêm niệm có thể làm ông điên.

Tuy nhiên, Jonathan không thể chờ đợi mãi mãi. Thiên Chúa đã cho cậu khả năng điều hành một tu viện lớn, và cậu không muốn phí phạm khả năng của cậu. Cậu đã thăm nhiều tu viện trong những năm qua và đã tạo được ấn tượng tốt bất cứ nơi đâu cậu đến. Vào những ngày này, nếu một viện phụ chết, các tu sĩ sẽ yêu cầu Jonathan làm ứng viên cho cuộc bầu cử, và Philip sẽ khó từ chối không cho phép.

Người tu sĩ trẻ mà Philip không nhớ tên vừa đọc xong, có tiếng gõ cửa và người gác cổng đi vào. Thầy Steven, người giám thị, cau mày nhìn ông ấy: người gác cổng không được quấy rầy các tu sĩ trong giờ họp. Thầy giám thị chịu trách nhiệm về kỷ luật, và cũng giống như những người khác giữ chức vụ này, thầy khắt khe với các luật lệ.

Người gác cổng nói thì thào: “Một sứ giả của nhà vua!”

Philip nói với Jonathan: “Em ra xem chuyện gì.” Sứ giả sẽ trao bức thư cho một nhân viên cao cấp trong tu viện. Jonathan đi ra. Các tu sĩ thì thầm với nhau. Philip kiên quyết nói: “Chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho những người đã qua đời.”

Khi lời cầu cho người quá cố bắt đầu, ông tự hỏi vua Henry thứ hai muốn nói gì với tu viện Kingsbridge. Nó có khả năng là một tin vui. Henry đã bất hòa với giáo hội từ sáu năm qua. Cuộc tranh cãi bắt đầu về thẩm quyền của tòa án giáo hội, nhưng sự cứng đầu của nhà vua và sự nhiệt thành của Tổng giám mục thành Canterbury, Thomas Becket, đã ngăn chặn thỏa hiệp, và cuộc tranh cãi đã trở thành cuộc khủng hoảng. Becket đã phải ép buộc đi lưu vong ở Pháp.

Đáng buồn là giáo hội ở Anh đã không nhất trí ủng hộ ông. Các giám mục như Waleran Bigod đứng về phía nhà vua để được đặc quyền của hoàng gia. Tuy nhiên, giáo hoàng đã thúc ép Henry làm hòa với Becket. Có lẽ hậu quả tệ hại nhất của cuộc tranh cãi này là vua Henry, vì cần sự hỗ trợ của giáo hội Anh, đã cho những giám mục thèm khát quyền lực như Waleran ảnh hưởng lớn ở hoàng gia. Đó là lý do tại sao một lá thư của nhà vua lại đáng ngại hơn bình thường đối với Philip.

Jonathan trở lại và trao cho Philip một cuộn giấy được niêm phong bằng sáp có con triện to lớn của hoàng gia. Tất cả tu sĩ chờ đợi. Philip thấy khó có thể yêu cầu họ tập trung vào việc cầu nguyện cho người qua đời trong khi ông có lá thư trong tay. “Được,” ông nói. “Chúng ta sẽ tiếp tục cầu nguyện sau.” Ông phá vỡ con triện và mở lá thư. Ông liếc qua phần chào hỏi rồi đưa cho Jonathan, người có mắt sáng hơn. “Làm ơn đọc nó.”

Sau lời chào đầu bình thường, nhà vua viết: “Làm giám mục thành Lincoln, tôi đề cử người phục vụ trung thành của chúng tôi Waleran Bigod, hiện đang là giám mục thành Kingsbridge…” Giọng Jonathan bị át đi vì những lời bình luận sôi nổi. Philip lắc đầu ghê tởm. Waleran đã mất hết uy tín ở địa phương sau những tiết lộ ở phiên tòa của Philip: ông không còn có thể tiếp tục làm giám mục. Vì thế ông đã thương thuyết với nhà vua để đề cử ông thành giám mục ở Lincoln. Lincoln là một trong những địa phận giầu nhất thế giới và là địa phận quan trọng thứ ba trong vương quốc, sau Canterbury và York. Từ đó chỉ còn một bước nhỏ để trở thành tổng giám mục. Henry ngay cả có thể đã chuẩn bị cho Waleran thay thế Thomas Becket. Ý nghĩ về Waleran trở thành tổng giám mục của Canterbury, người lãnh đạo giáo hội Anh, quá kinh khủng đến nỗi Philip cảm thấy bệnh vì sợ.

Khi các tu sĩ yên lặng, Jonathan tiếp tục: “… và tôi đã đề nghị hội đồng địa phận bầu ông.” Được, việc đó nói thì dễ hơn là làm, Philip nghĩ. Một lời đề nghị của hoàng gia thì gần như mệnh lệnh, nhưng không hoàn toàn: nếu hội đồng địa phận ở Lincoln chống lại Waleran, hay nếu họ có riêng một ứng viên, họ có thể gây khó khăn cho nhà vua. Sau cùng nhà vua có lẽ sẽ đạt được mục đích theo cách của mình, nhưng nó không phải là chuyện đương nhiên.

Jonathan tiếp tục: “Tôi ra lệnh cho quý ông, ban lãnh đạo của tu viện Kingsbridge, tổ chức một cuộc bầu cử giám mục mới cho Kingsbridge; và tôi đề cử cho chức vụ này người phục vụ trung thành của chúng tôi Peter thành Warenham, tổng đại diện của Canterbury.”

Một tiếng hét tập thể phản đối xuất phát từ các tu sĩ đang họp. Philip lạnh người vì kinh hoàng. Nhà vua đã chọn tổng đại diện Peter, một người kiêu ngạo, luôn bực bội, tự cho mình là đúng, làm giám mục mới của Kingsbridge. Peter cùng mẫu người như Waleran. Cả hai đều ngoan đạo và kính sợ Thiên Chúa, nhưng không có cảm xúc cho lỗi lầm của mình, vì thế mà họ cho ước muốn của họ là ý muốn của Thiên Chúa, và theo đuổi mục đích của mình bằng sự vô tâm. Với Peter làm giám mục, Jonathan trong chức vụ tu viện trưởng sẽ phải chiến đấu cả đời cho công lý và sự hợp lý trong một vùng được cai trị bởi bàn tay sắt của một người không có trái tim. Và nếu Waleran thành tổng giám mục thì sẽ không còn hy vọng gì về một viễn tượng tươi sáng hơn.

Philip thấy một thời kỳ đen tối trước mặt, giống như giai đoạn tồi tệ của cuộc nội chiến, khi các bá tước như William làm gì họ muốn, khi các linh mục kiêu ngạo sao lãng cộng đoàn của họ và các tu viện co lại trong chiếc bóng nghèo khổ, yếu ớt của mình. Ý nghĩ đó làm ông tức giận.

Ông không phải là người duy nhất tức giận. Giám thị Steven đứng lên, mặt đỏ và hét to: “Không thể được!” mặc dù theo luật của Philip, mọi người trong nhà hội phải nói một cách bình tĩnh và thanh thản.

Các tu sĩ reo hò, nhưng Jonathan chứng tỏ sự khôn khéo của mình bằng cách hỏi vị giám thị: “Chúng ta có thể làm gì?”

Đầu bếp Bernard, vẫn béo như trước, nói: “Chúng ta phải từ chối yêu cầu của nhà vua.”

Nhiều tu sĩ lên tiếng đồng tình.

Steven nói: “Chúng ta sẽ viết thư cho nhà vua và nói chúng ta sẽ bầu người mà chúng ta muốn.” Một lúc sau ông ngại ngùng thêm vào: “dưới sự hướng dẫn của Thiên Chúa, dĩ nhiên.”

Jonathan nói: “Tôi không đồng ý việc chúng ta từ chối thẳng thừng. Chúng ta càng nhanh chóng phản đối nhà vua, chúng ta càng mau làm cơn thịnh nộ của nhà vua đổ xuống trên đầu chúng ta.”

Philip nói: “Jonathan có lý. Một người thua trận với nhà vua, người đó có thể được tha thứ, nhưng người thắng nhà vua, người đó phải chịu số phận bi đát.”

Steven bùng lên. “Anh muốn bỏ cuộc sao?”

Philip cũng lo lắng và sợ hãi như tất cả những người khác, nhưng ông phải tỏ ra bình tĩnh. “Steven, làm ơn bình tĩnh,” ông nói. “Chúng ta phải chiến đấu chống lại sự chỉ định kinh khủng này, dĩ nhiên. Nhưng chúng ta sẽ tiến hành nó một cách cẩn thận và khôn ngoan, luôn tránh cuộc đối đầu công khai.”

Steven nói: “Nhưng anh định làm gì?”

“Tôi không chắc chắn,” Philip nói. Lúc đầu ông đã chán nản, nhưng bây giờ ông bắt đầu cảm thấy hung hăng. Ông đã luôn phải chống lại cuộc chiến này trong đời ông. Ông chống lại nó ở đây trong tu viện, khi ông đánh bại Remegius để trở thành tu viện trưởng; ông đã chống lại nó trong miền, chống lại William Hamleigh và Waleran Bigod; và bây giờ ông đang chuẩn bị chống lại nó trên bình diện quốc gia.

“Tôi nghĩ, tôi phải qua Pháp,” ông nói, “để gặp Tổng giám mục Thomas Becket.”

Trong các cuộc khủng hoảng khác trong suốt đời ông, Philip có thể đưa ra một kế hoạch. Bất cứ khi nào ông hay tu viện của ông hay thị trấn của ông bị đe dọa bởi sức mạnh của người vô luật pháp và man rợ, ông luôn nghĩ ra một số hình thức phòng thủ hay tấn công. Ông không luôn chắc chắn sẽ thành công nhưng ông chẳng bao giờ phải bối rối, không biết phải làm gì như bây giờ.

Ông vẫn còn bối rối khi ông đến thành phố Sens, vùng đông nam của Paris, thuộc vương quốc Pháp.

Nhà thờ chính tòa ở Sens là tòa nhà rộng nhất mà ông đã thấy. Gian giữa rộng đến năm mươi bộ. So sánh với nhà thờ chính tòa Kingsbridge, nhà thờ Sens cho một ấn tượng về không gian hơn là ánh sáng.

Du hành xuyên nước Pháp lần đầu trong đời, Philip nhận ra có nhiều kiểu nhà thờ trên thế giới hơn là ông đã tưởng tượng, và ông hiểu du hành đã ảnh hưởng lên suy nghĩ cách mạng của Jack Jackson. Khi đi ngang Paris, Philip cố ý dành thăm nhà thờ tu viện Thánh Denis, và ông thấy nơi Jack đã tìm được vài ý tưởng cho cậu. Ông cũng đã thấy hai nhà thờ với trụ tường có cánh như ở Kingsbridge: rõ ràng các thợ xây bậc thầy khác cũng phải đối diện với vấn đề như Jack đã gặp, và đã đi đến cùng kết luận.

Philip đi chào xã giao tổng giám mục ở Sens, William Whitehands, một giáo sĩ trẻ xuất sắc và là cháu của vua Stephen đã qua đời. Tổng giám mục William mời Philip dùng cơm trưa. Mặc dù ông cảm thấy hãnh diện, nhưng ông từ chối: ông đã đi một đoạn đường dài để gặp Thomas Becket, và bây giờ ông đã ở gần, ông không còn kiên nhẫn để chờ đợi. Sau khi tham dự thánh lễ ở nhà thờ chính tòa, ông ra khỏi thành phố theo dòng sông Yonne về hướng bắc.

Đối với một tu viện sung túc nhất ở nước Anh, cuộc du hành của Philip giản dị: ông mang theo hai người lính hộ vệ, một tu sĩ trẻ tên là Michael Bristol như người phụ tá, và một con ngựa chở sách thánh, bản chép và minh họa đẹp đẽ của thư viện Kingsbridge để làm quà tặng cho các viện phụ và giám mục trên đường đi. Những cuốn sách đắt tiền tạo nên những quà tặng ấn tượng và tương phản với đoàn tùy tùng khiêm tốn của Philip. Đây là chủ ý: ông muốn mọi người tôn trọng tu viện, chứ không phải tu viện trưởng.

Ngay bên ngoài cổng phía bắc của Sens, trong một cánh đồng đầy ánh nắng bên bờ sông, ông thấy tu viện Thánh Colombe đáng kính, nơi Tổng giám mục Thomas đã sống từ ba năm qua. Một trong các linh mục của Thomas chào ông thân thiện, gọi người phục vụ chăm sóc cho ngựa và hành lý, và hướng dẫn ông vào trong nhà khách, nơi tổng giám mục đang ở. Philip nghĩ rằng những người lưu vong phải vui mừng lắm khi có khách từ quê nhà viếng thăm, không những vì lý do tình cảm mà còn bởi vì nó là biểu hiệu của sự hỗ trợ.

Philip và người phụ tá được mời đồ ăn và rượu, rồi được giới thiệu với những người làm việc của Thomas. Những người của ông là các linh mục, hầu hết còn trẻ và – Philip nghĩ – thông minh. Chỉ một lúc ngắn sau, Michael đã tranh luận với một người về đề tài biến đổi bản thể. Philip nhấm nháp ly rượu và lắng nghe mà không tham dự vào. Sau cùng một linh mục nói với họ: “Quan điểm của cha là gì, thưa cha? Cha chưa nói lời nào.”

Philip mỉm cười. “Những vấn đề khúc mắc của thần học không làm tôi đau đầu nhiều.”

“Tại sao?”

“Bởi vì chúng chỉ được giải quyết ở thế giới sau đó. Hiện tại người ta có thể trì hoãn nó.”

“Rất hay,” một giọng nói mới cất lên, và Philip ngẩng lên và thấy Tổng giám mục Thomas thành Canterbury.

Philip cảm nhận ngay sự hiện diện của một nhân vật đặc biệt. Thomas cao, mảnh khảnh và đặc biệt đẹp trai, với vầng trán rộng, mắt sáng, làn da trắng và mái tóc đen. Ông trẻ hơn Philip chừng mười tuổi, có nghĩa là ông chừng năm mươi hay năm mươi mốt. Mặc dù những bất hạnh, ông có nét sống động và vui vẻ. Philip thấy ngay ông là một người thật hấp dẫn, và điều này giải thích một phần cho sự tiến thân nhanh chóng của ông, từ một hoàn cảnh bình thường.

Philip quỳ và hôn tay ông.

Philip nói: “Tôi rất hân hạnh được làm quen với ông! Tôi luôn luôn muốn thăm viếng Kingsbridge. Tôi đã nghe nhiều về tu viện của ông và ngôi nhà thờ mới tuyệt vời.”

Philip bị quyến rũ và hãnh diện. Ông nói: “Tôi đến để gặp ông bởi vì mọi sự chúng tôi đạt được đang ở trong tình trạng nguy hiểm, có thể bị tàn phá bởi nhà vua.”

“Tôi muốn nghe mọi chuyện ngay bây giờ,” Thomas nói. “Hãy vào trong phòng tôi.” Ông quay lại và ra khỏi phòng.

Philip theo sau, vừa cảm thấy vui vừa sợ hãi.

Thomas đưa ông vào căn phòng nhỏ. Có một cái giường giá trị bằng da và gỗ với khăn giường bằng lụa đẹp và chăn thêu, nhưng Philip cũng nhìn thấy một tấm nệm mỏng cuộn trong góc, và ông nhớ lại những câu truyện rằng Thomas chẳng bao giờ dùng những đồ đạc sang trọng được chủ nhà cung cấp. Nhớ lại chiếc giường thoải mái của mình ở Kingsbridge, Philip nhói lên cảm giác tội lỗi khi nghĩ rằng ông ngáy trong sự thoải mái, trong khi người thủ lãnh của các giám mục nước Anh lại ngủ trên nền đất.

“Hãy nói về nhà thờ chính tòa,” Thomas nói. “Ông nghĩ gì về nhà thờ ở Sens?”

“Tuyệt vời,” Philip nói. “Ai là người xây dựng tổng thể chính?”

“William thành Sens. Tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ thu hút ông ấy đến Canterbury. Hãy ngồi xuống. Kể cho tôi nghe những gì xẩy ra ở Kingsbridge.”

Philip kể cho Thomas về Giám mục Waleran và Tổng đại diện Peter. Thomas quan tâm sâu sắc đến mọi việc Philip nói và đặt nhiều câu hỏi thông minh. Ông không những quyến rũ, ông còn thông minh. Ông cần cả hai để vươn lên đến vị trí mà từ đó ông có thể khuất phục được ý muốn của một trong những vị vua mạnh nhất nước Anh từ trước đến nay. Có tin đồn rằng dưới lớp áo tổng giám mục của ông, ông mặc chiếc áo sơ mi mềm mại, và dưới vẻ hấp dẫn bên ngoài, ông có một ý chí sắt.

Khi Philip chấm dứt câu chuyện, Thomas trông nghiêm trọng. “Điều này không thể cho phép xẩy ra được,” ông nói.

“Thực vậy,” Philip nói. Giọng chắc chắn của Thomas cho ông can đảm. “Ông có thể ngăn chặn nó không?”

“Chỉ khi nào tôi trở lại chức vụ của tôi ở Canterbury.”

Đó không phải là câu trả lời mà Philip chờ đợi. “Nhưng ông có thể viết ngay cho giáo hoàng không?”

“Tôi sẽ,” Thomas nói, “ngay hôm nay. Giáo hoàng sẽ không nhận Peter là giám mục ở Kingsbridge, tôi hứa với ông. Nhưng chúng ta không thể ngăn cản ông ở trong dinh thự giám mục. Và chúng ta không thể chỉ định ai khác.”

Philip bị sốc và mất tinh thần bởi tính quyết đoán tiêu cực của Thomas. Trên đường đến đây ông đã nuôi hy vọng rằng Thomas sẽ làm những gì ông không thể làm, và đưa ra cách làm thất bại kế hoạch của Waleran. Nhưng Thomas xuất chúng cũng bị bối rối. Niềm hy vọng duy nhất là ông có thể trở về Canterbury. Khi đó dĩ nhiên ông sẽ có quyền phủ nhận sự đề cử giám mục. Philip nói một cách chán nản: “Có hy vọng nào là ông sớm có thể trở về không?”

“Một vài hy vọng, nếu ông là một người lạc quan,” Thomas lập lại. “Giáo hoàng đã soạn ra một hiệp ước hòa bình và ép tôi và Henry phải đồng ý. Các điều khoản này đối với tôi có thể chấp nhận được: hiệp ước cho tôi những gì tôi đòi hỏi. Henry nói nó cũng có thể chấp nhận được đối với ông ấy. Tôi nhất định đòi ông ta chứng minh sự chân thật của ông bằng cách cho tôi một cái hôn hòa bình. Ông ấy từ chối.” Khi ông nói, giọng ông thay đổi. Sự to nhỏ của cuộc nói chuyện tự nhiên dần dần bình lặng và đều đều. Tất cả sự sống động biến đi khỏi khuôn mặt ông và ông trông như một linh mục giảng cho một cộng đoàn buồn ngủ về sự từ bỏ mình. Philip nhận ra trong biểu hiện của ông sự bướng bỉnh và hãnh diện đã giữ ông tranh đấu trong những năm qua. “Sự từ chối cái hôn là một dấu hiệu rằng ông có kế hoạch thu hút tôi về lại Anh và rồi không giữ lời hứa về những điều khoản đã được thỏa thuận.”

Philip gật đầu. Cái hôn hòa bình là một phần trong phụng vụ thánh lễ, và là dấu chỉ của sự tin tưởng. Không có nó, một hiệp ước không hoàn thành, từ một giao ước hôn nhân đến một thỏa thuận ngừng bắn. “Tôi có thể làm gì?” Philip nói, như hỏi với chính mình hơn là hỏi Thomas.

“Trở lại nước Anh và vận động cho tôi,” Thomas nói. “Viết thư cho các tu viện trưởng và viện phụ theo ông. Gửi những đoàn đại biểu từ Kingsbridge tới giáo hoàng. Kiến nghị với nhà vua. Giảng trong nhà thờ chính tòa nổi tiếng của ông, nói với dân chúng rằng vị linh mục cao cấp nhất của họ đã bị vua hất đi.”

Philip gật đầu, mặc dù ông không dự định làm những chuyện như thế. Thomas bảo ông đối lập với nhà vua. Nó có thể làm tăng tinh thần của Thomas, nhưng không mang lại gì cho Kingsbridge.

Philip có ý tưởng tốt hơn. Nếu Henry và Thomas đã gần xích lại với nhau, nó không khó để đẩy họ sát nhau. Có lẽ, Philip nghĩ một cách hy vọng, ông có thể làm một cái gì đó. Ý tưởng kích thích sự lạc quan của ông. Nó là một cú đá từ xa, nhưng ông chẳng mất gì.

Cuối cùng, họ chỉ tranh luận về một cái hôn.

Philip kinh ngạc khi ông thấy em ông đã già.

Tóc Francis đã hoa râm, có quầng thâm dưới mắt, và da mặt ông khô. Tuy nhiên ông ấy đã sáu mươi tuổi, nên có lẽ không có gì là ngạc nhiên. Và ông ấy có đôi mắt sáng và linh hoạt.

Philip nhận ra những gì đã làm phiền ông chính là tuổi tác của ông. Như mọi khi, mỗi lần nhìn thấy em ông, ông cũng nhận ra mình đã già. Từ nhiều năm nay ông không nhìn mình trong gương. Ông tự hỏi không biết ông có quầng thâm dưới mắt không. Ông sờ lên mặt. Nó rất khó để nói.

“Làm việc cho Henry có gì vui không?” Philip hỏi, tò mò, như mọi người đều muốn biết các vua chúa như thế nào trong đời sống riêng tư.

“Tốt hơn Maud,” Francis nói. “Bà ta khôn ngoan, nhưng quá quanh co. Henry rất cởi mở. Chúng ta luôn biết ông nghĩ gì.”

Họ đang ngồi trong hành lang của một tu viện ở Bayeux, nơi Philip đang ở. Hoàng gia ở gần đó. Francis vẫn còn làm việc cho Henry, như từ hai mươi năm qua. Bây giờ ông đứng đầu văn phòng thư ký, nơi soạn thảo tất cả thư từ của hoàng gia và các điều lệ. Nó là một nhiệm vụ quan trọng và đầy uy quyền.

Philip nói: “Henry mà cởi mở? Tổng giám mục Thomas không nghĩ như vậy.”

“Lại một đánh giá sai lầm nữa của Thomas,” Francis nói khinh bỉ.

Philip nghĩ Francis không nên khinh bỉ tổng giám mục. “Thomas là một nhân vật vĩ đại,” ông nói.

“Thomas muốn làm vua,” Francis phản ứng lại.

“Và Henry dường như muốn trở thành tổng giám mục,” Philip đáp lại.

Họ nhìn nhau. Nếu chúng ta cãi nhau, Philip nghĩ, nó không có gì là ngạc nhiên khi Henry và Thomas cãi nhau kịch liệt. Ông mỉm cười và nói: “Được, em và anh không cãi nhau về chuyện ấy nữa.”

Mặt Francis dịu lại. “Không, dĩ nhiên không. Nhưng anh đừng quên rằng cuộc tranh luận này đã làm em khó chịu trong sáu năm qua em. Em không thể khách quan về nó như anh.”

Philip gật đầu. “Nhưng tại sao Henry không chấp nhận kế hoạch hòa bình của giáo hoàng?”

“Ông ấy muốn,” Francis nói. “Chúng ta đứng trước sự hòa giải. Nhưng Thomas muốn hơn. Ông ấy nhấn mạnh về cái hôn hòa bình.”

“Nhưng nếu nhà vua chân thành, ông ấy chắc chắn nên cho một cái hôn hòa bình như một bảo đảm, phải không?”

Francis cất cao giọng. “Nó không có trong chương trình!” ông nói bằng giọng bực tức.

“Nhưng tại sao không cho nó bằng hình thức nào đó?” Philip lập luận.

Francis thở dài. “Ông ấy rất vui lòng. Nhưng đã có lần ông thề công khai là chẳng bao giờ cho Thomas một cái hôn hòa bình.”

“Nhiều vị vua đã không giữ lời thề của mình,” Philip nói.

“Những vị vua yếu đuối. Henry sẽ không đi ngược lại lời thề công khai. Điều đó làm ông khác với vua Stephen tồi tệ.”

“Vậy giáo hội có lẽ sẽ phải thuyết phục ông bằng cách khác,” Philip miễn cưỡng thừa nhận.

“Vậy tại sao Thomas cứ nhất định đòi nụ hôn?” Francis tức bực nói.

“Bởi vì ông ấy không tin tưởng Henry. Cái gì ngăn cản ông ấy khỏi việc phản bội thỏa thuận này? Thomas có thể làm được gì khi vua không giữ lời? Lại đi lưu vong một lần nữa sao? Những người theo ông luôn trung thành với ông, nhưng họ đã mỏi mệt. Thomas không thể làm lại như vậy một lần nữa. Vì thế, trước khi ông ấy chịu khuất phục, ông ấy muốn có sự bảo đảm chắc chắn.”

Francis lắc đầu buồn bã. “Nó là vấn đề của niềm tự hào,” ông nói. “Em biết Henry không có ý định lừa Thomas. Nhưng ông không muốn bị ép buộc. Ông ghét bị ép buộc.”

“Đối với Thomas cũng như vậy, anh nghĩ,” Philip nói. “Ông ấy đã đòi dấu hiệu này và ông ấy không thể lùi lại.” Ông lắc đầu một cách mệt mỏi. Ông đã nghĩ Francis có thể đề nghị một phương cách để đưa hai người gần lại với nhau, nhưng nhiệm vụ này dường như không thể được.

“Sự trớ trêu của việc này là Henry sẽ vui vẻ cho Thomas một nụ hôn sau khi họ đã hòa giải,” Francis nói. “Ông ấy không chấp nhận nó như một điều kiện tiên quyết.”

“Ông ấy đã nói như thế?” Philip hỏi.

“Vâng.”

“Như vậy mọi chuyện lại khác,” Philip hào hứng nói. “Chính xác ông ấy đã nói gì?”

“Ông ấy nói: ‘Tôi sẽ hôn miệng ông ấy. Tôi sẽ hôn chân ông ấy, và tôi sẽ tham dự thánh lễ của ông ấy – sau khi ông ấy trở về.’ Em nghe chính ông ấy nói như vậy.”

“Anh sẽ nói cho Thomas biết điều này.”

“Anh có nghĩ rằng ông ấy có thể chấp nhận nó?” Francis hồ hởi nói.

“Anh không biết.” Philip không dám hy vọng. “Nó dường như chỉ là một bước lui nhỏ. Ông ấy sẽ nhận được nụ hôn – chỉ trễ hơn một chút như ông ấy muốn.”

“Và đối với Henry nó cũng là một bước lui nhỏ tương tự như thế,” Francis nói với sự hứng khởi dâng cao. “Ông cho nụ hôn, nhưng hoàn toàn tự ý chứ không bị ép buộc. Trời ơi! Nó có thể thành công.”

“Họ có thể hòa giải ở Canterbury. Toàn bộ sự thỏa thuận sẽ được công bố trước đó, vì thế không ai trong họ có thể thay đổi vào giờ phút cuối. Thomas có thể dâng thánh lễ và Henry có thể cho ông nụ hôn ở đó, trong nhà thờ chính tòa.” Và sau đó, ông nghĩ, Thomas có thể ngăn chặn kế hoạch xấu xa của Waleran.

“Em sẽ đề nghị điều này với nhà vua,” Francis nói.

“Và anh với Thomas.”

Tiếng chuông tu viện vang lên. Hai anh em đứng lên.

“Cố gắng thuyết phục,” Philip nói. “Nếu nó thành công, Thomas có thể trở về Canterbury – và nếu Thomas trở về, Waleran Bigod sẽ kết thúc.

Họ găp nhau trong một đồng cỏ xinh đẹp bên bờ dòng sông ở biên giới giữa Normandy và vương quốc Pháp, gần các thị trấn Fréteval và Vievy-le-Raye. Henry đã có mặt ở đó với đoàn tùy tùng, khi Thomas đến với Tổng giám mục William ở Sens. Philip ở trong đoàn của Thomas, phát hiện em trai Francis bên nhà vua ở phía xa cánh đồng.

Henry và Thomas đã đạt được sự đồng ý – về lý thuyết.

Cả hai đã chấp nhận sự thỏa hiệp, theo đó nụ hôn sẽ được trao ở thánh lễ hòa giải, sau khi Becket trở về Anh. Tuy nhiên thỏa thuận này chưa được thực hiện cho đến khi hai người gặp nhau.

Thomas cưỡi ngựa đến giữa cánh đồng, để đoàn tùy tùng lại, và Henry cũng làm như vậy, trong khi mọi người nín thở quan sát.

Họ nói chuyện hàng giờ với nhau.

Không ai nghe được họ nói gì với nhau, nhưng có thể đoán. Họ nói về sự tấn công giáo hội của Henry, cách các giám mục đã không vâng lời Thomas, hiến pháp Clarendon gây tranh cãi, sự lưu đày của Thomas, vai trò của giáo hoàng… Lúc đầu Philip sợ họ sẽ cãi nhau và gây thù oán với nhau hơn trước. Trước đây có lần họ đã đi gần đến một thỏa thuận, và đã gặp nhau như thế này, và rồi có điểm nào đó không đồng ý, họ cảm thấy niềm tự hào của họ bị tổn thương, vì thế họ đã nói với nhau những lời nặng nề rồi giận dữ bỏ đi, mỗi người đổ lỗi cho sự không khoan nhượng của người kia. Nhưng họ càng nói chuyện lâu, Philip càng lạc quan. Nếu một trong hai người nổ ra thì nó đã xẩy ra sớm hơn, ông cảm thấy như thế.

Sức nóng của buổi chiều mùa hè dịu đi, và bóng râm của cây du đổ xuống dòng sông. Sự căng thẳng không thể chịu đựng được.

Rồi sau cùng một cái gì đó đã xẩy ra. Thomas chuyển động.

Ông bỏ đi? Không. Ông xuống ngựa. Điều đó có nghĩa gì? Philip nín thở theo dõi. Thomas bỏ ngựa, tiến về phía Henry và quỳ xuống dưới chân ông.

Nhà vua xuống ngựa và ôm Thomas.

Đoàn tùy tùng ở cả hai phía reo hò và tung mũ lên trời.

Philip cảm thấy nước mắt rơi xuống. Cuộc xung đột đã được giải quyết – bằng lý trí và thiện chí. Đây là cách để giải quyết mọi việc.

Có lẽ nó là một điềm báo cho tương lai.

II

Đó là ngày lễ Giáng Sinh, và nhà vua nổi giận.

William Hamleigh sợ hãi. Cậu chỉ biết một người duy nhất có tính khí giống vua Henry, và đó là mẹ cậu. Henry cũng đáng sợ gần như bà. Một cách nào đó tự bản chất ông đã là người đáng sợ, với đôi vai rộng, lồng ngực mạnh khỏe và đầu to; nhưng khi ông giận đôi mắt xanh của ông trở nên đỏ ngầu, khuôn mặt tàn nhang của ông đỏ lên và tính bồn chồn quen thuộc của ông biến thành tốc độ giận dữ của một con gấu lâu ngày đã bị nhốt.

Họ ở Bur-le-Roi, một lều săn của Henry, trong một công viên gần bờ biển Normandy. Chính ra Henry đang hạnh phúc. Ông thích săn bắn hơn mọi thứ khác trên đời, và đây là một trong những nơi ông ưa thích nhất. Nhưng ông tức giận, và lý do là vì Tổng Giám mục Thomas thành Canterbury.

“Thomas, Thomas, Thomas! Đó là tất cả những gì tôi nghe từ các ông. Thomas làm cái này, Thomas làm cái kia. Thomas xúc phạm đến các ông. Thomas đối xử bất công với các ông. Tôi bệnh vì Thomas.”

William lén lút quan sát nét mặt của các bá tước, giám mục và các quan chức khác xung quanh bàn tiệc lễ Giáng Sinh trong đại sảnh đường. Hầu hết họ có vẻ lo lắng. Chỉ có một người tỏ vẻ mãn nguyện: Waleran Bigod.

Waleran đã dự đoán rằng chẳng bao lâu nữa Henry sẽ cãi nhau với Thomas lần nữa. Thomas đã chiến thắng quá rõ ràng, ông nói; chương trình hòa bình của giáo hoàng đòi hỏi nhà vua nhường quá nhiều và đòi hỏi của Thomas về những lời hứa của hoàng gia sẽ dẫn đến một cuộc tranh cãi mới. Nhưng Waleran đã không đơn thuần ngồi chờ những gì sẽ xẩy ra; ông đã cật lực để làm cho dự đoán của ông thành sự thật. Với sự giúp đỡ của William, Waleran thường xuyên phàn nàn về những gì Thomas làm từ khi ông trở về nước Anh: đi quanh các vùng với một đội quân hiệp sĩ, thăm bạn nối khố của ông và gây nên những âm mưu xảo trá, trả thù những giáo sĩ, những người ủng hộ vua trong thời gian ông lưu đày. Waleran thêu dệt các báo cáo này trước khi nó đến tay nhà vua, nhưng trong những gì ông nói luôn có vài điều thật. Tuy nhiên ông thổi phùng ngọn lửa, một ngọn lửa đã âm ỉ cháy. Tất cả những người đã bỏ rơi Thomas trong sáu năm tranh cãi, bây giờ sống trong sợ hãi bị trả thù, hăng hái nói xấu ông với nhà vua.

Vì thế Waleran trông rất vui khi Henry giận dữ. Và ông có lý do để vui vì từ khi Thomas trở về, ông là người chịu nhiều đau khổ hơn những người khác. Tổng Giám mục đã từ chối sự đề cử ông trở thành giám mục ở Lincoln. Ngoài ra Thomas còn đề cử Tu viện trưởng Philip làm giám mục Kingsbridge. Nếu Thomas theo con đường của ông, Waleran sẽ mất Kingsbridge và cũng chẳng được Lincoln. Ông sẽ bị tiêu tan.

Vị trí của William cũng gặp khó khăn nữa. Với Aliena là nữ bá tước, Waleran đi khỏi, Philip là giám mục, và không nghi ngờ gì Jonathan là tu viện trưởng ở Kingsbridge, William sẽ bị cô lập, không còn đồng minh nào trong vùng. Đó là lý do tại sao ông tham gia cùng Waleran ở triều đình, để cộng tác làm suy yếu hiệp ước hòa bình vốn đã lung lay giữa vua Henry và Tổng Giám mục Thomas.

Không ai ăn nhiều thịt thiên nga, ngỗng, chim công và vịt trên bàn. William, vốn dĩ hay ăn và uống nhiều, chỉ gặm bánh mì và nhấm nháp đồ uống nóng, một thứ đồ uống được làm với bia, trứng và hạt nhục đậu khấu, để làm dịu bao tử bẳn gắt của cậu.

Henry đã tức giận khi nghe tin Thomas đã gửi một phái đoàn đến Tours – nơi Giáo hoàng Alexander đang ở - để phàn nàn về việc Henry không tuân hành hiệp ước hòa bình. Một trong những người cố vấn lớn tuổi của nhà vua, Enjuger de Bohun, nói: “Sẽ không có hòa bình cho đến khi ông treo cổ Thomas.”

William bị sốc.

Henry gầm lên: “Đúng thế!”

William biết rõ Henry coi lời nhận xét đó như một diễn tả về sự bi quan hơn là một đề nghị nghiêm túc. Tuy nhiên, William có một cảm giác rằng Enjuger không nói bóng gió.

William Malvoisin nói vu vơ: “Khi tôi ở Roma, trên đường trở về từ Jerusalem, tôi đã nghe kể về một giáo hoàng bị treo cổ vì tính xấc láo không thể chịu đựng được. Chết tiệt, tôi không thể nhớ ra tên ông.”

Tổng giám mục thành York nói: “Dường như không còn giải pháp nào khác với Thomas. Bao lâu ông còn sống, ông sẽ xúi giục nổi loạn, ở nhà cũng như ở ngoại quốc.”

Ba lời nhận xét này đối với William như có cùng một ý. Cậu nhìn Waleran. Lúc đó Waleran nói. “Việc kêu gọi Thomas giữ tinh thần đúng đắn chắc chắn không mang lại gì –“

“Hãy yên lặng!” nhà vua gầm lên. “Tôi đã nghe đủ rồi! Các ông chỉ biết than phiền. Khi nào các ông mới xắn tay áo lên để làm một cái gì đó?” Ông uống một ngụm bia. “Bia này uống như nước tiểu!” ông hét lên giận dữ. Ông đẩy ghế ra, và khi mọi người vội vàng đứng lên, ông đứng dậy và lao nhanh ra khỏi phòng.

Trong bầu khí yên lặng sợ hãi sau đó, Waleran nói: “Sứ điệp không thể rõ ràng hơn thế nữa, thưa các ngài. Chúng ta phải đứng lên và làm cái gì đó chống lại Thomas.”

William Mandeville, lãnh chúa thành Essex, nói: “Tôi nghĩ chúng ta phải gửi một phái đoàn của chúng ta đến Thomas để gặp ông và cho ông biết sự đúng đắn.”

“Và ông sẽ làm gì khi ông ấy từ chối nghe những lời hợp lý?” Waleran nói.

“Tôi nghĩ khi đó chúng ta sẽ bắt giữ ông nhân danh nhà vua.”

Nhiều người bắt đầu nói cùng một lúc. Đám đông chia thành từng nhóm nhỏ. Những người xung quanh lãnh chúa thành Essex lên chương trình gửi đại biểu đến Canterbury. William thấy Walern nói chuyện với hai hay ba hiệp sĩ trẻ. Waleran bắt gặp ánh mắt cậu và ra hiệu cho cậu đến gần.

Waleran nói: “Đoàn đại biểu của William Mandeville không mang lại kết quả gì. Thomas có thể xử lý họ bằng một tay.”

Reginald Fitzurse nhìn William cứng rắn và nói: “Một số người trong chúng tôi nghĩ đã đến lúc phải có biện pháp mạnh.”

“Ý ông làm sao?” William hỏi.

“Cậu đã nghe những gì Enjuger nói chứ?”

Richard le Bret, một cậu bé chừng mười tám, buột miệng nói: “Tử hình.”

William lạnh đến tim. Nó sẽ nghiêm trọng. Cậu nhìn Waleran. “Ông đã xin phép nhà vua chưa?”

Reginald trả lời. “Không thể. Ông ấy không thể đồng ý một việc như thế.” Ông cười nguy hiểm. “Nhưng ông ấy có thể thưởng những người phục vụ trung thành sau đó.”

Richard trẻ nói: “Được, William. Cậu có hành động chung với chúng tôi không?”

“Tôi chưa chắc chắn,” William nói. Cậu cảm thấy vừa háo hức, vừa sợ hãi. “Tôi phải suy nghĩ về nó.”

Reginald nói: “Không còn thời gian để suy nghĩ. Chúng ta phải đi bây giờ. Chúng ta phải đến Canterbury trước William Mandeville, nếu không họ sẽ cản đường chúng ta.”

Waleran nói với Wiilliam: “Họ cần một người lớn tuổi với họ, để hướng dẫn và lên kế hoạch hành động.”

William muốn đồng ý. Không những việc này sẽ giải quyết mọi vấn đề của cậu, mà có thể nhà vua còn cho cậu một lãnh địa vì chuyện này. “Nhưng giết một tổng giám mục là một tội kinh khủng!” cậu nói.

“Đừng lo lắng về nó,” Waleran nói. “Tôi sẽ tha tội cho cậu.”

Sự kinh khủng của những gì họ dự định làm đè nặng trên William như một cơn mây giông khi nhóm sát thủ trên đường đến nước Anh. Cậu không thể nghĩ gì khác; cậu không thể ăn hay ngủ; cậu hành động vô ý thức và nói lộn xộn. Khi con tàu cặp bến Dover, cậu muốn bỏ kế hoạch.

Họ đến lâu đài Saltwood ở Kent ba ngày sau lễ Giáng Sinh, vào một buổi tối thứ hai. Lâu đài thuộc tổng giám mục thành Canterbury, nhưng trong thời gian lưu đày, Ranulf de Broc đã chiếm giữ và từ chối trả lại. Thật vậy, một trong những khiếu nại của Thomas với giáo hoàng là vua Henry đã thất bại trong việc trao trả lâu đài lại cho ông.

Ranulf cho William sự can đảm mới.

Ranulf đã tàn phá Kent trong khi tổng giám mục vắng mặt giống như William ở Shiring và không muốn trả lại lãnh địa mà ông đã chiếm được. Ông nhiệt tình về kế hoạch ám sát, vui mừng muốn tham gia và thích thú bắt đầu thảo luận ngay về kế hoạch. Cách tiếp cận vấn đề của ông xua tan đám mây mù của sợ hãi mê tín đang che khuất tầm nhìn của William. William bắt đầu lại tưởng tượng về viễn cảnh nếu cậu lại trở thành bá tước, được tự do làm những gì cậu thích.

Họ thức hầu như cả đêm để bàn về kế hoạch hành động. Ranulf vẽ một sơ đồ sân nhà thờ chính tòa và dinh thự tổng giám mục, rạch nó lên bàn với một con dao. Khu tu viện ở phía bắc của nhà thờ, đó là điều bất thường vì nó thường ở phía nam, giống như ở Kingsbridge. Dinh thự tổng giám mục gắn liền với góc tây bắc của nhà thờ. Cửa vào từ hướng sân nhà bếp. Trong khi họ lên kế hoạch, Ranulf sai người đến đơn vị đồn trú của ông ở Dover, Rochester và Bletchingley, ra lệnh cho các hiệp sĩ của ông đến gặp ông trên con đường đến Canterbury vào buổi sáng. Gần sáng các kẻ âm mưu lên giường để có thể ngủ một hay hai tiếng.

Chân William đau như lửa sau cuộc du hành dài. Cậu hy vọng đây là hoạt động quân sự cuối cùng của cậu. Chẳng bao lâu nữa cậu sẽ năm mươi lăm, nếu sự tính toán của cậu chính xác, và cậu sẽ quá già để chiến đấu.

Mặc dù mỏi mệt và được ảnh hưởng sự phấn khởi của Ranulf, cậu vẫn không thể ngủ được. Ý tưởng giết một tổng giám mục đối với cậu quá kinh khủng, ngay cả mặc dù cậu đã được tha tội. Cậu sợ rằng khi ngủ cậu sẽ có cơn ác mộng.

Họ đã vẽ lên một kế hoạch tấn công tốt. Nó có thể thất bại, dĩ nhiên: luôn luôn có một cái gì đó xẩy ra ngoài ý muốn. Quan trọng là linh hoạt để đối phó với những điều không ngờ trước. Nhưng bất cứ chuyện gì xẩy ra, nó sẽ không quá khó cho một nhóm người chiến đấu chuyên nghiệp để chế ngự một nhóm nhỏ các tu sĩ ẻo lả.

Ánh sáng lờ mờ của buổi sáng mùa đông âm u xuyên vào phòng qua cánh cửa sổ xếp. Một lúc sau William đứng dậy. Cậu cố cầu nguyện, nhưng cậu không thể. Những người khác cũng đã dậy sớm. Họ ăn sáng chung với nhau trong sảnh đường. Ngoài William và Ranulf, còn có Reginald Fitzurse, người William chỉ định làm trưởng nhóm tấn công; Richard le Bret, người trẻ nhất trong nhóm; William Tracy, người già nhất; và Hugh Morville, người cao cấp nhất.

Họ mặc áo giáp và lên ngựa của Ranulf. Nó là một ngày lạnh cóng, và bầu trời tối với những áng mây xám, như thể trời sắp đổ tuyết. Họ theo con đường cổ được gọi là Stone Street. Sau khi đi được hơn hai tiếng, họ có thêm một số hiệp sĩ nữa.

Điểm hẹn chính là tu viện Thánh Augustin nằm bên ngoài thành phố. Mặc dù Ranulf đã bảo đảm viện phụ của tu viện là kẻ thù cũ của Thomas, nhưng William vẫn quyết định nói với ông là họ đến để bắt Thomas, không phải để giết ông. Họ quyết định giữ bí mật này cho đến giờ phút cuối cùng: không ai biết mục đích thực sự của kế hoạch này, ngoại trừ William, Ranulf và bốn hiệp sĩ từ Pháp sang.

Họ đến tu viện vào buổi trưa. Những người Ranulf triệu tập đang chờ đợi. Viện phụ cho họ ăn trưa. Rượu của ông ngon và tất cả họ uống nhiều. Ranulf ra lệnh cho những người lính bao vây khu vực nhà thờ chính tòa và ngăn chặn không cho ai trốn thoát.

William run rẩy, ngay cả khi cậu đứng bên cạnh lò sưởi trong nhà khách. Nó chỉ là một cuộc hành quân đơn giản, nhưng hình phạt cho sự thất bại có thể là cái chết. Nhà vua sẽ tìm cách biện minh cho việc giết Thomas, nhưng ông không bao giờ hỗ trợ cho âm mưu giết người: ông sẽ phải chối không biết gì về chuyện đó và treo cổ các thủ phạm. William, với tư cách cảnh sát trưởng ở shiring, đã treo cổ nhiều người; nhưng khi nghĩ về thân xác ông treo lủng lẳng ở đầu sợ dây thừng làm ông rùng mình.

Cậu nghĩ về chuyện khác, nghĩ về lãnh địa mà có thể cậu sẽ nhận được như phần thưởng khi thành công. Thật là tuyệt vời nếu cậu có thể trở thành bá tước một lần nữa vào lúc xế bóng, được tôn trọng, kính sợ và vâng lời vô điều kiện. Có thể em Aliena, Richard, sẽ chết ở Đất Thánh và vua Henry sẽ trao lại cho William lãnh địa cũ của cậu. Ý tưởng này sưởi ấm cậu hơn ngọn lửa.

Khi rời tu viện, họ là một đoàn quân nhỏ. Tuy nhiên họ không gặp khó khăn gì khi vào Canterbury. Ranulf đã kiểm soát phần đất này trong sáu năm nay và ông chưa từ bỏ quyền lực của ông. Ông vẫn còn ảnh hưởng hơn Thomas, đó là lý do tại sao Thomas phàn nàn một cách cay đắng với giáo hoàng.

Chẳng bao lâu khi họ ở bên trong, các binh lính phân tán xung quanh khu nhà thờ chính tòa và ngăn chặn các đường ra. Kế hoạch đã bắt đầu. Cho đến giờ phút này, một cách lý thuyết mọi chuyện có thể dừng lại được mà không có nguy hiểm; nhưng bây giờ, William nghĩ với một cái rùng mình sợ hãi, số phận đã được định đoạt.

Cậu để cho Ranulf giữ việc canh gác và thu thập một nhóm nhỏ gồm các hiệp sĩ và binh lính theo cậu. Cậu đặt hầu hết các hiệp sĩ đóng quân trong nhà đối diện với cổng chính vào khu nhà thờ. Rồi cậu đi qua cổng với nhóm còn lại. Reginald Fitzurse và ba người âm mưu khác tiến vào sân nhà bếp như thể họ là khách chính thức, chứ không phải là kẻ xâm nhập có vũ trang. Nhưng William lao vào nhà gác cổng và đe dọa người gác cổng với mũi gươm nhọn.

Cuộc tấn công được tiến hành.

Hồi hộp, William ra lệnh cho một người lính trói người gác cổng, cho người của ông vào nhà gác và đóng cổng lại. Bây giờ không còn ai có thể ra vào. Cậu đã kiểm soát được tu viện bằng vũ lực.

Cậu theo bốn người âm mưu vào trong sân nhà bếp. Có một chuồng ngựa ở phía bắc của sân, nhưng bốn người này đã cột ngựa vào một cây dâu tằm ở giữa sân. Họ tháo dây đeo kiếm và mũ sắt: họ muốn giữ vẻ bên ngoài của cuộc thăm viếng hòa bình lâu hơn nữa.

William bắt kịp họ và để vũ khí của cậu dưới gốc cây. Reginald nhìn cậu dò hỏi. “Mọi chuyện ổn cả,” William nói. “Nơi đây đã bị cô lập.”

Họ đi qua sân tới dinh thự và đi qua mái hiên. William chỉ định một hiệp sĩ địa phương tên là Richard đứng gác ở hiên. Những người khác bước vào đại sảnh đường.

Các nhân viên dinh thự đang ngồi ăn trưa. Điều đó có nghĩa là họ đã phục vụ Thomas và các linh mục cũng như các tu sĩ, những người ở cùng Thomas. Một nhân viên đứng lên. Reginald nói: “Chúng tôi là người của nhà vua.”

Cả phòng yên lặng, nhưng người nhân viên đang đứng nói: “Rất hân hạnh, thưa các ngài. Tôi là quản lý của sảnh đường, William Fitzneal. Làm ơn vào đây. Các ông muốn dùng cơm không?”

Ông ấy quá thân thiện, William nghĩ, mặc dù chủ ông đang bất hòa với nhà vua.

“Không cần ăn trưa, cám ơn,” Reginald nói.

“Một ly rượu, sau chuyến đi dài?”

“Chúng tôi có một thông điệp của vua cho chủ của ông,” Reginald sốt ruột nói. “Xin vui lòng thông báo ngay sự có mặt của chúng tôi.”

“Rất tốt.” Người quản lý cúi đầu. Họ không có vũ khí, vì thế ông ấy không có lý do gì để khước từ họ. Ông rời bàn và đi về đầu kia của sảnh đường.

William và bốn hiệp sĩ theo sau. Ánh mắt của những nhân viên im lặng dõi theo họ. William run rẩy như vẫn thường xẩy ra trước mỗi cuộc chiến, và cậu mong cuộc chiến bắt đầu ngay, vì cậu biết khi đó cậu sẽ bình thường.

Tất cả họ đi lên cầu thang đến tầng trên.

Họ vào phòng chờ rộng rãi có ghế băng quanh tường. Có một ngai lớn ở giữa một bức tường. Nhiều linh mục trong tu phục đen và các tu sĩ ngồi trên ghế băng, nhưng ngai ở giữa vẫn trống.

Người quản lý đi ngang phòng tới một cánh cửa mở. “Sứ giả của nhà vua, thưa ngài tổng giám mục,” ông nói lớn.

Không có tiếng trả lời, nhưng tổng giám mục có lẽ gật đầu, vì người quản lý vẫy tay cho họ vào.

Các linh mục và tu sĩ mở to mắt nhìn các hiệp sĩ đi qua phòng vào bên trong.

Thomas ngồi trên mép giường, mặc áo tổng giám mục. Chỉ có một người trong phòng: một tu sĩ, ngồi dưới chân Thomas, đang lắng nghe. William bắt gặp ánh mắt của người tu sĩ, và sững sờ nhận ra Tu viện trưởng Philip của Kingsbridge. Ông ấy làm gì ở đây? Nịnh hót ân huệ, không còn nghi ngờ gì. Philip là giám mục được bầu của Kingsbridge, nhưng chưa được xác nhận. Bây giờ William nghĩ với niềm vui dã man, ông ấy sẽ chẳng bao giờ làm giám mục.

Philip cũng giật mình khi nhìn thấy William. Tuy nhiên Thomas tiếp tục nói, như thể ông không để ý đến các hiệp sĩ. Đây là một chút bất lịch sự có chủ đích, William nghĩ. Các hiệp sĩ ngồi xuống trên chiếc ghế thấp và ghế băng xung quanh giường. William cho rằng như vậy không tốt: nó làm cho cuộc thăm viếng có tính cách xã hội, và cậu cảm thấy một cách nào đó họ mất đi sức đẩy. Có lẽ đó là chủ đích của Thomas.

Sau đó Thomas nhìn họ. Ông không đứng lên để chào hỏi. Ông biết tất cả họ, chỉ trừ William, và mắt ông dừng lại ở Hugh Morville, người cao cấp nhất. “À, Hugh,” ông nói.

William đã đặt Reginald phụ trách phần này của kế hoạch, vì thế Reginald, chứ không phải Hugh nói với tổng giám mục. “Chúng tôi đến từ nhà vua ở Normandy. Ông muốn nghe thông điệp của nhà vua công khai hay riêng tư?”

Thomas cáu kỉnh nhìn từ Reginald tới Hugh, rồi quay ngược lại, như thể ông tức giận phải đối phó với một người lớn tuổi nhất của đoàn đại biểu. Ông thở dài, rồi nói: “Hãy để tôi một mình, Philip.”

Philip đứng lên và đi qua các hiệp sĩ, nhìn lo âu.

“Nhưng đừng đóng cửa,” Thomas nói sau lưng ông.

Khi Philip đã ra ngoài, Reginald nói: “Tôi nhân danh nhà vua yêu cầu ông đến Winchester để trả lời những cáo buộc chống lại ông.”

William hài lòng khi thấy Thomas tái mặt đi. “Thì ra thế,” tổng giám mục bình tĩnh nói. Ông đứng lên. Người quản lý đứng lơ vơ ở cửa. “Gọi mọi người vào đây,” Thomas nói với ông. “Tôi muốn mọi người nghe điều này.”

Các tu sĩ và linh mục bước vào, Tu viện trưởng Philip ở trong số họ. Một vài người ngồi và những người khác đứng quanh tường. William không phản đối, trái lại, càng nhiều người càng tốt, vì mục đích của cuộc gặp gỡ không vũ khí này là để chứng minh trước các nhân chứng rằng Thomas đã từ khước theo lệnh của hoàng gia.

Khi họ đã ổn định, Thomas nhìn Reginald. “Nói lại!” ông nói.

“Tôi nhân danh nhà vua đòi ông đến Winchester để trả lời những cáo buộc chống lại ông,” Reginald lập lại.

“Những cáo buộc gì?” Thomas lặng lẽ nói.

“Tội phản quốc!”

Thomas lắc đầu. “Tôi sẽ không ra tòa án của Henry,” ông nói bình tĩnh. “Chúa biết tôi không có tội gì.”

“Ông đã rút phép thông công của những người phục vụ trung thành.”

“Không phải tôi, nhưng là giáo hoàng, người làm chuyện đó.”

“Ông đã rút quyền các giám mục khác.”

“Tôi đã đề nghị cho họ trở lại chức vụ theo điều kiện của lòng thương xót. Họ đã từ chối. Lời đề nghị của tôi vẫn mở.”

“Ông đã gây thiệt hại cho người kế vị vua bằng cách chê bai lễ đăng quang của con trai vua.”

“Tôi không làm những chuyện như thế. Tổng giám mục thành York không có quyền trao vương quyền cho bất cứ ai, và giáo hoàng đã khiển trách ông về tội vô liêm sỉ này. Nhưng không ai cho rằng lễ đăng quang này không có giá trị.”

Reginald nói giận dữ: “Điểm này dẫn theo điểm khác, đồ chết tiệt này.”

“Đủ rồi!” Thomas nói.

“Và chúng tôi cũng đã đủ với ông, Thomas Becket, Reginald hét to. Chúng tôi đã đủ với ông, với tính kiêu căng, phá rối và phản bội của ông.”

Thomas đứng lên. “Lâu đài tổng giám mục đã bị người nhà vua bao vây,” ông hét lên. “Tiền cho thuê của tổng giám mục được nhà vua thu. Tổng giám mục được lệnh không được rời thành phố Canterbury. Và các ông nói với tôi rằng các ông đã đủ rồi?”

Một linh mục cố can thiệp, nói với Thomas: “Thưa ngài, xin thảo luận vấn đề một cách riêng tư –“

“Để làm gì?” Thomas cắt ngang. “Họ đòi hỏi những điều tôi sẽ không làm và không muốn làm.”

Tiếng la hét đã thu hút mọi người trong dinh thự, và cửa vào phòng ngủ đầy những người đang mở to mắt lắng nghe. Lập luận đã đủ dài: không ai có thể phủ nhận việc Thomas đã từ chối lệnh của hoàng gia. William ra một hiệu lệnh cho Reginald. Nó là một cử chỉ kín đáo, nhưng Tu viện trưởng Philip đã chú ý đến nó và ông nhướng mày ngạc nhiên khi nhận ra rằng người lãnh đạo của nhóm không phải là Reginald mà là William.

Reginald nói một cách trịnh trọng: “Tổng Giám mục Thomas, ông không còn ở dưới sự hòa bình và bảo vệ của nhà vua nữa.” Ông nhìn quanh và ra lệnh cho những người đang theo dõi: “Hãy ra khỏi đây!”

Không ai di chuyển.

Reginald nói: “Các tu sĩ, nhân danh nhà vua tôi ra lệnh cho các ông canh giữ tổng giám mục và ngăn chặn ông ấy trốn thoát.”

Họ sẽ không làm những chuyện như thế, dĩ nhiên. William cũng không muốn họ làm như vậy, ngược lại, cậu muốn Thomas trốn thoát để có lý do giết ông dễ dàng hơn.

Reginald quay sang quản lý William Fitzneal, người cũng là tùy viên của tổng giám mục. “Tôi bắt ông,” ông nói. Ông nắm cánh tay người quản lý và đem ông ấy ra khỏi phòng. Ông ấy không cưỡng lại. William và những hiệp sĩ khác theo họ ra.

Họ chạy xuống cầu thang và đi qua sảnh đường. Người hiệp sĩ địa phương, Richard, vẫn còn gác bên mái hiên. William băn khoăn không biết làm gì với người quản lý. Cậu hỏi ông: “Ông thuộc về chúng tôi?”

Người đàn ông kinh hoàng. Ông nói: “Vâng, nếu ông thuộc về nhà vua.”

Ông quá sợ hãi để có thể gây nguy hiểm, mặc cho ông theo phe nào, William quyết định. Ông nói với Richard. “Để mắt tới ông ấy. Không để cho bất cứ ai rời tòa nhà. Giữ cho cổng vào luôn đóng.”

Cùng với những người khác cậu chạy qua sân tới gốc cây dâu tằm. Một cách vội vàng họ đội mũ sắt và đeo gươm. Họ sẽ làm bây giờ, William nghĩ một cách sợ hãi; chúng tôi sẽ trở lại đó và giết tổng giám mục thành Canterbury, ôi trời ơi! Đã từ lâu William không đội mũ sắt, và chiếc áo giáp nhằm bảo vệ cổ và vai cậu luôn trệch ra ngoài. Cậu nguyền rủa ngón tay vụng về của cậu. Cậu không còn thời gian để mò mẫm nữa. Cậu phát hiện ra một cậu bé đang há miệng quan sát cậu và cậu quát lên: “Hê! Tên mày là gì?”

Cậu bé nhìn lại về phía nhà bếp, không chắc chắn nên trả lời William hay chạy trốn: “Robert, thưa ngài,” một lúc sau cậu nói. “Họ gọi tôi Robert Pipe.”

“Đến đây, Robert Pipe, giúp tôi cái này.”

Cậu bé lại do dự.

William không còn kiên nhẫn. “Đến đây hay tôi thề rằng tôi sẽ cắt tay mày với lưỡi gươm này.”

Bất đắc dĩ cậu bé đi về phía trước. William chỉ cậu cách nâng cao chiếc áo giáp, trong khi cậu đội mũ sắt vào. Sau cùng cậu đội được mũ lên và cậu bé chạy trốn. Cậu bé sẽ kể cho con cháu cậu về việc này, William nghĩ thoáng qua.

Chiếc mũ sắt có một chỗ thông hơi, một vạt che miệng có thể kéo xuống và cột lại bằng dây. Những người khác đã cột xong vì thế mà mặt họ được che dấu và họ không còn được nhận ra. William để nó mở một lúc nữa. Mỗi người họ có một lưỡi kiếm ở một tay và một cái rìu ở tay kia.

“Sẵn sàng chưa?” William nói.

Tất cả gật đầu.

Từ bây giờ không còn nói chuyện. Không cần mệnh lệnh, không còn những quyết định phải làm nữa. Họ chỉ cần đơn giản trở lại chỗ đó và giết Thomas.

William cho hai ngón tay vào miệng và huýt một tiếng sáo chói tai.

Rồi cậu cột miếng che miệng lại.

Một người lính chạy ra khỏi nhà gác và mở cửa chính.

Các hiệp sĩ của William, những người đóng quân trong nhà bên kia con đường, chạy ra và ùa vào trong sân, la to như họ đã được chỉ thị: “Lính của vua! Lính của vua!”

William chạy vào lại dinh thự.

Hiệp sĩ Richard và người quản lý William Fitzneal mở toang cửa cho cậu.

Khi cậu vào, hai nhân viên của tổng giám mục tận dụng cơ hội Richard và William Fitzneal phân tâm, đã đóng sầm cửa giữa mái hiên và hội trường lại.

William dùng sức nặng của mình chống lại cánh cửa nhưng cậu đã quá trễ: họ đã gài thanh cửa. Cậu nguyền rủa. Một thất bại quá sớm! Các hiệp sĩ dùng búa bổ vào cánh cửa, nhưng không mấy khả quan: nó được làm để chống lại các cuộc tấn công. William cảm thấy cậu không còn làm chủ được tình hình. Chống lại sự hoảng loạn vừa chớm nở, cậu chạy ra khỏi mái hiên và nhìn quanh tìm kiếm cửa khác. Reginald đi với ông.

Không có gì phía bên này của tòa nhà. Họ chạy xung quanh đầu cuối phía tây của dinh thự, đi ngang nhà bếp vào trong vườn cây trái phía nam. William hài lòng: trên bức tường phía nam của dinh thự có một cầu thang dẫn lên trên lầu. Nó dường như là một lối đi riêng vào phòng ngủ của tổng giám mục. Cảm giác của hoảng sợ biến đi.

William và Reginald chạy đến chân cầu thang. Nó bị hư hại ở lưng chừng, và có một vài công cụ của người thợ và một cái thang gỗ gần đó, như thể cầu thang đang được sửa chữa. Reginald dựa chiếc thang gỗ vào bên cầu thang và trèo lên, bỏ qua các bậc thang hỏng. Ông lên đến đỉnh. Có một cửa dẫn đến một cửa sổ lồi ra ngoài với một ban công nhỏ. William quan sát Reginald thử cánh cửa. Nó khóa. Bên cạnh nó là một cửa sổ chớp.Với một đòn búa rìu, Reginald đập vỡ cửa chớp. Ông thò tay vào bên trong, rờ rẫm, rồi mở cửa và đi vào.

William bắt đầu trèo cầu thang gỗ.

Từ lúc bắt gặp ánh mắt của William, Philip lo sợ, nhưng các linh mục và tu sĩ trong đoàn của Thomas hài lòng. Rồi khi họ nghe thấy tiếng búa trên cửa sảnh đường, họ bắt đầu sợ, và nhiều người đề nghị ẩn trốn trong nhà thờ chính tòa.

Thomas khinh bỉ: “Ẩn trốn?” ông nói. “Ẩn trốn ai? Những hiệp sĩ nào? Một tổng giám mục không thể trốn chạy vì vài ba người hung hăng.”

Philip nghĩ ông có lý, ít nhất cho đến thời điểm này: chức vụ tổng giám mục trở thành vô nghĩa nếu ông sợ các hiệp sĩ. Người của Thiên Chúa, được bảo đảm trong sự nhận biết rằng tội lỗi của mình đã được tha, đối diện với sự chết như một biến đổi hạnh phúc vào một nơi khác tốt hơn, và không sợ lưỡi gươm. Tuy nhiên ngay cả tổng giám mục cũng không được coi thường sự an toàn của mình. Hơn nữa, Philip đã biết từ kinh nghiệm bản thân về sự tàn bạo và dã an của William Hamleigh. Vì thế khi họ nghe tiếng vỡ của cửa sổ chớp, Philip quyết định hành động.

Qua cửa sổ ông có thể nhìn thấy dinh thự đã bị bao vây bởi các hiệp sĩ. Nhìn thấy họ, ông càng sợ hơn. Nó rõ ràng là một cuộc tấn công có kế hoạch cẩn thận, và những kẻ tấn công được chuẩn bị để thi hành với bạo lực. Ông vội vàng đóng cửa phòng ngủ và cài then ngang. Những người khác quan sát ông, vui vì có người khác chịu trách nhiệm. Tổng Giám mục Thomas vẫn nhìn khinh khỉnh nhưng ông không ngăn những gì Philip làm.

Philip đứng bên cửa và lắng nghe. Ông nghe một người đi qua cửa sổ và vào phòng tiếp khách. Ông tự hỏi không biết cửa phòng ngủ vững chắc như thế nào. Tuy nhiên người đàn ông không tấn công cửa ra vào, nhưng xuyên qua phòng tiếp khách và xuống cầu thang. Philip đoán ông ấy đi mở cửa sảnh đường từ phía trong để cho các hiệp sĩ khác vào.

Qua đó Thomas có được vài phút an tâm.

Có một cánh cửa ở góc đối diện với phòng ngủ, một phần bị che đậy bởi chiếc giường. Philip chỉ vào nó và hỏi khẩn trương: “Cửa đó dẫn đi đâu?”

“Dẫn sang tu viện,” một người nói. “Nhưng nó đã bị khóa.”

Philip băng qua phòng và thử mở cửa. Nó khóa. “Ông có chìa khóa không?” ông hỏi Thomas, sau đó thêm vào “Thưa tổng giám mục.”

Thomas lắc đầu. “Con đường này chưa bao giờ được dùng, nếu tôi nhớ không lầm,” ông nói với sự phẫn nộ bình tĩnh.

Cánh cửa không quá chắc, nhưng Philip đã sáu mươi ba và sức mạnh tàn bạo không phải là sở trường của ông. Ông lùi lại và đá mạnh vào cửa. Chân ông đau và cửa lung lay nhẹ. Philip cắn răng và đá nó mạnh hơn. Nó bung ra.

Philip nhìn Thomas. Thomas vẫn có vẻ miễn cưỡng phải chạy trốn. Có lẽ ông chưa biết rằng lực lượng các hiệp sĩ và cuộc tấn công có tổ chức chứng tỏ ý định nghiêm trọng muốn làm hại ông. Nhưng qua trực giác ông biết rằng không thể làm cho Thomas sợ hãi để ông bỏ chạy. Thay vào đó, ông nói: “Đã đến giờ kinh chiều. Chúng ta không thể để cho mấy tên hung hăng quấy rầy giờ kinh thường nhật của chúng ta.”

Thomas mỉm cười, thấy rằng lập luận của ông đã được dùng để chống lại ông. “Rất tốt,” ông nói và ông đứng lên.

Philip dẫn đường, cảm thấy nhẹ người vì đã thuyết phục được Thomas đi, nhưng vẫn sợ tổng giám mục đi không đủ nhanh. Con đường dẫn xuống một cầu thang dài và chỉ có ánh sáng chập chờn hắt xuống từ phòng ngủ của tổng giám mục. Ở cuối đường có một cửa khác. Philip xử lý nó như ông đã làm với cánh cửa thứ nhất, nhưng nó vững chắc hơn và cửa không mở ra. Ông bắt đầu đập cửa và la to: “Mở cửa! Nhanh lên! Nhanh lên!” Ông nghe thấy sự hoảng loạn trong giọng nói của mình, và cố gắng giữ bình tĩnh, nhưng tim ông đập mạnh và ông biết rằng các hiệp sĩ của William đã gần sau lưng.

Những người khác đã bắt kịp ông. Ông tiếp tục đập cửa và la to. Ông nghe Thomas nói: “Làm ơn giữ phẩm cách, Philip,” nhưng ông không để ý đến. Ông muốn bảo vệ phẩm giá của tổng giám mục – còn của ông không quan trọng.

Trước khi Thomas có thể phản đối lần nữa, có tiếng thanh cửa được gỡ xuống và một chìa khóa lăn trong ổ, và cánh cửa mở ra. Philip nhẹ người. Hai người quản lý kinh ngạc đứng đó. Một người nói: “Tôi không biết cửa này dẫn đi đâu.”

Philip sốt ruột đẩy họ. Ông thấy mình ở trong nhà kho của tu viện. Vượt qua những thùng và bao tải, ông đến cánh cửa khác. Nó dẫn ra ngoài.

Trời đã tối. Ông ở trong đường đi phía nam của tu viện. Ở đầu xa kia của đường đi, ông nhẹ người khi thấy cánh cửa dẫn vào trong gian ngang của nhà thờ chính tòa Canterbury.

Họ dường như đã được an toàn.

Ông phải đưa Thomas vào nhà thờ chính tòa trước khi William và các hiệp sĩ của ông bắt kịp. Những người đi sau đã ra khỏi nhà kho. Philip nói: “Vào nhà thờ, nhanh lên.”

Thomas nói: “Không, Philip, không nên đi nhanh. Chúng ta vào nhà thờ chính tòa với phẩm cách.”

Philip muốn hét lên, nhưng ông nói: “Dĩ nhiên, thưa ngài.” Ông có thể nghe thấy âm thanh đáng ngại của những bước chân nặng nề trong đường đi yên lặng: Các hiệp sĩ đã vào được phòng ngủ và đã khám phá ra đường chạy thoát. Ông biết sự bảo vệ tốt nhất cho tổng giám mục là phẩm giá của ông, nhưng nó cũng chẳng có hại gì khi ông qua khỏi nguy hiểm.

“Thánh giá giám mục đâu?” Thomas hỏi. “Tôi không thể vào nhà thờ nếu không có thánh giá.”

Philip rên lên trong tuyệt vọng.

Rồi một linh mục nói: “Tôi có mang theo thánh giá. Đây này.”

Thomas nói: “Làm ơn mang thánh giá đi trước tôi như thường lệ.”

Linh mục giơ nó lên và vội vàng đi về hướng nhà thờ.

Thomas theo sau ông.

Như nghi thức đòi hỏi, đoàn tùy tùng vào nhà thờ trước ông. Philip đi sau và giữ cửa cho ông. Vừa khi Thomas đi vào, hai hiệp sĩ lao nhanh ra khỏi nhà kho tu viện và chạy nhanh xuống đường đi phía nam.

Philip đóng cửa gian ngang. Có một thanh cửa được đặt trong lỗ tường bên cạnh khung cửa. Philip lấy nó ra và cài ngang cửa.

Ông nhìn quanh, thả người xuống vì nhẹ nhõm và dựa vào cánh cửa.

Thomas đi qua gian ngang rộng về hướng bậc thang dẫn lên gian phụ phía bắc của cung thánh, nhưng khi ông nghe tiếng gài cửa, ông bất ngờ dừng và quay lại.

“Không, Philip,” ông nói.

Tim Philip thót lại. “Thưa ngài tổng giám mục –“

“Đây là một nhà thờ, không phải là lâu đài. Không được khóa cửa.”

Cánh cửa lắc dữ dội như thể các hiệp sĩ cố gắng mở nó ra. Philip nói: “Tôi sợ họ muốn giết ông.”

“Có lẽ sau cùng họ sẽ làm được điều họ muốn, cho dù ông khóa cửa hay không. Ông có biết có bao nhiêu cửa trong nhà thờ này không? Mở nó ra.”

Có hàng loạt tiếng ầm lớn như thể các hiệp sĩ phá cửa bằng rìu. “Ông có thể ẩn trốn,” Philip nói một cách tuyệt vọng. “Có hàng chục chỗ ẩn – cửa vào nhà nguyện hầm ở ngay đây – trời đã tối –“

“Ẩn trốn, Philip? Tôi nên ẩn trốn ngay trong nhà thờ của tôi sao? Ông có làm thế không?”

Philip nhìn Thomas một lúc lâu. Sau cùng ông nói: “Không, tôi sẽ không làm.”

“Mở cửa ra,”

Với một trái tim nặng nề, Philip mở cửa.

Các hiệp sĩ ùa vào. Có năm người. Mặt họ dấu sau mũ sắt. Họ mang theo gươm và búa rìu. Họ trông như những người từ hỏa ngục.

Philip biết ông không nên sợ, nhưng cạnh sắc vũ khí của họ làm ông rùng mình sợ hãi.

Một người trong nhóm họ hét lên: “Thomas Becket, kẻ phản bội của nhà vua và vương quốc, ở đâu?”

Những người khác la lên: “Kẻ phản bội ở đâu? Tổng giám mục ở đâu?”

Trời đã hoàn toàn tối, và ngôi nhà thờ lớn chỉ được soi chiếu lờ mờ bởi những cây nến. Tất cả các tu sĩ mặc màu đen và độ nhìn của các hiệp sĩ bị giới hạn vì tấm chắn trên mặt. Philip bất ngờ có một hy vọng: có lẽ họ sẽ không nhận ra Thomas trong bóng tối. Nhưng Thomas dập tắt ngay niềm hy vọng đó khi ông đi xuống và bước về phía các hiệp sĩ: “Tôi đây – không phải kẻ phản bội của nhà vua, nhưng là một linh mục của Thiên Chúa. Các ông muốn gì?”

Khi tổng giám mục đứng đối diện trước năm người với mũi gươm đã được rút ra, bất ngờ Philip biết chắc rằng Thomas sẽ chết ở đây hôm nay.

Những người trong đoàn của Thomas cũng phải cảm thấy như vậy, bởi vì bất thình lình hầu hết họ bỏ trốn. Một số biến mất vào trong bóng tối của gian cung thánh, một số phân tán vào gian giữa, len lỏi trong số cư dân đang chờ giờ lễ, và một người mở một cửa nhỏ và chạy lên cầu thang xoắn. Philip chán nản. “Các ông phải cầu nguyện, không phải chạy đi!” ông hét lên đàng sau họ.

Philip cũng cảm thấy chính ông nữa cũng có thể bị giết, nếu ông không chạy đi. Nhưng ông không thể rời tổng giám mục.

Một hiệp sĩ nói với Thomas: “Hãy từ bỏ sự phản bội của ông!” Philip nhận ra giọng của Reginald Fitzurse, người phát ngôn viên của nhóm.

“Tôi không có gì để từ bỏ,” Thomas trả lời. “Tôi không phản bội.” Ông nói hoàn toàn bình tĩnh, nhưng mặt ông trắng ra. Ông biết, giống như mọi người khác, ông sẽ phải chết, Philip nghĩ.

Reginald hét vào mặt Thomas: “Chạy đi, nếu không ông sẽ phải chết.”

Thomas vẫn đứng.

Họ muốn ông ấy chạy đi, Philip nghĩ; họ không đủ can đảm giết ông ấy.

Có lẽ Thomas cũng biết điều đó nữa, bởi vì ông đứng thản nhiên trước mặt họ, thách thức họ đụng vào ông. Một lúc lâu họ đứng đối diện nhau: các hiệp sĩ không muốn đi bước trước, vị linh mục quá tự hào để chạy trốn.

Thomas phá vỡ sự yên lặng: “Tôi sẵn sàng chết, nhưng các ông không được đụng tới bất cứ người nào của tôi, linh mục hay tu sĩ hay giáo dân.”

Reginald phản ứng trước. Ông vung thanh kiếm vào Thomas, đẩy lưỡi kiếm gần hơn và gần hơn vào mặt Thomas như thể ông dám chạm lưỡi kiếm vào vị linh mục. Thomas đứng yên như tượng đá, mắt ông nhìn vào người hiệp sĩ, không nhìn vào lưỡi kiếm. Bất ngờ, với một chuyển động nhanh, Reginald hất mũ giám mục của Thomas xuống.

Bất ngờ Philip lại tràn đầy hy vọng. Họ không đủ can đảm để là chuyện đó, ông nghĩ; họ sợ phải đụng vào ông.

Nhưng ông sai lầm. Sự quyết tâm của các hiệp sĩ được củng cố thêm qua thái độ hất mũ ngớ ngẩn đó, như thể họ đã chờ đợi bị đánh phạt bởi bàn tay Thiên Chúa, và thực tế là không có gì xẩy ra nên họ can đảm làm sự tồi tệ hơn. Reginald nói: “Đem ông ấy ra khỏi đây.”

Các hiệp sĩ khác cất kiếm vào vỏ và đến gần tổng giám mục.

Một người ôm ngang hông Thomas và cố bế ông lên.

Philip tuyệt vọng. Cuối cùng họ đã dám đụng đến ông. Sau tất cả họ đã muốn đặt tay lên người của Chúa. Họ phải biết trong trái tim rằng họ sẽ phải xuống hỏa ngục vì chuyện đó, nhưng họ vẫn làm.

Thomas mất sự thăng bằng, ông cử động cánh tay và bắt đầu chống lại. Các hiệp sĩ khác tham gia, cố nâng ông lên và đem ông đi. Những người còn lại duy nhất của Thomas là Philip và một linh mục tên là Erward Grim. Họ, cả hai chạy đến giúp Thomas. Erward nắm lấy áo choàng của Thomas và giữ chặt. Một hiệp sĩ quay lại và đấm Philip vào bên đầu. Ông choáng váng và ngã xuống.

Khi ông tỉnh lại, các hiệp sĩ đã bỏ Thomas ra. Thomas đứng với đầu cúi xuống và hai tay chắp vào nhau trong tư thế cầu nguyện. Một hiệp sĩ giơ cao lưỡi kiếm.

Philip, vẫn còn trên nền nhà, hét lên một tiếng dài phản đối bất lực: “Đ-ư-ừ-ư-n-g!”

Erward giơ cánh tay lên để đỡ đòn.

Thomas nói: “Con phó linh hồn con cho Chúa –.“

Mũi kiếm bổ xuống.

Nó trúng cả Thomas lẫn Erward. Philip nghe thấy tiếng hét của mình. Lưỡi kiếm cắt vào sọ của tổng giám mục và cắt đứt cánh tay của vị linh mục. Khi máu phun ra từ cánh tay Erdward, Thomas quỳ xuống.

Philip nhìn kinh hoàng vào vết thương trên đầu Thomas.

Tổng giám mục ngã từ từ về phía trước vào bàn tay của ông. Ông tự đỡ mình một chốc lát, rồi khuôn mặt ông đập xuống nền đá.

Người hiệp sĩ khác nâng kiếm lên và đánh xuống. Philip tự động hét lên vì đau khổ. Lưỡi kiếm thứ hai bổ xuống vào đúng chỗ lần trước, và cắt đứt phần sọ trên của Thomas. Nó là một nhát kiếm mạnh đến nỗi lưỡi kiếm chạm vào nền đá và gẫy làm đôi. Người hiệp sĩ ném phần đuôi kiếm xuống.

Một người hiệp sĩ thứ ba làm một hành động mà nó còn cháy bỏng mãi trong trí nhớ của Philip suốt quãng đời còn lại của ông. Ông ngoáy lưỡi kiếm vào trong vết thương trên đầu tổng giám mục để làm cho óc chảy ra trên nền nhà.

Chân Philip chùng lại và ông khụy xuống trên đầu gối, sự kinh hoàng bao trùm lấy ông.

Người hiệp sĩ nói: “Ông ấy không còn đứng dậy được nữa – chúng ta đi thôi.”

Tất cả họ quay ra và chạy đi.

Philip nhìn họ đi xuống gian giữa, vung thanh kiếm xung quanh để làm cho cư dân tránh đường.

Khi kẻ giết người đã đi, một sự yên lặng lạnh người trong nhà thờ. Xác của tổng giám mục nằm úp mặt trên nền nhà, và đầu sọ bị cắt đứt với mái tóc nằm bên cạnh đầu. Philip úp mặt trong lòng bàn tay. Đây là điểm cuối của tất cả hy vọng. Kẻ man rợ đã thắng, ông tiếp tục suy nghĩ; kẻ man rợ đã thắng. Ông choáng váng, xây xẩm như thể ông chìm dần trong một hồ nước sâu, chết đuối trong tuyệt vọng. Không còn gì để người ta có thể bám víu. Những gì dường như chắc chắn bất ngờ thành bất ổn.

Cả đời ông đã chiến đấu chống lại quyền lực độc tài của những con người xấu xa, và bây giờ, trong cuộc chiến cuối cùng ông đã bị đánh bại. Ông nhớ lại khi William Hamleigh đến đốt Kingsbridge lần thứ hai, cả cư dân thị trấn đã xây bức tường thành trong một ngày. Thật là một chiến thắng tuyệt vời. Sức mạnh không bạo động của hàng trăm người dân bình thường đã đánh bại sự tàn bạo trắng trợn của Bá tước William. Ông nhớ lại lúc Waleran Bigod muốn xây nhà thờ chính tòa ở Shiring để ông ấy có thể kiểm soát nó theo mục đích riêng.  Philip đã vận động dân chúng toàn vùng. Hàng trăm, hàng ngàn người đã đổ xô đến Kingsbridge vào ngày lễ Chúa Thánh Thần kỳ diệu đó cách đây ba mươi ba năm, và sức mạnh lòng nhiệt thành của họ đã đánh bại Waleran. Nhưng bây giờ không còn hy vọng. Tất cả dân chúng ở Canterbury, ngay cả tất cả Ki Tô hữu trên toàn thế giới cũng không có thể làm Thomas sống lại.

Quỳ trên phiến đá ở gian ngang nhà thờ chính tòa Canterbury, ông lại nhìn thấy những người xông vào nhà ông và giết bố mẹ trước mắt ông, năm mươi sáu năm về trước. Cảm xúc của đứa bé sáu tuổi bây giờ trở về với ông không phải là sợ hãi, cũng không phải đau buồn. Nó là cảm xúc của tức giận. Cảm thấy bất lực để ngăn ngừa những người to lớn, mặt đỏ và khát máu. Ông đã nuôi một tham vọng rực lửa để ngăn chặn những người cầm gươm, làm cùn lưỡi kiếm của họ, làm què những con ngựa của họ và nộp họ cho một thẩm quyền khác, một thẩm quyền cao hơn vương quốc của bạo lực. Và một lúc sau, khi bố mẹ ông nằm trên mặt đất, viện phụ Peter đã đến và chỉ cho ông một con đường. Không vũ khí và không khả năng tự vệ, viện phụ đã ngăn chặn ngay cuộc đổ máu. Ông không có gì ngoài uy quyền của giáo hội và sức mạnh của lòng tốt của ông. Cảnh đó đã truyền cảm ứng cho Philip suốt cuộc đời.

Cho đến lúc này ông tin rằng ông và những người như ông đã chiến thắng. Họ đã đạt được những chiến thắng đáng kể trong nửa thế kỷ qua. Nhưng bây giờ vào cuối cuộc đời, kẻ thù của ông đã chứng minh rằng không có gì đã thay đổi. Chiến thắng của ông chỉ nhất thời, những tiến bộ của ông chỉ là ảo tưởng. Ông đã có một vài chiến thắng, nhưng nguyên nhân sâu thẳm vẫn còn đó. Những người giống như người đã giết bố mẹ ông và bây giờ giết tổng giám mục trong nhà thờ chính tòa như chứng minh rằng không có uy quyền nào có thể chống lại sự chuyên chế của người có thanh kiếm.

Ông chẳng bao giờ nghĩ họ sẽ dám giết tổng giám mục Thomas, nhất là trong một nhà thờ; cũng như ông đã chẳng bao giờ nghĩ có ai dám giết bố ông, và những người khát máu với lưỡi gươm và mũ sắt đã chỉ cho ông sự thật rùng rợn trong cả hai trường hợp. Và bây giờ, ở lứa tuổi sáu mươi hai, khi ông nhìn vào thân xác ghê rợn của Thomas Becket, ông bị ám ảnh bởi sự tức giận trẻ con, vô lý, chung chung của một đứa bé sáu tuổi có bố mẹ bị giết.

Ông đứng lên. Bầu khí trong nhà thờ nặng nề với cảm xúc khi dân chúng tụ họp quanh xác của tổng giám mục. Các linh mục, tu sĩ và cư dân thị trấn chậm rãi đến gần hơn, choáng váng và đầy sợ hãi. Philip cảm thấy đàng sau biểu hiện kinh hoàng của họ cũng có sự tức giận giống như ông. Một hai người âm thầm cầu nguyện, không thành tiếng. Một phụ nữ cúi xuống nhanh chóng và đụng vào xác chết, cầu mong được may lành. Nhiều người khác làm theo. Rồi Philip nhìn thấy người phụ nữ đầu tiên lén lút thu thập máu vào một bình nhỏ, như thể Thomas là vị tử đạo.

Hàng giáo sĩ bắt đầu tỉnh lại. Người quản trị của tổng giám mục, Osbert, với dòng nước mắt chẩy xuống trên khuôn mặt, lấy một con dao và cắt một dải vải từ áo sơ mi của ông. Rồi ông quỳ xuống bên cạnh xác và dùng ngón tay vụng về gắn lại vết thương trên đỉnh đầu, trong một nỗ lực cảm động muốn khôi phục lại một chút giá trị cho nhân vị của một tổng giám mục đã bị xúc phạm khủng khiếp. Khi ông làm như vậy, một tiếng rên đau đớn tập thể phát ra từ đám đông xung quanh.

Một vài tu sĩ đem đến một cái cáng. Họ nhẹ nhàng nâng Thomas vào cáng. Nhiều bàn tay giơ ra giúp đỡ họ. Philip nhìn thấy khuôn mặt đẹp trai của tổng giám mục an bình, chỉ có một dấu hiệu duy nhất của bạo lực là một đường máu nhỏ chẩy từ đỉnh đầu phía phải, qua mũi vào tới cổ phía tay trái.

Khi họ nâng cáng lên, Philip nhặt thanh kiếm gẫy đã giết Thomas. Ông nghĩ về người phụ nữ đã thu thập máu của tổng giám mục vào chai như thể ông là một vị thánh. Hành động nhỏ bé của bà có một ý nghĩa lớn lao, nhưng Philip chưa chắc chắc nó là gì.

Dân chúng theo sau cáng, được thúc đẩy bởi một sức mạnh vô hình. Philip đi theo đám đông, cảm thấy sức quyến rũ siêu nhiên đang thu hút tất cả họ. Các tu sĩ khiêng xác qua gian cung thánh và đặt nhẹ nhàng trên nền trước bàn thờ chính. Đám đông, nhiều người trong họ cầu nguyện lớn tiếng, chăm chú nhìn một linh mục đem một tấm vải sạch và băng lại vết thương trên đầu một cách cẩn thận và đội lên chiếc mũ giám mục mới.

Một tu sĩ cắt chiếc áo khoác đen đẫm máu của tổng giám mục. Ông không biết làm gì với miếng vải đẫm máu đó, và muốn để nó sang một bên. Một người bước nhanh lên và lấy nó như thể nó là một báu vật.

Ý nghĩ mông lung, không chắc chắn trong đầu Philip bây giờ hiện ra trong một ánh sáng đầy cảm hứng. Dân chúng coi Thomas như vị tử đạo, háo hức gom góp máu và quần áo của ông như thể nó có sức mạnh siêu nhiên của di tích thánh. Philip nhìn vụ giết người như một thất bại chính trị của giáo hội, nhưng dân chúng ở đây không nhìn như thế: họ nhìn thấy một cuộc tử đạo. Và cái chết của một vị tử đạo, trong khi có thể coi nó như một thất bại, chẳng bao giờ ngừng cung cấp cho giáo hội nguồn cảm hứng và sức mạnh.

Philip lại nghĩ đến hàng trăm người đổ xô về Kingsbridge để xây nhà thờ chính tòa, và về những người đàn ông, đàn bà và trẻ em, những người đã cùng nhau làm việc trong đêm để xây tường thành. Nếu những con người như thế có thể được huy động bây giờ, ông nghĩ với sự hứng khởi, tiếng kêu giận dữ của họ sẽ mạnh mẽ đến nỗi toàn thể thế giới có thể nghe được.

Nhìn vào những người đàn ông và đàn bà tụ tập quanh xác Thomas, khuôn mặt họ đau khổ, tràn ngập đau buồn và kinh hoàng, Philip nhận ra rằng họ chỉ muốn có một nhà lãnh đạo.

Nó có thể không?

Trường hợp này có điều gì quen thuộc, ông nhận ra. Một thân xác đẫm máu, một đám đông người xem, vài người lính xa xa: ông đã thấy nó ở đâu? Những gì đã xẩy ra sau đó, ông cảm thấy, là một đám nhỏ của người chết đã tụ hợp chống lại tất cả quyền lực và thẩm quyền của một đế quốc hùng mạnh.

Dĩ nhiên. Ki Tô giáo đã bắt đầu như thế.

Và khi ông hiểu điều đó, ông biết ông phải làm gì.

Ông đến trước bàn thờ và quay mặt xuống đám đông. Ông vẫn còn cây kiếm gẫy trên tay. Mọi người nhìn ông. Một chút nghi ngờ. Ông nghĩ: Tôi có thể làm được việc đó không? Tôi có thể gây nên một phong trào, ở đây và ngay bây giờ, một phong trào có thể lay chuyển ngai vàng nước Anh không? Ông nhìn vào khuôn mặt họ. Ông nhìn thấy cả nỗi đau và giận dữ, và trong một số người có cả một chút hy vọng.

Ông giơ thanh kiếm lên cao.

“Đây là thanh kiếm đã giết một vị thánh,” ông bắt đầu.

Có tiếng thầm thì tán thành.

Thêm can đảm, Philip nói: “Ở đây, vào tối nay chúng ta đã chứng kiến một cuộc tử đạo.”

Các linh mục và tu sĩ ngạc nhiên. Giống Philip, họ đã không nhìn thấy ngay ý nghĩa thực sự của việc giết người mà họ đã chứng kiến. Nhưng cư dân thành phố đã thấy và họ lên tiếng ủng hộ.

“Mỗi người chúng ta phải ra đi và kể về những gì chúng ta đã thấy.” Nhiều người gật đầu mạnh mẽ. Họ đang lắng nghe – nhưng Philip muốn nhiều hơn. Ông muốn truyền cảm hứng cho họ. Giảng thuyết chưa bao giờ là sở trường của ông. Ông không phải là người có thể làm cho đám đông say mê, làm cho họ cười và khóc, và thuyết phục họ đi theo ông mọi nơi. Ông không biết cách làm cho giọng nói của mình gây chấn động, làm cho ánh sáng vinh quang tỏa sáng trong mắt. Ông là một con người thực tế, gắn liền với mặt đất; và ngay bây giờ ông cần nói như một thiên thần.

“Chẳng bao lâu nữa mỗi người đàn ông, đàn bà và trẻ em ở Canterbury sẽ biết rằng người của nhà vua đã giết Tổng giám mục Thomas trong nhà thờ chính tòa. Nhưng đó chỉ là khởi đầu. Tin tức sẽ lan đi khắp nước Anh, và rồi trên khắp các nước Ki Tô giáo.”

Ông thất bại, ông có thể nói. Có sự bất mãn và thất vọng trên khuôn mặt một số người. Một người lên tiếng: “Nhưng chúng tôi phải làm gì?”

Philip nhận ra họ cần có những hành động cụ thể ngay lập tức. Không thể kêu gọi một cuộc thập tự chinh rồi sai họ đi ngủ.

Một cuộc thập tự chinh, ông nghĩ. Đó là một ý tưởng.

Ông nói: “Ngày mai, tôi sẽ mang cây gươm này đến Rochester. Ngày hôm sau nữa tới London. Các ông bà có theo tôi không?”

Hầu hết họ ngây người ra, nhưng một người nào đó ở phía sau nói to: “Vâng!” Rồi một hai giọng khác tán thành.

Philip cất cao giọng hơn. “Chúng ta sẽ kể câu chuyện của chúng ta cho mọi thị trấn và làng mạc ở nước Anh. Chúng ta sẽ chỉ cho mọi người lưỡi gươm đã giết Thánh Thomas. Chúng ta sẽ cho họ xem vết máu trên áo linh mục của ngài.” Ông nói mạnh mẽ và tỏ ra một chút tức giận. “Chúng ta sẽ tạo nên một làn sóng phản đối, lan truyền trên khắp các nước Ki Tô giáo, ngay cả đến tận Roma. Chúng ta sẽ biến toàn thể thế giới văn minh chống lại kẻ man rợ, những người đã gây ra tội ác khủng khiếp và xúc phạm đến Thiên Chúa này.”

Lần này hầu hết mọi người tán thành. Họ đã chờ đợi một cách để diễn tả cảm xúc của họ, và bây giờ ông cho họ.

“Tội ác này,” ông nói chậm rãi, giọng ông như hét lên, “sẽ chẳng bao giờ - chẳng bao giờ quên được!”

Họ gầm lên đồng ý.

Bất ngờ ông biết phải làm gì. “Chúng ta bắt đầu cuộc thập tự chinh của chúng ta ngay bây giờ!” ông nói.

“Vâng!”

“Chúng ta mang gươm này đi khắp đường phố Canterbury!”

“Vâng!”

“Và chúng ta sẽ kể cho mỗi cư dân trong thị trấn những gì chúng ta đã chứng kiến tối nay!”

“Vâng!”

“Hãy mang nến và theo tôi!”

Giơ cao gươm, ông đi thẳng xuống giữa nhà thờ chính tòa.

Họ theo sau ông.

Cảm thấy hứng khởi, ông đi qua gian cung thánh, qua khu trung tâm, và đi xuống theo gian giữa. Một vài tu sĩ và linh mục đi bên cạnh ông. Ông không cần quay lại: ông có thể nghe thấy bước chân của hàng trăm người đi sau ông. Ông đi ra cửa chính.

Ở đó ông có một khoảnh khắc của lo lắng. Xuyên qua vườn cây ăn trái ông có thể nhìn thấy binh lính lục soát dinh thự của tổng giám mục. Nếu những người theo ông đối đầu với những người lính này, cuộc thập tự chinh có thể kết thúc trong cuộc ẩu đả, trước khi nó thực sự bắt đầu, Philip nghĩ. Ông vội quay nhanh đi chỗ khác và dẫn đoàn người đi qua cửa gần nhất vào các đường phố.

Một tu sĩ cất lên một bài thánh ca. Có đèn và ánh lửa đàng sau những cửa sổ chớp của các căn nhà, nhưng khi đoàn rước đi qua, dân chúng mở cửa để xem chuyện gì đang diễn ra. Một số người hỏi người tham dự. Một số người tham gia vào.

Philip rẽ vào một góc và nhìn thấy William Hamleigh.

William đứng bên ngoài một chuồng ngựa. Dường như cậu vừa cởi bộ áo giáp, chuẩn bị lên ngựa và ra khỏi thành phố. Cậu có một số người bên cậu. Họ ngẩng lên chờ đợi. Có lẽ họ đã nghe tiếng hát và tự hỏi chuyện gì đang xẩy ra.

Khi đoàn rước đến gần, William trông rất hoang mang. Sau đó cậu nhìn thấy chiếc gươm gẫy trên tay Philip, và cậu hiểu ra mọi chuyện. Cậu nhìn chằm chằm trong sự yên lặng kinh hoàng một lúc lâu, rồi cậu nói. “Ngừng lại!” cậu hét lên. “Tôi ra lệnh cho các ông phải giải tán!”

Không ai để ý đến. Những người đi chung với William trông lo âu: chống lại một đám đông hàng trăm người nhiệt thành, kiếm trong tay cũng chẳng giúp gì họ.

William nói thẳng với Philip. “Nhân danh nhà vua tôi ra lệnh cho ông ngừng việc này lại.”

Philip đi quẹt ngang cậu, đám đông phía sau đẩy ông tiến lên. “Quá trễ, William!” ông ngẩng đầu nói lại. “Đã quá trễ!”

III

Những chàng trai trẻ đến chỗ treo cổ sớm.

Chúng đã ở đó, trong khu chợ ở Shiring, ném những viên đá vào con mèo, sỉ nhục người ăn xin và đánh nhau, khi Aliena đến, đi bộ một mình, mặc một áo khoác rẻ tiền có mũ che để ẩn dấu danh tính của cô.

Cô đứng xa, nhìn giàn giáo. Cô không có ý định đến. Cô đã chứng kiến bao nhiêu vụ treo cổ trong cương vị bá tước. Bây giờ cô không còn có trách nhiệm đó, cô đã nghĩ cô sẽ hạnh phúc biết bao nếu cô chẳng bao giờ nhìn thấy người nào phải treo cổ nữa trong suốt quãng đời còn lại của cô. Nhưng lần này khác.

Cô không còn ở vị trí bá tước nữa vì em cô, Richard, đã bị giết ở Syria – không phải trong một cuộc chiến, trớ trêu thay, mà trong một cuộc động đất. Tin này đã cần sáu tháng để đến tay cô. Đã từ mười lăm năm cô không gặp cậu, và bây giờ cô sẽ chẳng bao giờ thấy cậu nữa.

Trên đồi, cổng lâu đài mở ra và người tù đi ra với đoàn bảo vệ, theo sau bởi tân bá tước của Shiring, con trai của Aliena, Tommy.

Richard không có con, vì thế người thừa kế là cháu của cậu. Nhà vua choáng váng và mệt mỏi với vụ mang tiếng về Thomas Becket, đã nhanh chóng công nhận Tommy làm bá tước. Aliena đã nhanh chóng trao lại cho thế hệ trẻ hơn. Cô đã đạt được những gì cô muốn cho lãnh địa. Một lần nữa nó lại là một vùng trù phú và thịnh vượng, một mảnh đất của những con cừu mập, những cánh đồng xanh và những nhà máy xay mạnh mẽ. Một số chủ đất lớn và tiến bộ đã theo chân cô trong việc dùng ngựa cày, nuôi ngựa bằng lúa mạch được gieo trồng bằng hệ thống ba mùa luân phiên. Kết quả là đất có thể nuôi sống nhiều người hơn là dưới thời bố cô cai trị.

Tommy có thể là một bá tước tốt. Cậu sinh ra để làm chuyện đó. Jack đã từ chối không chấp nhận chuyện đó một thời gian dài. Cậu muốn con trai cậu trở thành thợ xây dựng, nhưng sau cùng cậu bị ép buộc phải nhìn nhận sự thật. Tommy chẳng bao giờ có thể cắt thẳng một viên đá, nhưng tự bản chất cậu là một nhà lãnh đạo, và vào lứa tuổi hai mươi tám cậu có khả năng quyết định, dứt khoát, thông minh và công bằng. Bây giờ cậu thường được gọi là Thomas.

Khi cậu lên nắm quyền, dân chúng chờ đợi Aliena sẽ ở lại lâu đài, gắt gỏng con dâu và chơi với cháu nội của cô. Nhưng cô đã cười họ. Cô thích vợ của Tommy – một người phụ nữ xinh đẹp, người con gái út của bá tước thành Bedford – và cô yêu ba đứa cháu nội của cô, nhưng ở lứa tuổi năm mươi hai cô chưa sẵn sàng về hưu. Cô và Jack đã lấy một căn nhà đá lớn gần tu viện Kingsbridge – có thời nó đã là khu nhà nghèo, nhưng bây giờ không còn nữa – và cô đã trở lại nghề kinh doanh len, mua và bán, thương lượng với tất cả sinh lực cũ của cô và sau một thời gian ngắn cô đã thu được số tiền lớn.

Đoàn tử hình đã vào trong khu chợ, và Aliena thức giấc từ giấc mơ. Cô nhìn kỹ vào người tù: cậu vấp vào sợi dây và ngã xuống đất, tay cậu bị cột ra sau lưng. Đó là William Hamleigh.

Một người nào đó ở phía trước nhổ vào cậu. Một đám đông lớn tụ tập trong khu chợ. Hầu hết mọi người vui vì nhìn William lần cuối, và ngay cả những người không có ác cảm với cậu cũng cảm thấy khác thường để xem một cựu cảnh sát trưởng bị treo cổ. Nhưng William đã tham dự vào những vụ giết người khét tiếng nhất mà mọi người có thể nhớ.

Phản ứng về vụ ám sát Tổng giám mục Thomas vượt qua sức tưởng tượng của mọi người. Aliena chưa bao giờ trải qua những kinh nghiệm tương tự như thế. Tin tức lan truyền nhanh như cháy rừng xuyên qua toàn bộ các nước Ki Tô giáo, từ Dublin tới Jerusalem và từ Toledo tới Oslo. Giáo hoàng lui vào để tang. Một nửa lục địa của vương quốc vua Henry ở dưới lệnh cấm, có nghĩa là tất cả các nhà thờ đều đóng cửa và không còn giờ lễ, ngoại trừ bí tích rửa tội. Ở Anh, dân chúng đã bắt đầu hành hương đến Canterbury, như thể nó là một đền thánh như Santiago de Compostela. Còn có nhiều phép lạ. Nước pha với máu của vị tử đạo và vải từ chiếc áo khoác Thomas đã mặc khi ông bị giết chữa nhiều bệnh tật, không những ở Canterbury mà còn trên toàn nước Anh.

Người của William đã cố ăn cắp xác ở nhà thờ chính tòa, nhưng các tu sĩ đã cảnh giác và giấu nó; và bây giờ nó được giữ trong một mái vòm bằng đá, và khách hành hương phải chui đầu qua một lỗ hổng trong tường để hôn quan tài bằng cẩm thạch.

Đó là tội ác cuối cùng của William. Cậu vội vã trở về Shiring, nhưng Tommy đã bắt cậu, buộc tội cậu phạm thánh và cậu bị kết tội bởi tòa án của Giám mục Philip. Thông thường không ai dám kết án một cảnh sát trưởng, vì ông là nhân viên cao cấp của triều đình, nhưng trong trường hợp này mọi chuyện ngược lại: không ai, ngay cả nhà vua, dám bảo vệ một trong những người đã giết Becket.

William có một kết thúc tồi tệ.

Mắt cậu hoang dại và nhìn vào khoảng trống, miệng cậu mở ra và chẩy nước dãi. Cậu rên rỉ từng hồi. Trên mặt trước của áo dài có một vết bẩn chứng tỏ cậu đã đái ra.

Aliena nhìn kẻ thù lâu đời của cô loạng choạng đi đến giá treo cổ. Cô nhớ lại chàng trai trẻ, kiêu ngạo, nhẫn tâm hãm hiếp cô ba mươi lăm năm về trước. Thật khó có thể tin rằng cậu lại trở thành một sinh vật rên rỉ, khiếp sợ như cô thấy bây giờ. Ngay cả khi cậu là một hiệp sĩ già thất vọng, béo phì, bị bệnh gút, cậu cũng không giống như lúc này. Cậu bắt đầu chiến đấu và hét lên khi cậu đến gần giàn giáo. Các binh lính lôi cậu đi như lôi một con heo đến lò mổ. Trong trái tim, Aliena không thấy thương hại cậu: tất cả những gì cô cảm thấy là nhẹ người. William sẽ chẳng bao giờ làm ai khiếp đảm nữa.

Cậu đấm đá và la hét khi cậu được nhấc bổng lên chiếc xe bò. Cậu trông như một con vật, mặt đỏ, hoang dại và bẩn thỉu; nhưng cậu lắp bắp, rên rỉ và kêu ca như một đứa bé. Phải cần bốn người giữ cậu, trong khi người thứ năm tròng dây thòng lọng vào cổ cậu. Cậu vùng vẫy chống lại quá mạnh đến nỗi nút thắt chặt lại trước khi cậu rơi mình xuống, và cậu tự siết cổ cậu bằng chính nỗ lực của cậu. Các người lính lui lại. William quằn quại, nghẹt thở, khuôn mặt phệ của cậu biến thành màu tím.

Aliena nhìn một cách kinh hoàng. Ngay cả trong lúc giận và hận nhất, cô cũng không mong cậu có một cái chết như thế này.

Không có tiếng ồn. William chết nghẹn và đám đông vẫn đứng. Ngay cả bọn con trai cũng lặng thinh trước cảnh tượng kinh khủng này.

Ai đó đánh vào hông con bò và các con thú đi về phía trước. Sau cùng William rơi xuống, nhưng cái rơi không làm gẫy cổ cậu, và cậu treo lơ lửng trên đầu sợi dây, chậm rãi nghẹt thở. Mắt cậu vẫn mở. Aliena cảm thấy cậu đang nhìn cô. Vẻ nhăn nhó trên khuôn mặt cậu khi cậu bị treo ở đó, quằn quại trong đau đớn, rất quen thuộc đối với Aliena, và cô nhận ra rằng cậu trông giống như khi cậu cưỡng hiếp cô, ngay lúc cậu sắp lên đến đỉnh. Ký ức đâm cô như một con dao, nhưng cô không để mình nhìn đi chỗ khác.

Nó kéo dài lâu nhưng đám đông hoàn toàn im lặng. Mặt cậu sẫm hơn và sẫm hơn. Sự quằn quại đau đớn của cậu trở thành sự co giật. Sau cùng mắt cậu lộn ngược lên, mi mắt đóng lại, cậu bất động, và rồi, một cách ghê tởm, lưỡi cậu thè ra, đen và sưng lên, giữa hai hàm răng.

Cậu đã chết.

Aliena không còn nước mắt. William đã thay đổi đời cô – lúc trước cô sẽ nói: cậu phá hủy đời cô –và bây giờ cậu đã chết và không còn có thể làm tổn thương cô hay bất cứ người nào khác.

Đám đông bắt đầu đi về. Các đứa trẻ trêu nhau, bắt chước cái chết ghê tởm của William, chúng lộn mắt lên và thò lưỡi ra. Một người lính trèo lên giàn giáo và cắt William xuống.

Aliena bắt gặp ánh mắt con trai cô. Cậu ngạc nhiên khi thấy cô. Cậu đi ngay đến cô và cúi xuống hôn cô. Con tôi, cô nghĩ, con trai lớn của tôi. Con của Jack. Cô nhớ lại cô đã kinh hoàng như thế nào khi nghĩ rằng cô có thể có con với William. Vâng, một số điều đã trở thành tốt đẹp.

“Con nghĩ mẹ không muốn đến đây hôm nay,” Tommy nói.

“Mẹ phải,” cô nói. “Mẹ phải nhìn cậu ấy chết.”

Cậu giật mình. Cậu không hiểu, thực sự không hiểu. Cô vui. Cô hy vọng cậu sẽ chẳng bao giờ phải hiểu những việc như thế.

Cậu vòng tay qua cô và hai mẹ con cùng nhau ra khỏi quảng trường.

Aliena không quay nhìn lại.

Vào một ngày nóng giữa mùa hè, Jack ăn trưa với Aliena và Sally trên hành lang bên trên gian ngang phía bắc mát mẻ. Họ ngồi trên các phiến thạch cao trên nền vẽ của cậu. Âm thanh của các tu sĩ hát giờ kinh ba trong nhà nguyện là những tiếng thì thầm thấp như tiếng thác nước chẩy ở nơi xa. Họ có sườn cừu nguội với bánh mì trắng mới và một bình bia vàng. Jack đã dành buổi sáng phác thảo nhà nguyện mới mà cậu sẽ bắt đầu xây năm tới. Sally cắn miếng sườn với hàm răng trắng trong khi cô quan sát bản vẽ. Một lúc nào đó cô sẽ góp ý phê bình về nó, cậu biết. Cô liếc nhìn Aliena. Cô đọc được nét mặt của Sally và cô biết điều gì sẽ đến.

“Tại sao bố lại muốn đầu phía đông tròn?” Sally hỏi.

“Bố dựa trên thiết kế của nhà thờ Sant-Denis,” Jack nói.

“Nó có lợi điểm nào?”

“Vâng, nó dễ dàng cho khách hành hương di chuyển xung quanh.”

“Vì thế bố chỉ có hàng cửa sổ nhỏ này.”

Jack đã nghĩ cô sẽ nói về cửa sổ ngay, vì cô là một thợ kính. “Cửa sổ nhỏ?” cậu nói, làm như cậu phẫn nộ. “Những cửa sổ này rất lớn! Lần đầu tiên khi bố đặt cửa sổ kích thước này vào nhà thờ, dân chúng nghĩ rằng toàn bộ tòa nhà sẽ đổ vì những bức tường không đủ mạnh để đứng vững.”

“Nếu nhà nguyện vuông ở đầu, bố sẽ có bức tường phẳng rất lớn,” Sally cứng đầu. “Bố có thể có những cửa sổ thực sự lớn.”

Cô có lý, Jack nghĩ. Với phần đầu tròn toàn thể nhà nguyện phải có cùng chiều cao liên tục, chia thành ba lớp truyền thống: đường đi mái vòm, hành lang phía trên và khu có cửa sổ trên cao nữa. Phần đầu vuông cho phép nhà nguyện thay đổi kiến trúc. “Có thể có cách khác để cho khách hành hương di chuyển,” cô nói trầm ngâm.

“Và ánh sáng mặt trời sẽ chiếu qua cửa sổ lớn,” Sally nói.

Jack có thể mường tượng nó. “Có thể có một hàng cử sổ cao, thanh, giống như những thanh giáo trong giá.”

Sally nói: “Hay một cửa sổ to tròn giống như một đóa hoa hồng.”

Đó là một ý tưởng tuyệt vời. Một người nào đó đứng trong gian giữa, nhìn xuống nhà thờ về hướng đông, chiếc cửa sổ tròn sẽ giống như một mặt trời lớn nổ bung ra thành vô số mảnh vỡ của màu sắc tuyệt đẹp. Jack có thể thấy nó. “Bố tự hỏi không biết các tu sĩ chọn chủ đề nào.”

“Mười điều răn và các tiên tri,” Sally nói.

Cậu nhíu mày nhìn cô. “Này con cáo già khôn ngoan! Con đã thảo luận ý tưởng này với Tu viện trưởng Jonathan rồi phải không?”

Cô cảm thấy có lỗi, nhưng cô không phải trả lời câu hỏi đó vì Peter Chisel, một thợ khắc đá trẻ, đã đến. Cậu là một người đàn ông nhút nhát, vụng về với mái tóc đẹp rũ xuống mắt, nhưng những trạm khắc của cậu rất đẹp, và Jack may mắn có cậu. “Tôi có thể làm gì cho cậu, Peter?” cậu hỏi.

“Thực ra, tôi đi tìm Sally,” Peter nói.

“Được, cô ấy đây.”

Sally đứng lên, giũ bánh mì vụn ra khỏi áo dài của cô. “Chút nữa con về,” cô nói, sau đó cô và Peter đi qua ô cửa thấp và xuống cầu thang xoắn.

Jack và Aliena nhìn nhau.

“Cô bé đỏ mặt, phải không?” Jack hỏi.

“Em hy vọng như vậy,” Aliena nói. “Trời ơi! Đã đến lúc nó phải yêu ai chứ. Nó đã hai mươi sáu rồi.”

“Vâng, vâng. Anh đã không còn hy vọng. Anh nghĩ nó muốn thành một người giúp việc già.”

Aliena lắc đầu. “Không. Sally tràn đầy sức sống như những người khác. Cô ấy chỉ kén chọn.”

“Có phải vậy không?” Jack nói. “Các cô gái trong miền không muốn lấy Peter Chisel.”

“Các cô gái trong miền thích những người đàn ông to lớn đẹp trai như Tommy, người có thể nhẩy lên lưng ngựa và khoác áo choàng với viền bằng lụa đỏ. Sally lại khác. Cô muốn người khôn ngoan và tình cảm. Peter là mẫu người cho cô.”

Jack gật đầu. Cậu chưa bao giờ nghĩ về nó theo cách đó, nhưng bằng trực giác cậu cảm thấy rằng Aliena đúng. “Sally giống như bà nội của cô” cậu nói. “Mẹ anh cũng yêu một người kỳ cục.”

“Sally giống mẹ anh, và Tommy giống bố em,” Aliena nói.

Jack mỉm cười với cô. Cô đẹp hơn mọi khi. Tóc cô đã nhuốm hoa râm, và da cổ cô không còn mịn màng như tấm đá cẩm thạch. Nhưng khi lớn tuổi, cô không còn mập và nét mặt đẹp của cô càng tỏ lộ rõ ràng, cho cô một vẻ đẹp thanh bạch, giầu tính nghệ thuật. Jack đưa tay ra và sờ lên cằm cô. “Giống như trụ tường có cánh của anh,” cậu nói.

Cô mỉm cười.

Cậu đưa tay xuống cổ và trên ngực cô. Ngực cô cũng thay đổi nữa. Cậu còn nhớ ngày trước chúng vươn ra khỏi lồng ngực và núm vú hướng lên. Rồi, khi cô mang thai, chúng đã to hơn, và núm vú trở nên rộng hơn. Bây giờ chúng thấp và mềm, và chúng lắc lư từ bên này sang bên kia khi cô đi. Cậu vẫn yêu chúng mặc cho những thay đổi. Cậu tự hỏi chúng sẽ ra sao khi cô già. Chúng sẽ nhăn nheo và có đầy nếp nhăn không? Có lẽ ngay cả như vậy tôi vẫn yêu chúng, cậu nghĩ. Cậu cảm thấy núm vú cô cứng hơn dưới ngón tay cậu. Cậu vươn người về phía trước và hôn cô.

“Jack, anh đang ở trong nhà thờ,” cô thầm thì.

“Không sao,” cậu nói, và cậu chà tay qua bụng đến háng cô.

Có tiếng bước chân trên bậc thang.

Cậu bỏ tay ra, cảm thấy tội lỗi.

Cô cười vì sự bối rối của cậu. “Chúa sẽ phán xét anh,” cô nói.

“Anh sẽ gặp em ở đó,” cậu giả giọng đe dọa.

Bước chân lên đến đỉnh cầu thanh và Tu viện trưởng Jonathan bước vào. Cậu chào họ một cách nghiêm trang. “Tôi có điều muốn nói với anh, Jack,” cậu nói. “Anh có thể vào tu viện không?”

“Dĩ nhiên.” Jack đứng lên.

Jonathan đi xuống cầu thang xoắn.

Jack dừng lại ở ô cửa và chỉ ngón tay đe dọa về phía Aliena. “Một chút nữa,” cậu nói.

“Hứa nhé?” cô nói với một nụ cười.

Jack theo Jonathan xuống cầu thang và đi qua nhà thờ tới cửa vào gian ngang phía nam, ở đó có đường vào tu viện. Họ đi theo bức tường phía bắc, ngang qua các học sinh đang học với bảng bằng sáp, và dừng lại ở góc. Với một cái hất đầu, Jonathan hướng sự chú ý của Jack vào một tu sĩ đang ngồi một mình trên băng đá ở bức tường phía tây. Chiếc mũ trên đầu vị tu sĩ che khuôn mặt ông, nhưng khi họ dừng lại, vị tu sĩ quay lại, nhìn lên, và rồi nhanh chóng quay mặt đi.

Bất ngờ Jack lui lại một bước.

Vị tu sĩ là Waleran Bigod.

Jack tức giận nói: “Con quỷ này làm gì ở đây?”

“Chuẩn bị gặp đấng dựng nên ông,” Jonathan nói.

Jack cau mày. “Tôi không hiểu.”

“Ông ấy là một người tuyệt vọng,” Jonathan nói. “Ông ấy không còn địa vị, không còn quyền lực và không còn bạn bè. Ông nhận ra rằng Thiên Chúa không muốn ông là một giám mục vĩ đại và quyền lực. Ông ấy đã nhìn ra sai lầm. Ông ấy đến đây, đi bộ, và xin được làm một tu sĩ khiêm tốn để dành phần còn lại của cuộc đời xin Chúa tha thứ tội lỗi cho ông.”

“Tôi không tin được,” Jack nói.

“Lúc đầu, tôi cũng vậy,” Jonathan nói. “Nhưng sau đó tôi nhận ra rằng ông ấy luôn luôn là người kính sợ Chúa.”

Jack nghi ngờ.

“Tôi nghĩ thực sự ông là một người ngoan đạo. Ông chỉ có một sai lầm quan trọng: ông ấy tin rằng mục đích biện minh cho phương tiện trong việc phục vụ Thiên Chúa. Điều đó cho phép ông được làm bất cứ việc gì.”

“Ngay cả việc âm mưu ám sát một tổng giám mục!”

Jonathan giơ tay lên trong một cử chỉ tự vệ. “Thiên Chúa phải xử ông về việc đó – không phải tôi.”

Jack nhún vai. Philip cũng thường nói như vậy. Jack không thấy lý do để cho Waleran sống trong tu viện. Tuy nhiên đó là đường lối của các tu sĩ. “Tại sao anh muốn tôi gặp ông ấy?”

“Ông ấy muốn kể cho anh tại sao họ đã treo cổ bố anh.”

Jack lạnh người.

Waleran vẫn ngồi bất động như pho tượng, nhìn vào khoảng trống. Ông đi chân không. Dưới đường viền của tu phục bằng vải thô tự dệt, xương trắng bệch yếu ớt của ông hiện ra rõ ràng. Jack nhận ra Waleran không còn đáng sợ. Ông yếu ớt, thất trận và buồn bã.

Jack chậm rãi đi về phía ông và ngồi xuống trên ghế băng, xa ông một bộ.

“Vua Henry cũ quá mạnh mẽ,” Waleran nói không mào đầu. “Một số các nam tước không thích thế, vì họ bị hạn chế. Họ muốn lần sau sẽ có một vị vua yếu hơn. Nhưng Henry chỉ có một người con trai: William.”

Tất cả những điều đó là lịch sử xa xưa. “Đó là trước khi tôi sinh ra,” Jack nói.

“Bố cậu chết trước khi cậu sinh ra,” Waleran nói, với một chút kiêu hãnh cũ của ông.

Jack gật đầu. “Vậy xin tiếp tục.”

“Một nhóm các nam tước quyết định giết con trai William của Henry. Suy nghĩ của họ là nếu không có người kế vị rõ ràng, họ sẽ có nhiều ảnh hưởng hơn trong việc chọn lựa vua mới.”

Jack quan sát khuôn mặt gầy gò, nhợt nhạt của Waleran để xem ông có xảo trá không. Người đàn ông già trông rất mệt mỏi, nản chí và hối hận. Jack không thấy có dấu hiệu gì là ông có điều gì bí mật. “Nhưng William chết trong vụ đắm thuyền của ‘Con thuyền trắng’,” Jack nói.

“Vụ đắm thuyền đó không phải là một tai nạn,” Waleran nói.

Jack giật mình. Nó có thể là sự thật sao? Có phải người kế vị ngai vàng bị ám sát chỉ vì một nhóm các nam tước muốn có một vị vua yếu không? Nhưng nó không gây sốc hơn vụ ám sát một tổng giám mục. “Tiếp tục đi,” cậu nói.

“Người của các nam tước đánh đắm tàu rồi trốn đi trong một chiếc thuyền. Mọi người khác đều chết đuối, ngoại trừ một người đã bám vào cột buồm và trôi dạt vào bờ biển.”

“Đó là bố tôi,” Jack nói. Cậu bắt đầu hiểu Waleran muốn dẫn đi đâu.

Khuôn mặt Waleran trắng bệch và môi ông không còn giọt máu. Ông nói không cảm xúc và không nhìn Jack. “Ông đến một bờ biển gần một lâu đài. Lâu đài đó lại thuộc về một trong những kẻ chủ mưu và họ đã bắt ông. Ông không quan tâm đến việc tố cáo họ. Thực vậy, ông chẳng nhận ra rằng con tàu bị đánh chìm. Nhưng ông đã nhìn thấy những điều mà nó có thể tiết lộ sự thật cho người khác, nếu ông được tự do và kể về những gì ông thấy. Vì thế họ bắt cóc ông, đưa ông tới nước Anh, và giao cho một số người tin tưởng lo cho ông.”

Jack buồn rã rượi. Tất cả những gì bố cậu muốn làm là mua vui cho người khác, mẹ cậu nói như thế. Nhưng có vài điều mới lạ trong câu truyện của Waleran. “Tại sao họ không giết ông ngay?” Jack hỏi.

“Họ nên làm như thế,” Waleran nói dứt khoát. “Nhưng ông là người vô tội, một người hát rong, một người làm cho người khác được vui. Vì thế họ không dám giết ông.” Waleran cười nhạt. “Ngay cả những người tàn nhẫn nhất cũng có một số ngại ngùng.”

“Vậy tại sao họ lại thay đổi ý định?”

“Bởi vì sau cùng ông đã trở thành nguy hiểm, ngay cả ở đây. Lúc đầu ông không nguy hiểm - ngay cả ông không nói được tiếng Anh. Nhưng ông đã học, dĩ nhiên, và ông bắt đầu kết bạn. Vì thế họ đã nhốt ông trong nhà tù dưới nhà ngủ của tu viện. Rồi người ta bắt đầu hỏi tại sao ông bị nhốt. Ông trở thành sự lo lắng. Họ nhận ra rằng họ sẽ chẳng nghỉ ngơi được bao lâu ông còn sống. Vì thế sau cùng họ bảo chúng tôi giết ông.”

Quá dễ dàng như thế, Jack nghĩ. “Nhưng tại sao ông vâng lời họ?”

“Cả ba chúng tôi đều tham vọng,” Waleran nói, và lần đầu tiên nét mặt ông biểu lộ cảm xúc, khi miệng ông nhăn lại tỏ vẻ hối hận. “Percy Hamleigh, Tu viện trưởng James và tôi. Mẹ cậu nói sự thật – chúng tôi, tất cả đều được thưởng công. Tôi trở thành tổng đại diện, và nó là một khởi đầu tốt đẹp cho con đường tiến thân của tôi trong giáo hội. Percy Hamleigh trở thành một điền chủ lớn. Tu viện trưởng James nhận được sự hỗ trợ cần thiết cho tài sản tu viện.”

“Và các nam tước?”

“Sau vụ đắm tàu, Henry bị tấn công trong ba năm sau đó bởi Fulk thành Anjou, William Clito ở Normandy và vua nước Pháp. Đã có lúc ông yếu thế. Nhưng ông đánh bại kẻ thù và cai trị thêm được mười năm nữa. Khi qua đời, ông không để lại người con trai nối ngôi nào. Stephan lên nối ngôi và triều đại của ông là triều đại mà các nam tước mong muốn. Trong hai thập kỷ nội chiến, các nam tước cai trị giống như vua trong lãnh thổ của họ mà không có thẩm quyền trung ương nào kiềm chế họ.”

“Và bố tôi đã chết cho điều đó.”

“Ngay cả điều đó trở thành chua chát. Hầu hết các nam tước này chết trong cuộc chiến, và một vài con của họ cũng vậy. Và lời nói dối chúng tôi loan ra trong vùng để có cớ giết bố cậu, sau cùng đã trở lại ám ảnh chúng tôi. Mẹ cậu nguyền rủa chúng tôi sau khi bố cậu bị tử hình, và lời nguyền rủa của bà có tác dụng. Tu viện trưởng James bị hủy hoại bởi sự nhận thức về những gì ông đã làm, đúng như Remigius nói trong tòa án. Percy Hamleigh chết trước khi sự thật được tiết lộ, nhưng con ông bị treo cổ. Và hãy nhìn tôi: Lời khai man của tôi cách đây năm mươi năm đã quay ngược lại tôi và đã chấm dứt con đường công danh của tôi.” Waleran kiệt sức, như thể sự cố gắng tự kiềm chế mình đã làm ông căng thẳng khủng khiếp. “Tất cả chúng tôi đều sợ mẹ cậu, bởi vì chúng tôi không biết rõ bà biết những gì. Sau cùng chúng tôi biết bà biết không nhiều, nhưng như thế cũng đủ.”

Jack cảm thấy khô miệng. Sau cùng cậu đã biết sự thật về bố cậu, một điều mà cậu đã muốn biết trong suốt đời cậu. Giờ đây cậu không thể cảm thấy tức giận hay thù hận. Cậu chẳng bao giờ biết người bố thật của cậu, nhưng cậu đã có Tom, người đã cho cậu niềm đam mê về xây dựng. Đó là niềm đam mê thứ hai trong đời cậu.

Jack đứng lên. Những biến cố quá xa trong quá khứ để làm cậu khóc. Từ lúc đó đến nay đã có nhiều chuyện xẩy ra, và hầu hết chúng đều tốt.

Cậu nhìn xuống người đàn ông già, buồn rầu đang ngồi trên băng ghế. Trớ trêu thay, người bây giờ phải chịu đựng sự cay đăng về hối hận lại là Waleran. Jack thương hại ông. Thật khủng khiếp, Jack nghĩ, khi biết mình già đi và thấy cuộc đời mình là những sai lầm. Waleran nhìn lên, và lần đầu tiên ánh mắt họ gặp nhau. Waleran ngần ngại và quay đi, như thể ông bị tát vào mặt. Lúc đó Jack có thể đọc được suy nghĩ của ông, và cậu nhận ra rằng Waleran đã nhìn thấy sự thương hại trong mắt cậu.

Và đối với Waleran, sự thương hại của kẻ thù của ông là sự sỉ nhục nhất.

 

IV

Philip đứng ở cổng phía tây của thành phố Canterbury, thành phố cổ kính của Ki Tô giáo. Ông mang đầy đủ dấu hiệu biểu trưng màu sắc lộng lẫy của một giám mục nước Anh, và cầm cây gậy giám mục có cẩn đá quý. Trời đổ mưa.

Ông sáu mươi sáu tuổi, và trời mưa lạnh đến xương ông. Đây là lần cuối cùng ông liều lĩnh đi xa nhà như thế. Nhưng không gì trên thế giới có thể làm ông bỏ qua ngày này. Một cách nào đó, nghi thức hôm nay sẽ phong vương công việc đời ông.

Từ ngày ám sát lịch sử Tổng giám mục Thomas đến nay là ba năm rưỡi. Trong khoảng thời gian ngắn đó sự tôn sùng thần bí về Thomas Becket đã lan truyền đi khắp nơi trên thế gới. Philip không tưởng tượng được những gì ông đã bắt đầu khi ông dẫn đầu đoàn rước nến nhỏ đó xuyên qua các đường phố Canterbury. Giáo hoàng đã tôn phong Thomas lên hàng thánh một cách nhanh chóng. Thậm chí còn có một dòng mới của các tu sĩ hiệp sĩ ở Đất Thánh được gọi là các Hiệp sĩ của thánh Thomas thành Acre. Vua Henry không thể chống lại một phong trào phổ biến mạnh mẽ như thế. Nó quá mạnh để bất cứ một cá nhân nào có thể chống lại được.

Đối với Philip, tầm quan trọng trong toàn bộ hiện tượng này nằm trong việc nó nói lên sức mạnh thực sự. Cái chết của Thomas đã tỏ ra rằng, trong cuộc xung đột giữa giáo hội và triều đình, triều đình có thể luôn luôn chiếm ưu thế vì sử dụng sức mạnh bạo lực. Nhưng sự tôn sùng Thánh Thomas chứng tỏ rằng một cuộc chiến thắng như thế luôn luôn là một cái trống rỗng. Quyền lực của một vị vua không tuyệt đối: nó có thể bị hạn chế bởi ý muốn của dân chúng. Sự chuyển biến này đã diễn ra trong quãng đời của Philip. Ông không chỉ chứng kiến nó, ông còn đóng góp cho nó. Và buổi lễ hôm nay sẽ tưởng nhớ đến nó.

Một người chắc nịch với chiếc đầu to đang đi trong mưa về hướng thành phố. Ông không có giày hay mũ. Ở một khoảng xa đàng sau ông, một nhóm người cưỡi ngựa theo ông.

Người đàn ông đó là Vua Henry.

Đám đông yên lặng như trong một tang lễ, trong khi vua ướt đẫm nước mưa đi bộ qua bùn tới cổng thành phố.

Philip bước vào con đường, theo chương trình đã xếp sẵn, và đi trước nhà vua, dẫn đường vào nhà thờ chính tòa. Henry theo sau, đầu cúi xuống. So với vẻ tự mãn thông thường của ông, thái độ của ông hôm nay là hình ảnh của sự ăn năn. Dân chúng kinh hoàng lặng im nhìn vào vị vua nước Anh đang hạ mình trước mắt họ. Đoàn tùy tùng của vua theo xa xa.

Philip dẫn ông chậm rãi qua cổng nhà thờ chính tòa. Cánh cửa vĩ đại của nhà thờ lộng lẫy mở rộng. Họ bước vào, một cuộc rước trang trọng của hai người, là cực điểm của cuộc khủng hoảng chính trị của thế kỷ. Gian giữa chật kín. Đám đông dạt ra cho họ đi qua. Dân chúng thì thầm, choáng váng khi thấy vị vua tự hào nhất trong thế giới Ki Tô giáo, ướt sũng, đi vào nhà thờ như một người ăn xin.

Họ đi từ từ theo gian giữa và xuống bậc vào nhà nguyện dưới hầm. Ở đó, bên cạnh ngôi mộ mới của vị tử đạo, các tu sĩ của Canterbury đang đợi, trong số họ có các giám mục lớn nhất và uy quyền nhất cùng với các viện phụ trong vương quốc.

Nhà vua quỳ trên nền nhà.

Kẻ nịnh thần của ông vào nhà nguyện sau ông. Trước mặt mọi người, Henry của nước Anh, tên thứ hai của ông, thú nhận tội của ông và nói rằng ông là nguyên nhân gây nên cuộc ám sát Thánh Thomas.

Sau khi đã thú tội ông cởi áo choàng ra. Phía trong ông mặc một áo dài xanh và một áo sơ mi bằng lông. Ông lại quỳ xuống, giơ lưng ra.

Giám mục thành London uốn cong cây roi.

Nhà vua bị đánh đòn.

Ông phải chịu năm đòn từ mỗi linh mục và ba đòn từ các tu sĩ hiện diện. Đánh đòn chỉ là tượng trưng, dĩ nhiên, vì nếu tám mươi tu sĩ hiện diện đánh thật, nhà vua chẳng sống sót nổi.

Giám mục thành London đụng lưng nhà vua năm lần nhẹ nhàng với cây roi. Rồi ông quay lại, đưa cây roi cho Philip, giám mục thành Kingsbridge.

Philip bước tới để đánh đòn nhà vua. Ông vui vì vẫn còn sống để chứng kiến biến cố này. Từ hôm nay, ông nghĩ, thế giới sẽ chẳng bao giờ như cũ nữa.

HẾT


Nguồn: Dịch giả: VNthuquan.net -Thư viện Online
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 17 tháng 1 năm 2017

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của ken follett