Cả mùa đông năm đó Aliena bị bệnh.
Mỗi đêm cô khó ngủ, cuộn mình trong chiếc áo choàng trên sàn nhà, ở cuối chân giường Alfred, và ban ngày cô mệt mỏi chán chường. Cô thường cảm thấy buồn nôn, nên cô ăn rất ít, mặc dù vậy cô vẫn cảm thấy như tăng ký: cô chắc chắn ngực và hông to hơn, và vòng eo đầy đặn hơn.
Cô có nhiệm vụ lo việc nhà cửa cho Alfred, mặc dù thực tế Martha làm hầu hết mọi việc. Cả ba sống chung với nhau trong một gia đình âu sầu. Martha không ưa anh cô, và bây giờ Aliena ghét cậu ấy cay đắng, vì thế mà không ngạc nhiên gì khi cậu vắng nhà bao nhiêu có thể. Ban ngày cậu ở chỗ làm việc và ban đêm ở quán bia. Martha và Aliena mua thực phẩm và nấu ăn một cách chán nản, vào buổi tối họ may vá quần áo. Aliena mong mùa xuân đến và trời ấm áp đủ để cô có thể thăm viếng khu rừng bí mật vào chiều chủ nhật. Ở đó cô sẽ nằm trong bình an và mơ về Jack.
Trong lúc này, sự an ủi của cô là Richard. Cậu đã có một con ngựa đua đen nhanh, một thanh kiếm mới và một người cận thần với một con ngựa con, và cậu lại chiến đấu cho vua Stephen mặc dù quân của cậu đã giảm số lượng. Cuộc chiến kéo dài sang năm mới. Maud đã trốn khỏi lâu đài Oxford và vượt qua tay của Stephen, và anh cô, Robert thành Gloucester, đã chiếm lại Wareham, nên tình trạng cò cưa cũ vẫn tiếp tục: mỗi bên thắng một tí rồi lại mất. Nhưng Aliena chu toàn lời thề của cô và cô có thể hài lòng với nó.
Trong tuần đầu tiên của năm mới Martha bắt đầu có kinh nguyệt lần đầu. Aliena chuẩn bị cho cô một ly nước nóng với thảo dược và mật ong để giảm bớt sự căng thẳng và trả lời cô những thắc mắc về gánh nặng người phụ nữ phải mang, và đi tìm hộp vải băng mà cô đã dành cho thời kỳ kinh nguyệt của cô. Tuy nhiên, chiếc hộp không có trong nhà, và sau cùng cô nhớ lại cô đã không đem nó từ nhà cũ tới đây khi cô lấy chồng.
Nhưng nó đã cách đây ba tháng.
Điều đó có nghĩa là cô đã không có kinh nguyệt từ ba tháng nay.
Không có kể từ ngày cưới.
Không có kể từ lần cô làm tình với Jack.
Cô để Martha ngồi bên bếp lửa, nhâm nhi ly mật ong, hơ ấm bàn chân, và cô đi ngang thị trấn về lại nhà cũ. Richard không có đó nhưng cô có một chìa khóa. Cô dễ dàng tìm thấy hộp băng nhưng cô không quay trở về ngay. Thay vào đó cô ngồi bên bếp lạnh, cuốn mình trong áo choàng và chìm trong suy nghĩ.
Cô đã cưới Alfred vào lễ Thiên Thần Micae. Bây giờ đã qua Giáng Sinh. Nó đã qua ba mùa trăng. Cô đã phải có ba lần kinh nguyệt. Tuy nhiên hộp băng ở trên giá cao, bên cạnh hòn đá Richard dùng để mài dao. Bây giờ cô giữ nó trong lòng. Cô chà ngón tay trên mặt gỗ thô. Ngón tay cô đầy bụi. Chiếc hộp có đầy bụi bao phủ.
Điều tồi tệ là cô chưa bao giờ làm tình với Alfred.
Sau đêm đầu tiên khủng khiếp đó, cậu đã thử ba lần nữa: một lần vào đêm hôm sau, rồi một tuần sau và một tháng sau khi cậu say rượu trở về. Nhưng mỗi lần cậu đều hoàn toàn không có khả năng. Lúc đầu Aliena đã khuyến khích cậu, vì tinh thần trách nhiệm; nhưng sau mỗi lần thất bại cậu lại càng tức giận hơn, và cô trở thành khép kín hơn. An toàn nhất là tránh xa cậu, mặc quần áo không hấp dẫn, không thay quần áo trước mặt cậu và để cho cậu quên đi chuyện ấy. Bây giờ cô tự hỏi cô có nên thử lần nữa không. Nhưng thực sự cô biết nó sẽ không thay đổi gì. Nó không có hy vọng. Cô không biết chắc chắn tại sao – có lẽ vì lời nguyền của Ellen, có lẽ Alfred bất lực, hay có lẽ vì nhớ đến Jack – nhưng cô cảm thấy chắc chắn bây giờ Alfred sẽ chẳng làm tình với cô.
Vì thế cậu sẽ biết đứa trẻ không phải là con cậu.
Cô nhìn vào đống tro lạnh trong bếp lửa của Richard và tự hỏi tại sao cô luôn luôn gặp sự không may như thế này. Ở đây, trong một cuộc hôn nhân tồi tệ, cô đã cố gắng làm tốt nhất và không may mắn cô lại có thai với một người khác, sau chỉ một lần làm tình.
Nhưng than thân trách phận không mang lại được gì. Cô phải quyết định làm một cái gì đó.
Cô đặt tay lên bụng. Bây giờ cô biết tại sao cô lên ký, tại sao cô cảm thấy buồn ói, tại sao cô luôn luôn mệt mỏi. Trong đây là một con người nhỏ. Cô mỉm cười với mình. Có một đứa bé sẽ đẹp dường nào.
Cô lắc đầu. Không phải mọi chuyện đều sẽ tốt đẹp. Alfred sẽ điên như một con bò đực. Không biết cậu ấy sẽ làm gì – giết cô, đuổi cô ra khỏi nhà, giết đứa bé… Cô có một linh tính bất ngờ, kinh khủng rằng cậu sẽ làm hại thai nhi bằng cách đạp vào bụng cô. Cô lau trán: cô chẩy mồ hôi lạnh.
Tôi sẽ không nói với cậu ấy, cô nghĩ.
Cô có thể giữ bí mật việc mang thai này không? Có lẽ. Cô đã thường mặc quần áo đủ kiểu, rộng thùng thình. Có thể bụng cô cũng không to quá – một số phụ nữ khác cũng vậy. Alfred là người ít tinh ý nhất trong nam giới. Những bà khôn ngoan trong thị trấn chắc chắn sẽ đoán được, nhưng cô tin rằng họ sẽ giữ nó cho riêng họ, hay ít nhất không nói chuyện đó với đàn ông. Vâng, cô quyết định không cho cậu ấy biết cho đến khi đứa bé được sinh ra.
Sau đó làm gì? Tốt, ít nhất sinh vật nhỏ bé này sẽ được mở mắt chào đời an toàn. Alfred không thể giết nó bằng cách đạp vào Aliena. Nhưng cậu ấy vẫn biết nó không phải là con cậu. Chắc chắn cậu ấy sẽ ghét đứa bé: nó là điều sỉ nhục cho nam tính của cậu. Đời sống sẽ là một hỏa ngục.
Aliena không có thể nghĩ xa hơn. Cô đã quyết định một bước an toàn cho sáu tháng tới. Trong thời gian này cô sẽ cố gắng nghĩ xem cô phải làm gì sau khi đứa bé được sinh ra.
Tôi muốn biết nó là con trai hay con gái, cô nghĩ.
Cô đứng lên với hộp băng cho thời kỳ kinh nguyệt đầu tiên của Martha. Tôi thương hại em, Martha, cô mệt mỏi nghĩ; tất cả những điều này còn ở trước mặt em.
Philip trải qua mùa đông năm đó, nghiền ngẫm về những rắc rối. Ông kinh hoàng về những lời nguyền rủa vô đạo mà Ellen thốt ra ở sảnh đường nhà thờ trong giờ lễ. Trong trí ông bây giờ không còn nghi ngờ gì rằng bà là một phù thủy. Ông chỉ hối hận về sự ngu ngốc của ông vì đã tha thứ cho bà về sự xúc phạm của bà đến luật Thánh Biển Đức nhiều năm trước đây. Ông phải biết rằng một người phụ nữ có thể làm điều đó sẽ chẳng bao giờ thực sự ăn năn. Tuy nhiên, một điều may mắn là Ellen đã rời Kingsbridge và từ đó đến nay chẳng ai thấy bà đâu nữa. Philip hy vọng một cách tha thiết rằng bà sẽ chẳng bao giờ quay trở về.
Aliena rõ ràng không hạnh phúc trong hôn nhân với Alfred, tuy nhiên Philip không tin rằng lời nguyền là nguyên nhân của việc đó. Philip không biết nhiều về đời sống hôn nhân nhưng ông có thể đoán được rằng một người thông minh, hiểu biết, sống động như Aliena sẽ không thể sống hạnh phúc với một người suy nghĩ chậm chạp và hẹp hòi như Alfred, mặc dù họ là chồng, là vợ hay là gì khác.
Aliena nên lấy Jack, dĩ nhiên. Bây giờ ông cảm thấy có lỗi vì đã quá bám víu vào kế hoạch của ông cho Jack đến nỗi không nhận ra những gì Jack thực sự cần. Jack không hợp với đời sống tu viện và Philip đã sai lầm khi ép cậu vào. Bây giờ Kingsbridge đã mất đi sự thông minh và khả năng của cậu.
Dường như mọi thứ đã sai kể từ thảm họa ở hội chợ len. Tu viện nợ nần nhiều hơn bao giờ hết. Philip đã cho một nửa nhân công xây dựng nghỉ việc vì không có đủ tiền trả lương họ. Qua đó cư dân của thị trấn đã giảm đi, và kết quả là chợ chủ nhật nhỏ hơn và Philip mất đi thu nhập từ việc cho thuê cửa hàng. Kingsbridge ở trong một vòng xoắn đi xuống.
Trọng tâm của vấn đề là tinh thần của cư dân. Mặc dù họ đã xây dựng lại nhà cửa và bắt đầu lại công việc kinh doanh nhỏ bé, họ vẫn chưa có sự tin tưởng vào tương lai. Bất cứ những gì họ dự định, bất cứ những gì họ xây dựng, cũng có thể bị phá hủy trong một ngày bởi William Hamleigh, nếu cậu tấn công một lần nữa. Sự bất an ngấm ngầm này ở trong suy nghĩ của mọi người và làm tê liệt ý muốn kinh doanh của họ.
Sau cùng Philip nhận ra ông phải làm một cái gì đó để ngăn chặn sự thụt lùi này. Ông cần phải làm một cử chỉ gây ấn tượng sâu sắc để nói cho thế giới nói chung và dân thị trấn nói riêng rằng Kingsbridge sẵn sàng chống trả. Ông dùng nhiều giờ cầu nguyện và suy niệm, cố gắng tìm ra hành động nào ông nên làm.
Cái mà ông thực sự cần thiết là một phép lạ. Nếu xương Thánh Adolphus có thể chữa được một công chúa khỏi bệnh dịch, hay biến giếng nước lờ lợ thành nước ngọt, dân chúng sẽ tuôn đổ đến Kingsbridge hành hương. Nhưng Thánh Adolphus đã không làm phép lạ từ nhiều năm nay. Một đôi khi Philip tự hỏi có phải phương pháp điều hành tu viện một cách ổn định và thực tế của ông đã không làm Thánh hài lòng, bởi vì phép lạ thường xẩy ra ở những nơi có bầu khí tôn giáo nhiệt thành. Nhưng Philip đã được học sống thực tế trên mặt đất. Linh mục Peter, viện phụ của tu viện đầu tiên ông ở, đã thường nói: “Hãy cầu xin cho có phép lạ, nhưng đừng quên trồng bắp.”
Biểu tượng của đời sống và sự mạnh mẽ của Kingsbridge là nhà thờ chính tòa. Nếu nhà thờ được hoàn thành do một phép lạ nhỉ? Một lần ông đã cầu nguyện cả đêm cho một phép lạ như thế, nhưng buổi sáng hôm sau gian cung thánh vẫn chưa có mái, vẫn còn chịu đựng nắng mưa, và bức tường cao, nơi gặp tường gian ngang, vẫn còn dang dở.
Philip vẫn chưa thuê người xây dựng chính mới. Ông bị sốc về số tiền lương họ đòi hỏi, và ông nhận ra tiền công cho Tom thật rẻ. Một cách nào đó Alfred đã điều hành lực lượng lao động mà không có nhiều khó khăn. Alfred trở nên buồn rầu từ sau ngày cưới, giống như một người đã đánh bại nhiều đối thủ để trở thành vua và rồi nhận ra rằng vương quyền là một gánh nặng mệt mỏi. Tuy nhiên, cậu có thẩm quyền và có thể quyết định, và những người khác tôn trọng cậu.
Nhưng Tom đã để lại một lỗ hổng không thể lấp đầy được. Philip thiếu ông không những vì ông là một thợ xây dựng chính mà ông còn là một người gần gũi. Tom đã quan tâm đến lý do tại sao các nhà thờ lại xây theo cách này hơn là cách khác, và Philip đã chia sẻ những suy đoán với ông những gì làm cho một số tòa nhà tồn tại trong khi một số khác xụp đổ. Tom không phải là người đặc biệt sùng đạo, nhưng đôi khi ông hỏi Philip những câu hỏi về thần học và nó chứng tỏ rằng ông chuyên tâm nhiều đến niềm tin cũng như với công việc xây dựng. Cách suy nghĩ của Tom nhiều hay ít cũng giống Philip. Philip coi ông như một đối tượng nói chuyện ngang hàng. Có rất ít những người như thế trong đời sống của Philip. Jack là một trong số đó, mặc dù cậu còn trẻ; Aliena là một người khác, nhưng cô đã biến mất trong cuộc hôn nhân buồn chán của cô ấy. Cuthbert bây giờ đã già, và Milius Bursa luôn luôn phải xa tu viện, tham quan các trang trại cừu, đếm cừu và bao lông cừu. Một tu viện sống động và kinh tế phát tiển trong một thành phố nhà thờ chính tòa sung túc sẽ thu hút các học giả, cũng giống như một đội quân chinh phục thu hút binh lính. Philip chờ mong ngày đó tới. Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ tới nếu Philip không tìm ra cách làm tăng sinh lực cho Kingsbridge.
“Năm nay mùa đông dịu,” Alfred nói vào một buổi sáng sau lễ Giáng Sinh. “Chúng ta có thể bắt đầu sớm hơn bình thường.”
Điều đó làm Philip suy nghĩ. Mái trần vòm sẽ được xây vào mùa hè. Khi nó hoàn thành, gian cung thánh có thể sử dụng được, và Kingsbridge sẽ không còn là thị trấn không nhà thờ chính tòa. Gian cung thánh là phần quan trọng nhất của nhà thờ: bàn thờ cao và di tích thánh được giữ ở phía cuối hướng đông, được gọi là chính điện, và hầu hết các giờ kinh được cử hành ở gian cung thánh, nơi các tu sĩ ngồi. Chỉ vào các ngày chủ nhật và lễ trọng, cả nhà thờ mới được dùng đến. Một khi gian cung thánh được thánh hiến, cả khu xây dựng sẽ thành nhà thờ, mặc dù nó chưa hoàn hảo.
Đáng tiếc là họ phải chờ thêm một năm nữa cho đến ngày đó. Alfred đã hứa hoàn thành mái vòm vào cuối mùa xây dựng năm nay, và mùa xây dựng thường kết thúc vào tháng mười một, tùy theo thời tiết. Nhưng khi Alfred nói cậu có thể bắt đầu sớm hơn, Philip tự hỏi không biết cậu có thể hoàn thành nó sớm hơn không. Mọi người sẽ ngạc nhiên nếu nhà thờ có thể mở cửa lại vào mùa hè năm nay. Nó là một cử chỉ mà ông đang tìm kiếm: một cái gì đó làm kinh ngạc cả miền, và chuyển đi một thông điệp rằng Kingsbridge không chịu khuất phục.
“Ông có thể hoàn thành vào dịp lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống không?” Philip hào hứng hỏi.
Alfred hít hơi thở qua kẽ răng, nét mặt cậu tỏ vẻ nghi ngờ. “Mái vòm là phần khó nhất và đòi hỏi tay nghề cao nhất,” cậu nói. “Nó không được hấp tấp và chúng ta không để người học nghề làm được.”
Bố của cậu sẽ trả lời được hay không, Philip cáu kỉnh nghĩ. Ông nói: “Giả sử tôi có thể cung cấp thêm cho cậu nhân công, giả sử các tu sĩ hỗ trợ thêm. Điều đó có giúp được gì nhiều không?
“Một ít. Điều chúng ta cần thêm là thợ hồ, thực như vậy.”
“Tôi có thể cung ứng cho ông thêm một hoặc hai,” Philip vội vàng nói. Một mùa đông ôn hòa cũng có nghĩa là lông cừu có thể xén sớm hơn, nên ông hy vọng có thể bán len sớm hơn bình thường.
“Tôi không biết.” Alfred vẫn còn bi quan.
“Giả sử tôi treo phần thưởng cho các thợ xây thì sao?” Philip nói. “Thêm một tuần lương nếu mái vòm hoàn thành vào dịp lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.”
“Tôi chưa bao giờ nghe về chuyện ấy,” Alfred nói. Cậu trông như thể đã được đề nghị một điều không thích hợp.
“Tuyệt, mọi chuyện đều bắt đầu bằng lần đầu tiên,” Philip gắt gỏng nói. Sự thận trọng của Alfred làm ông bực mình. “Ông nghĩ sao?”
“Tôi không thể nói được hay không cho việc này,” Alfred cứng đầu nói. “Tôi sẽ nói chuyện với các nhân công của tôi.”
“Hôm nay?” Philip sốt ruột nói.
“Hôm nay.”
Philip phải hài lòng về chuyện đó.
William Hamleigh và các hiệp sĩ của ông đến dinh thự giám mục, đi sau một xe bò chở đầy bao len. Mùa cắt lông cừu đã bắt đầu. Giống như William, Waleran đã mua len từ các trang trại với giá của năm trước và chờ đợi sẽ bán nó với giá cao hơn. Không ai trong họ gặp rắc rối khi ép những người thuê đất bán len cho họ: một vài nông dân đã chống lại, và họ bị đuổi và trang trại của họ bị đốt cháy, nên sau đó không còn cuộc nổi loạn nào.
Khi William đi ngang qua cổng, ông ngước nhìn lên đồi. Bức tường thành còi cọc của lâu đài giám mục đã ngừng xây từ bẩy năm qua, nằm trên ngọn đồi như một sự nhắc nhở thường xuyên về việc Waleran đã bị Tu viện trưởng Philip qua mặt. Ngay sau khi Waleran thu lợi được từ việc kinh doanh len, có lẽ ông sẽ tiếp tục xây dựng. Trong thời vua Henry xưa, một giám mục không cần sự phòng thủ, mà chỉ cần một hàng rào gỗ đàng sau một con mương xung quanh dinh thự. Bây giờ, sau năm năm nội chiến, ngay cả những người không phải là giám mục hay bá tước cũng xây cho mình lâu đài hoành tráng.
Mọi chuyện xẩy ra thuận lợi cho Waleran, William chua chát nghĩ khi cậu xuống ngựa. Waleran luôn luôn trung thành với Giám mục Henry thành Winchester và vì thế ông trở thành một trong những người thân cận nhất của Henry. Qua năm tháng Waleran đã giầu lên nhờ nguồn tài sản và đặc quyền ổn định, và ông đã hai lần thăm viếng Roma.
William đã không có được may mắn đó, vì thế cậu chua chát. Mặc dù đã nhiều lần thay đổi phía đồng minh theo Waleran, và mặc dù đã cung ứng một đoàn quân hùng mạnh cho cả hai phía trong cuộc nội chiến, cậu vẫn chưa được công nhận là bá tước của Shiring. Trong cuộc tạm ngừng chiến, cậu đã suy nghĩ về chuyện này và trở nên tức giận đến nỗi cậu quyết định gặp Waleran.
Cậu lên cầu thang vào sảnh đường, cùng đi có Walter và các hiệp sĩ theo sau. Người quản lý gác cổng đứng bên trong cửa được trang bị vũ khí, một dấu hiệu khác của thời đại. Giám mục Waleran ngồi trên một ghế lớn giữa phòng như thường lệ, với cánh tay và bàn chân xương xẩu ở mọi góc như thể nó không được xếp ngay ngắn. Baldwin, bây giờ là tổng đại diện, đứng bên cạnh ông và chờ mệnh lệnh. Waleran đang nhìn chăm chú vào lò sưởi, chìm trong suy tư, nhưng ông nhìn lên khi William đến gần.
William cảm thấy sự khó chịu quen thuộc khi ông chào Waleran và ngồi xuống. Bàn tay gầy mềm mại, mái tóc đen mỏng, làn da trắng nhạt và đôi mắt nham hiểm nhợt nhạt của ông làm William nổi da gà. Waleran có mọi thứ mà William ghét: thủ đoạn, thể chất yếu, kiêu ngạo và khôn ngoan.
William có thể nói rằng Waleran cũng cảm thấy cậu giống như thế. Waleran đã chẳng che dấu được sự chán ghét khi William bước vào. Ông ngồi thẳng và khoanh tay, môi cong một chút và cau mày, tất cả như thể ông đang khó chịu vì không tiêu được.
Một lúc lâu họ nói về chiến tranh. Đó là một cuộc nói chuyện gượng gạo và nặng nề, và William thở phào khi nó bị đứt quãng bởi một sứ giả mang đến một lá thư trong một cuộn giấy da và niêm ấn bằng sáp. Waleran sai người sứ giả xuống bếp kiếm gì đó ăn. Ông không mở thư.
William lợi dụng cơ hội để thay đổi câu chuyện. “Tôi đến đây không phải để trao đổi tin tức về cuộc chiến. Tôi đến đây để nói rằng tôi đã hết kiên nhẫn.”
Waleran nhíu mày, không nói gì. Im lặng là câu trả lời của ông cho những chủ đề khó chịu.
William tiếp tục: “Kể từ khi bố tôi qua đời đến nay đã được ba năm, nhưng Vua Stephen vẫn chưa công nhận tôi là bá tước của Shiring. Đó là một thái quá.”
“Tôi hoàn toàn đồng ý với ông,” Waleran nói chậm rãi. Ông đùa giỡn với lá thư, kiểm tra con dấu và nghịch với dải băng.
“Vậy thì tốt,” William nói, “bởi vì ông cũng không liên quan về nó.”
“William yêu quý của tôi, tôi không thể phong ông làm bá tước được.”
William đã biết Waleran sẽ có thái độ này, và cậu đã quyết định không chấp nhận nó. “Anh trai của nhà vua sẽ nghe ông.”
“Nhưng tôi có thể nói gì với ông ấy? Tôi sẽ nói rằng William Hamleigh đã phục vụ nhà vua tốt sao? Nếu điều đó là đúng, nhà vua đã biết rõ, và nếu nó không đúng, nhà vua cũng biết nữa.”
William không thể đối đáp lý lẽ với Waleran nên cậu lơ đi lập luận đó. “Ông còn nợ tôi điều đó, Waleran Bigod.”
Waleran hơi nổi giận. Ông cầm lá thư chỉ vào William. “Tôi không nợ ông gì cả. Ông luôn luôn phục vụ cho mục đích riêng của ông, ngay cả khi ông làm những gì tôi muốn. Không có nợ nần gì về ân nghĩa giữa chúng ta.”
“Tôi đã nói với ông, tôi không thể chờ thêm được.”
“Ông muốn làm gì?” Waleran nói với sự khinh miệt trong giọng nói của ông.
“Tốt, trước hết chính tôi sẽ đi gặp Giám mục Henry.”
“Rồi sau đó?”
“Tôi sẽ nói với ông ấy rằng ông đã không lắng nghe yêu cầu của tôi và hệ quả là tôi sẽ đổi phía đồng minh sang nữ hoàng Maud.” William hài lòng vì nhìn thấy nét mặt Waleran thay đổi: ông xanh xao hơn và có một chút ngạc nhiên.
“Lại đổi một lần nữa?” Waleran nói nghi ngờ.
“Chỉ hơn ông một lần,” William lì lợm.
Sự thờ ơ kênh kiệu của Waleran bị lung lay, nhưng không nhiều. Waleran đã được hưởng lợi nhiều vì ông có thể đưa William và các hiệp sĩ của cậu ấy theo phía nào mà Giám mục Henry ưa chuộng hơn vào lúc đó: nếu William bất ngờ trở thành độc lập, nó sẽ là một đòn giáng mạnh vào ông – nhưng nó không phải là đòn chí tử. William nghiên cứu khuôn mặt Waleran khi cậu nghiền ngẫm mối đe dọa này. William có thể đọc được suy nghĩ của ông: một đàng ông ấy muốn giữ William trung thành, mặt khác ông tự hỏi cậu ấy có giá trị bao nhiêu.
Để nới rộng thời gian, Waleran tháo con dấu của lá thư ra và mở nó. Khi ông đọc, một sự tức giận hiện trên bờ má trắng bạch của ông. “Ông chết tiệt này,” ông rít lên.
“Cái gì vậy?” William hỏi.
Waleran đưa lá thư ra.
William cầm lấy và nhìn chằm chằm vào hàng chữ trên lá thư: “Kính gửi… Đức cha… thánh thiện… nhân từ…” Waleran giật nó lại, không còn kiên nhẫn với việc đọc chậm chạp của William. “Lá thư của Tu viện trưởng Philip,” ông nói. “Ông ấy thông báo cho tôi là gian cung thánh của nhà thờ chính tòa mới sẽ hoàn thành vào lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, và ông ấy còn xin tôi cử hành nghi thức trong ngày đó.”
William ngạc nhiên. “Làm thế nào ông ấy có thể làm được chuyện đó? Tôi nghĩ ông ấy đã sa thải nửa số công nhân xây dựng.”
Waleran lắc đầu. “Ngay cả bất cứ chuyện gì xẩy ra, ông ấy luôn luôn có thể vượt lên được.” Ông trầm ngâm nhìn William. “Ông ấy ghét ông lắm, dĩ nhiên. Ông ấy nghĩ ông là quỷ hiện hình.”
William tự hỏi không biết Waleran đang có ý định gì. “Vậy thì làm gì?” cậu nói.
“Nó sẽ là một đòn đánh vào Philip nếu ông được công nhận là bá tước vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.”
“Ông đã không làm điều đó cho tôi, nhưng ông làm điều đó để trả thù Philip,” William nói một cách hờn dỗi, nhưng trong thực tế cậu đang cảm thấy hy vọng.
“Tôi không thể làm gì cho ông,” Waleran nói. “Nhưng tôi sẽ nói với Giám mục Henry.” Ông nhìn William một cách chờ đợi.
William ngần ngại. Sau cùng, bất đắc dĩ, cậu lẩm bẩm: “Cảm ơn ông.”
Mùa xuân năm đó lạnh và ảm đạm, và trời mưa vào buổi sáng ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Aliena thức giấc trong đêm với một cơn đau lưng, và nó vẫn làm phiền cô với những cơn đau đến rồi đi. Cô ngồi trong gian nhà bếp lạnh lẽo, bện tóc cho Martha trước khi đi nhà thờ, trong khi Alfred ăn một bữa điểm tâm lớn với bánh mì trắng, pho mát mềm và bia mạnh. Một cơn đau đâm mạnh trên lưng làm cô ngưng lại. Cô rùng mình đứng lên. Martha nhận ra và nói: “Chuyện gì thế?”
“Đau lưng,” Aliena nói ngắn gọn. Cô không muốn tranh luận về nó, bởi vì nguyên nhân chắc chắn là do ngủ trên nền nhà trong phòng sau có gió lùa, và không ai biết về điều đó, ngay cả Martha.
Martha đứng dậy và lấy một hòn đá nóng từ trong lò sưởi. Aliena ngồi xuống. Martha quấn hòn đá trong một miếng da cũ, và chườm nó trên lưng Aliena. Cô cảm thấy thoải mái ngay. Martha bắt đầu kết tóc cho Aliena. Mái tóc đen rậm rạp, xoăn quấn đã mọc trở lại sau khi bị cháy xém. Aliena cảm thấy được xoa dịu.
Cô và Martha đã trở nên hoàn toàn thân thiện kể từ khi Ellen đi khỏi. Martha thật đáng thương, cô đã mất mẹ ruột và bây giờ lại mất thêm mẹ kế. Aliena cảm thấy cô không xứng đáng là người mẹ thay thế. Ngoài ra cô chỉ hơn Martha mười tuổi. Cô chỉ đóng vai người chị, thật vậy. Thật ngạc nhiên, người mà Martha nhớ nhất lại là anh ghẻ của cô, Jack.
Nhưng mọi người đều nhớ cậu.
Aliena tự hỏi giờ này cậu ở đâu. Có thể cậu ở thật gần, làm việc cho một nhà thờ chính tòa ở Gloucester hay Salisbury. Nhiều khả năng cậu đã đến Normandy. Nhưng có thể cậu ở vùng xa hơn: Paris, Roma, Jerusalem hay Ai Cập. Nhớ lại những câu truyện mà người hành hương đã kể về những nơi xa xôi như vậy, cô tưởng tượng Jack ở trong sa mạc cát trắng, khắc đá cho một pháo đài của dân sa mạc Xa Ra Xen dưới ánh nắng chói chang. Bây giờ cậu nghĩ gì về cô?
Dòng tư tưởng của cô bị gián đoạn bởi tiếng động của tiếng vó ngựa bên ngoài, và một lúc sau em cô, Richard, bước vào, dắt theo con ngựa. Cậu và con ngựa ướt sũng và đầy bùn. Aliena lấy một ít nước nóng từ trong đống lửa cho cậu rửa mặt và chân tay, và Martha dắt ngựa vào sân sau. Aliena đặt bánh và thịt bò lạnh trên bàn nhà bếp và rót cho cậu ly bia.
Alfred nói: “Có tin tức gì mới về chiến tranh không?”
Richard lau khô mặt bằng một tấm dẻ và ngồi xuống ăn sáng. “Chúng ta bị bại trận ở Wilton,” cậu nói.
“Stephen có bị bắt không?”
“Không, ông đã trốn thoát, giống như Maud đã trốn khỏi Oxford. Bây giờ Stephen ở Winchester và Maud ở Bristol, và cả hai băng bó vết thương và củng cố lại vùng đất họ đang kiểm soát.”
Tin tức dường như không có gì mới, Aliena nghĩ. Một hay hai bên đã có vài chiến thắng nhỏ hay thất bại vài trận nhỏ, nhưng chẳng có triển vọng gì về sự chấm dứt chiến tranh.
Richard nhìn vào Aliena và nói: “Chị mập ra.”
Cô gật đầu và không nói gì. Cô đã có thai được tám tháng, nhưng không ai biết. May mắn là trời còn lạnh nên cô vẫn có thể mặc quần áo mùa đông rộng thùng thình, che dấu hình dáng của cô. Trong vài tuần nữa đứa bé sẽ được sinh ra, và sự thật sẽ được biểu lộ. Cô vẫn chưa biết cô sẽ làm gì.
Chuông đổ, triệu tập dân cư thị trấn đến dự lễ. Alfred đi giày và nhìn vào Aliena chờ đợi.
“Em không nghĩ em có thể đi được,” cô nói. “Em cảm thấy mệt.”
Cậu nhún vai thờ ơ và quay sang em vợ. “Cậu phải đi, Richard. Mọi người sẽ có mặt ở đó – hôm nay là thánh lễ đầu tiên trong nhà thờ mới.”
Richard ngạc nhiên. “Anh đã xây xong trần rồi à? Tôi nghĩ nó cần hết năm nay.”
“Chúng tôi đã làm gấp. Tu viện trưởng Philip thưởng cho các công nhân thêm một tuần lương nếu họ có thể hoàn thành vào hôm nay. Thật ngạc nhiên, họ đã làm việc nhanh như thế nào. Mặc dù thế, chúng tôi vừa hoàn thành nó – chúng tôi vừa lấy giàn khung xuống sáng nay.”
“Tôi phải xem nó,” Richard nói. Cậu nhồi nốt miếng bánh và thịt cuối cùng vào miệng và đứng lên.
Martha nói với Aliena: „Chị muốn em ở lại với chị không?“
„Không, cảm ơn. Chị khỏe rồi. Em đi đi. Chị muốn nằm nghỉ.“
Họ mặc áo choàng và đi ra. Aliena đi vào phòng trong, mang theo hòn đá nóng bọc trong da. Cô nằm trên giường của Alfred với hòn đá dưới lưng. Từ ngày lấy Alfred cô đã trở nên lờ phờ. Trước đó cô đã lo việc nhà và là người buôn len bận rộn nhất vùng; bây giờ cô không phải làm việc gì khác, nhưng ngay việc nhà cũng đã làm cô mệt mỏi.
Cô nằm đó cảm thấy tiếc cho mình, ước mong có thể đi vào giấc ngủ. Bất ngờ cô cảm thấy một dòng nước ấm nhỏ trên đùi phía trong của cô. Cô kinh hoàng. Nó giống như là cô đi tiểu, nhưng không phải, và một lúc sau dòng nước nhỏ trở thành trận lụt. Cô ngồi bật dậy. Cô biết chuyện gì xẩy ra. Túi ối của cô đã vỡ. Đứa bé đang ra.
Cô sợ hãi. Cô cần sự giúp đỡ. Cô gọi người hàng xóm: „Mildred! Mildred, hãy đến đây!“ Rồi cô chợt nhớ rằng không ai có nhà – tất cả đã tới nhà thờ.
Dòng nước chẩy chậm lại, nhưng giường của Alfred đã ướt. Cậu ấy sẽ nổi giận, cô nghĩ một cách sợ hãi; và rồi cô nhớ rằng đàng nào cậu cũng giận, bởi vì cậu biết đứa bé không phải là con cậu, và cô nghĩ: Trời ơi! Tôi phải làm gì đây?
Cơn đau lưng lại trở lại, và cô nhận ra đó là cái được gọi là đau đẻ. Cô quên Alfred. Cô sắp sinh con. Cô quá sợ hãi khi phải sinh con một mình. Cô cần người nào đó giúp cô. Cô quyết định đi đến nhà thờ.
Cô vung chân ra khỏi giường. Một cơn co thắt khác lại đến, cô dừng lại, nhăn mặt vì đau cho đến khi cơn co thắt qua đi. Rồi cô ra khỏi giường và rời nhà.
Tâm trí cô rối tung lên khi cô lảo đảo trên con đường lầy lội. Khi cô đến cổng tu viện cơn đau đến một lần nữa, và cô dựa vào tường, cắn răn cho đến khi nó qua đi. Rồi cô đi vào sân tu viện.
Hầu hết dân chúng trong thị trấn tập họp trong đường hầm cao của gian cung thánh và trong hai đường hầm thấp ở hai gian phụ. Bàn thờ nằm ở phía đầu xa. Nhà thờ lớn có một cái nhìn lạ: trần nhà tròn bằng đá sẽ có một mái bằng gỗ hình tam giác trên nó, nhưng bây giờ trông nó như không được bảo vệ, giống như một người đầu hói không đội mũ. Cộng đoàn đứng quay lưng lại phía Aliena.
Khi cô lảo đảo về phía nhà thờ, Giám mục Waleran Bigod đứng lên nói. Như trong cơn ác mộng, cô thấy William Hamleigh đứng bên cạnh ông. Lời của Giám mục Waleran đâm qua nỗi đau của cô. „… với niềm vui lớn lao và niềm tự hào tôi thông báo cho quý vị rằng Vua Stephen đã xác nhận ngài William là bá tước của Shiring.“
Mặc dù đau đớn và sợ hãi Aliena kinh hoàng nghe lời đó. Trong sáu năm qua, kể từ ngày khủng khiếp khi họ gặp bố họ trong nhà tù ở Winchester, cô đã dành cả cuộc đời để chiếm lại tài sản của gia đình. Cô và Richard đã vượt qua cướp giật và hiếp dâm, hỏa hoạn và nội chiến. Nhiều lần phần thưởng dường như đã ở trong tầm tay. Nhưng bây giờ họ đã mất nó.
Cộng đồng thầm thì giận dữ. Họ đã đau khổ dưới bàn tay của William và họ vẫn sống trong sợ hãi về cậu ấy. Họ không vui khi thấy cậu ấy được vinh danh bởi nhà vua, người chính ra phải bảo vệ họ. Aliena nhìn xung quanh tìm Richard, xem cậu nhận cú đánh này ra sao; nhưng cô không thể định được chỗ cậu đứng.
Tu viện trưởng Philip đứng dậy, khuôn mặt như bị sét đánh, và bắt đầu bài thánh ca. Cộng đồng gượng gạo hát theo. Aliena dựa vào một cây cột, khi một cơn đau khác lại đến. Cô đứng ở phía sau đám đông và không ai chú ý đến cô. Một cách nào đó tin xấu này đã làm cô dịu lại. Tôi chỉ đang chuẩn bị có một đứa con, cô nghĩ; chuyện sinh con xảy ra mỗi ngày. Tôi phải tìm ra Martha hay Richard, và họ sẽ lo lắng mọi chuyện.
Khi cơn đau đã qua cô chen lấn qua đám đông, tìm kiếm Martha. Có một nhóm phụ nữ ở trong đường hầm của gian phụ phía bắc và cô đi vào đó. Dân chúng tò mò nhìn cô, nhưng sự quan tâm của họ chuyển hướng vào một chuyện khác: một tiếng động lạ nghe như sấm vang vọng từ xa. Lúc đầu tiếng ầm ầm không trấn át được tiếng hát, nhưng nó lớn hơn, lớn hơn và tiếng hát chết nghẹn.
Aliena đến được chỗ của phụ nữ. Họ đang lo lắng nhìn quanh xem tiếng ồn từ đâu phát ra. Aliena nắm vai một người trong số họ và nói: „Bà có thấy Martha, em chồng tôi ở đâu không?“
Người đàn bà nhìn cô và Aliena nhận ra bà là vợ của người thuộc da, Hilda. „Tôi nghĩ Martha ở phía bên kia,“ Hilda nói; rồi tiếng ầm ầm trở nên chói tai và bà nhìn đi chỗ khác.
Aliena dõi mắt theo cái nhìn của bà. Ở giữa nhà thờ mọi người nhìn lên về hướng đầu bức tường. Dân chúng ở hai gian bên nghểnh cổ nhìn qua mái vòm của lối đi. Một người nào đó hét lên. Aliena nhìn thấy vết nứt trong tường phía xa, chạy dọc theo giữa hai cửa sổ phía trên. Khi cô nhìn lên, nhiều miếng tường rơi từ trên cao xuống đám đông ở giữa nhà thờ. Tiếng la hét và kêu cứu vang lên, và mọi người tìm cách chạy trốn.
Mặt đất dưới chân cô lay động. Ngay cả khi cô cố tìm cách ra khỏi nhà thờ cô đã nhận thức được rằng bức tường trên cao đã giãn ra trên đỉnh và mái vòm nứt ra. Bà vợ người thợ da, Hilda, ngã trước mặt cô, và Aliena vấp vào bà và ngã xuống trên bà. Một trận mưa đá nhỏ bắn tung tóe trên cô khi cô thử đứng lên. Rồi mái nhà thấp của lối đi bị nứt và đổ xuống, một cái gì đó đập lên đầu cô và mọi thứ thành đen tối trước mắt cô.
Philip bắt đầu thánh lễ với niềm hãnh diện và tạ ơn. Trong cuộc chạy đua với thời gian, mái vòm đã hoàn thành như dự định. Trong thực tế, chỉ có ba trong bốn gian của khu cung thánh được xây mái, còn gian thứ tư phải chờ đến khi hai gian ngang hoàn thành và bức tường của khu cung thánh được nối với tường của gian ngang. Tuy nhiên, ba gian đã đủ. Tất cả dụng cụ xây dựng đã được cất đi: công cụ, cọc bằng đá và gỗ, giàn giáo và hàng rào, đống gạch đá và rác. Gian cung thánh được dọn sạch sẽ. Các tu sĩ đã sơn trắng các bức tường và theo truyền thống vẽ những hàng đỏ trên hồ, vì thế mà đường hồ trông gọn gàng hơn nó thực sự là. Bàn thờ và ngai giám mục đã được đem từ nhà nguyện dưới hầm lên. Tuy nhiên, xương thánh trong mộ hòm bằng đá vẫn còn ở đó: việc di chuyển xương thánh lên là một nghi thức long trọng, cao điểm của thánh lễ hôm nay. Khi thánh lễ bắt đầu, với giám mục trên ngai, với các tu sĩ trong áo dòng mới đứng theo hàng sau bàn thờ và dân chúng trong gian giữa và hai gian bên cạnh nhà thờ, Philip tạ ơn Thiên Chúa đã cho ông hoàn thành giai đoạn đầu tiên quan trọng trong việc xây dựng lại nhà thờ chính tòa.
Khi Waleran thông báo về việc William được xác nhận là bá tước, Philip đã bực mình. Giám mục đã chọn thời điểm này để phá hủy sự chiến thắng của Philip và nhắc nhở cư dân thị trấn rằng họ vẫn còn ở trong lòng khoan dung của lãnh chúa man rợ của họ. Philip đang trù tính về một sự đáp trả thích hợp khi tiếng ầm ầm vang lên.
Nó giống như một cơn ác mộng mà đôi khi ông có: Ông đi trên một giàn giáo rất cao và cảm thấy hoàn toàn chắc chắn cho đến một lúc ông nhận ra một nốt dây cột các xà ngang bị lỏng. Nó không nghiêm trọng lắm, nhưng khi ông cúi xuống cột nó lại, tấm ván dưới chân ông nghiêng đi, không nhiều lắm nhưng đủ để ông vấp ngã, và rồi, trong nháy mắt, ông rơi xuống xuyên qua khoảng trống của gian cung thánh nhà thờ, rơi nhanh kinh khủng, và ông biết ông sắp chết.
Lúc đầu tiếng ầm ầm là một điều khó hiểu. Có lúc ông nghĩ đó là sấm, rồi tiếng sấm mỗi lúc mỗi lớn hơn, và dân chúng ngừng hát. Philip vẫn nghĩ nó là một hiện tượng lạ có thể tìm được nguyên nhân ngay mà hậu quả xấu nhất của nó là làm gián đoạn thánh lễ. Rồi ông nhìn lên.
Trong gian thứ ba mà giàn giáo mới được tháo xuống sáng hôm nay, vết nứt đã xuất hiện trong tường, trên phía khu có cửa sổ phía cao. Chúng xuất hiện bất ngờ và nhanh chóng từ cửa sổ này đến cửa sổ khác giống như con rắn. Phản ứng đầu tiên của Philip là thất vọng: ông đã vui mừng vì gian cung thánh đã hoàn thành, nhưng bây giờ ông phải sửa lại, và những ai đã bị ấn tượng bởi công việc của thợ xây sẽ nói: „Càng vội vàng, càng chậm.“ Sau đó đầu bức tường dường như nghiêng ra ngoài, và ông kinh hoàng nhận ra rằng nó không chỉ đơn thuần làm gián đoạn thánh lễ mà nó còn là một thảm họa.
Vết nứt xuất hiện trên mái vòm. Một hòn đá lớn tách ra khỏi tường và rơi từ từ trong không trung. Dân chúng la hét và tìm cách chạy trốn. Trước khi Philip có thể nhìn xem có ai bị thương nặng không, nhiều hòn đá khắc bắt đầu rơi. Đám đông hoảng loạn, xô đẩy nhau và đạp lên nhau khi họ cố tránh các viên đá rơi. Philip tự nhiên nghĩ có thể nó là một cuộc tấn công của William Hamleigh; rồi ông nhìn thấy William ở trước đám đông, đang hoảng loạn chen lấn đám đông để trốn thoát, và ông nhận ra rằng William không tự làm điều đó cho cậu.
Hầu hết mọi người đang di chuyển để chạy ra khỏi nhà thờ theo đầu mở ở phía tây. Nhưng chính phần phía tây của nhà thờ, gian thứ ba, lại sụp đổ. Trong gian thứ hai, nơi Philip đứng, dường như mái vòm đứng vững; và đàng sau ông, trong gian thứ nhất, nơi các tu sĩ đứng, trông có vẻ vững vàng, vì nó được hỗ trợ bởi mặt tiền phía đông.
Ông nhìn thấy bé Jonathan với Johnny Eightpence, cả hai túm lại ở phía xa của gian phụ phía bắc. Ở đó an toàn hơn mọi chỗ khác, Philip quyết định; rồi ông nhận ra rằng ông phải cố đưa phần còn lại của đàn chiên của ông vào nơi an toàn. „Đi theo hướng này!“ ông hét lên. „Mọi người! Đi theo hướng này!“ ông hét lớn mặc dù họ có nghe thấy hay không. Không ai để ý đến.
Trong gian thứ ba, đỉnh của bức tường sụp đổ, rớt ra phía ngoài, và toàn bộ mái vòm sập xuống, đá lớn đá nhỏ bay trong không trung giống như cơn mưa đá chết người và rớt xuống trên đám đông. Philip lao về phía trước và nắm tay một người đàn ông. „Quay lại!“ ông hét lớn và đẩy ông ấy về hướng cửa đông. Người đàn ông hoảng sợ nhìn thấy các tu sĩ túm lại phía bức tường xa và vội vàng đến đó. Philip cũng làm như vậy với hai phụ nữ. Những người khác biết được ý ông, họ đi theo hai người đàn bà mà không cần ra lệnh. Những người khác làm theo, và chẳng bao lâu những người đứng trên đầu cùng đổ dồn về phía bức tường phía đông. Nhìn lên một lúc, Philip hoảng sợ vì gian thứ hai sẽ tiếp tục đổ: cùng một vết nứt ngoằn ngoèo xuyên qua khu có cửa sổ và làm vỡ mái vòm ngay trên đầu ông. Ông tiếp tục hướng dẫn mọi người tới chỗ an toàn ở cuối phía đông, biết rằng mỗi người ông di chuyển có thể một mạng sống được cứu. Một cơn mưa vữa vụn rơi trên đầu trọc của ông, và rồi những viên đá rơi xuống. Dân chúng phân tán ra. Một số người trốn ở hai bên gian ngang; một số người người tụ tập ở bức tường phía đông, trong đó có Giám mục Waleran; một số khác vẫn cố thoát ra khỏi hướng tây, bò lên đống đá đổ nát và thân thể người ở gian thứ ba. Một hòn đá rơi trúng vai Philip. Nó không trúng thẳng nhưng gây đau đớn. Ông lấy tay che đầu và nhìn quanh. Một mình ông ở giữa gian thứ hai; những người khác đã ở bên ngoài khu nguy hiểm. Ông đã làm những gì ông có thể. Ông chạy về hướng đông.
Ở đó ông quay lại và nhìn lên. Khu cửa sổ của gian thứ hai sụp đổ, và mái vòm rơi xuống gian cung thánh, giống hệt như những gì đã xẩy ra ở gian thứ ba; nhưng có lẽ có ít nạn nhân hơn, vì dân chúng đã có cơ hội trốn đi và vì mái của gian hai bên dường như đứng vững, trong khi ở gian thứ ba chúng đã sụp đổ. Mỗi người trong đám đông ở ở đầu cuối hướng đông lùi lại, đẩy về phía bức tường, và mọi khuôn mặt quay lên, chăm chú vào mái vòm để xem sự sụp đổ có lan sang gian thứ nhất không. Sự sụp đổ của bức tường dường như ít ồn ào hơn, nhưng một giải sương mù bụi và đá nhỏ đầy trong không khí và trong một lúc lâu không ai có thể thấy gì. Philip nín thở. Bụi đã lắng xuống và ông lại có thể nhìn thấy mái vòm. Nó bị gẫy ở ngay cạnh của gian thứ nhất; nhưng bây giờ dường như nó đứng vững.
Bụi đã ngưng. Mọi sự trở nên yên lặng. Philip nhìn kinh ngạc vào đống đổ nát của nhà thờ. Chỉ có gian đầu tiên còn nguyên vẹn. Bức tường của gian thứ hai còn đứng vững từ độ cao của đường hành lang bên trên, nhưng trong gian thứ ba và bốn chỉ có hai gian phụ là còn tồn tại và chúng gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Nền nhà thờ là một đống gạch đá và rải rác thân thể của những người đã chết hay bị thương. Bẩy năm làm việc và hàng trăm bảng Anh đã bị phá hủy, và hàng chục người bị chết, có thể hàng trăm, tất cả trong một vài khoảnh khắc kinh hoàng. Philip đau đớn vì bao công lao đã thành vô ích, vì bao người đã chết, và vì bao nhiêu cô nhi và quả phụ còn lại; và mắt ông đẫm lệ.
Một giọng nói khắc nghiệt nói vào tai ông: „Đây là kết quả sự kiêu ngạo của ông, Philip!“
Ông quay lại và thấy Giám mục Waleran với áo choàng đen của ông đầy bụi, đang nhìn ông đắc thắng. Philip cảm thấy như ông bị đâm. Đứng nhìn một thảm họa như thế này là một sự đau lòng, nhưng bị đổ lỗi cho nó là một sự không thể chịu nổi. Ông muốn nói: Tôi chỉ muốn làm tốt nhất những gì tôi có thể! Nhưng lời nói không thoát ra: cổ ông như nghẹn lại và ông không nói ra lời.
Mắt ông tập trung vào Johnny Eightpence và bé Jonathan xuất hiện từ chỗ trú ở gian bên, và bất ngờ ông nhớ đến trách nhiệm của ông. Còn có nhiều thời gian để sau đó xem ai là người có lỗi. Ngay bây giờ có nhiều người bị thương và nhiều người bị mắc kẹt trong đống đổ nát. Ông phải tổ chức việc cứu hộ. Ông nhìn Giám mục Waleran và nói: „Hãy tránh ra!“ Giám mục giật mình và Philip đi lên bàn thờ.
„Xin lắng nghe tôi!“ ông nói lớn. „Chúng ta phải chăm sóc người bị thương, cứu những người đang mắc kẹt, chôn cất người chết và cầu nguyện cho linh hồn họ. Tôi muốn chỉ định ba người phụ trách để điều hành việc này.“ Ông nhìn các khuôn mặt quanh ông, dò xét xem ai còn sống sót và khỏe mạnh. Ông khám phá ra Alfred. „Thợ xây Alfred phụ trách việc thu dọn đống đổ nát và cứu những người còn mắc kẹt, và tôi muốn tất cả các thợ xây và thợ mộc cùng cộng tác với ông ấy.“ Nhìn vào các tu sĩ, ông nhẹ người khi thấy người đáng tin cẩn của ông, Milius, không bị thương. „Milius Bursa phụ trách di chuyển người chết và bị thương ra khỏi nhà thờ, và ông ấy cần sự giúp đỡ của những người trẻ khỏe mạnh. Randolph, thầy phụ trách phòng bệnh, sẽ chăm sóc những người bị thương một khi họ được đưa ra khỏi đống đổ nát này, và những người lớn tuổi, đặc biệt các bà già có thể giúp thầy ấy. Được rồi – chúng ta hãy bắt đầu.“ Ông nhẩy xuống khỏi bàn thờ. Dân chúng bắt đầu ồn ào, ra lệnh và hỏi nhau.
Philip đi tới Alfred, người đang run và sợ hãi. Nếu ai phải chịu trách nhiệm về việc này, thì người đó là cậu, người thợ xây dựng chính, nhưng bây giờ không phải là lúc để trách cứ. Philip nói: „Chia người của ông thành từng nhóm và chỉ định cho họ những khu vực riêng để làm việc.“
Alfred nhìn lơ đãng rồi cậu tỉnh lại. „Vâng. Đúng. Chúng ta sẽ bắt đầu ở đầu phía tây và đem đống đổ nát ra ngoài sân.“
„Tốt.“ Philip để cậu lại và chen qua đám đông đến Milius. Ông nghe Milius nói: „Hãy đem những người bị thương ra khỏi nhà thờ và đặt họ trên cỏ. Đem những người đã chết ra phía bắc.“ Ông biết ông luôn luôn có thể tin tưởng Milius và ông đi chỗ khác.“ Ông thấy thầy phụ trách phòng bệnh Randolph đang trèo lên đống đổ nát. Philip vội vàng đi về phía ông. Bên ngoài nhà thờ, ở cuối đầu phía tây, một đám người tụ họp. Họ là những người đã ra ngoài kịp thời trước khi mái vòm sập và không bị thương. „Hãy dùng những người này,“ Philip nói với Randolph. „Hãy sai những người này vào phòng bệnh lấy dụng cụ và đồ cứu thương. Sai một số người vào bếp lấy nước nóng. Hỏi thầy quản lý rượu nho mạnh cho nhưng người cần hồi sinh. Để ý đặt những người chết và bị thương theo trật tự và xa nhau để những người giúp đỡ không bị vấp vào thân thể họ.
Ông nhìn quanh. Những người sống sót đã bắt tay vào việc. Những người trú ẩn ở bức tường phía đông đã theo Philip vượt qua đống đổ nát và đã bắt tay vào việc di chuyển những người bị nạn. Một hoặc hai người bị thương chỉ vì choáng váng đã tự mình đứng lên được. Philip thấy một bà già ngồi trên sàn nhà, mắt nhìn ngơ ngác. Ông nhận ra bà là Maud Silver, góa phụ của ông thợ bạc. Ông giúp bà đứng lên và đưa bà ra khỏi đống đổ nát. „Chuyện gì đã xẩy ra?“ bà hỏi, không nhìn vào ông. „Tôi không biết chuyện gì xẩy ra.“
„Tôi cũng không biết, Maud,“ ông nói.
Khi ông quay về để giúp người khác nữa, lời của giám mục Wleran lại vang trong đầu ông: Đây là kết quả sự kiêu ngạo của ông, Philip. Lời buộc tội đã đến với ông nhanh chóng vì ông nghĩ nó có thể là sự thật. Ông luôn thúc đẩy nhiều hơn, tốt hơn, nhanh hơn. Ông đã thúc đẩy Alfred hoàn thành mái vòm cũng giống như ông đã thúc đẩy hội chợ len và thúc đẩy lấy mỏ đá ở Shiring. Trong mỗi trường hợp kết quả luôn là một thảm họa: những người khai thác đá bị chết, Kingsbridge bị đốt cháy và bây giờ đến việc này. Ông nhận ra rõ ràng rằng tham vọng của ông có lỗi trong đó. Tốt hơn, các tu sĩ nên sống một cuộc sống từ bỏ, chấp nhận đau khổ và thất bại của thế giới này như bài học của kiên nhẫn.
Khi Philip giúp đem những người bị thương rên rỉ và những người chết bất động ra khỏi nhà thờ, ông quyết tâm trong tương lai sẽ trao cho Thiên Chúa tham vọng và sự thúc đẩy của ông: còn ông, Philip, sẽ thụ động chấp nhận những gì xẩy ra. Nếu Chúa muốn một nhà thờ chính tòa, Chúa phải cung cấp một mỏ đá; nếu thị trấn cháy, nó phải được coi như dấu hiệu Chúa không muốn một hội chợ lông; và bây giờ nhà thờ đã đổ xuống, Philip không muốn xây nó lại.
Khi ông đạt được quyết định này, ông thấy William Hamleigh.
Bá tước mới của Shiring đang ngồi trên nền nhà ở gian thứ ba, gần gian phụ phía bắc, mặt tái mét và run rẩy vì đau, với một bàn chân bị mắc kẹt dưới hòn đá to. Philip tự hỏi, khi ông giúp đẩy hòn đá đi, tại sao Thiên Chúa lại để nhiều người tốt phải chết nhưng lại dung thứ một con vật như William.
William rên rỉ về sự đau đớn nơi chân cậu, ngoài ra cậu không hề hấn gì. Họ giúp cậu đứng lên. Cậu dựa vào vai một người to con và bắt đầu nhẩy đi. Rồi một đứa bé khóc.
Mọi người đều nghe thấy. Không thấy đứa bé nào. Mọi người nhìn quanh bối rối. Tiếng khóc vang lên lần nữa, và Philip nhận ra nó vang ra từ dưới một đống đá lớn ở gian phụ. „Qua đây!“ ông gọi. Ông gặp ánh mắt Alfred và ra hiệu cho cậu ấy. „Có một đứa bé vẫn sống bên dưới kia,“ ông nói.
Tất cả lắng nghe tiếng khóc. Nó nghe như tiếng trẻ thơ, chưa được một tháng tuổi. „Ông đúng,“ Alfred nói. „Hãy đẩy những hòn đá lớn này đi.“ Cậu và các người giúp việc di chuyển đống đổ nát đã che đậy mái vòm của gian thứ ba. Philip cùng tham gia. Ông không thể nghĩ ra người phụ nữ nào trong thị trấn đã sinh con trong vài tuần qua. Dĩ nhiên, việc một đứa bé sinh ra không được ông chú ý lắm: mặc dù thị trấn đã nhỏ đi trong năm qua, nhưng nó vẫn đủ lớn đối với ông và ông bỏ lỡ những sự kiện phổ biến như thế này.
Tiếng khóc đột ngột dừng lại. Mọi ngươi đứng yên và nghe ngóng, nhưng nó không khóc lại. Bằng thái độ dứt khoát họ tiếp tục di chuyển các viên đá. Nó là một công việc nguy hiểm, vì khi di chuyển hòn đá này nó có thể gây cho hòn đá khác rơi xuống. Đó là lý do tại sao Philip đã giao cho Alfred nhiệm vụ này. Tuy nhiên Alfred đã không cẩn thận đủ như Philip mong ước, và dường như cậu để cho mọi người làm những gì họ muốn, kéo đá đi mà không có kế hoạch tổng thể nào: „Hãy đợi!“
Tất cả mọi người ngưng lại. Philip nhận ra Alfred vẫn còn quá sốc để điều hành công việc. Ông sẽ phải tự ra tay. Ông nói: „Nếu có người nào đó vẫn sống ở dưới, một cái gì đó phải bảo vệ họ; và nếu chúng ta di chuyển đống đá, họ có thể mất sự bảo vệ và bị chết vì chúng ta. Hãy làm cẩn thận!“ Ông chỉ vào đám thợ xây đang đứng chung nhau. „Ba anh hãy trèo lên đống đá và lấy những viên đá trên đỉnh xuống. Thay vì tự đem nó đi, hãy trao mỗi viên đá cho chúng tôi và chúng tôi sẽ đem nó đi.“
Họ bắt tay vào việc theo kế hoạch của Philip. Nó dường như vừa nhanh hơn, vừa an toàn hơn.
Bây giờ đứa bé đã ngưng khóc, họ không biết chính xác họ đang đứng ở đâu, vì thế họ dọn một khu rộng lớn, cả chiều rộng của một gian. Một số đống gạch đổ là do mái vòm rơi xuống, nhưng mái của lối đi đã bị sụp một phần, vì thế mà có cả gỗ, phiến đá mái, đá và vữa.
Philip làm không mệt mỏi. Ông muốn cứu sống đứa bé. Ông biết hàng chục người đã chết, nhưng một cách nào đó đứa bé dường như quan trọng hơn. Nếu nó được cứu, ông cảm thấy tương lai vẫn còn hy vọng. Khi ông đẩy đá, ông bị ho và hầu như mù vì bụi, ông cầu nguyện nhiệt thành cho em bé được sống.
Sau cùng ông có thể nhìn thấy, trên đống đổ nát, bức tường bên ngoài của gian phụ và một phần của cửa sổ thấp. Dường như có một khoảng trống đàng sau đống. Có lẽ một người nào đó vẫn sống ở đó. Một thợ xây trèo lên đống đá và nhìn xuống lỗ hổng. „Giê Su!“ ông ấy kêu lên.
Lần này Philip tha thứ cho việc phạm thượng dám kêu tên Chúa. „Đứa bé có được an lành không?“ ông hỏi.
„Tôi chưa biết,“ người thợ xây nói.
Philip muốn hỏi xem người thợ xây đã thấy gì, hay tốt hơn, tự mình nhìn xem, nhưng người thợ xây yêu cầu những người khác nhanh tay di chuyển các hòn đá khác. Vì thế Philip tiếp tục làm việc trong cơn sốt của sự tò mò.
Đứa bé trần truồng và mới sinh. Làn da trắng của nó dính đầy máu và bụi, nhưng ông có thể nhìn thấy đầu nó có tóc màu cà rốt. Nhìn kỹ hơn, Philip nhận ra nó là một bé trai. Nó nằm trên ngực người phụ nữ và bú vú cô. Đứa bé vẫn sống, ông nhìn thấy, và tim ông nhẩy mừng. Ông nhìn vào người phụ nữ. Cô cũng còn sống nữa. Cô gặp ánh mắt ông và cho ông một nụ cười mệt mỏi, hạnh phúc.
Đó là Aliena.
Aliena chẳng bao giờ trở lại nhà Alfred.
Cậu ấy nói với mọi người rằng đứa bé không phải là con cậu và chỉ vào tóc đỏ của đứa bé để chứng minh, cùng màu với tóc của Jack; ngoài việc không cho họ vào nhà, cậu không gây thiệt hại gì cho đứa bé hoặc cho Aliena.
Aliena trở về căn nhà một phòng trong khu nghèo với em trai cô. Cô nhẹ người vì sự trả thù của Alfred rất nhẹ. Cô vui mừng vì không còn phải ngủ trên nền nhà dưới chân giường của cậu như một con chó. Nhưng chủ yếu cô sung sướng và tự hào về đứa bé đáng yêu của cô. Đứa bé có tóc đỏ và mắt xanh và làn da hoàn toàn trắng, và nó nhắc nhở cô sống động về Jack.
Không ai biết tại sao nhà thờ lại sụp đổ. Tuy nhiên có nhiều giả thuyết. Một số người nói Alfred không có khả năng là thợ xây dựng chính. Một số khác đổ tội cho Philip vì đã thúc dục phải hoàn thành mái vòm vào dịp lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Một vài người thợ nói rằng giàn khung đã được lấy đi trước khi vữa khô hẳn. Một thợ xây già nói những bức tường không được xây để chịu đựng trọng lượng của một mái vòm đá.
Bảy mươi chín người chết, kể cả những người sau đó chết vì bị thương. Mọi người nói số nạn nhân sẽ còn cao hơn nếu Tu viện trưởng Philip không dồn một số đông người về bức tường phía đông. Nghĩa trang tu viện đã đầy vì cuộc hỏa hoạn của hội chợ len năm trước, nên hầu hết những người chết được chôn ở nhà thờ xứ. Một số đông người nói nhà thờ chính tòa bị một lời nguyền.
Alfred đem tất cả thợ xây của cậu đến Shiring, nơi cậu sẽ xây những nhà đá cho dân thị trấn giầu có. Những thợ xây khác cũng từ giã Kingsbridge. Không ai bị cho nghỉ việc, và mặc dù Philip tiếp tục trả lương, nhưng không có gì cho họ làm ngoài việc thu dọn đống đổ nát, nên sau vài tuần họ đã bỏ đi. Không còn người thiện nguyện đến làm việc vào chủ nhật, chợ chỉ còn vài quầy bán hàng rải rác, và Malaci đã thu xếp gia đình và tài sản lên một chiếc xe lớn kéo bởi bốn con bò đực và rời thị trấn, tìm kiếm đồng cỏ xanh tươi hơn.
Richard cho một người nông dân thuê con ngựa đen của cậu, rồi cậu và Aliena sống trên số tiền thu được. Nếu không có sự hỗ trợ của Alfred cậu không thể tiếp tục sự nghiệp hiệp sĩ, tuy nhiên bây giờ nó không còn giá trị gì vì William đã trở thành bá tước. Aliena vẫn còn cảm thấy bị ràng buộc bởi lời thề với bố cô, nhưng bây giờ dường như cô không còn làm được gì để hoàn thành nó. Richard chìm trong chán nản. Cậu dậy trễ, ngồi suốt ngày dưới ánh mặt trời và tiêu cả buổi tối trong quán bia.
Martha vẫn sống một mình trong căn nhà lớn với người giúp việc già. Tuy nhiên cô ở cả ngày với Aliena: cô thích giúp đỡ đứa bé, nhất là nó trông rất giống Jack, người mà cô ngưỡng mộ. Cô muốn Aliena đặt tên cho nó là Jack, nhưng Aliena vẫn chần chừ vì một lý do nào đó mà chính cô cũng không hiểu nổi.
Cả mùa hè Aliena tràn đầy hãnh diện và niềm vui của một người mẹ. Nhưng khi mùa gặt đến, thời tiết lạnh hơn và buổi tối ngắn hơn, cô cảm thấy thất vọng.
Bất cứ khi nào cô nghĩ về tương lai, Jack lại hiện về trong tâm trí cô. Cậu đã đi xa, cô không biết cậu đi đâu và có lẽ cậu sẽ chẳng bao giờ quay về, nhưng cậu vẫn ở bên cô, ảnh hưởng đến tư tưởng của cô, vẫn tràn đầy sức sống và nghị lực, rõ ràng và sống động như thể cô mới gặp cậu ngày hôm qua. Cô dự định chuyển đến một thị trấn khác, giả đò là một góa phụ; cô cố thuyết phục Richard kiếm sống bằng cách nào đó; còn cô dự định làm dệt, hay giặt giũ, hay trở thành một người phục vụ cho một người giầu có trong thị trấn, những người vẫn còn đủ tiền để thuê người làm. Nhưng trong mỗi dự định cô đều tưởng tượng trong đầu nụ cười khinh bỉ của Jack và nghe cậu nói: „Không có tôi, không có gì tốt cả.“ Làm tình với Jack vào buổi sáng ngày thành hôn với Alfred là tội lỗi lớn nhất cô đã phạm, và cô không nghi ngờ gì rằng bây giờ cô phải bị phạt vì nó; nhưng cũng có những giây phút cô cảm thấy nó là việc tốt duy nhất cô đã làm trong suốt cả cuộc đời cô; và khi cô nhìn đứa con của cô, cô cảm thấy không có gì phải hối hận. Tuy nhiên, cô bất an. Một đứa bé chưa đủ. Cô cảm thấy chưa hoàn toàn, chưa đầy đủ. Nhà cô dường như quá nhỏ, Kingsbridge dường như một nửa đã chết, đời sống quá bình thản. Cô trở nên mất kiên nhẫn với con và gay gắt với Martha.
Vào cuối mùa hè, người nông dân đem ngựa đến trả lại vì họ không cần đến nó nữa, và bất ngờ Richard và Aliena không còn thu nhập nữa. Một ngày vào mùa thu Richard đến Shiring để bán áo giáp của cậu. Trong khi cậu đi khỏi và Aliena ăn táo thay cơm trưa cho đỡ tốn tiền, mẹ của Jack đến nhà.
„Ellen!“ Aliena nói. Cô giật mình. Giọng cô có sự kinh ngạc vì Ellen đã nguyền rủa một đám cưới trong nhà thờ và Tu viện trưởng Philip sẽ phạt bà.
„Tôi đến để thăm cháu tôi,“ Ellen bình tĩnh nói.
„Nhưng làm sao bà biết…?“
„Tôi nghe được mọi chuyện, ngay cả ở trong rừng.“ Bà đi đến chiếc nôi trong góc và nhìn vào đứa bé đang ngủ. Mặt bà dịu dàng. „Thật tuyệt. Không có nghi ngờ gì nó là con ai. Nó có khỏe không?“
„Nó không có vấn đề gì – nó còn nhỏ nhưng dẻo dai,“ Aliena hãnh diện nói. Cô nói thêm: „Giống bà nội của nó.“ Cô quan sát Ellen. Bà gầy hơn so với khi bà ra đi. Da bà nâu, và bà mặc một áo da ngắn để lộ bắp chân rám nắng. Bà đi chân không. Bà trông trẻ và khỏe mạnh: đời sống trong rừng dường như thích hợp với bà. Aliena tính nhẩm bà phải ba mươi lăm tuổi rồi. „Bà trông rất khỏe,“ cô nói.
„Tôi nhớ mọi người,“ Ellen nói. „Tôi nhớ cô, và Martha, và ngay cả em cô Richard. Tôi nhớ Jack của tôi. Và tôi nhớ Tom.“ Bà trông thật buồn.
Aliena vẫn còn lo lắng cho sự an toàn của bà. „Có ai thấy bà đến đây không? Các tu sĩ có thể vẫn còn muốn phạt bà.“
„Không có tu sĩ nào ở Kingsbridge có can đảm bắt tôi,“ bà nói với một cái cười ngạo mạn. „Tuy nhiên tôi vẫn thận trọng – không ai thấy tôi.“ Một phút yên lặng. Ellen chăm chú nhìn Aliena. Aliena trở nên khó chịu dưới cái nhìn chằm chằm của đôi mắt tò mò màu mật ong của Ellen. Sau cùng Ellen nói: „Cô đang lãng phí cuộc đời cô.“
„Bà muốn nói gì?“ Aliena hỏi, mặc dù lời nói của bà đã đánh trúng tim cô.
„Cô phải đi tìm Jack.“
Aliena cảm thấy nhói lên niềm hy vọng. „Nhưng tôi không thể,“ cô nói.
„Tại sao không?“
„Trước hết tôi không biết cậu ấy ở đâu.“
„Tôi biết.“
Tim Aliena đập nhanh hơn. Cô đã nghĩ rằng không ai biết Jack đã đi đâu, như thể cậu đã biến khỏi mặt đất. Nhưng bây giờ cô có thể tưởng tượng cậu ở một nơi cụ thể, thực sự. Mọi chuyện thay đổi. Cậu ấy phải ở một chỗ nào đó gần đây. Cô có thể khoe cậu đứa bé.
Ellen nói: „Ít nhất, tôi biết cậu ấy đi đâu.“
„Đi đâu?“ Aliena khẩn trương hỏi.
„Santiago de Compostela.“
„Ôi! Trời ơi!“ Tim cô chùng xuống. Cô hoàn toàn thất vọng. Compostela là một thị trấn ở Tây Ban Nha, nơi Thánh Tông Đồ Gia Cô Bê được chôn cất. Cuộc du hành từ đây qua đó phải mất hàng tháng. Jack đang ở một nơi rất xa trên thế giới.
Ellen nói: „Cậu ấy hy vọng có thể gặp những người hát rong trên đường đi và dò tông tích về bố cậu.“
Aliena thất vọng gật đầu. Điều đó có ý nghĩa. Jack luôn bực bội vì biết quá ít về bố cậu. Nhưng có thể cậu sẽ chẳng bao giờ trở về. Trên cuộc lữ hành dài như thế cậu có lẽ đã tìm thấy một nhà thờ chính tòa mà cậu muốn làm việc, và rồi cậu có thể định cư ở đó. Đi tìm kiếm bố, có lẽ cậu đã mất con.
„Nó xa quá!“ Aliena nói. “Tôi ước muốn có thể đi tìm cậu ấy.”
“Tại sao không?” Ellen nói. “Hàng ngàn người đi hành hương đến đó. Tại sao cô không thể?”
“Tôi có một lời thề với bố tôi là sẽ chăm sóc Richard cho đến khi cậu trở thành bá tước,” cô nói với Ellen. “Tôi không thể bỏ rơi cậu ấy.”
Ellen nhìn nghi ngờ. “Cô tưởng tượng xem vào lúc này cô có thể giúp gì cho cậu ấy?” bà nói. “Cô không có tiền và William trở thành bá tước. Richard đã mất hết cơ hội để giành lại lãnh địa. Cô có ở lại Kingsbridge này cô cũng không giúp được gì cho cậu ấy hơn cô ở Compostela. Cô đã trói buộc cuộc đời cô vào lời thề khốn khổ đó. Nhưng bây giờ cô không làm gì khác được. Tôi không thấy bố cô có thể phiền trách cô điều gì. Nếu cô hỏi tôi, việc lớn nhất mà cô có thể làm cho Richard là cô nên rời bỏ cậu ấy một thời gian và cho cậu cơ hội học tự lập.”
Aliena nghĩ sự thật là cô không giúp được gì cho Richard vào lúc này, dù cô ở lại Kingsbridge hay không. Có thể bây giờ cô đang tự do – tự do để đi và tìm Jack? Chỉ nguyên ý tưởng đó đã làm tim cô thổn thức. “Nhưng tôi không có tiền để đi hành hương,” cô nói.
“Thế con ngựa to lớn đâu?”
“Chúng tôi vẫn còn nó –“
“Bán nó đi.”
“Làm sao tôi có thể? Nó là của Richard.”
“Trời ơi! Ai đã mua nó?” Ellen tức giận nói. “Có phải Richard đã vất vả nhiều năm trời để xây dựng nên việc kinh doanh len? Có phải Richard đã thương lượng với các nông dân tham lam và thương gia người Bỉ cứng đầu? Có phải Richard đã thu thập len, trữ nó trong kho và lập quầy bán nó trên chợ? Đừng nói với tôi đó là con ngựa của Richard!”
“Cậu ấy sẽ rất giận dữ -“
“Tốt. Chúng ta hy vọng cậu ấy giận đủ để làm chuyện gì đó lần đầu tiên trong đời cậu ấy.”
Aliena mở miệng để tranh luận, nhưng đóng lại ngay. Ellen có lý. Richard đã luôn luôn dựa vào cô trong mọi việc. Trong khi cậu chiến đấu để dành lại di sản của cậu, cô buộc phải hỗ trợ cậu. Nhưng bây giờ cậu không chiến đấu cho việc gì cả, nên cậu không có quyền đòi hỏi cô.
Cô tưởng tượng được gặp lại Jack. Cô hình dung khuôn mặt cậu đang mỉm cười với cô. Họ sẽ hôn nhau. Cô cảm thấy sự xôn xao khoái lạc. Cô nhận ra chỉ nghĩ về cậu cô đã xốn xang. Cô cảm thấy xấu hổ.
Ellen nói: “Dĩ nhiên du hành rất nguy hiểm.”
Aliena mỉm cười. “Đó là điều tôi không lo lắm, vì tôi đã du hành từ khi tôi mười bẩy tuổi. Tôi có thể lo cho tôi được.”
“Dù sao cũng có hàng trăm người trên đường tới Compostela. Cô có thể tham gia vào một nhóm hành hương lớn. Cô không phải du hành một mình.”
Aliena thở dài. “Bà biết không, nếu tôi không có đứa nhỏ, tôi sẽ đi ngay.”
“Chính vì đứa nhỏ mà cô phải đi,” Ellen nói. “Nó cần một người bố.”
Aliena đã không để ý đến điểm này: khi cô nghĩ về cuộc du hành, cô hoàn toàn nghĩ vì cô. Bây giờ cô thấy đứa bé cần Jack cũng như cô cần. Việc chăm sóc đứa bé hàng ngày đã chiếm hết thời gian nên cô không nghĩ tới tương lai của nó. Bất ngờ cô cảm thấy sự bất công kinh khủng khi đứa bé lớn lên mà không được biết bố nó – một thiên tài rực rỡ, độc đáo và đáng ngưỡng phục.
Cô nhận thấy cô đã bị thuyết phục để đi, và cô e dè sợ hãi.
Cô chợt thấy một trở ngại. “Tôi không thể mang đứa bé đến Compostela được.”
Ellen nhún vai. “Nó không biết sự khác biệt giữa Tây Ban Nha và Anh quốc. Nhưng cô không phải mang nó đi.”
“Tôi có thể làm gì khác?”
“Để nó lại cho tôi. Tôi sẽ nuôi nó bằng sữa dê và mật ong rừng.”
Aliena lắc đầu. “Tôi không thể chịu đựng được khi phải xa nó. Tôi yêu nó lắm.”
“Nếu cô yêu nó,” Ellen nói, “hãy đi tìm bố nó.”
II
Aliena tìm thấy một con tàu ở Wareham. Khi còn nhỏ, cô đã đi với bố cô qua Pháp bằng một con tàu chiến của Norman. Nó là một chiếc thuyền dài, hẹp; đầu và đít cong lên; nó có hai hàng mái chèo và một cánh buồm da vuông. Con tàu bây giờ đưa cô tới Normady cũng giống như con tàu chiến đó, nhưng rộng hơn ở khoang giữa và sâu hơn để chứa hàng hóa. Nó đến từ Bordeaux, và cô nhìn thấy các thủy thủ chân đất chất những thùng rượu lớn xuống hầm rượu cho các gia đình giầu có.
Aliena biết cô nên để đứa bé lại nhưng cô đau lòng về nó. Mỗi lần cô nhìn nó cô quyết định rằng cô phải đi nhưng cô không muốn rời xa nó.
Ellen đã tới Wareham với cô. Ở đây Aliena đã nhập đoàn cùng hai tu sĩ từ tu viện Glastonbury đi kinh lý đất đai của họ ở Normady. Ba người khác cùng đi trên tàu: một hầu cận trẻ đã phục vụ bốn năm cho một họ hàng ở Anh và bây giờ trở về với bố mẹ ở Toulouse, và hai người thợ xây trẻ đã nghe rằng tiền lương và phụ nữ đẹp hơn ở bên kia bờ biển. Vào buổi sáng ngày khởi hành, tất cả chờ đợi trong quán bia trong khi các thủy thủ chất những thanh thiếc nặng của miền Cornish lên tàu. Các thợ xây uống nhiều bia nhưng chưa thấy say. Aliena ôm đứa bé và âm thầm khóc.
Sau cùng con tàu cũng đã sẵn sàng lên đường. Con ngựa màu xám khỏe mạnh Aliena mua ở Shiring chưa bao giờ thấy biển và không chịu bước lên ván cầu. Tuy nhiên, người hầu cận và các thợ xây đã hợp tác nhiệt tình đưa con ngựa lên tàu.
Aliena dàn dụa nước mắt khi cô đưa đứa bé cho Ellen. Ellen bế đứa bé, nhưng bà nói: „Cô không thể làm thế. Tôi đề nghị như thế là sai.“
Aliena khóc nhiều hơn. „Nhưng còn Jack,“ cô nức nở. „Tôi không thể sống không có Jack, tôi biết tôi không thể. Tôi phải đi tìm anh ấy.“
„Ồ, dĩ nhiên rồi,“ Ellen nói. „Tôi không có ý bảo cô hủy bỏ chuyến đi. Nhưng cô không thể để đứa bé lại. Đem nó theo cô.“
Lòng Aliena tràn đầy niềm biết ơn và cô khóc nhiều hơn. „Bà có nghĩ rằng mọi chuyện sẽ tốt đẹp không?“
„Đứa bé đã hoàn toàn hạnh phúc trên cả con đường với cô đến đây. Phần còn lại của cuộc hành trình cũng giống như vậy. Và nó dường như không thích sữa dê.“
Thuyền trưởng con tàu nói: „Thôi, lên đi các bà! Thủy triều đã lên rồi.“
Aliena đón lấy đứa bé và hôn Ellen: „Cám ơn. Tôi rất hạnh phúc.“
„Chúc may mắn,“ Ellen nói.
Aliena quay lại và bước lên cầu tàu.
Họ rời bến ngay. Aliena vẫy tay chào cho đến khi Ellen chỉ còn là một chấm nhỏ trên hải cảng. Khi họ ra khỏi hải cảng, trời bắt đầu mưa. Không có chỗ trú bên trên nên Aliena ngồi trong khoang thuyền với ngựa và hàng hóa. Tấm ván trên đầu mà những người lái tàu ngồi không đủ che mưa cho cô, nhưng cô giữ đứa bé khô ráo trong áo choàng. Chuyển động của con tàu hình như thích hợp với nó và nó thiêu thiêu ngủ. Khi trời tối và con tàu neo, Aliena cùng cầu nguyện với các tu sĩ. Sau đó cô ngủ thất thường, ngồi thẳng và giữ đứa bé trên tay.
Họ đến Barfleur vào ngày hôm sau và Aliena tìm thấy chỗ tạm trú ở thị trấn gần nhất, Cherbourg. Cô đã dùng một ngày trời, đi quanh thị trấn, nói chuyện với chủ các quán và thợ xây, hỏi thăm về một người thợ xây trẻ người Anh có mái tóc đỏ. Không ai biết. Có rất nhiều những người Norman tóc đỏ, nên không ai để ý đến cậu. Hay có thể cậu đã qua một hải cảng khác.
Aliena không chờ đợi có thể tìm thấy dấu vết của Jack nhanh như thế, tuy nhiên cô cũng bị thất vọng. Ngày hôm sau cô lên đường, hướng về phía nam. Cô du hành chung với một người bán dao và bà vợ mập mạp vui vẻ của ông và bốn người con. Họ di chuyển chậm rãi, và Aliena vui vẻ theo tốc độ của họ và giữ con ngựa khỏe mạnh vì nó còn phải chở cô một quãng đường dài nữa. Mặc dù được an toàn vì đi chung với một gia đình, nhưng cô vẫn giữ con dao dài dưới tay áo phía trái. Trông cô không giầu có: quần áo của cô ấm áp nhưng không thời trang, con ngựa của cô khỏe mạnh nhưng không hung hăng. Cô cẩn thận giữ vài đồng xu tiện dụng trong ví, và chẳng bao giờ cho ai thấy đai tiền nặng cô đeo quanh bụng, dưới lớp áo dài. Cô cho đứa bé bú một cách kín đáo, không cho người lạ thấy ngực cô.
Tối hôm đó cô vui mừng hớn hở vì một may mắn lớn. Họ dừng lại ở một làng nhỏ tên là Lessay và ở đó Aliena gặp một tu sĩ còn nhớ một cách sống động về một người thợ xây người Anh, người đã làm cuộc cách mạng trong việc xây mái nhà thờ vòm mới cho nhà thờ tu viện. Aliena hoan hỉ. Vị tu sĩ còn nhớ Jack nói rằng cậu cập bến ở Honfleur, đó là lý do tại sao không có dấu vết gì về cậu ở Cherbourg. Mặc dù đã một năm qua, ông ấy nói nhiều về Jack và bị ấn tượng về cậu. Aliena thích thú nói chuyện với những người đã biết cậu. Nó là sự xác nhận rằng cô đã đi đúng hướng.
Cuối cùng cô rời vị tu sĩ và nằm ngủ trên nền nhà khách của tu viện. Khi cô sắp chìm vào giấc ngủ, cô bế đứa bé chặt trong tay và thì thầm vào tai hồng nhỏ xíu của nó: “Chúng ta sẽ tìm thấy bố con.”
Đứa bé bị bệnh ở Tours. Thành phố giầu sang, bụi bặm và đông đúc. Chuột chạy theo bầy chung quanh vựa thóc lớn bên dòng sông Loire. Có rất đông khách hành hương. Tours là địa điểm khởi hành truyền thống cho các cuộc hành hương đến Compostela. Ngoài ra ngày lễ Thánh Martin, giám mục đầu tiên của Tours, đã gần kề và bao nhiêu người đến nhà thờ tu viện để viếng mộ thánh. Martin nổi tiếng vì đã cắt chiếc áo choàng của ông thành hai miếng và cho người hành khất trần truồng một nửa. Vì vào ngày lễ nên các quán trọ và nhà trọ của Tours đã đầy. Aliena buộc phải ở lại trong một quán xiêu vẹo ở bến tàu của hai chị em đã quá già để có thể giữ cho căn lều sạch sẽ.
Lúc đầu cô không ở trong nhà nhiều. Với đứa nhỏ trên tay cô đi qua các đường phố, hỏi thăm về jack. Chẳng bao lâu sau cô nhận ra thành phố thường xuyên có quá nhiều khách du lịch đến rồi đi, đến nỗi các chủ quán không nhớ nổi khách hàng của tuần trước, vì thế mà không có lợi gì để hỏi họ về một người có lẽ đã đến đây một năm trước. Tuy nhiên cô dừng lại ở mỗi công trường xây dựng để hỏi xem họ đã có thuê một người thợ xây trẻ người Anh với mái tóc đỏ tên là Jack không. Không ai biết.
Cô thất vọng. Từ lúc rời Lessay, cô không nghe gì về cậu. Nếu cậu có ý định đi Compostela, cậu chắc chắn phải đến Tours. Cô bắt đầu nghi ngờ rằng cậu có thể đã thay đổi ý kiến.
Cô đi tới nhà thờ Thánh Martin như mọi người; và ở đó cô gặp một nhóm thợ xây đang tham gia vào việc sửa chữa lớn. Cô tìm ra thợ xây dựng chính, một người nhỏ con, khó chịu với mái tóc mỏng. Cô hỏi ông đã có thuê người thợ xây người Anh nào không.
“Tôi chẳng bao giờ thuê người Anh,” ông nói đột ngột trước khi cô chấm dứt câu nói. “Thợ xây người Anh không tốt.”
“Người này rất tốt,” cô nói. “Và anh ta nói giỏi tiếng Pháp, vì thế có thể ông không biết anh ấy là người Anh. Anh ấy có tóc đỏ -“
“Không, tôi chưa bao giờ thấy anh ấy,” ông ấy nói thô lỗ rồi bỏ đi.
Aliena trở lại nơi ở của cô với một chút thất vọng. Cô chán nản vì bị đối xử một cách thô lỗ mà không có lý do.
Buổi tối đó cô bị đau bụng và cả đêm không ngủ được. Ngày hôm sau cô cảm thấy quá yếu để đi ra ngoài , và cô nằm cả ngày trong giường. Qua cánh cửa sổ, mùi hôi từ dòng sông, mùi rượu tràn ra và dầu nấu ăn xông lên. Vào ngày hôm sau đứa bé bị bệnh.
Tiếng khóc của nó đánh thức cô dậy. Nó không phải là một tiếng khóc mạnh mẽ, đòi hỏi bình thường của đứa bé mà là tiếng phàn nàn yếu ớt, đáng thương xót. Nó cũng bị đau bụng như Aliena, nhưng nó còn bị sốt. Đôi mắt màu xanh bình thường tỉnh táo của nó đã đóng chặt lại, và bàn tay nhỏ bé của nó nắm chặt thành nắm đấm. Da nó đỏ ửng và loang lổ.
Trước đó nó chẳng bao giờ bị bệnh, và Aliena không biết phải làm gì.
Cô đưa cho nó bầu sữa của cô. Nó bú mạnh một lúc, rồi lại khóc, rồi lại bú. Sữa như chẩy thẳng qua người nó và dường như không cho nó sự thoải mái.
Có một người giúp việc dễ chịu ở cửa hàng ăn uống, và Aliena nhờ cô đến tu viện mua nước phép. Cô có ý định đến bác sĩ, nhưng họ luôn luôn muốn lấy máu bệnh nhân, và cô không tin rằng lấy máu sẽ tốt cho trẻ em.
Người giúp việc trở về và đem mẹ cô theo. Bà ấy đốt cháy một loại thảo dược trong một chậu sắt. Chúng tạo nên một làn khói cay dường như đánh tan đi mùi hôi của nơi này. “Đứa nhỏ sẽ khát – cô hãy cho nó bú bao nhiêu nó cần,” bà nói. “Còn cô hãy uống bao nhiêu có thể, để cô có đủ sữa. Đó là tất cả những gì cô có thể làm.”
“Đứa bé có qua khỏi không?” Aliena lo lắng hỏi.
Người đàn bà nhìn cô thông cảm. “Tôi không biết, cô yêu quý à. Khi chúng còn quá nhỏ, bạn không thể nói gì được. Thông thường chúng qua khỏi những bệnh như thế này. Một đôi khi không. Nó là con đầu lòng của cô à?”
“Vâng.”
“Hãy nhớ rằng cô luôn luôn có thể có nhiều con hơn nữa.”
Alien nghĩ: Nhưng đây là con Jack, và tôi đã mất Jack. Cô giữ ý nghĩ ấy cho riêng cô, cám ơn người đàn bà và trả tiền dược thảo cho bà.
Khi họ đã đi, cô pha nước phép với nước thường, nhúng một khăn vào nước và đặt trên đầu em bé để là giảm cơn sốt.
Vào ngày hôm sau nó trở nên tồi tệ hơn. Aliena cho nó bú khi nó khóc. Nó bú liên tục nhưng thất thường. May mắn là cô luôn có nhiều sữa. Chính cô cũng bị bệnh và sống bằng bánh mì khô và rượu nho pha loãng. Khi thời gian trôi qua, cô trở thành chán ghét căn phòng cô đang ở, với tường hoen ố, nền nhà thô, cửa lệch và cửa sổ nhỏ. Trong phòng chỉ có bốn đồ nội thất: một chiếc giường ọp ẹp, một chiếc ghế ba chân, một giá treo quần áo và chân nến có ba ngạnh nhưng chỉ có một cây nến.
Khi trời tối người giúp việc đến châm nến. Cô nhìn đứa bé nằm trên giường, đập chân tay và la ai oán. “Tội nghiệp đứa bé,” cô nói. “Nó không hiểu tại sao nó lại cảm thấy khó chịu thế.”
Aliena đi từ ghế đến giường, nhưng cô vẫn giữ cây nến cháy để cô có thể thấy đứa bé. Xuyên qua đêm cả hai ngủ thất thường. Vào buổi sáng hơi thở đứa bé trở nên yếu đi, và nó không còn khóc, không còn chuyển động.
Aliena bắt đầu khóc thầm. Cô đã mất dấu vết của Jack và con cô sắp chết ở đây, ở trong một nhà toàn người lạ và trong một thành phố xa gia đình. Sẽ chẳng bao giờ còn có một Jack khác, và sẽ chẳng bao giờ có một đứa con khác. Có lẽ cô cũng sẽ chết. Điều đó có thể là tốt nhất.
Vào lúc rạng đông cô thổi cây nến và rơi vào một giấc ngủ mệt mỏi.
Một tiếng ồn ào từ tầng dưới đánh thức cô dậy. Mặt trời đã lên và bờ sông bên dưới đầy tiếng bận rộn. Đứa nhỏ hoàn toàn yên lặng, khuôn mặt nó hoàn toàn bình an. Sự sợ hãi thắt chặt tim cô. Cô sờ vào ngực nó: nó không nóng cũng không lạnh. Cô thở hổn hển vì lo sợ. Rồi nó thở dài, run rẩy và mở mắt ra. Aliena gần ngất đi vì vui.
Cô bế nó lên và ôm nó, và nó bắt đầu khóc lớn. Nó đã khỏe lại, cô nhận ra: nhiệt độ của nó bình thường và nó không còn đau. Cô đặt nó vào ngực và nó bú một cách thèm khát. Nó bú liên tục cho đến khi không còn sữa nữa, rồi nó lại bú tiếp vú bên kia. Sau đó nó rơi vào giấc ngủ sâu, hài lòng.
Aliena nhận ra các triệu chứng của cô cũng đã hết, mặc dù cô cảm thấy mệt. Cô ngủ bên cạnh đứa bé cho đến giữa trưa, rồi cho nó ăn lần nữa; sau đó cô xuống phòng chung của quán và ăn trưa với phô mai dê và bánh mì mới với một ít thịt xông khói.
Có lẽ nước phép của Thánh Martin đã làm đứa bé bình phục. Buổi chiều hôm đó cô đến mộ thánh trong nhà thờ Thánh Martin để tạ ơn.
Trong khi cô ở trong nhà thờ lớn của tu viện, cô quan sát thợ xây đang làm việc và nghĩ về Jack, người có lẽ một ngày nào đó sẽ gặp được con cậu. Cô tự hỏi không biết cậu có thay đổi lộ trình đã định không. Có lẽ cậu đang ở Paris, khắc tượng cho một nhà thờ chính tòa ở đó. Trong khi cô nghĩ về cậu, mắt cô sáng lên vì trần nhà mới đang được các thợ xây dựng lên. Nó được chạm khắc hình của một người đang mang sức nặng của cây cột trên lưng mình. Cô thở mạnh. Cô biết ngay, không một bóng nghi ngờ rằng hình người đang quặn đau đã được trạm khắc bởi Jack. Vì thế cậu đã ở đây.
Với trái tim hồi hộp cô tiến đến gần các thợ xây. “Đòn chìa đó,” cô nói không kịp thở. “Có phải người khắc đòn chìa đó là người Anh phải không?”
Một người lao động già có chiếc mũi gẫy trả lời cô. “Đúng – Jack Fitzjack đã làm nó. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy hình nào giống như thế này trong đời tôi.”
“Anh ấy ở đây khi nào?” Aliena nói. Cô nín thở trong khi ông già gãi mái tóc hoa râm xuyên qua chiếc mũ đầy mỡ.
“Phải là một năm trước đây. Cậu ấy không ở đây lâu. Người xây dựng chính không thích cậu ấy.” Ông hạ giọng: “Jack rất tốt, nếu cô muốn biết sự thật. Cậu ấy hơn cả người thợ xây chính. Vì thế cậu ấy phải ra đi.” Ông đặt một ngón tay lên miệng như dấu hiệu nên giữ bí mật.
Aliena hào hứng nói: “Cậu ấy có nói cậu ấy đi đâu không?”
Ông già nhìn đứa bé. “Nếu theo màu tóc, đứa bé này phải là con cậu ấy.”
“Vâng, đúng thế ạ.”
“Cô có nghĩ là Jack sẽ vui khi gặp cô không?”
Aliena nhận ra người lao công nghĩ Jack bỏ đi là vì cô. Cô cười. “Ô! Dĩ nhiên rồi!” cô nói. “Cậu ấy sẽ hài lòng khi gặp tôi.”
Ông nhún vai. “Cậu ấy nói cậu ấy đi đến Compostela, đi tìm kiếm cái gì xứng đáng hơn.”
“Cám ơn ông!” Aliena vui vẻ nói, và trước sự ngạc nhiên và thích thú của ông, cô hôn ông.
Tất cả những con đường hành hương từ Pháp đến Compostela đều gặp nhau ở Ostabat, chân núi Pyrenees. Nhóm hai mươi người hành hương của Aliena đã tăng thành bẩy mươi người ở đó. Họ là một nhóm người đau chân nhưng vui vẻ, họ gồm một số người khá giả, một số người chạy trốn pháp luật, một vài người say rượu và rất đông các tu sĩ và giáo sĩ. Những người của Chúa đi hành hương vì lý do đạo đức, nhưng hầu hết những người khác đi vì vui thú. Họ nói đủ thứ tiếng, cả tiếng Bỉ, một người nói tiếng Đức, và một nói tiếng miền nam Pháp gọi là Oc. Tuy nhiên, họ thông cảm nhau, và khi vượt qua dẫy núi Pyrenees họ ca hát, chơi trò chơi, kể truyện, và – trong một số trường hợp – có chuyện tình cảm.
Sau khi bỏ thị trấn Tours, Aliena không gặp bất cứ người nào còn nhớ về Jack. Tuy nhiên không có nhiều người hát rong trên đường cô đi qua Pháp như cô tưởng tượng. Một trong những người Bỉ hành hương, một người trước đây đã đi rồi, nói rằng sẽ có nhiều người hát rong hơn ở phía bên kia ngọn núi, phía Tây Ban Nha.
Ông ta đúng. Ở Pamplona, Aliena vuui sướng tìm thấy một người hát rong nhớ lại đã nói chuyện với một người Anh trẻ có mái tóc đỏ, người đã thăm dò về bố cậu ấy.
Khi các người hành hương mỏi mệt di chuyển chậm chạp qua miền bắc Tây Ban Nha về hướng bờ biển, cô gặp nhiều người hát rong, và hầu hết mọi người còn nhớ về Jack. Cô nhận ra, với sự hứng thú, rằng hầu hết đều nói cậu trên đường đến Compostela; không ai gặp cậu quay trở lại.
Điều đó có nghĩa là cậu vẫn ở đó.
Khi thân thể cô đau hơn, tinh thần cô lại cao hơn. Vào những ngày cuối của cuộc hành trình cô không còn có thể kiềm chế được sự lạc quan của mình. Trời vào giữa mùa đông, nhưng thời tiết nhẹ nhàng và nắng. Đứa bé, bây giờ đã sáu tháng tuổi, khỏe mạnh và vui tươi. Cô chắc chắn sẽ tìm thấy Jack ở Compostela.
Họ đến đó ngày lễ Giáng Sinh.
Họ đi thẳng vào nhà thờ chính tòa và tham dự thánh lễ. Nhà thờ đầy người. Aliena đi vòng quanh đám đông, nhìn từng khuôn mặt, nhưng Jack không ở đó. Dĩ nhiên, cậu không rất mộ đạo, thực ra cậu chẳng bao giờ đến nhà thờ, ngoài việc đến đó làm việc. Khi cô tìm được chỗ ở, trời đã tối. Cô lên giường, nhưng cô không thể ngủ vì phấn khích, biết rằng Jack có lẽ chỉ ở cách chỗ cô nằm có mấy bước chân, và ngày mai cô sẽ gặp cậu, hôn cậu và chỉ cho cậu đứa con của cậu.
Cô thức dậy khi ánh mặt trời vừa lên. Đứa nhỏ hầu như cảm nhận được sự sốt ruột của cô, nó bú không thường xuyên, cắn núm vú cô bằng nứu răng. Cô tắm rửa cho nó nhanh chóng, rồi đi ra, mang nó dưới cánh tay.
Trên đường đi đầy bụi bặm cô chờ đợi có thể gặp Jack ở mọi góc phố. Cậu sẽ ngạc nhiên như thế nào khi gặp cô? Cậu sẽ vui như thế nào? Tuy nhiên cô đã không gặp cậu trên phố, vì thế cô bắt đầu hỏi thăm về cậu trong các nhà nghỉ. Khi dân chúng đi làm lại, cô đến các công trường xây dựng và nói chuyện với các thợ xây. Cô biết hai chữ thợ xây và tóc đỏ bằng tiếng địa phương Castilian, vì thế cô có thể hỏi thăm được; nhưng cô không tìm được dấu vết nào của Jack. Cô bắt đầu lo lắng. Chắc chắn nhiều người biết cậu. Cậu không phải là người mà người khác không chú ý đến, và chắc chắn cậu phải sống ở đây ít nhất vài tháng. Cô chú ý đến nét chạm khắc đặc biệt của cậu, nhưng cô không thấy gì.
Vào khoảng giữa sáng cô gặp một đàn bà trung niên mập, chủ một quán ăn, người nói tiếng Pháp và còn nhớ Jack.
“Một chàng đẹp trai - cậu ấy là của cô?” Không có cô gái nào ở đây lọt được vào mắt cậu ấy. Cậu ở đây vào giữa mùa hè, nhưng đáng tiếc cậu không ở đây lâu. Cậu cũng không nói cậu đi đâu. Tôi thích cậu ấy. Nếu cô tìm được cậu ấy, cho tôi gửi cậu ấy nụ hôn của tôi.”
Aliena trở lại chỗ ở của cô và nằm trên giường, nhìn lên trần nhà. Đứa bé khóc, nhưng cô lơ đi. Cô mệt mỏi, thất vọng và nhớ nhà. Nó không công bằng: cô đã đi tìm cậu suốt cả con đường đến Compostela, nhưng cậu lại đi nơi khác.
Cậu không trở lại con đường qua rặng núi Pyrenees, và phía tây Compostela không có gì cho cậu ở lại, bởi vì ở đó chỉ có một bờ biển và một đại dương rộng đến bên kia thế giới. Jack phải đi về miền Nam. Cô lại phải lên đường trên lưng con ngựa cái màu xám của mình, với đứa bé trên tay, đi vào trung tâm của Tây Ban Nha.
Cô tự hỏi còn bao xa nữa cuộc hành hương của cô mới chấm dứt.
Jack trải qua ngày Giáng Sinh với bạn cậu, Raschid Alhaoun, ở Toledo. Raschid là một người được rửa tội theo Saracen và nhập khẩu gia vị từ phương Đông, đặc biệt là tiêu. Họ gặp nhau tại thánh lễ ban trưa ở nhà thờ chính tòa và sau đó tản bộ trong ánh nắng ấm mùa đông xuyên qua những con đường hẹp và khu chợ đầy hương vị đến khu giầu có.
Nhà Raschid được làm bằng đá trắng và xây quanh một sân có giếng nước ở giữa. Mái vòm mát mẻ nhắc Jack nhớ đến hành lang tu viện Kingsbridge. Ở nước Anh mái vòm bảo vệ gió và mưa, nhưng ở đây chúng làm giảm sức nóng của mặt trời.
Raschid và khách của ông ngồi trên gối nệm trên nền nhà và ăn ở một bàn thấp. Những người đàn ông được phục vụ bởi các bà vợ, các con gái và các cô gái phục vụ mà nhiệm vụ của họ trong nhà không rõ ràng: Là một Kitô hữu, Raschid chỉ có một vợ, nhưng Jack đoán rằng ông hoàn toàn bỏ qua sự không chấp thuận của giáo hội về việc có vợ lẽ.
Các phụ nữ tỏ lộ sự hiếu khách trong gia đình Raschid. Tất cả họ đều đẹp. Vợ ông là một phụ nữ duyên dáng như bức tượng với làn da nâu sậm mịn màng, mái tóc đen bóng và đôi mắt nâu, và các con gái ông là các phiên bản mỏng hơn cùng loại. Ông có ba con gái. Người con gái lớn nhất đã hứa hôn với một khách cùng ăn trưa, con trai của một thương gia lụa trong thành phố. “Raya của tôi là người con gái hoàn hảo,” Raschid nói khi cô đi quanh bàn với một bát nước thơm cho khách rửa tay. “Cô ấy chu đáo, ngoan ngoãn và xinh đẹp. Josef là người may mắn.” Người thanh niên cúi đầu tỏ lòng biết ơn về sự may mắn của cậu.
Người con gái thứ hai tự hào, thậm chí tự kiêu. Cô dường như tức giận vì những lời khen ngợi dành cho chị mình. Cô nhìn Jack khi cô đổ một loại nước uống từ chiếc bình bằng đồng vào ly của cậu.
“Cái gì vậy?” cậu hỏi.
“Rượu rau húng,” cô khinh khỉnh nói. Cô không thích cậu vì cô là con của một người danh giá mà cậu chỉ là một kẻ lang thang không tiền.
Jack thích nhất Aysha, người con gái thứ ba. Trong ba tháng cậu ở đây, cậu đã biết nhiều về cô. Cô chạc mười lăm mười sáu tuổi, nhỏ và sống động, luôn tươi cười. Mặc dù cô nhỏ hơn cậu ba bốn tuổi, cô trông không còn như trẻ con. Cô có trí thông minh nhậy bén và luôn tìm tòi. Cô hỏi cậu không ngừng về nước Anh và cách sống ở đó. Cô thường khôi hài về cách cư xử trong xã hội ở Toledo – tính chất đua đòi của người Ả Rập, sự khó tính của người Do Thái, và khiếu thiếu thẩm mỹ của người Ki Tô hữu mới giầu có. Mặc dù cô trẻ nhất, cô tỏ ra thoải mái nhất trong ba người: giả sử như cách cô nhìn Jack, khi cô nghiêng người về phía cậu để đặt dĩa tôm cay lên bàn mà không tỏ lộ tính nết phóng túng. Cô gặp ánh mắt cậu và nói “Rượu rau húng”, bắt chước hoàn hảo về thái độ kiêu kỳ của chị gái, và Jack cười khúc khích. Khi cậu ở bên Aysha, cậu có thể quên được Aliena.
Nhưng khi cậu rời căn nhà này, Aliena lại ở trong tâm trí cậu như thể cậu mới rời cô ngày hôm qua. Ký ức về cô vẫn sống động đau đớn, mặc dù cậu đã không gặp cô từ một năm nay. Cậu có thể gợi lại bất cứ biểu hiện nào của cô mà cậu muốn: cười nói, trầm tư, nghi ngờ, sợ hãi, vui vẻ hay ngạc nhiên, và – rõ nhất trong tất cả - đam mê. Cậu không quên gì về thân thể cô, và cậu vẫn còn có thể nhìn thấy đường cong của ngực cô, cảm thấy làn da mềm mại trong đùi cô, hương vị nụ hôn cô, và mùi kích thích của cô. Cậu mơ ước về cô.
Để cho lòng mình đỡ khao khát về cô, một đôi khi cậu tưởng tượng Aliena đang phải làm gì. Trong trí cậu, vào cuối ngày cô đang cởi giày cho Alfred, ngồi ăn với cậu ấy, hôn và làm tình với cậu ấy, và cho một đứa bé trông giống hệt như Alfred bú. Những tưởng tượng này làm cậu đau đớn nhưng không ngăn được cậu khao hát cô.
Hôm nay, ngày lễ Giáng Sinh, Aliena sẽ nướng một con thiên nga và dùng lông nó trang trí bàn ăn, sẽ có rượu được pha từ bia, trứng, sữa và nho xạ. Đồ ăn trước mặt Jack cũng không khác gì. Có dĩa thịt cừu với gia vị lạ, cơm trộn với hạt dẻ và xà lách trộn với nước chanh và dầu ô liu. Jack đã cần một thời gian để làm quen với đồ ăn của Tây Ban Nha. Những thứ mà ở Anh phải có trong những ngày lễ lớn như một khúc thịt bò, một chân heo hoặc một đùi nai, lại không có ở đây cũng như không có miếng bánh mì dầy. Họ không có những đồng cỏ tươi tốt để chăn thả đàn bò, cũng không có những mảnh đất tốt cho những cánh đồng lúa mì. Với số lượng thịt ít ỏi họ đã nấu nó theo trí tưởng tượng với vô số gia vị, và thay vì bánh mì phổ biến ở Anh họ có nhiều rau và trái cây.
Jack sống với một nhóm các giáo sĩ người Anh ở Toledo. Họ thuộc một cộng đoàn quốc tế các học giả bao gồm Do Thái, Hồi giáo và Ki Tô giáo Ả Rập. Người Anh dịch những tác phẩm về toán học từ tiếng Ả Rập sang Latin để các Ki Tô hữu có thể đọc được. Họ phấn khích khám phá ra kho tàng uyên thâm của Ả Rập và tình cờ chào đón Jack như một sinh viên: họ nhận vào nhóm bất cứ ai hiểu công việc họ đang làm và chia sẻ lòng nhiệt tình trong công việc của họ. Họ giống như những nông dân đã làm việc khó nhọc nhiều năm trên mảnh đất khô cằn và bất ngờ di chuyển đến một thung lũng phù sa phong phú. Jack bỏ bê việc xây dựng và nghiên cứu toán học. Cậu chưa cần đi làm để kiếm tiền: các giáo sĩ cung cấp cho cậu một chiếc giường và mọi bữa ăn cậu cần, và họ cũng sẽ cung cấp cho cậu một áo mới và đôi dép nếu cậu cần.
Raschid là một trong những ân nhân của họ. Là một nhà kinh doanh quốc tế ông có thể nói nhiều thứ tiếng và thái độ của ông cởi mở. Ở nhà ông nói tiếng Castilian, ngôn ngữ của Ki Tô hữu Tây Ban Nha, thay vì Mozarabic như thông thường. Tất cả mọi người trong nhà ông đều nói tiếng Pháp, ngôn ngữ của người Norman, những nhà kinh doanh quan trọng. Mặc dù ông là người của thương mại, ông có một trí thông minh tốt và ham học hỏi trên lãnh vực rộng. Ông thích nói chuyện với các học giả về những lý thuyết của họ. Ông đã chú ý đến Jack ngay lập tức và Jack ăn ở nhà ông nhiều lần trong tuần.
Bây giờ, khi họ bắt đầu ăn, Raschid hỏi Jack: “Các nhà triết học đã dạy chúng ta điều gì trong tuần này?”
“Tôi đã đọc Euclid.” Các yếu tố của hình học của tác giả Euclid là cuốn sách đầu tiên được dịch.
“Euclid là một tên buồn cười đối với người Ả Rập,” Ismail, em của Raschid nói.
“Ông ấy là người Hy Lạp,” Jack giải thích. “Ông sống trước trước thời Chúa Giê Su. Người Roma đã thất lạc công trình của ông, nhưng người Ai Cập còn giữ được – vì thế chúng ta có bản tiếng Ả Rập.”
“Và bây giờ người Anh dịch nó sang tiếng Latin!” Raschid nói. “Điều đó làm tôi buồn cười.”
“Nhưng cậu đã học được gì?” Josef, người hôn phu của Raya hỏi.
Jack do dự. Nó khó có thể cắt nghĩa. Cậu cố gắng cắt nghĩa cho dễ hiểu. “Bố dượng tôi, một thợ xây dựng, đã dạy tôi cách ứng dụng trong toán học: làm sao để chia đôi một đường thẳng chính xác ở giữa, làm sao để vẽ một góc bên phải, và làm sao để vẽ một hình vuông bên trong một hình vuông khác để hình vuông nhỏ có diện tích bằng nửa hình vuông lớn.”
“Mục đích của kỹ năng đó là gì?” Josef cắt ngang. Trong giọng ông có một chút khinh miệt. Ông coi Jack như một người mới nổi và ghen tức vì Raschid quá quan tâm tới cuộc nói chuyện của Jack.
“Sự tính toán này là căn bản trong việc thiết kế xây dựng,” Jack vui vẻ trả lời, làm như không để ý đến giọng nói của Josef. “Hãy nhìn vào sân này. Diện tích của đường đi có mái che tương ứng hoàn toàn với khoảng trống ở giữa sân. Hầu hết các sân vườn trong đều xây như thế, ngay cả hành lang của các tu viện, bởi vì tỷ lệ này đẹp mắt. Nếu khoảng trống ở giữa lớn hơn, nó trông giống như khu chợ, và nếu nó nhỏ hơn, nó trông như một lỗ trong mái nhà. Nhưng để cho nó chính xác, người thợ xây phải có khả năng vẽ khoảng trống ở giữa chính xác là nửa diện tích của toàn thể khu vực.”
“Tôi chưa bao giờ biết điều đó!” Raschid thích chí nói. Ông không thích gì hơn là học thêm cái mới.
“Euclid cắt nghĩa tại sao cách này lại chính xác,” Jack tiếp tục. “Thí dụ như hai phần của một đường thẳng bằng nhau bởi vì chúng tạo nên hai cạnh tương ứng của một tam giác đều.”
“Đều?” Raschid truy vấn.
“Nó có nghĩa là chính xác giống nhau.”
“À, tôi hiểu.”
Tuy nhiên, không ai khác đã làm điều đó, Jack có thể nói.
Josef nói: “Nhưng cậu cũng có thể thực hiện các phương pháp toán học này trước khi đọc Euclid – vì thế mà tôi không thấy bây giờ cậu giỏi hơn.”
Raschid phản đối: “Một người luôn luôn tốt hơn khi hiểu biết một cái gì đó đến nơi đến chốn.”
Jack nói: “Bên cạnh đó, bây giờ khi hiểu nguyên tắc toán học, tôi có thể đưa ra giải pháp cho những vấn đề mà dượng tôi bối rối.” Cậu cảm thấy thất vọng trong cuộc trò chuyện: Euclid đối với cậu như ánh sáng của một mặc khải, nhưng cậu không thể làm cho những người hiện diện hiểu được sự khám phá hấp dẫn quan trọng này. Cậu thay đổi một chút chiến thuật. “Sự hấp dẫn nhất là phương pháp của Euclid,” cậu nói. “Ông ấy lấy năm tiên đề - đó là những sự thật hiển nhân mà không cần chứng minh – và từ đó suy luận ra mọi thứ khác.
“Hãy chỉ cho tôi một tiêu đề làm thí dụ,” Raschid nói.
“Một đường thẳng có thể kéo dài đến vô tận.”
“Không, nó không thể,” Aysha nói trong khi cô đưa dĩa sung cho từng người.
Các khách hơi giật mình khi nghe cô gái tham gia vào tranh luận, nhưng Raschid cười khoan dung: Aysha là con gái cưng của ông. “Và tại sao không?” ông hỏi.
“Một lúc nào đó nó phải chấm dứt,” cô nói.
Jack nói: “Nhưng trong trí tưởng tượng của cô nó có thể kéo dài đến vô tận.”
“Trong trí tưởng tượng của tôi, nước có thể chẩy lên đồi và con chó có thể nói tiếng Latin,” cô vặn lại.
Mẹ cô vào phòng và nghe cô đáp lại như thế. “Aysha!” bà nói bằng giọng đanh thép. “Đi ra ngoài!”
Tất cả mọi người cười. Aysha cau mày và đi ra. Bố của Josef nói: “Ai cưới cô ta sẽ có đủ việc để làm.” Họ lại cười. Jack cũng cười theo; rồi cậu nhận ra mọi người nhìn cậu như thể lời nói đùa đó ám chỉ về cậu.
Sau bữa ăn trưa, Raschid đem khoe bộ sưu tập về đồ chơi cơ khí của ông. Ông có một thùng, trong đó người ta có thể pha nước với rượu và chúng chẩy ra thành hai thành phần riêng; một đồng hồ chạy bằng nước chỉ giờ giấc trong ngày một cách chính xác; một cái bình có thể tự đổ đầy nhưng không bao giờ tràn ra; và bức tượng một người phụ nữ nhỏ bằng gỗ với đôi mắt làm bằng một loại tinh thể hấp thu nước trong không khí ấm áp ban ngày và lại thải ra trong cái lạnh vào ban tối, vì thế mà bức tượng trông như đang khóc. Jack chia sẻ niềm đam mê của Raschid về những đồ chơi này, nhưng cậu bị hấp dẫn nhất về bức tượng khóc. Những kỹ thuật của những đồ chơi kia có thể cắt nghĩa, nhưng không ai có thể hiểu tại sao bức tượng lại khóc.
Vào buổi tối họ ngồi chung với nhau dưới đường đi mái vòm xung quanh sân vườn, chơi trò chơi, vẽ lăng nhăng hay nói chuyện vu vơ. Jack ước muốn được có một gia đình lớn như thế này, với chị em, chú bác và dâu rể, và một căn nhà gia đình mà mọi người có thể đến thăm, và một vị trí được mọi người trong thị trấn tôn trọng. Bất ngờ cậu nhớ lại cuộc nói chuyện với mẹ đêm hôm đó khi bà giải cứu cậu khỏi phòng giam trong tu viện. Cậu đã hỏi bà về những người thân của bố cậu, và bà đã nói: vâng, ông có một gia đình lớn ở Pháp. Tôi có một gia đình lớn như thế này, ở đâu đó, Jack nhận ra. Anh chị em của bố tôi là chú dì cô bác của tôi. Tôi phải có các anh chị em họ và tôi tự hỏi không biết tôi có tìm được họ không?
Cậu cảm thấy như chiếc lá trôi dạt trên sông. Cậu có thể sống còn ở mọi nơi nhưng cậu không thuộc về đâu. Cậu đã là một thợ khắc đá, một thợ xây, một tu sĩ và một nhà toán học, nhưng cậu không biết Jack thực sự là gì? Một đôi khi cậu tự hỏi có nên trở thành người hát rong như bố cậu hay sống lang thang ngoài vòng pháp luật như mẹ cậu không. Cậu đã mười chín tuổi, không có nhà cửa và không nguồn gốc, không gia đình và mục đích trong cuộc sống.
Cậu chơi cờ với Josef và thắng; rồi Raschid đến và nói: “Cho tôi mượn chiếc ghế, Josef – Tôi muốn nghe nhiều hơn về Euclid.”
Josef ngoan ngoãn nhường ghế cho bố vợ tương lai, rồi đi – tất cả những gì cậu ấy muốn biết về Euclid, cậu ấy đã nghe. Raschid ngồi xuống và nói với Jack: “Cậu có hài lòng không?”
“Lòng hiếu khách của ông thật rộng rãi,” Jack nói một cách trôi chẩy. Cậu đã học cách xã giao lịch sự ở Toledo.
“Cảm ơn! Nhưng ý tôi muốn nói về Euclid.”
“Vâng. Tôi không nghĩ tôi thành công trong việc giải thích những điều quan trọng trong sách này. Ông thấy –“
“Tôi hiểu,” Raschid nói. “Giống như cậu, tôi thích sự hiểu biết chỉ vì tôi thích.”
“Vâng.”
“Ngay cả như thế, mỗi người cũng phải tìm cách sống.”
Jack không hiểu gì trong lời nhận xét đó vì thế cậu đợi Raschid nói thêm. Tuy nhiên, Rischad ngồi dựa lưng vào ghế, đôi mắt nhắm lại, dường như để hưởng sự yên lặng giữa hai người. Jack tự hỏi không biết có phải Raschid trách móc cậu vì cậu đã không tham gia thương mại không. Cuối cùng Jack nói: “Tôi mong một ngày nào đó tôi sẽ trở lại với việc xây dựng.”
“Tốt.”
Jack mỉm cười. “Khi tôi rời Kingsbridge trên lưng ngựa của mẹ tôi, với công cụ của dượng trong túi đeo trên vai, tôi nghĩ chỉ có một cách để xây dựng nhà thờ: tường dầy với mái vòm xung quanh và những cửa sổ nhỏ, bên trên là mái trần bằng gỗ hay mái vòm bằng đá. Những nhà thờ chính tòa tôi thấy trên đường từ Kingsbridge tới Southampton không dạy tôi gì khác. Nhưng Normandy đã thay đổi đời sống của tôi.”
“Tôi có thể hình dung được,” Raschid ngái ngủ nói. Ông không quan tâm lắm, vì thế Jack gợi nhớ lại những ngày đó trong thinh lặng. Một vài giờ sau khi đến Honfleur, cậu đã nhìn ngắm nhà thờ tu viện ở Jumièges. Nó là nhà thờ cao nhất mà cậu nhìn thấy, mặc dù như thế nó vẫn có những đường mái vòm thông thường và trần gỗ - ngoại trừ trong nhà họp, nơi viện phụ Urso xây một mái trần bằng đá mang tính cách mạng. Thay vì những hàng gạch phẳng, đều đặn hoặc mái vòm nhọn gấp, mái trần này có đường xương sườn chạy từ đỉnh các cột trụ và gặp nhau ở đỉnh mái nhà. Đường xương sườn này dầy và mạnh mẽ, và phần tam giác trên trần giữa các xương sườn mỏng và nhẹ nhàng. Vị tu sĩ phụ trách tu viện cắt nghĩa cho Jack rằng nó rất dễ xây: các xương sườn được dựng trước và phần giữa làm rất đơn giản. Loại mái vòm này nhẹ hơn. Vị tu sĩ hy vọng nghe Jack nói về những cải tiến kỹ thuật ở Anh, và Jack đã làm ông thất vọng. Tuy nhiên, sự cảm kích của Jack về mái vòm với đường xương sườn làm vị tu sĩ hài lòng, và ông nói với Jack rằng một nhà thờ ở Lessay, không xa đó, có toàn bộ mái vòm với đường xương sườn.
Ngày hôm sau Jack đến Lessay và dùng cả buổi chiều nhìn ngắm mái vòm trong nhà thờ. Điểm nổi bật của nó là gì? Sau đó cậu đi đến kết luận là những đường xương sườn, đi từ đỉnh mái xuống đầu các cột trụ, tạo nên vẻ như thể trọng lượng của mái được chống đỡ bởi những thành phần mạnh nhất. Đường xương sườn tỏ lộ rõ ràng lôgic của kiến trúc.
Jack du hành về hướng nam, tới vùng Anjou, và tìm được việc sửa sang lại nhà thờ tu viện ở Tours. Cậu không gặp khó khăn trong việc thuyết phục người xây dựng chính cho cậu thử việc. Công cụ cậu mang theo chứng tỏ cậu là một thợ xây, và sau một ngày làm việc ông ấy biết cậu là người thợ giỏi. Lời tự hào của cậu khi nói với Aliena rằng, cậu có thể tìm được việc ở mọi nơi trên thế giới, không phải là những lời rỗng tuếch.
Trong số công cụ cậu đã thừa hưởng được từ Tom có cái thước chân. Chỉ có các thợ xây dựng chính mới có nó, và khi những người khác khám phá ra Jack có nó, họ hỏi cậu làm sao cậu có thể trở thành thợ xây dựng chính ở lứa tuổi còn trẻ như thế. Lúc đầu cậu muốn giải thích cậu không phải, nhưng rồi cậu quyết định tự nhận mình là thợ xây dựng chính. Thực ra trong khi là một tập sinh, cậu đã điều hành công trình xây dựng ở Kingsbridge và cậu có thể vẽ dự án tốt như Tom. Nhưng người xây dựng chính mà cậu đang làm việc cảm thấy khó chịu khi ông khám phá ra đã thuê một đối thủ đáng sợ. Một này nọ cậu đề nghị một sự thay đổi với tu sĩ phụ trách việc xây dựng, và vẽ những gì cậu nghĩ trên đất. Đó là khởi đầu của những rắc rối. Nhà xây dựng chính nghĩ rằng Jack muốn thay thế ông. Ông bắt đầu tìm lỗi ở Jack và giao cho cậu những công việc cắt đá nhàm chán.
Chẳng bao lâu sau Jack lại lên đường. Cậu đến tu viện ở Cluny, nhà mẹ chính của một dòng tu phát triển khắp các vùng Ki Tô giáo. Đó là dòng Cluniac, một dòng tu khởi xướng và thúc đẩy những cuộc hành hương đến mộ Thánh Gia Cô Bê ở Compostela. Dọc theo con đường đến Compostela có những ngôi nhà thờ cung hiến cho Thánh Gia Cô Bê và những tu viện của dòng Cluniac để chăm sóc cho khách hành hương. Khi bố Jack còn là một người hát rong trên đường hành hương, có lẽ ông đã thăm Cluny.
Tuy nhiên, ông đã không đến đó. Không có người hát rong nào ở Cluny. Jack không biết thêm gì về bố cậu ở đó.
Mặc dù như vậy, cuộc hành trình đến đó không phải là lãng phí. Cho đến khi bước vào nhà thờ tu viện Cluny, tất cả mái vòm cậu đã thấy đều có hình bán nguyệt; và mỗi mái vòm là một đường hầm, giống như một hàng những mái vòm tròn xếp lại với nhau, hay thành vòm nhọn, giống như một khúc nối nơi hai đường hầm gặp nhau. Mái vòm ở Cluny không có hình bán nguyệt.
Chúng vươn lên đến một điểm.
Có những mái vòm nhọn trong những đường đi lớn có máiö những mái vòm của gian phụ tạo nên mái vòm nhọn; và – điều đáng ngạc nhiên nhất – mái trần ở gian chính chỉ có thể được miêu tả như một tổng thể mái vòm nhọn. Jack đã học rằng một vòng tròn luôn mạnh mẽ vì chúng hoàn hảo, và một mái vòm tròn chắc chắn vì chúng là một phần của vòm tròn. Cậu đã nghĩ mái vòm nhọn sẽ yếu. Thực tế, các tu sĩ nói với cậu rằng, mái vòm nhọn chắc chắn hơn mái vòm tròn cũ. Nhà thờ ở Cluny dường như đã chứng minh điều đó, bởi vì mặc dù trọng lượng nặng của mái vòm nhọn lên đến đỉnh, mái vòm vẫn rất cao.
Jack đã không ở lại lâu ở Cluny. Cậu tiếp tục đi về hướng nam, theo đường hành hương, ngừng lại nơi nào cậu muốn. Vào đầu mùa hè có nhiều người hát rong trên đường trong các thị trấn lớn hay gần các tu viện Cluniac. Họ kể lại các câu truyện bằng thơ cho đám đông khách hành hương trước cửa nhà thờ và đền thánh, một đôi khi kèm theo tiếng đàn vĩ cầm, như cách mà Aliena đã kể cho cậu. Jack đến gặp từng người và hỏi họ có biết về Jack Shareburg. Tất cả họ đều nói không.
Các nhà thờ mà cậu thấy trên đường xuyên qua tây nam nước Pháp và miền bắc Tây Ban Nha tiếp tục làm cậu mê hoặc. Tất cả chúng đều cao hơn nhà thờ chính tòa ở Anh. Một vài ngôi có mái vòm dải. Các dải mái kéo từ đầu cột này qua đầu cột khác ngang qua vòm nhà thờ tạo cơ hội cho mái vòm được xây từng phần, gian này rồi đến gian khác, thay vì xây tất cả một lúc. Chúng cũng làm cho bộ mặt của nhà thờ thay đổi. Qua sự nhấn mạnh vào sự phân chia giữa các gian, chúng tỏ ra rằng tòa nhà là một loạt các đơn vị đồng nhất, giống như một ổ bánh cắt lát; và nó tạo ấn tượng về trật tự và lôgic trong khoảng không gian bên trong rộng lớn.
Cậu đến Compostela vào giữa mùa hè. Cậu đã không biết rằng trên thế giới có những vùng nóng như thế. Santiago là một nhà thờ tuyệt đẹp, cao và gian giữa, vẫn còn đang xây dựng, có một mái vòm dải ngang. Từ đó cậu đi xa xuống miền nam.
Vương quốc Tây Ban Nha ở dưới sự cai trị của người Saracen một thời gian dài; thực vậy, hầu hết miền nam của Toledo bị ảnh hưởng của Hồi giáo. Hình dáng kiến trúc của Saracen thu hút Jack: cao ráo, bên trong mát mẻ, đường đi có mái vòm, những công trình bằng đá trắng trong ánh sáng mặt trời. Nhưng sự hấp dẫn nhất là sự khám phá ra rằng, cả mái vòm nhọn lẫn mái vòm có đường xương sườn đều có trong kiến trúc Hồi giáo. Có lẽ từ đây người Pháp đã lấy ý tưởng mới cho công trình kiến trúc của họ.
Có thể cậu sẽ chẳng bao giờ làm việc ở một nhà thờ khác giống như nhà thờ chính tòa Kingsbridge, cậu nghĩ như vậy khi cậu ngồi ở Tây ban Nha vào một buổi chiều ấm áp, mơ hồ lắng nghe tiếng cười của các phụ nữ ở đâu đó trong căn nhà lớn mát lạnh. Cậu vẫn còn muốn xây nhà thờ đẹp nhất thế giới, nhưng nó không phải là một kiến trúc trông giống như pháo đài đồ sộ, chắc chắn. Cậu muốn sử dụng kỹ thuật mới, mái vòm nhọn có xương sườn. Tuy nhiên cậu không muốn xây giống như những gì cậu đã nhìn thấy. Cho đến lúc này không có nhà thờ nào đã sử dụng hết các kỹ thuật mới. Hình ảnh của ngôi nhà thờ hình thành trong trí cậu. Các chi tiết còn mơ hồ nhưng tổng thể đã rõ ràng: nó là một tòa nhà rộng rãi, thoáng mát, với ánh sáng mặt trời xuyên qua các cửa sổ lớn, và một vòm cao dường như vươn tới trời.
“Josef và Raya cần một căn nhà,” Raschid bất ngờ nói. “Nếu cậu xây nó, nhiều người sẽ làm theo.” Jack giật mình. Cậu chưa bao giờ nghĩ về việc xây nhà.
“Ông nghĩ rằng họ muốn tôi xây nhà cho họ?” cậu hỏi.
“Họ có thể muốn.”
Một sự yên lặng dài, trong khi đó Jack nghĩ về đời sống như một người xây nhà cho các thương gia giầu có ở Toledo.
Sau cùng Raschid dường như tỉnh thức. Ông ngồi thẳng lên và mở rộng mắt. “Tôi thích cậu, Jack,” ông nói. “Cậu là một người trung thực, và nói chuyện với cậu giá trị hơn là nói với hầu hết những người tôi đã gặp. Tôi hy vọng chúng ta luôn luôn là bạn.”
“Tôi cũng hy vọng như vậy,” Jack nói, một chút ngạc nhiên về lời khen bất ngờ này.
“Tôi là một Ki Tô hữu, vì thế tôi không giữ những phụ nữ của tôi, như một vài anh em Hồi giáo của tôi. Mặt khác tôi là người Ả Rập; điều đó có nghĩa là tôi không cho họ hoàn toàn… xin lỗi, cho phép họ như các đàn bà khác. Tôi cho phép họ được gặp và nói chuyện với các khách đàn ông khác ở nhà. Ngay cả tôi cho phép tình bạn phát triển. Nhưng vào thời điểm, khi tình bạn bắt đầu thành một cái gì khác – như nó thường xẩy ra cho các người trẻ - thì tôi chờ đợi người đàn ông có một thái độ chính thức. Còn những chuyện khác là một điều xúc phạm.”
“Dĩ nhiên,” Jack nói.
“Tôi biết cậu đã hiểu.” Raschid đứng lên và đặt một bàn tay trìu mến lên vai Jack. “Tôi không được may mắn có được một người con trai; nhưng nếu tôi có, tôi nghĩ đứa con trai của tôi sẽ giống cậu.”
Một cách bốc đồng, Jack nói: “Nhưng đen hơn, tôi nghĩ.”
Raschid nhìn một lúc về xa xăm, rồi ông cười to, làm những người khác ở quanh sân giật mình. “Đúng!” ông vui vẻ nói. “Đen hơn!” và ông đi vào nhà, vẫn còn cười.
Các vị khách lớn tuổi bắt đầu ra về. Jack ngồi một mình khi trời trở lạnh, suy nghĩ về những gì cậu vừa nghe. Cậu được đề nghị một hợp đồng, điều đó không có gì đáng nghi ngờ. Nếu cậu kết hôn với Aysha, Raschid sẽ lăng xê cậu thành thợ xây nhà cho các gia đình giầu có ở Toledo. Nó cũng là một cảnh báo: nếu cậu không muốn cưới cô, cậu phải tránh xa. Người Tây Ban Nha đối xử tế nhị hơn người Anh, nhưng khi cần thiết họ cũng có thể rõ ràng.
Khi Jack suy nghĩ về hoàn cảnh của cậu, một đôi khi cậu thấy không thể tin được. Đó có phải là tôi? Cậu nghĩ. Có phải đây là Jack Jackson, đứa con rơi của một người đã bị treo cổ, được nuôi nấng trong rừng, được học nghề xây, và trốn thoát khỏi tu viện? Có phải thực sự nhà kinh doanh giàu có Ả Rập sẵn sàng gả con gái xinh đẹp của ông cho tôi, cộng thêm một đời sống bảo đảm như một thợ xây trong thành phố mát mẻ này? Nó nghe như một giấc mơ. Và tôi cũng thích cô gái ấy.
Mặt trời đã xuống và sân vườn chìm trong bóng tối. Chỉ còn hai người ở lại trong hành lang – cậu và Josef. Cậu đang tự hỏi không biết tình trạng này có được sắp xếp trước không thì Raya và Aysha xuất hiện, chứng tỏ rằng nó đã được xếp đặt. Mặc dù về lý thuyết sự quan hệ thể lý giữa phụ nữ và thanh niên bị nghiêm cấm, mẹ của họ cũng biết chính xác điều gì xẩy ra, và Raschid có lẽ cũng biết nữa. Họ cho hai người yêu nhau một vài khoảnh khắc riêng tư; rồi, trước khi họ có giờ để làm điều gì nghiêm trọng, bà mẹ sẽ đi ra vườn, giả vờ như bị xúc phạm và ra lệnh cho người con gái đi vào nhà.
Ở phía bên kia khu vườn, Raya và Josef hôn nhau. Jack đứng khi Aysha đến gần. Cô mặc một áo dài trắng bằng vải bông Ai Cập, một loại vải mà trước khi đến Tây Ban Nha cậu chưa biết đến. Mềm mại hơn len và mịn hơn lụa, nó bám vào người Aaysha khi cô di chuyển, và màu trắng của nó rực lên trong ánh hoàng hôn. Đôi mắt nâu của cô trông gần như đen. Cô đứng gần cậu, mỉm cười ranh mãnh. “Ông ấy đã nói gì với anh?” cô hỏi.
Jack đoán ý cô muốn nói về bố cô. “Ông ấy đề nghị cho tôi trở thành thợ xây nhà.”
“Của hồi môn chỉ có thế sao?” cô nói khinh bỉ. “Tôi không tin. Ít nhất ông ta phải hứa cho anh tiền bạc.”
Cô không kiên nhẫn với truyền thống không nói thẳng của người Saracen. Jack gượng gạo quan sát. Cậu cảm thấy sự cởi mở của cô dễ chịu. “Tôi không nghĩ tôi muốn xây nhà,” cậu nói.
Bất ngờ cô trở nên trang nghiêm. “Anh có thích tôi không?”
“Cô biết tôi thích cô.”
Cô tiến lên một bước, ngẩng mặt lên, nhắm mắt lại, kiễng trên ngón chân và hôn cậu. Cô thơm mùi xạ hương và long diên hương. Cô mở môi, và lưỡi cô đùa nghịch giữa đôi môi cậu. Tay cậu tự động ôm choàng lấy cô. Cậu để bàn tay trên eo cô. Vải bông rất nhẹ; nó gần như chạm vào da trần của cô. Cô nắm lấy tay cậu và đưa nó lên ngực cô. Thân cô gầy và săn chắc, ngực cô phẳng như một ngọn đồi nhỏ chắc chắn với một đầu nhọn nhỏ cứng. Ngực cô phập phồng như thể cô bị khích thích. Jack kinh hoàng nhận ra tay cô di chuyển giữa chân cậu. Cậu siết chặt núm vú cô giữa các ngón tay. Cô thở há hốc miệng, tách xa cậu, và thở hổn hển. Cậu buông tay.
“Anh làm em đau?” cậu thì thầm.
“Không!” cô nói.
Cậu nghĩ về Aliena và cảm thấy có lỗi; vì cậu nhận ra đó là ngu ngốc. Tại sao cậu lại cảm thấy mình phản bội một người đàn bà khi họ đã cưới một người đàn ông khác? Aysha nhìn cậu một lúc lâu. Trời đã tối, nhưng cậu có thể nhìn thấy khuôn mặt cô đầy khao khát. Cô cầm tay cậu lên và đặt nó lại lên ngực cô. “Làm như trước, nhưng mạnh hơn,” cô khẩn trương nói.
Cậu thấy núm vú của cô và cúi xuống hôn cô, nhưng cô ngoảnh đầu lại và nhìn vào mặt cậu trong khi cậu vuốt ve cô. Cậu bóp núm vú cô nhẹ nhàng, rồi, ngoan ngoãn, bóp nó mạnh hơn. Cô cong lưng, vì thế ngực phẳng của cô nhô ra và núm vú của cô như một điểm nhỏ cứng nhô ra khỏi áo. Jack cúi đầu xuống ngực cô. Môi cậu xoắn lấy núm vú xuyên qua lớp vải. Rồi, bất đồng, cậu ngoạm nó giữa hàm răng và cắn. Cậu nghe thấy hơi thở cô nặng nề.
Cậu cảm thấy thân cô rung lên. Cô ngẩng đầu lên và ép mình vào cậu. Cậu cúi mặt xuống mặt cô. Cô hôn cậu điên cuồng như thể cô muốn bao trùm khuôn mặt cậu với nụ hôn của cô, và kéo gì thân cậu vào người cô. Jack bị khích thích, bối rối và ngay cả có một chút sợ hãi: Cậu chưa bao giờ trải qua như thế. Cậu nghĩ cô sắp lên đến cao điểm. Rồi họ bị gián đoạn.
Giọng mẹ cô từ ngưỡng cửa: “Raya! Aysha! Đi vào ngay!”
Aysha nhìn cậu, thở hổn hển. Một lúc sau cô lại hôn cậu, mạnh mẽ, ép sát môi cô vào môi cậu cho đến khi làm cậu đau. Cô quay đi. “Em yêu anh,” cô nói. Rồi cô đi nhanh vào nhà.
Jack nhìn cô đi. Raya bước đi thong thả theo sau cô. Mẹ họ nhìn cậu và Josef với một cái nhìn không đồng ý, rồi theo sau hai người con, đóng mạnh cánh cửa đàng sau bà. Jack đứng nhìn chằm chằm vào cánh cửa đóng, tự hỏi cánh cửa đó có nghĩa gì.
Josef đi ngang qua sân và làm gián đoạn dòng suy nghĩ của cậu. “Những người con gái xinh đẹp – cả hai người!” anh ấy nói với một cái nháy mắt bí ẩn.
Jack gật đầu lơ đãng và đi về phía cổng. Josef đi theo cậu. Vừa khi họ đi ngang qua mái hiên, một người đầy tớ bước ra khỏi bóng tối và đóng cánh cổng lại phía sau họ.
Josef nói: “Hứa hôn là chuyện tốt đẹp. Chỉ có một vấn đề là khi cậu về nhà, cậu sẽ bị đau giữa hai chân.” Jack không trả lời. Josef nói: “Chắc tôi sẽ đi gặp Fatima để làm cho nó giảm bớt. Fatima là một nhà điếm. Mặc dù tên của nó là tiếng Saracen, nhưng hầu hết các cô gái ở đó có làn da trắng, và các gái điếm Ả Rập có giá cao. “Cậu có muốn đến đó không?” Josef hỏi.
“Không,” Jack trả lời. “Tôi đau ở chỗ khác. Chúc ngủ ngon.” Cậu đi nhanh. Josef không phải là người bạn cậu yêu thích trong lúc vui, và tối nay cậu lại càng chán hơn.
Không khí buổi tối lạnh khi cậu trở về trường, nơi cậu có một chiếc giường cứng trong nhà ngủ. Cậu cảm thấy mình đang đứng ở một bước ngoặt. Cậu được đề nghị một cuộc sống dễ dàng và sung túc, và tất cả những gì cậu phải làm là quên Aliena đi và từ bỏ khát vọng xây một nhà thờ chính tòa đẹp nhất trên thế giới.
Đêm đó cậu mơ thấy Aysha đến với cậu, thân thể cô tràn đầy dầu thơm và cô cọ sát vào cậu nhưng không cho cậu làm tình.
Khi cậu thức dậy vào buổi sáng, cậu đã có quyết định.
Những người phục vụ không cho Aliena vào nhà Raschid Alharoun. Có lẽ cô trông giống như một người ăn xin, cô nghĩ như thế khi cô đứng ngoài cổng, trong bộ áo đầy bụi và đôi giày sờn rách, với đứa bé trên tay. “Nói với Raschid Alharoun rằng tôi tìm bạn ông ấy, Jack Fitzjack từ Anh quốc,” cô nói bằng tiếng Pháp, tự hỏi không biết những người phục vụ có hiểu chữ nào của cô không. Sau khi thì thầm tham khảo bằng tiếng Saracen, một người phục vụ, một người đàn ông cao với làn da đen như than và mái tóc giống như lông của con cừu đen, đi vào trong nhà.
Aliena đứng bồn chồn trong khi các đầy tớ khác công khai nhìn cô. Cô đã không học được sự kiên nhẫn, ngay cả trên cuộc hành hương vô tận này. Sau thất vọng ở Compostela cô đã đi theo con đường dẫn vào phía trong Tây Ban Nha, đến Salamanca. Không người nào ở đó nhớ một người thanh niên trẻ, tóc đỏ, quan tâm đến nhà thờ và người hát rong, nhưng một tu sĩ tử tế bảo cô rằng ở Toledo có một cộng đoàn học giả người Anh. Nó dường như một hy vọng mờ nhạt, nhưng Toledo không xa con đường bụi bặm này bao nhiêu nên cô ghé qua.
Một sự thất vọng khác chờ đợi cô ở đó. Vâng, Jack đã ở đây – thật may mắn – nhưng, cậu lại đi rồi. Cô gần bắt kịp cậu: bây giờ cô chỉ còn đàng sau cậu một tháng. Nhưng một lần nữa, không ai biết cậu đi đâu.
Ở Compostela cô đã có thể đoán cậu phải đi về hướng nam, bởi vì cô đã đến từ hướng đông, và hướng bắc cũng như hướng tây bị biển ngăn lại. Ở đây, thật không may, cậu có nhiều chọn lựa. Cậu có thể đi hướng đông bắc ngược về Pháp; hướng tây tới Bồ Đào Nha; hay hướng nam tới Granada; và từ bờ biển Tây Ban Nha cậu có thể đi tàu tới Roma, Tunis, Alexandria hay Beirut.
Aliena đã quyết định từ bỏ tìm kiếm nếu cô không tìm được dấu vết cậu đã đi bằng cách nào khi cậu rời đây. Cô đã mệt mỏi. Cô chỉ còn ít sức mạnh hay quyết tâm, và cô sẽ không đi xa hơn nữa khi không có mảy may hy vọng của thành công. Cô sẵn sàng quay lại trở về Anh, rồi cố gắng quên Jack mãi mãi.
Người phục vụ khác đi ra khỏi căn nhà trắng. Người này mặc quần áo đắt tiền và nói tiếng Pháp. Ông nhìn thận trọng Aliena và lịch sự nói với cô. “Cô là bạn của ông Jack?”
“Vâng, một người bạn cũ từ Anh quốc. Tôi muốn nói chuyện với Raschid Alharoun.”
Người phục vụ liếc nhìn đứa bé.
Aliena nói: “Tôi là họ hàng của Jack.” Điều đó không hoàn toàn không đúng sự thật: cô là vợ cũ của anh ghẻ Jack, và đó là một quan hệ.
Người phục vụ mở rộng cánh cửa và nói: “Làm ơn vào với tôi.”
Aliena bước vào với lòng biết ơn. Nếu cô bị từ chối, cuộc tìm kiếm sẽ chấm dứt ở đây.
Cô theo người phục vụ ngang qua một sân thoải mái, ngang qua một hồ nước phun. Cô tự hỏi điều gì đã đưa đẩy Jack đến căn nhà của thương gia giầu có này. Nó dường như không phải là tình bạn. Có phải Jack đã kể những câu truyện thơ trong hành lang mát mẻ này?
Họ đi vào nhà. Nó là một căn nhà nguy nga, với các phòng cao, mát mẻ, nền nhà bằng đá và cẩm thạch, và đồ đạc được chạm khắc đẹp đẽ. Họ đi qua hai cổng tròn và một cửa gỗ, và rồi Aliena cảm thấy họ đi vào khu dành cho phụ nữ. Người phụ nữ giơ tay ra hiệu cho cô chờ, rồi ho nhẹ.
Một lúc sau một người đàn bà Saracen trong bộ váy đen lướt nhẹ vào phòng. Bà nâng một góc áo lên và giữ nó trước miệng bà, đó là một sự sỉ nhục trong bất cứ ngôn ngữ nào. Bà nhìn Aliena và nói bằng tiếng Pháp: “Cô là ai?”
Aliena giữ lại phong độ của cô. “Tôi là Lady Aliena, con gái của cựu lãnh chúa thành Shiring,” cô nói cao ngạo như có thể. “Tôi cho rằng tôi đang được nói chuyện với vợ của Riaschid, người bán hạt tiêu?” Cô có thể chơi trò này tốt như bất cứ ai.
“Cô muốn gì ở đây?”
“Tôi đến đây gặp Raschid.”
“Ông ta không tiếp đàn bà.”
Aliena nhận ra cô không có hy vọng đạt được sự cộng tác của người đàn bà này. Tuy nhiên, cô không còn chỗ nào để đi, vì thế cô tiếp tục thử. “Có lẽ ông ấy sẽ tiếp một người bạn của Jack,” cô kiên trì.
“Có phải Jack là chồng của cô?”
“Không.” Alien do dự. “Cậu ấy là em rể của tôi.”
Người phụ nữ nghi ngờ nhìn. Giống như hầu hết mọi người khác, bà ấy có lẽ cho rằng Jack đã có thai với Aliena, rồi bỏ rơi cô, và Aliena theo đuổi cậu ấy để ép cậu lấy cô và hỗ trợ em bé.
Người đàn bà quay nửa người lại và gọi to một cái gì đó trong một ngôn ngữ mà Aliena không hiểu. Một lúc sau ba người phụ nữ trẻ vào trong phòng. Từ vẻ bên ngoài, họ rõ ràng là con gái của bà. Bà nói với họ cùng một ngôn ngữ và tất cả nhìn Aliena. Tiếp đó là cuộc trò chuyện nhanh chóng, trong đó chữ Jack được nhắc tới thường xuyên.
Aliena cảm thấy bị hạ nhục. Cô dự định đứng lên và đi ra; nhưng điều đó có nghĩa là cô bỏ cuộc. Những người ghê gớm này là hy vọng cuối cùng của cô. Cô lên giọng, cắt ngang cuộc nói chuyện của họ và nói: “Jack ở đâu?” Cô dự định nói mạnh mẽ nhưng nó vang lên như ai oán.
Các người con gái yên lặng.
Người mẹ nói: “Chúng tôi không biết cậu ấy ở đâu.”
“Lần cuối cùng bà đã gặp cậu ấy khi nào?”
Bà do dự. Bà không muốn trả lời, nhưng bà không thể giả vờ là không biết. “Cậu ấy rời Toledo sau lễ Giáng Sinh.”
Aliena cố nở một nụ cười thân thiện. “Bà có nhớ cậu ấy nói bất cứ điều gì về nơi cậu ấy sẽ đi không?”
“Tôi đã nói với cô, chúng tôi không biết cậu ấy ở đâu.”
“Có thể cậu ấy nói điều gì đó với chồng bà.”
“Không. Cậu ấy không nói gì.”
Aliena thất vọng. Cô có một linh cảm rằng người đàn bà này biết một cái gì đó. Tuy nhiên, nó rõ ràng là bà ta không muốn tiết lộ nó. Bất ngờ Aliena cảm thấy yếu đuối và mệt mỏi. Với dòng nước mắt cô nói: “Jack là bố của con tôi. Các bà không nghĩ rằng cậu ấy muốn gặp con cậu ấy sao?”
Người con gái trẻ nhất muốn nói điều gì đó, nhưng bà mẹ ngăn cô lại. Có một cuộc trao đổi ngắn và kịch liệt: bà mẹ và cô con gái có cùng tính khí nóng nẩy. Nhưng sau cùng người con gái im lặng.
Aliena chờ đợi, nhưng không ai nói gì. Bốn người họ nhìn chăm chú vào cô. Họ không thân thiện, nhưng họ quá tò mò nên họ chưa muốn cô đi. Tuy nhiên không còn lý do gì để ở lại. Cô phải đứng lên, về lại chỗ ở và chuẩn bị cho cuộc hành trình dài về lại Kingsbridge. Cô lấy một hơi dài và nói bằng giọng lạnh lùng và bình tĩnh. “Tôi cảm ơn về lòng hiếu khách của các bà,” cô nói.
Bà mẹ có một chút xấu hổ.
Aliena rời phòng.
Người đầy tớ lơ lửng bên ngoài. Ông đi bên cạnh cô và đưa cô đi qua nhà. Cô chớp mắt, ngăn dòng nước mắt lại. Cô không thể chịu đựng được khi nghĩ rằng tất cả cuộc hành trình của cô đã thất bại chỉ vì ác ý của một người đàn bà.
Người đầy tớ dẫn cô qua sân. Khi họ đến cửa, Aliena nghe tiếng bước chân chạy. Cô quay lại và nhìn thấy cô con gái trẻ nhất chạy theo cô. Cô dừng lại và chờ đợi. Người đầy tớ nhìn bực bội.
Người con gái nhỏ, gầy và rất đẹp, với làn da vàng ròng và đôi mắt sậm gần như đen. Cô mặc bộ đồ trắng, làm cho Aliena cảm thấy mình bụi bặm và bẩn thỉu. Cô nói bập bẹ bằng tiếng Pháp. “Cô có yêu cậu ấy không?” cô buột miệng.
Aliena ngập ngừng. Cô nhận ra rằng cô không còn nhiều cái để mất. “Đúng, tôi yêu cậu ấy,” cô thú nhận.
“Cậu ấy có yêu cô không?”
Aliena định nói có; rồi cô chợt nhớ lại cô đã xa cậu từ hơn một năm qua. “Trước đây cậu ấy yêu tôi,” cô nói.
“Tôi nghĩ cậu ấy vẫn còn yêu cô,” cô con gái nói.
“Tại sao cô lại nói như thế?”
Đôi mắt cô gái đầy nước mắt. “Tôi muốn có cậu ấy. Và tôi đã gần chiếm được cậu ấy.” Cô nhìn đứa bé. “Tóc đỏ và mắt xanh.” Nước mắt chẩy xuống trên đôi má mềm mại của cô.
Aliena nhìn chằm chằm vào cô. Điều này giải thích sự tiếp khách thiếu thân thiện của họ. Bà mẹ đã muốn Jack cưới người con gái này. Cô chưa tới mười sáu tuổi, nhưng cô có một cái nhìn gợi cảm và nó làm cho cô có vẻ già hơn. Aliena tự hỏi cái gì đã thực sự xẩy gia giữa hai người. Cô nói: “Cô đã gần chiếm được cậu ấy?”
“Vâng,” người con gái ngang ngược nói. “Tôi biết cậu ấy thích tôi. Tim tôi vỡ ra vì cậu ấy bỏ đi. Nhưng bây giờ tôi hiểu.” Cô mất bình tĩnh và mặt cô tỏ lộ đau buồn.
Aliena có thể cảm thông người phụ nữ đã yêu Jack và rồi mất cậu. Cô sờ vào vai cô gái trong một cử chỉ an ủi. Nhưng còn có một chuyện quan trọng hơn là lòng thương xót. “Nghe đây,” cô nói khẩn trương, “cô có biết cậu ấy đi đâu không?”
Người con gái ngẩng lên, gật đầu và nức nở.
“Hãy cho tôi biết!”
“Paris,” cô nói.
Paris!
Aliena hồ hởi. Cô lại thấy dấu vết của cậu. Paris là một chặng đường dài, nhưng cuộc hành trình qua những vùng quen thuộc. Và Jack chỉ đi trước cô một tháng. Cô cảm thấy trẻ lại. Tôi sẽ tìm thấy cậu ấy, cô nghĩ; tôi biết tôi sẽ tìm thấy!
“Cô định đi Paris bây giờ?” người con gái hỏi.
“Ồ, vâng,” Aliena nói. “Tôi đã đi theo cậu ấy một quãng đường xa – bây giờ tôi không thể ngừng lại. Cảm ơn cô đã nói cho tôi – cảm ơn!”
“Tôi muốn cậu ấy hạnh phúc,” cô nói đơn giản.
Người đầy tớ bồn chồn bất bình. Có vẻ như ông sợ bị rắc rối trong chuyện này. Aliena nói với người con gái: “Cậu ấy có nói gì nữa không? Cậu ấy sẽ đi con đường nào, hay bất cứ điều gì có thể giúp tôi?”
“Cậu ấy muốn đi Paris vì có người nói với cậu ấy rằng ở đó có nhiều nhà thờ đẹp.”
Aliena gật đầu. Cô cũng đoán được điều đó.
“Và cậu ấy mang theo người phụ nữ khóc.”
Aliena không biết cô gái muốn nói gì. “Người phụ nữ khóc?”
“Bố tôi cho cậu người phụ nữ khóc.”
“Một người phụ nữ?”
Cô gái lắc đầu. “Tôi không biết đúng chữ. Một phụ nữ. Cô ấy khóc. Từ nhiều năm nay.”
“Ý cô nói một bức tượng? Một bức tranh của người phụ nữ?”
“Tôi không hiểu,” người con gái nói. Cô lo lắng nhìn qua vai. “Tôi phải đi.”
Dù người phụ nữ khóc là gì, nó không có vẻ quá quan trọng. “Cảm ơn cô vì đã giúp đỡ tôi,” Aliena nói.
Người con gái cúi xuống hôn lên trán đứa bé. Những giọt nước mắt rơi trên đôi má đầy đặn của cô. Cô nhìn Aliena. “Ước gì tôi được là cô,” cô gái nói. Rồi cô quay lại đi vào nhà.
Chỗ trọ của Jack ở đường de la Boucherie, ở ngoại ô Paris bên trái bờ sông Seine. Cậu lên ngựa vào buổi bình minh, ở cuối con đường cậu rẽ phải và đi qua cổng vào cây cầu Petit Pont để tới thành phố đảo ở giữa dòng sông.
Những căn nhà bằng gỗ hai bên bờ sông vươn cao hơn thành cầu. Giữa các nhà có những băng ghế đá mà vào những buổi sáng các giáo sư nổi tiếng sẽ dạy học. Cây cầu dẫn Jack vào Juiverie, con đường chính của thành phố đảo. Các tiệm bánh dọc theo đường chứa đầy các sinh viên đang mua bữa ăn sáng. Jack mua một miếng bánh kẹp thịt lươn.
Đối diện với hội đường cậu rẽ trái, rồi lại rẽ phải ở cung điện hoàng gia, và đi qua Grand Pont, cây cầu dẫn vào bờ sông bên phải. Những cửa tiệm nhỏ, đẹp mắt của người đổi tiền và thợ kim hoàn hai bên thành cầu đã mở cửa buôn bán. Ở cuối cây cầu cậu đi qua một cổng khác vào chợ cá, nơi việc buôn bán đã sầm uất. Cậu chen lấn qua đám đông vào con đường lầy lội dẫn vào phố Saint-Denis.
Khi cậu vẫn còn ở Tây Ban Nha cậu đã nghe các thợ xây du hành nói về viện phụ Suger và nhà thờ mới mà ông đang xây ở Saint-Denis. Khi cậu trên đường về hướng bắc xuyên qua nước Pháp mùa xuân năm đó, cậu đã làm việc một vài ngày ở đâu đó khi cậu cần tiền và cậu đã thường nghe nói về Saint-Denis. Dường như các thợ xây ở đó dùng cả hai kỹ thuật mới: vòm khung sườn và mái vòm nhọn, và sự kết hợp cả hai kỹ thuật trên tạo nên nét độc đáo.
Cậu đi ngựa hơn một giờ qua những cánh đồng và vườn nho. Đường đi không trải nhựa nhưng có cột ghi cây số. Nó đi ngang qua đồi Montmartre, với một ngôi đền Roma đổ nát trên đỉnh, và xuyên qua làng Clignancourt. Ba dặm sau Clignancourt cậu đến thị trấn nhỏ có tường bao quanh Saint-Denis.
Thánh Denis là vị giám mục đầu tiên của Paris. Ông đã bị chặt đầu ở Montmartre và rồi ông đi bộ, mang theo đầu bị chặt của mình trên tay, đi ra ngoài vùng quê cho tới khi ngã xuống và chết nơi đây. Một phụ nữ đạo đức đã chôn ông và một tu viện đã được xây dựng trên mộ ông. Nhà thờ trở thành nơi chôn cất các vị vua nước Pháp. Vị viện phụ hiện tại, Sugar, là một người nhiều quyền lực và tham vọng. Ông đã cải cách tu viện và bây giờ hiện đại hóa nhà thờ.
Jack vào thị trấn và dừng ngựa ở giữa khu chợ để quan sát mặt tiền phía tây nhà thờ. Ở đây không có gì là cách mạng. Nó là một mặt tiền thẳng kiểu cũ với hai tháp chuông và ba cửa ra vào hình mái tròn. Cậu thích cách năng nổ của các cột đẩy ra khỏi tường, nhưng cậu không phải đi ngựa năm dặm để xem điều đó.
Cậu cột ngựa vào một thanh ngang trước nhà thờ và đến gần nhà thờ hơn. Các hình điêu khắc xung quanh ba cổng hoàn toàn tốt: hình dạng sống động và đường khắc sắc sảo. Jack bước vào. Bên trong hoàn toàn khác. Trước khi vào gian giữa có một đường đi thấp hay gọi là tiền đình. Khi Jack nhìn lên trần nhà, cậu bị phấn khích. Thợ xây đã kết hợp ở đây giữa vòm khung sườn và mái vòm nhọn, và trong nháy mắt Jack thấy hai kỹ thuật kết hợp hoàn toàn với nhau: vẻ uyển chuyển của mái nhọn được nhấn mạnh bởi khung sườn kèm theo nó.
Nhưng còn có nhiều hơn thế nữa. Giữa khung sườn, thay vì hợp chất giữa vữa và đá vụn, thợ xây đã sử dụng đá cắt giống như tường. Lớp đá có lẽ mỏng hơn, vì thế sẽ nhẹ hơn hợp chất cũ và sẽ chắc chắn hơn, Jack nhận ra.
Khi cậu nhìn lên, cậu ngẩng đầu cao cho đến khi cổ cậu đau, cậu hiểu một tính năng đáng chú ý hơn nữa của sự kết hợp này. Hai vòm nhọn của hai vòm có chiều rộng khác nhau có thể đạt đến cùng chiều cao, bằng cách điều chỉnh đường cong của mái. Điều này tạo cho các gian nhà có một cái nhìn đều đặn. Dĩ nhiên, điều đó không thể thực hiện với mái vòm tròn: chiều cao của nửa vòng tròn luôn luôn là một nửa của chiều rộng, vì thế mái tròn rộng phải cao hơn mái tròn hẹp. Nó có nghĩa là trong một gian hình chữ nhật, mái vòm hẹp phải bắt đầu ở một điểm của bức tường cao hơn là mái vòm rộng để đỉnh của nó bằng nhau và để mái trần được phẳng. Và hậu quả là bức tường luôn bị chênh lệch và vấn đề này bây giờ đã biến mất.
Jack cúi đầu xuống cho cổ cậu nghỉ ngơi. Cậu cảm thấy sung sướng như thể cậu vừa được phong vương. Cái này, cậu nghĩ, là cách mà cậu sẽ xây nhà thờ chính tòa của cậu.
Cậu nhìn vào phần chính của nhà thờ. Gian chính rõ ràng là đã cũ, mặc dù tương đối dài và rộng: nó được xây cách đây nhiều năm. Nhưng rồi, ở gian trung tâm, nơi các gian giao nhau, có bậc đi xuống – các bậc thang xuống nhà thờ hầm và mộ hoàng gia – và bậc lên gian cuung thánh. Gian cung thánh như nổi cao hơn mặt đất. Từ chỗ đứng của Jack, cách cấu trúc của nó không nhận ra được vì ánh sáng mặt trời xuyên qua cửa sổ phía đông quá nhiều đến nỗi Jack tưởng như bức tường chưa xây xong nên ánh sáng xuyên qua khoảng trống.
Cậu đi theo gian phía nam đến khu trung tâm. Khi cậu đến gần gian cung thánh cậu nhận ra rằng điều hoàn toàn đáng chú ý đang ở trước mặt cậu. Thực vậy, ánh sáng mặt trời đổ vào, nhưng mái vòm đã hoàn chỉnh và tường không có khoảng trống. Khi Jack bước ra khỏi gian phụ vào khu trung tâm, cậu nhìn thấy ánh sáng mặt trời chiếu xuyên qua dẫy cửa sổ cao, một vài cái được làm bằng kính màu, và tất cả tia nắng mặt trời này dường như đổ đầy khoảng trống to lớn của nhà thờ với sự ấm áp và ánh sáng. Jack không hiểu làm sao người ta có thể xây được nhiều cửa sổ như thế: dường như bức tường có nhiều cửa sổ hơn tường gạch. Cậu kinh sợ. Làm sao có thể thực hiện được, nếu không phải là ma thuật?
Cậu cảm thấy một chút sợ hãi mê tín khi cậu trèo lên bậc dẫn lên gian cung thánh. Cậu đứng ở đầu cầu thang và chăm chú vào sự hỗn độn của cột trụ, của ánh sáng màu và đá trước mặt cậu. Chậm rãi cậu nhận ra rằng cậu đã nhìn thấy điều này trước đây, nhưng chỉ trong trí tưởng tượng của cậu. Đây là nhà thờ cậu đã mơ ước xây dựng, với cửa sổ rộng và mái trần cao, một cấu trúc của ánh sáng và không khí.
Một lúc sau cậu thấy nó khác. Mọi thứ rơi vào trật tự, và trong một lúc xuất thần cậu nhìn thấy cái mà viện phụ Suger và các thợ xây của ông đã hoàn thành.
Nguyên tắc của vòm sườn là một mái trần làm bằng một vài khung sườn mạnh mẽ, khoảng trống giữa các sườn được làm bằng vật liệu nhẹ. Họ đã áp dụng nguyên tắc này cho toàn bộ công trình. Bức tường của gian cung thánh được dựa vào vài hàng cột cứng cáp nối với các cửa sổ. Hành lang chia gian cung thánh và các gian phụ không bằng bức tường mà là một hàng cột được nối với nhau bởi mái vòm nhọn, tạo nên một khoảng trống rộng mà ánh sáng mặt trời có thể xuyên qua cửa sổ vào đến gian giữa của nhà thờ. Gian phụ được chia ra thành hai bởi một hàng cột mỏng ở giữa.
Mái vòm nhọn và khung sườn vòm đã được kết hợp ở đây, như chúng đã được thực hiện ở tiền đình, nhưng bây giờ rõ ràng tiền đình là một thử nghiệm thận trọng cho kỹ thuật mới này. So sánh với mái này, tiền đường thô kệch, khung sườn và đường gờ của nó quá nặng nề, mái vòm quá nhỏ. Ở đây mọi thứ đều mỏng, nhẹ, tinh tế và thoáng mát. Các đường gờ cuộn tròn đều hẹp và các cột cao và mỏng. Nó trông quá mỏng manh để có thể đứng vững, ngoại trừ các sườn vòm tỏ lộ rõ rằng sức nặng của tòa nhà được nâng đỡ bởi các trụ cột. Đây là một minh chững rõ ràng rằng một tòa nhà lớn không cần tường dầy với các cửa sổ nhỏ và cột to. Với điều kiện là trọng lượng được phân bổ chính trên một bộ khung chịu lực, phần còn lại của kiến trúc có thể bằng vật liệu nhẹ, thủy tinh hay để trống. Jack say mê, giống như bị rơi vào tình yêu. Euclid đã là một khám phá đối với cậu, nhưng điều này còn hơn một khám phá, bởi vì nó còn đẹp nữa. Cậu đã có viễn tượng về một nhà thờ giống như thế này, và bây giờ cậu thực sự thấy nó, sờ vào nó, đứng dưới mái vòm cao tới trời của nó.
Cậu ngây người đi quanh gian phía đông, nhìn vào mái trần của đôi gian phụ kép. Khung sườn của mái vòm trên đầu cậu giống như cành cây trong rừng bằng những cây bằng đá hoàn hảo. Ở đây, cũng như ở tiền đình, giữa các khung sườn được phủ kín bằng đá cắt trộn với hồ, thay vì hồ và đá vụn như xưa. Các bức tường ngoài của gian phụ có các cửa sổ to với đầu nhọn để thích hợp với mái vòm nhọn. Kiến trúc cách mạng này được bổ sung hoàn hảo bởi các cửa sổ màu. Jack chưa bao giờ nhìn thấy kính màu ở Anh quốc, nhưng cậu đã thấy ở Pháp: tuy nhiên, trong các cửa sổ nhỏ của nhà thờ kiểu cũ, nó không thể hiện được đầy đủ tính năng của nó. Ở đây, tác động của ánh nắng mặt trời buổi sáng đổ qua các cửa sổ muôn màu còn hơn là đẹp, nó làm say mê.
Bởi vì cuối nhà thờ hình tròn, các gian phụ vòng quanh và gặp nhau ở cuối phía đông, tạo thành một hình bán nguyệt hay lối đi. Jack đi theo đường vòng bán nguyệt, rồi quay lại và trở về, vẫn còn kinh ngạc. Cậu về lại chỗ cậu đã bắt đầu.
Ở đó cậu thấy một phụ nữ.
Cậu nhận ra cô.
Cô mỉm cười.
Tim cậu ngừng đập.
Aliena che mắt. Ánh sáng mặt trời chiếu qua cửa sổ ở hướng đông nhà thờ làm lóe mắt cô. Giống như một thị kiến, một bóng người bước ra khỏi ánh sáng chói chang đầy màu sắc và đi về phía cô. Tóc cậu ấy nhìn như ở trong lửa. Cậu ấy đến gần hơn. Đó là Jack.
Cậu đến bên cô và đứng trước mặt cô. Cậu gầy, thật gầy, nhưng mắt cậu tỏa sáng với một cảm xúc mãnh liệt. Họ nhìn nhau một lúc lâu trong yên lặng.
Khi cậu nói, giọng cậu khàn khàn. “Có thật là chính cô không?”
“Vâng,” cô nói. Gọng cô như thì thầm. “Vâng, Jack. Đây thực sự là em.”
Sự căng thẳng quá mạnh, và cô bắt đầu khóc. Cậu vòng tay quanh cô và ôm cô, với đứa nhỏ trong tay ở giữa họ. Cậu vỗ lưng cô và nói: “Được rồi, được rồi,” như thể cô là một đứa trẻ. Cô dựa vào cậu, thở mùi hương bụi bặm quen thuộc của cậu, nghe giọng nói than thương của cậu khi cậu xoa dịu cô, để nước mắt rơi trên đôi vai gầy gò của cậu.
Sau cùng cậu nhìn vào mặt cô và nói: “Cô làm gì ở đây?”
“Đi tìm anh,” cô nói.
“Tìm tôi?” cậu hoài nghi nói. “Rồi… làm sao cô tìm được tôi?”
Cô lau nước mắt và hít vào. “Em đi theo anh.”
“Bằng cách nào?”
“Em hỏi dân chúng xem họ có thấy anh không, nhất là các thợ xây, một vài tu sĩ và cả chủ quán trọ.”
Mắt cậu mở rộng. “Ý cô muốn nói cô đã đến cả Tây Ban Nha?”
Cô gật đầu. “Compostela, rồi Salamanca, rồi Toledo.”
“Cô đã du hành bao lâu?”
„Ba phần tư năm.“
„Nhưng tại sao?“
„Bởi vì em yêu anh.“
Cậu bị choáng váng. Mắt cậu ứa lệ. Cậu thì thầm: „Anh cũng yêu em nữa.“
„Anh? Anh vẫn còn?“
„Ồ, vâng.“
Cô có thể nói cậu nói thật. Cô nghiêng khuôn mặt cô lên. Cậu nghiêng người về phía trước, qua cả em bé, và dịu dàng hôn cô. Sự đụng chạm giữa môi cậu trên môi cô làm cô cảm thấy xây xẩm.
Đứa bé khóc.
Cô tách mình ra khỏi nụ hôn và ru đứa bé, và nó yên lặng.
Jack nói: „Đứa nhỏ tên gì?“
„Em chưa đặt tên cho nó.”
“Tại sao chưa? Nó phải một tuổi rồi!”
“Em muốn hỏi anh.”
“Tôi? Jack cau mày. “Thế còn Alfred làm sao? Nó tùy thuộc vào bố nó…” Cậu ngừng lại. “Tại sao… hay là…hay là nó là của tôi?”
“Hãy nhìn nó,” cô nói.
Jack nhìn vào. “Tóc đỏ… Nó phải một tuổi và ba phần tư năm, từ khi…”
Aliena gật đầu.
“Trời ơi!” Jack nói. Cậu có vẻ hoảng hốt. “Con tôi.” Cậu nuốt nước bọt.
Aliena quan sát nét mặt cậu một cách lo sợ khi cậu nhận tin này. Cậu có coi đó như là kết thúc tuổi trẻ và tự do của cậu không? Nét mặt cậu trở thành nghiêm trọng. Thông thường một người đàn ông có chín tháng để làm quen với ý tưởng rằng họ sẽ làm bố. Jack phải làm quen với nó trong một hoảnh khắc. Cậu lại nhìn đứa bé, và sau cùng cậu mỉm cười. “Con của chúng ta,” cậu nói. “Anh thật hạnh phúc.”
Aliena thở dài hạnh phúc. Sau cùng mọi chuyện đều tốt đẹp.
Một tư tưởng khác đến với Jack. “Thế còn Alfred? Anh ấy có biết…?”
“Dĩ nhiên. Anh ấy chỉ cần nhìn vào đứa bé. Ngoài ra…” Cô cảm thấy xấu hổ. “Ngoài ra, mẹ anh nguyền rủa cuộc hôn nhân, và Alfred chẳng bao giờ có thể, anh biết không, làm bất cứ chuyện gì.”
Jack cười to. “Đó đúng là công bằng,” cậu nói.
Aliena không thích nụ cười của cậu trên đau khổ của người khác. “Nó rất khó cho em,” cô nói bằng giọng khiển trách nhẹ nhàng.
Khuôn mặt cậu thay đổi nhanh chóng. “Anh xin lỗi,” cậu nói. “Alfred đã làm gì?”
“Khi anh ấy thấy đứa bé, anh ấy đuổi em ra ngoài.”
Jack nhìn giận dữ. “Anh ấy có đánh em không?”
“Không.”
“Tuy vậy, anh ấy là một con heo.”
“Em vui vì anh ấy đuổi mẹ con em đi. Vì chuyện đó mà em đã đi tìm anh. Và bây giờ em đã tìm được anh. Em quá hạnh phúc, em không biết phải làm gì.”
“Em rất can đảm,” Jack nói. “Anh vẫn chưa hoàn hồn. Em đã theo anh cả đoạn đường dài.”
“Em muốn làm lại một lần nữa,” cô hăng hái nói.
Cậu hôn cô. Một giọng nói bằng tiếng Pháp: “Các bạn có thái độ không xứng đáng trong nhà thờ, xin vui lòng xuống gian giữa.”
Đó là một tu sĩ trẻ. Jack nói: “Tôi xin lỗi, thưa cha.” Cậu cầm lấy cánh tay Aliena. Họ đi xuống bậc thang và ngang qua gian ngang phía nam. Jack nói: “Anh đã là tu sĩ một thời gian – anh biết nó rất khó cho họ khi nhìn thấy những cặp tình nhân hạnh phúc hôn nhau.”
Cặp tình nhân hạnh phúc, Aliena nghĩ. Đó là cái chúng ta đang là.
Họ đi theo chiều dài của nhà thờ và đi ra, vào khu chợ sầm uất. Aliena khó tin rằng cô đang đứng trong ánh sáng mặt trời với Jack bên cạnh cô. Nó hầu như quá hạnh phúc để chịu đựng.
“Tốt,” cậu nói, “chúng ta phải làm gì đây?”
“Em không biết,” cô nói, mỉm cười.
“Chúng ta hãy mua một ổ bánh và một bình rượu nho, và ra ngoài cánh đồng để ăn trưa.”
“Nghe như có vẻ thiên đàng.”
Họ đi tới tiệm bánh và rượu, và mua một miếng pho mát ngoài chợ. Rồi họ lên ngựa và đi ra khỏi làng vào cánh đồng. Aliena nhìn Jack để chắc chắn rằng cậu đang thực sự ở đây, đi bên cạnh cô, đang thở và đang cười.
Cậu nói: “Alfred điều hành việc xây dựng ra sao?”
“Ồ, em chưa kể cho anh! “ Aliena quên là cậu đã đi lâu rồi. “Có một tai họa thảm thiết. Mái nhà sụp xuống.”
“Cái gì?” tiếng nói to của cậu làm con ngựa giật mình. Cậu phải dỗ nó. “Làm sao nó lại xẩy ra?”
“Không ai biết. Họ đã xây xong mái vòm cho ba gian cung thánh đúng vào dịp lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, và rồi tất cả sụp xuống trong buổi lễ. Thật khủng khiếp – bẩy mươi chín người đã bị chết.”
“Thật dễ sợ.” Jack rùng mình. “Làm sao Tu viện trưởng Philip có thể chịu đựng được?”
“Thật tồi tệ. Ông ấy đã bỏ việc xây dựng nhà thờ chính tòa. Dường như ông mất hết sức lực. Hiện nay ông không làm gì cả.”
Jack không thể tưởng tượng được trong tình trạng như thế - ông luôn luôn đầy nhiệt huyết và quyết tâm. “Còn các thợ thủ công thì sao?”
“Họ đã bỏ đi hết. Alfred bây giờ sống ở Shiring và xây nhà ở đó.”
“Kingsbridge như vậy đã vắng một nửa.”
“Nó lại trở thành một ngôi làng, như trước kia.”
“Anh tự hỏi Alfred đã làm gì sai?” Jack nói một phần cho chính cậu. “Mái vòm bằng đá chẳng bao giờ có trong dự án ban đầu của Tom; nhưng Alfred làm trụ tường lớn hơn để nó chịu đựng sức nặng, vì thế không có gì là sai.”
Cậu trầm lặng vì tin mới này và họ đi bên nhau trong im lặng. Một dặm hay hơn họ ra khỏi Saint-Denis và cột con ngựa trong bóng mát của một cây đu và ngồi xuống góc của cánh đồng lúa mì màu xanh, bên cạnh một con rạch để ăn trưa. Jack lấy một ngụm rượu và chép môi. “Nước Anh không có gì so sánh được với rượu Pháp,” cậu nói. Cậu bẻ ổ bánh và đưa một số cho Aliena.
E thẹn Aliena cởi phía áo trước cho đứa bé bú. Cô bắt gặp ánh mắt Jack nhìn cô và cô đỏ mặt. Cô hắng giọng nói để che lấp sự xấu hổ. “Anh đã biết đặt tên cho nó là gì chưa?” cô lúng túng nói. “Jack, có lẽ?””
“Anh không biết.” Cậu trầm ngâm. “Jack là tên bố anh, một người mà anh chẳng bao giờ biết. Nó không mang lại may mắn khi chúng ta đặt tên con chúng ta theo tên ông. Người mà anh cảm thấy như một người bố thực sự là thợ xây Tom.”
“Anh có muốn gọi nó là Tom?”
“Anh nghĩ có.”
“Tom là một người đàn ông to lớn. Thế còn Tommy thì sao?”
Jack gật đầu. “Đặt tên con là Tommy.”
Không bị ảnh hưởng về tầm quan trọng của khoảnh khắc này, Tommy dường như đang ngủ sau khi đã no. Aliena đặt nó xuống trên mặt đất với một chiếc khăn xếp dưới đầu làm gối. Rồi cô nhìn Jack. Cô cảm thấy lúng túng. Cô muốn cậu làm tình với cô ở ngay đây, trên cỏ, nhưng cô cảm thấy cậu sẽ bị sốc nếu cô hỏi cậu, vì thế cô nhìn cậu và hy vọng.
Cậu nói: “Nếu anh nói điều này với em, em phải hứa là sẽ không nghĩ xấu về anh?”
“Được. Em hứa.”
Cậu bối rối và nói: “Từ lúc nhìn thấy em, anh chẳng nghĩ được gì khác hơn là thân thể trần truồng của em dưới lớp quần áo.”
Cô mỉm cười. “Em không nghĩ xấu về anh,” cô nói. “Em vui.”
Cậu nhìn cô thèm thuồng.
Cô nói: “Em thích anh nhìn em như thế.”
Cậu nuốt nước bọt.
Cô đưa tay ra và cậu đến bên cô và ôm cô.
Nó đã gần hai năm kể từ khi họ làm tình với nhau lần đầu tiên và duy nhất. Buổi sáng hôm đó cả hai bị lôi cuốn bởi sự khao khát và hối tiếc. Bây giờ họ là hai người yêu nhau trong một cánh đồng. Aliena bất ngờ thấy sợ. Mọi chuyện có bình thường không? Nó sẽ kinh khủng làm sao nếu có gì sai lầm.
Họ nằm bên nhau trên cỏ và hôn nhau. Cô nhắm mắt lại và mở miệng. Cô cảm thấy bàn tay háo hức của cậu trên thân thể cô, khám phá khẩn trương và thân thể cô rộn ràng. Cậu hôn lên mí mắt và đầu mũi cô, và nói: “Mọi lúc, anh khao khát em, mỗi ngày.”
Cô ôm chặt cậu. “Em vui vì tìm được anh,” cô nói.
Họ yêu nhau nhẹ nhàng và hạnh phúc giữa bầu trời, với ánh nắng mặt trời trên họ và dòng nước bên cạnh họ; và Tommy ngủ suốt và chỉ thức dậy khi tất cả đã qua đi.
Bức tượng bằng gỗ đã không khóc từ khi rời khỏi Tây Ban Nha. Jack không hiểu nó hoạt động như thế nào nên cậu không biết chắc tại sao nó lại không khóc ngoài đất nước của nó. Tuy nhiên cậu có một ý tưởng rằng những giọt nước mắt chẩy ra vào ban đêm gây ra bởi không khí bất ngờ trở lạnh, và cậu nhận ra rằng hoàng hôn xuống chậm ở vùng phía bắc, vì thế cậu cho rằng vấn đề phải liên quan đến việc đêm xuống chậm. Tuy vậy, cậu vẫn còn giữ bức tượng. Nó khá cồng kềnh để mang theo đi mọi nơi, nhưng nó là một kỷ vật của Toledo, và nó nhắc nhở cậu về Raschid, và (mặc dù cậu không nói với Aliena về điều này) nó cũng nhắc cậu nhớ về Aysha. Nhưng khi một thợ đá ở Saint-Denis cần một mẫu để tạc tượng Đức Mẹ, Jack mang tượng phụ nữ bằng gỗ này tới lều của thợ xây và để lại đó.
Cậu đã được tu viện thuê sửa chữa lại nhà thờ. Gian cung thánh mới đã thu hút cậu, mặc dù nó chưa được hoàn toàn và phải hoàn thành kịp thời cho lễ cung hiến vào giữa mùa hè; nhưng vị viện phụ hăng hái đã chuẩn bị xây lại gian giữa cùng một cung cách, và Jack đã được thuê đục đá trước cho công việc đó.
Tu viện thuê cho cậu một căn nhà trong làng, và cậu dọn đến, cùng với Aliena và Tommy. Trong đêm đầu tiên ở trong nhà đó, họ đã làm tình năm lần. Sống chung với nhau như vợ chồng dường như là chuyện bình thường trên thế giới. Sau vài ngày Jack cảm thấy như thể họ đã luôn luôn sống chung với nhau. Không ai hỏi họ về hôn nhân của họ đã được chúc lành trong nhà thờ chưa.
Thợ xây dựng chính ở Saint-Denis là thợ xây vĩ đại nhất mà Jack được gặp. Khi họ hoàn thành gian cung thánh mới và chuẩn bị sửa sang gian giữa, Jack quan sát ông và hấp thụ tất cả những gì ông làm. Những tiến bộ về kỹ thuật là của ông ấy chứ không phải của viện phụ. Suger ủng hộ ý tưởng mới một cách chung chung, nhưng ông quan tâm nhiều đến sự trang trí hơn là kiến trúc. Dự án trọng tâm của ông là xây mộ mới cho xương Thánh Denis và hai người bạn đồng hành Rusticus và Eleutherius. Di tích thánh hiện đang lưu giữ trong nhà nguyện hầm, nhưng Suger dự định đem di tích thánh lên gian cung thánh, nơi mọi người có thể thấy được. Ba quan tài sẽ được lưu giữ trong mộ đá lớn lót đá cẩm thạch đen bên ngoài. Đỉnh ngôi mộ là hình một ngôi nhà thờ nhỏ làm bằng gỗ mạ vàng; trong gian giữa và hai gian phụ của ngôi nhà thờ này là ba ngôi mộ trống cho ba vị tử đạo. Mộ đá sẽ ở giữa gian cung thánh mới, ngay đàng sau bàn thờ chính. Cả bàn thờ và nền của ngôi mộ đã được chuẩn bị, và ngôi nhà thờ nhỏ đang hoàn thành trong xưởng mộc, nơi các thợ thủ công cẩn thận mạ vàng trên gỗ. Suger không phải là người làm việc nửa vời.
Viện phụ là nhà tổ chức tài năng, Jack quan sát trong việc chuẩn bị lễ cung hiến nhà thờ. Suger mời mọi người có tiếng tăm, và hầu hết đều nhận lời mời, đặc biệt là vua và hoàng hậu của Pháp, và mười chín tổng giám mục và giám mục, trong đó có có tổng giám mục thành Canterbury. Những tin tức như vậy được truyền đi do các thợ thủ công làm việc xung quanh nhà thờ. Jack thường thấy Suger trong bộ tu phục bằng vải thô, sải bước quanh tu viện và hướng dẫn các tu sĩ. Họ theo ông từng bước như một đàn vịt. Ông gợi Jack nhớ về Kingsbridge. Giống Philip, Suger xuất thân từ gia đình nghèo và được lớn lên trong tu viện. Giống Philip, ông đã cải tổ tài chính và thắt chặt quản lý tài sản tu viện vì thế mà nó mang lại thu nhập nhiều hơn; và ông đã dùng tiền cho vệc xây dựng. Giống Philip, ông bận rộn, năng động và dám quyết định.
Ngoại trừ, theo lời kể của Aliena, Philip bây giờ không còn những cá tính này nữa.
Jack thật khó tưởng tượng. Dường như không thể có một Philip không hoạt động, cũng như không thể có một Waleran Bigod tử tế. Tuy nhiên Philip đã trải qua một loạt những thất vọng kinh hồn. Trước hết là cuộc hỏa hoạn của thị trấn. Jack rùng mình khi nhớ lại ngày khủng khiếp đó: Khói, sợ hãi, kỵ binh đáng sợ với ngọn đuốc trong tay, sự kinh hoàng của dân chúng. Có lẽ Philip đã mất can đảm, và thị trấn đã mất đi sự tin tưởng từ ngày đó. Jack vẫn còn nhớ lại bầu khí sợ hãi và bất an bao trùm thị trấn như mùi tử khí. Không nghi ngờ gì khi Philip đã muốn ngày khánh thành gian cung thánh mới trở thành dấu hiệu của hy vọng. Rồi, khi nó biến thành thảm họa khác, ông phải bỏ cuộc.
Bây giờ các nhà xây dựng đã bỏ đi, khu chợ đã ế ẩm, và dân số thu hẹp lại. Những người trẻ bắt đầu di chuyển ra Shiring, Aliiena nói như vậy. Dĩ nhiên đó chỉ là vấn đề về tinh thần: tu viện vẫn còn tài sản, bao gồm cả đàn cừu lớn mang lại lợi nhuận hàng trăm bảng Anh mỗi năm. Nếu đó chỉ là vấn đề tiền bạc, chắc chắn Philip có thể vượt qua được trở ngại và tiếp tục xây dựng. Nó khó khăn hơn vì các thợ xây thường mê tín không muốn làm việc cho một nhà thờ đã một lần bị sụp; và nó rất khó khơi dậy sự nhiệt tình của dân địa phương một lần nữa. Nhưng vấn đề chính, căn cứ vào những lời Aliena nói, là Philip đã mất hết ý chí. Jack ước muốn có thể làm cái gì đó để kéo nó lại.
Trong khi đó, các giám mục, tổng giám mục, công tước và bá tước đã tới Saint-Denis hai ba ngày trước buổi lễ. Tất cả quan khách được hướng dẫn tham quan nhà thờ. Chính Suger hộ tống các khách quý và những chức sắc nhỏ hơn được hướng dẫn bởi các tu sĩ và thợ thủ công. Tất cả đều kinh ngạc về sự thanh thoát của kiểu kiến trúc mới và ánh sáng qua các cửa sổ bằng kính màu to lớn. Khi các nhà lãnh đạo của các nhà thờ lớn ở Pháp đã nhìn thấy nhà thờ này, Jack nẩy sinh một ý nghĩ rằng kiểu xây dựng mới này chẳng bao lâu nữa sẽ được bắt chước rộng rãi; thực vậy, những thợ xây đã làm việc tại Saint-Denis sẽ dễ dàng tìm được việc làm. Đến đây đã là một quyết định khôn ngoan, khôn ngoan hơn cậu đã tưởng tượng: nó cho cậu cơ hội phát triển tốt để thiết kế và xây dựng một nhà thờ chính tòa của cậu.
Vua Louis đến vào ngày thứ bẩy với vợ và mẹ ông, và họ vào nhà của viện phụ. Trong đêm đó các giờ kinh được vang lên từ chiều tối đến bình minh. Khi mặt trời mọc một đám đông nông dân và cư dân Paris đã tụ họp trước nhà thờ, chờ đợi một cuộc tập họp lớn nhất của những người quyền thế đạo đời mà hầu hết họ chưa bao giờ được nhìn thấy. Jack và Aliena tham gia vào đám đông ngay sau khi Tommy đã ăn no. Một ngày nào đó, Jack nghĩ, tôi sẽ nói với Tommy: “Con không nhớ, nhưng khi con được một tuổi, con đã được nhìn thấy vua của nước Pháp.”
Họ mua bánh và rượu táo cho bữa sáng và ăn trong khi họ chờ chương trình bắt đầu. Dân chúng dĩ nhiên không vào được nhà thờ, và binh lính của nhà vua giữ họ lại ở khoảng cách xa; nhưng các cửa ra vào mở và ở mọi nơi có thể nhìn vào trong được, nơi đó có nhiều người tụ lại. Gian giữa đầy quý ông và quý bà thuộc giới quý tộc. May mắn thay, gian cung thánh cao hơn mặt đất nhiều thước Anh, vì ngôi nhà nguyện hầm ở dưới nó, vì thế Jack có thể vẫn nhìn thấy buổi lễ.
Có nhiều sinh hoạt ở cuối nhà thờ ở gian giữa, và đột nhiên tất cả các nhà quý tộc cúi mình. Qua đầu họ Jack nhìn thấy nhà vua đi vào từ cửa phía nam. Cậu không thể nhìn thấy mặt ông từ xa, nhưng chiếc áo dài màu tía đã cho mọi người nhận ra ông khi ông vào khu trung tâm và quỳ trước bàn thờ chính.
Ngay sau đó các giám mục và tổng giám mục đi vào. Họ mặc áo dài trắng thêu chỉ vàng, và mỗi giám mục cầm gậy giám mục. Gậy giám mục thực ra là chiếc gậy của người chăn chiên đơn giản, nhưng nhiều người trong số họ đã trang sức thêm đá quý vì thế mà cuộc rước lấp lánh trong ánh mặt trời.
Tất cả đi chậm rãi dọc theo nhà thờ và đi lên các bậc đến gian cung thánh, rồi đến chỗ ngồi đã được ấn định trước một bồn nước thánh – Jack biết điều đó vì cậu đã qua sát sự chuẩn bị. Trong thời gian tạm lắng sau đó, các lời nguyện được đọc và thánh ca được hát. Đám đông bắt đầu bồn chồn, và Tommy đã chán. Rồi cuộc rước các giám mục đi ra khỏi nhà thờ.
Họ rời nhà thờ bằng cửa phía nam và mất hút trong tu viện, dân chúng thất vọng; nhưng rồi họ lại đi thành hàng từ phía tu viện qua cổng chính nhà thờ. Mỗi một giám mục cầm một cây vẩy nước thánh và một bình nước thánh. Vừa đi xung quanh nhà thờ vừa hát, họ vẩy nước thánh lên tường nhà thờ. Đám đông đổ về phía trước, xin được chúc lành và cố gắng động vào áo trắng như tuyết của các giám mục. Kỵ binh của nhà vua dùng gậy chặn dân chúng lại. Jack đứng đàng sau đám đông. Cậu không cần được chúc lành và cậu thích tránh xa cây gậy của kỵ binh.
Cuộc rước bắt đầu từ phía bắc nhà thờ, và đám đông đi theo, dẫm lên cả các ngôi mộ trong nghĩa trang. Một vài người đứng đợi ở đây đã lâu và họ chống lại sự chen lấn của đám người mới đến. Môt hai vụ gây gỗ nổ ra.
Các giám mục đi ngang cổng phía bắc và tiếp tục đi quanh vòng bán nguyệt phía cuối đông. Đây là nơi thợ thủ công đã làm các túp lều để làm việc và bây giờ đám đông chen lấn quanh túp lều, đe dọa san bằng những túp lều bằng gỗ nhẹ nhàng này. Khi người dẫn đầu cuộc rước đã đi vào khu tu viện, đám đông càng chen lấn lên phía trước hơn. Các hiệp sĩ của nhà vua phản ứng lại tàn bạo hơn.
Jack cảm thấy lo sợ. “Anh không muốn nhìn vào nó,” cậu nói với Aliena.
“Em cũng muốn nói như vậy,” cô lập lại. “Chúng ta hãy ra khỏi đám đông.”
Trước khi họ có thể di chuyển, một cuộc ẩu đả nổ ra giữa các binh sĩ của nhà vua và một nhóm người trẻ ở phía trước. Các binh sĩ của nhà vua đã đánh họ bằng gậy, nhưng những người trẻ thay vì rút lui, họ đánh lại. Các giám mục sau cùng vội vã vào tu viện, và dân chúng hướng sự chú ý của họ vào các binh sĩ. Ai đó ném một viên đá vào trán của một người cận thần. Ông ngã xuống trong khi đám đông reo hò. Cuộc chiến tay đôi bùng nổ nhanh chóng. Các binh sĩ từ mặt tiền phía tây chạy đến bảo vệ đồng đội của họ.
Nó trở thành một cuộc náo loạn.
Không có hy vọng dân chúng sẽ tập trung lại vào buổi lễ. Jack biết rằng các giám mục và nhà vua bây giờ đang xuống hầm mộ Thánh Denis. Họ sẽ rước di tích thánh xung quanh tu viện, nhưng không rước ra ngoài. Các chức sắc sẽ không xuất hiện cho đến khi nghi thức chấm dứt. Viện phụ Suger đã không trù liệu được số dân chúng đông đảo này và cũng không thu xếp cho họ được hài lòng. Bây giờ họ thất vọng, họ nóng – mặt trời đã lên cao lúc này – và họ muốn xả cảm xúc của họ.
Binh lính nhà vua có vũ khí và dân chúng không có, lúc đầu binh lính có nhiều lợi thế hơn; nhưng một người đã nẩy sinh ý tưởng vào nhà kho lấy vũ khí của thợ xây. Một vài người trẻ đạp đổ cửa lều thợ xây và một lúc sau họ đi ra với búa trong tay. Một vài thợ xây có mặt trong đám đông, và một vài người chen qua đám đông vào nhà kho để ngăn chặn dân chúng đi vào; nhưng họ không thể đứng vững được và bị đẩy sang một bên.
Jack và Aiena cố gắng rút lui ra khỏi đám đông, nhưng dân chúng phía sau đẩy họ về phía trước và họ bị mắc kẹt. Jack giữ Tommy sát ngực cậu, bảo vệ lưng nó bằng cánh tay của cậu và đầu nhỏ bé của nó bằng tay, cùng lúc cậu cố chiến đấu để ở bên cạnh Aliena. Cậu nhìn thấy một người đàn ông nhỏ con, râu đen lén lút cầm tượng người phụ nữ khóc bằng gỗ. Tôi sẽ không bao giờ còn thấy nó nữa, cậu nghĩ với sự hối tiếc; nhưng cậu quá lo lắng tìm cách trốn ra ngoài hơn là lo lắng vì bị trộm đồ.
Lều của thợ mộc cũng bị phá vỡ. Thợ thủ công đã không còn hy vọng bảo vệ lều của họ nữa, và họ không cố ngăn cản đám đông. Các lò rèn quá chắc chắn, nhưng đám đông phá vỡ mái lều và lấy các công cụ nặng, nguy hiểm và sắc nhọn, và Jack nghĩ: Một vài người sẽ bị giết trước khi cuộc ẩu đả này qua đi.
Mặc dù cố gắng cậu vẫn bị đẩy về phía trước, về phía cổng bắc, nơi cuộc đụng độ đang ác liệt. Chuyện này cũng xẩy ra tương tự cho người ăn trộm râu đen, cậu nhận ra: ông ấy cố trốn đi với chiến lợi phẩm, ôm bức tượng gỗ vào ngực giống như Jack ôm Tommy, nhưng ông ấy cũng bị đám đông đẩy gần vào chỗ đánh nhau.
Bất ngờ cậu có một sáng kiến. Cậu đưa Tommy cho Aliena và nói: “Đứng gần anh.” Rồi cậu bắt tên trộm nhỏ con, giật lấy bức tượng khỏi ông ấy. Ông ấy chống lại một lúc, nhưng Jack to con hơn, ngoài ra bây giờ tên trộm lo tìm cách thoát thân hơn là ăn cắp bức tượng.
Jack nâng bức tượng lên khỏi đầu và nói to: “Đức Mẹ!” Lúc đầu không ai chú ý. Rồi một hai người nhìn cậu. “Đừng đụng vào Đức Mẹ!” cậu hét to. Những người gần cậu lùi lại và tạo nên một khoảng trống xung quanh cậu. Cậu tiếp tục đóng vai trò của cậu. “Nó là một tội nặng vì dám phỉ báng hình ảnh Đức Trinh Nữ!” Cậu giơ cao bức tượng trên đầu và đi về phía trước, về hướng nhà thờ. Có thể thành công, cậu nghĩ với niềm hy vọng. Nhiều người ngừng đánh nhau để xem chuyện gì xẩy ra.
Cậu nhìn về phía sau. Aliena theo sau cậu, không thể làm gì khác vì đám đông đẩy cô. Tuy nhiên, cuộc náo loạn đã êm đi. Đám đông tiến về phía trước với Jack, và mọi người thì thầm lập lại lời cậu: “Đây là Mẹ Thiên Chúa… Kính mừng Maria… Hãy mở đường cho tượng Đức Mẹ…” Họ chỉ muốn một cuộc biểu diễn, và bây giờ Jack thỏa mãn sự chờ đợi của họ. Chỉ còn hai ba cuộc ẩu đả bên lề. Jack nghiêm trang tiến về phía trước. Cậu giật mình vì cậu đã dễ dàng chấm dứt một cuộc náo loạn. Đám đông phía trước giãn ra, và cậu đến cửa phía bắc nhà thờ. Ở đó cậu đặt tượng xuống, với sự tôn trọng, trong bóng râm của cửa ra vào. Tượng chỉ cao hơn hai bộ, và dường như không tạo nên ấn tượng gì khi đứng trên mặt đất.
Đám đông tụ họp xung quanh cửa chờ đợi. Jack không biết phải làm gì. Có lẽ họ chờ đợi một bài giảng. Cậu đã hành động như một giáo sĩ, giơ bức tượng lên cao và giọng hô lớn vang rền, nhưng đó là tất cả những kỹ năng linh mục cậu có thể làm. Cậu thấy lo sợ: Đám đông sẽ làm gì cậu nếu cậu làm họ thất vọng?
Bất ngờ có tiếng kêu kinh ngạc.
Jack nhìn về phía sau cậu. Một vài người quý tộc đã tụ họp trong gian ngang phía bắc, nhìn ra ngoài, nhưng cậu không nhìn thấy gì để thẩm định cho sự ngạc nhiên của đám đông.
“Một phép lạ!” một ai đó nói, và những người khác cùng kêu lên: “Một phép lạ! Một phép lạ!”
Jack nhìn vào bức tượng và cậu hiểu tại sao. Nước chẩy ra từ mắt tượng. Lúc đầu cậu cũng kinh hoàng như đám đông, nhưng sau đó cậu nhớ lại giả thuyết rằng tượng sẽ khóc khi có một sự thay đổi bất ngờ từ ấm sang lạnh, như nó đã xẩy ra vào buổi tối ở vùng phía nam. Bức tượng đã được di chuyển từ sức nóng ban ngày vào trong chỗ mát của cửa phía bắc. Điều đó cắt nghĩa tại sao có dòng nước mắt. Nhưng đám đông không biết chuyện đó, dĩ nhiên. Tất cả những gì họ nhìn thấy là một bức tượng khóc, và họ kinh ngạc.
Một phụ nữ ở phía trước bỏ một denier, một xu bạc Pháp, xuống chân bức tượng. Jack muốn bật cười. Bỏ tiền vào chân tượng gỗ có lợi gì? Nhưng dân chúng đã được học từ giáo hội rằng phản ứng tự nhiên của họ đối với những gì thánh thiện là cho tiền, và nhiều người khác trong đám đông làm theo người phụ nữ.
Jack chẳng bao giờ nghĩ rằng đồ chơi của Raschid lại có thể kiếm được tiền. Thực vậy, nó không kiếm được tiền cho Jack – dân chúng sẽ không cho tiền khi họ nghĩ rằng tiền này sẽ vào túi Jack. Nhưng nó sẽ là một tài sản cho một nhà thờ nào đó.
Và khi Jack nhận ra điều đó, bất ngờ cậu nhìn thấy cậu phải làm gì.
Nó đến với cậu trong nháy mắt, và cậu bắt đầu nói ngay cả khi cậu chưa xếp xong thành câu nói. “Tượng Mẹ khóc không phải là của tôi mà là của Thiên Chúa,” cậu bắt đầu. Đám đông yên lặng. Đây là bài giảng họ đã chờ đợi từ lâu. Đàng sau Jack, các giám mục đang hát trong nhà thờ, nhưng bây giờ không ai quan tâm tới. “Hàng trăm năm trước, tượng Mẹ đã mòn mỏi chờ đợi trong vùng đất của người Saracen,” Jack tiếp tục. Cậu không biết gì về lịch sử của bức tượng, nhưng dường nó không phải là vấn đề: chính các linh mục cũng chẳng bị đòi hỏi phải gần với sự thật của phép lạ và di tích thánh. “Tượng đã du hành qua nhiều dặm đường, nhưng cuộc hành trình chưa chấm dứt ở đây. Tượng sẽ về đến nhà thờ chính tòa Kingsbridge ở nước Anh.”
Cậu bắt gặp ánh mắt của Aliena. Cô nhìn cậu kinh ngạc. Cậu phải chống lại sự cám dỗ để nháy mắt với cô và cho cô biết đó chỉ là chuyện cậu vừa tự nghĩ ra.
“Đây là nhiệm vụ thiêng liêng của tôi để đem tượng này về Kingsbridge. Ở đó, tượng sẽ ở vĩnh viễn. Ở đó, tượng sẽ được an bình.” Khi cậu nhìn Aliena, cậu được truyền cảm hứng và nói: “Tôi vừa được chỉ định làm thợ xây dựng tổng thể chính cho nhà thờ chính tòa mới ở Kingsbridge.”
Miệng Aliena mở to. Jack quay đi. “Tượng Mẹ khóc đã yêu cầu xây một nhà thờ lộng lẫy cho Mẹ ở Kingsbridge, và với sự giúp đỡ của Mẹ, tôi sẽ xây dựng một đền thánh cho Mẹ đẹp như đền thánh mới được dựng nên ở đây dành cho di tích Thánh Denis.”
Cậu liếc nhìn xuống dưới, và số tiền trên mặt đất cho cậu ý tưởng. “Số tiền xu của quý vị được dùng để xây dựng nhà thờ mới,” cậu nói. “Đức Mẹ ban phước lành cho mỗi ông, mỗi bà và trẻ em, những người giúp xây một ngôi nhà mới cho Mẹ.”
Một lúc yên lặng; sau đó dân chúng ném đồng xu xuống đất, quanh chân bức tượng. Mỗi người cất tiếng nói một điều gì đó khi họ dâng cúng tiền bạc. Một vài người nói “Alleluia” hay “ngợi khen Chúa” và những người khác xin một phúc lành, hay một ơn nào đó: “Xin cho Robert được khỏi,” hay “Xin cho Anne có con,” hay “Cho chúng con mùa gặt tốt.” Jack ngắm nét mặt họ: họ hào hứng, lên tinh thần, hạnh phúc. Họ đẩy nhau về phía trước, chen lấn bỏ tiền cho tượng Mẹ khóc. Jack nhìn xuống và kinh ngạc khi đống tiền cao như đống tuyết dưới chân cậu.
Tượng Mẹ khóc có cùng tác dụng trong mỗi thị trấn và làng mạc trên đường tới Cherbourg. Khi họ đi thành đoàn rước theo con đường chính, dân chúng theo họ thành từng đoàn; và rồi, sau khi họ nghỉ trước một nhà thờ để dân chúng có đủ thời gian tụ tập lại, họ sẽ đem tượng vào chỗ mát trong tòa nhà và tượng sẽ khóc, khi đó dân chúng sẽ đè lên nhau vì sốt sắng muốn biếu tiền cho việc xây dựng nhà thờ chính tòa Kingsbridge.
Khi mới bắt đầu họ đã hầu như mất bức tượng. Các giám mục và tổng giám mục nghiên cứu bức tượng và tuyên bố nó thực sự kỳ diệu, và viện phụ Suger muốn giữ nó cho Saint-Denis. Ông đã trả giá Jack một đồng bảng Anh, rồi mười và sau cùng năm mươi bảng Anh. Khi ông nhận ra rằng Jack không quan tâm đến tiền bạc, ông dọa sẽ lấy bức tượng đi; nhưng tổng giám mục Theobald thành Canterbury ngăn cản ông. Theobald nhìn thấy khả năng bức tượng sẽ mang lại nhiều lợi nhuận, nên ông muốn bức tượng về Kingsbridge thuộc tổng giáo phận của ông. Suger miễn cưỡng chấp nhận và bày tỏ sự dè dặt về tính xác thực của phép lạ.
Jack đã tuyên bố với các thợ thủ công ở Saint-Denis rằng cậu sẽ thuê bất cứ người nào theo cậu đến Kingsbridge. Suger cũng không hài lòng về điều đó. Thực ra, hầu hết họ sẽ ở lại, theo nguyên tắc rằng một con chim trong tay thì tốt hơn là hai con trong bụi rậm; nhưng có vài người gốc Anh bị cám dỗ quay trở về; và những người khác loan truyền tin đó đi, bởi vì nhiệm vụ của ngượi thợ xây là thông tin cho các đồng nghiệp của mình về những công trình xây dựng mới. Trong một vài tuần nữa thợ xây từ các vùng Ki Tô giáo sẽ lên đường đến Kingsbridge. Aliena hỏi Jack cậu sẽ làm gì nếu tu viện Kingsbridge không chấp nhận cậu là thợ xây dựng chính. Cậu chưa nghĩ tới. Cậu đã loan tin này vì sự thôi thúc bất ngờ và không có kế hoạch dự phòng trong trường hợp mọi sự không xẩy ra theo ý cậu muốn.
Tổng giám mục Theobald, người tuyên bố tượng Mẹ Khóc dành cho nước Anh, không đơn giản để Jack đi một mình với bức tượng. Ông đã gửi hai linh mục từ đoàn tùy tùng của ông, Reynold và Edward, để đồng hành với Jack và Aliena trên cuộc hành trình của họ. Lúc đầu Jack không hài lòng về việc ấy, nhưng cậu đã nhanh chóng thích họ. Reynold là một người trẻ thích tranh luận với khuôn mặt tươi, một đầu óc thông minh và thích thú với toán học mà Jack đã học ở Toledo. Edward là người lớn tuổi, hòa nhã và thích làm việc. Nhiệm vụ chính của họ, dĩ nhiên, là canh chừng không cho của dâng cúng rơi vào túi của Jack. Trong thực tế, hai linh mục đã dùng tiền dâng cúng để chi phí cho cuộc du hành của họ, trong khi đó Jack và Aliena dùng tiền riêng của họ, vì thế tổng giám mục đã tin tưởng Jack hơn.
Trên đường đến Barfleur, nơi họ sẽ lấy tàu về Wareham, họ đi ngang qua Cherbourg. Jack biết có chuyện gì đó không ổn trước khi họ đến trung tâm của thị trấn nhỏ bên bờ biển. Dân chúng không nhìn vào tượng Đức Mẹ.
Họ nhìn chăm chăm vào Jack.
Một lúc sau các linh mục chú ý đến chuyện đó. Họ khênh tượng trên một kiệu bằng gỗ, như họ thường làm khi vào một thị trấn. Khi đám đông đi theo họ, Reynold nói với Jack: “Chuyện gì xẩy ra vậy?”
“Tôi không biết.”
“Họ quan tâm đến anh hơn là đến bức tượng! Trước đây anh có ở đây không?”
“Chưa bao giờ.”
Aliena nói: “Những người lớn tuổi nhìn vào Jack, còn những người trẻ nhìn vào tượng.”
Cô có lý. Trẻ em và người trẻ tò mò về bức tượng. Những người trung niên nhìn cậu. Cậu nhìn lại họ và cậu thấy họ sợ hãi. Một ngườ làm dấu thánh giá trên cậu. “Họ chống lại tôi điều gì?” Jack tự hỏi to tiếng.
Cuộc rước thu hút nhiều người theo nhanh chóng như mọi khi, và khi đến chợ, số người theo đã thành một đám đông lớn. Họ đặt bức tượng xuống trước cửa nhà thờ. Không khí mang theo mùi muối và cá tươi. Nhiều dân thị trấn đi vào nhà thờ. Sau đó thông thường giáo sĩ địa phương sẽ đi ra nói chuyện với Reynold và Edward. Sau đó sẽ có một cuộc thảo luận và giải thích, rồi bức tượng sẽ được rước vào trong, nơi bức tượng sẽ khóc. Đức Mẹ chỉ có một lần không khóc: vào một ngày trời lạnh, khi Reynond nhất định theo thể thức bình thường mặc dù Jack đã cảnh báo là nó không có tác dụng. Bây giờ họ tôn trọng lời khuyên của cậu.
Hôm nay thời tiết thích hợp, nhưng có chuyện gì đó không đúng. Trên khuôn mặt dày dạn sương gió của các thủy thủ và ngư dân có nét sợ hãi mê tín. Những người trẻ cảm nhận được sự lo âu của người lớn tuổi, và thái độ của toàn bộ đám đông có vẻ nghi ngờ, ngay cả thù địch. Không ai đến gần để hỏi về bức tượng. Họ đứng cách xa, nói chuyện thầm thì và chờ đợi một điều gì đó sẽ đến.
Sau cùng một linh mục bước ra. Trong các thị trấn khác vị linh mục đến gần với tâm trạng tò mò và thận trọng, nhưng vị linh mục này đi ra giống như người trừ quỷ, cầm thánh giá trước mặt như khiên đỡ và một bình nước thánh ở tay kia. Reynold nói: “Ông ấy định làm gì vậy? Ông ấy định trừ quỷ sao?” Vị linh mục đi ra, đọc một lời gì đó bằng tiếng Latin, và tiến đến Jack. Ông nói bằng tiếng Pháp: “Hỡi quỷ dữ! Ta ra lệnh cho ngươi trở về nơi chốn của ngươi! Nhân danh Cha –“
“Tôi không phải là ma quỷ!” Jack thốt lên. Cậu mất bình tĩnh.
Vị linh mục tiếp tục: “Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần –“
“Chúng tôi đang thi hành sứ mạng của tổng giám mục thành Canterbury,” Reynold phản đối. “Chúng tôi được được phép của ông ấy.”
Aliena nói: “Anh ấy không phải là ma quỷ; tôi đã biết anh ấy từ khi anh ấy mười hai tuổi.”
Vị linh mục bắt đầu nghi ngờ. “Ông là hồn ma của một người trong thị trấn này, người đã chết hai mươi bốn năm về trước,” ông nói. Nhiều người thầm thì đồng ý, và linh mục lập lại câu thần chú.
“Tôi mới hai mươi tuổi,” Jack nói. “Có lẽ tôi chỉ giống người đàn ông đã chết.”
Một người bước ra khỏi đám đông. “Ông không những giống ông ấy,” người ấy nói. “Ông chính là ông ấy – không khác gì so với ngày ông chết.”
Đám đông thầm thì sợ hãi. Jack cảm thấy tức tối, nhìn vào người đàn ông vừa nói. Ông ấy là một người có bộ râu xám, chạc bốn mươi, mặc quần áo thuộc giới nghệ nhân thành công hay thương gia nhỏ. Ông ấy không có vẻ gì cuồng loạn. Jack nói với ông ấy với một chút ngập ngừng: “Những người đồng hành biết tôi. Hai người trong số họ là linh mục. Người phụ nữ này là vợ tôi. Đứa bé là con tôi. Họ cũng là ma nữa sao?”
Người đàn ông băn khoăn.
Một người đàn bà tóc bạc đứng bên cạnh ông lên tiếng. “Ông không biết tôi à, Jack?”
Jack giật mình. Bây giờ cậu thấy sợ. “Tại sao bà biết tên tôi?” cậu hỏi.
“Bởi vì tôi là mẹ của ông,” bà nói.
“Bà không phải!” Aliena nói, và Jack nghe thấy nét kinh hoàng trong giọng cô. “Tôi biết mẹ anh ấy, và bà ấy không phải là bà! Chuyện gì xảy ra ở đây?”
“Một chuyện ma thuật!” linh mục nói.
“Hãy bình tĩnh,” Reynold nói. “Jack có thể là thân nhân của người đã chết. Người đàn ông đã chết có con cái không?”
“Không,” người đàn ông râu xám nói.
“Ông có chắc chắn không?”
“Ông ấy chưa lập gia đình.”
“Hai chuyện ấy không liên quan với nhau.”
Một hai người cười khúc khích. Vị linh mục nhìn họ.
Người có râu xám nói: “Nhưng ông ấy đã chết hai mươi bốn năm rồi, và Jack này nói anh ấy mới chỉ có hai mươi.”
“Ông ấy chết cách nào?” Reynold hỏi.
“Chết đuối.”
“Ông có nhìn thấy thi thể của ông ấy không?”
Một thoáng yên lặng. Sau cùng người đàn ông râu xám nói: “Không, tôi không nhìn thấy xác ông ấy.”
“Có ai nhìn thấy không?” Reynold hỏi, giọng ông cao như thể sắp chiến thắng.
Không ai trả lời.
Reynold quay về phía Jack. “Bố anh còn sống không?”
“Ông ấy chết trước khi tôi sinh ra.”
“Ông ấy làm nghề gì?”
“Ông ấy là người hát dạo.”
Tiếng thì thào vang lên và người đàn bà tóc bạc nói: “Jack của tôi là một người hát dạo.”
“Nhưng Jack này là một thợ xây,” Reynold nói. “Tôi đã nhìn thấy công trình của anh ấy. Tuy nhiên, anh ấy có thể là con của Jack hát dạo.” Ông quay sang jack. “Bố anh tên là gì? Jack hát dạo, tôi đoán như thế?”
“Không. Họ gọi ông ấy là Jack Shareburg.”
Vị linh mục lập lại tên ấy, cách phát âm hơi khác. “Jacques Cherbourg?”
Jack choáng váng. Cậu chẳng bao giờ hiểu tên của bố cậu, nhưng bây giờ nó đã rõ ràng. Giống như những người du hành khác, ông ấy được gọi tên theo thành phố quê hương của ông ấy. “Vâng,” Jack bàng hoàng nói. “Dĩ nhiên, Jacques Cherbourg.” Sau cùng, cậu đã tìm ra tông tích của bố cậu, sau khi cậu đã ngừng tìm kiếm. Cậu đã đi tới tận Tây Ban Nha, nhưng những gì cậu mốn tìm lại ở đây, bên bờ biển Nornandy này. Cậu đã hoàn thành điều cậu ước mong. Cậu cảm thấy hài lòng như thể cậu trút được gánh nặng mà cậu đã mang nó từ lâu.
“Bây giờ mọi chuyện đã rõ ràng,” Reynold nói, nhìn đắc thắng vào đám đông. “Jacques Cherbourg đã không bị chết đuối, ông ấy đã sống sót. Ông ấy đến nước Anh, sống một thời gian ở đó, có thai với một phụ nữ rồi qua đời. Người phụ nữ sinh con và đặt tên cho nó theo bố nó. Jack ở đây bây giờ hai mươi tuổi, và trông giống hệt bố cậu đã chết cách đây hai mươi bốn năm.” Reynold nhìn vào vị linh mục. “Cha không cần phải trừ quỷ ở đây, thưa cha. Đây chỉ là cuộc đoàn tụ gia đình.”
Aliena đặt tay cô quanh Jack và siết chặt tay cậu. Cậu cảm thấy sững sờ. Cậu có hàng trăm câu hỏi và không biết bắt đầu ở đâu. Cậu buột miệng nói: “Tại sao mọi người lại chắc chắn ông ấy đã chết?”
“Mọi người trên con tàu trắng đã chết,” người đàn ông râu xám nói.
“Tàu màu trắng?”
“Tôi nhớ con tàu màu trắng,” Erward nói. “Đó là một thảm họa được nhiều người biết đến. Người thừa kế ngai vàng đã chết. Sau đó Maud trở thành người thừa kế, và đó là lý do tại sao bây giờ chúng ta có Stephen.”
Jack hỏi: “Nhưng tại sao ông ấy lại có mặt trên con tàu đó?”
Người đàn bà già, người đã lên tiếng lúc đầu, trả lời. “Ông ấy tiêu khiển giới quý tộc trên cuộc hành trình.” Bà nhìn Jack. “Cháu phải là con của ông ấy. Cháu của bà. Bà xin lỗi vì bà tưởng cháu là ma quỷ. Cháu trông giống hệt ông ấy.”
“Bố cháu là anh của chú,” người đàn ông có râu xám nói. “Chú là chú Guillaume của cháu.”
Jack nhận ra với một niềm vui lớn lao rằng đây là gia đình mà cậu đã mong ước từ lâu, những người họ hàng thân thích của bố cậu. Cậu sẽ không còn cô độc trên thế giới này. Sau cùng cậu đã tìm ra được tông tích của cậu.
“Vâng, đây là con trai của cháu,” cậu nói. “Hãy nhìn vào tóc đỏ của nó.”
Bà già tóc bạc nhìn trìu mến vào đứa bé, rồi nói bằng giọng ngạc nhiên: “Ồ! Trời ơi! Tôi là bà cụ của nó!”
Mọi người cười.
Jack nói: “Tôi tự hỏi làm cách nào mà bố tôi có thể đến được nước Anh?”