Những Cột Trụ Của Trái Đất

Lượt đọc: 25292 | 15 Đánh giá: 9,9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN HAI - Chương 5 (A)
1136 - 1137

I - Sau khi Ellen đi rồi, nhà khách hoàn toàn yên lặng vào chủ nhật. Alfred chơi bóng đá với bạn bè trong làng trên đồng cỏ bên dòng sông. Martha buồn vì thiếu Jack, cô chơi trò chơi như đang nhặt rau, nấu súp và mặc quần áo cho búp bê. Tom làm việc trên thiết kế nhà thờ chính tòa.

Ông đã một hai lần gợi ý cho Philip nên nghĩ về kiểu nhà thờ nào ông muốn xây, nhưng Philip không để ý hoặc muốn làm ngơ. Ông có nhiều điều phải lo. Nhưng Tom vẫn nghĩ về nó, nhất là vào các ngày chủ nhật. Ông thích ngồi trong nhà khách, nhìn ngôi nhà thờ đổ nát qua sân cỏ. Một đôi khi ông phác thảo trên bảng đá, nhưng hầu hết ông thực hiện trong đầu. Ông biết rằng một số người khó hình dung các vật thể và không gian trừu tượng, nhưng đối với ông nó rất dễ dàng.

Ông đã chiếm được cảm tình và lòng biết ơn của Philip qua việc ông xử lý đống đổ nát; nhưng Philip vẫn chỉ coi ông là một thợ xây. Ông đã thuyết phục Philip là ông có khả năng thiết kế và xây dựng một nhà thờ chính tòa.

Vào một ngày chủ nhật, hai tháng sau khi Ellen bỏ đi, ông cảm thấy đã sẵn sàng để vẽ.

 Ông làm một tấm đan bằng lau sậy và cành mềm, khoảng ba mét mỗi chiều, đóng khung bằng gỗ xung quanh để nó trông giống như cái khay. Rồi ông đốt cháy một số phấn vôi, trộn lẫn với một số thạch cao, và đổ vào khay. Và khi hỗn hợp đã khô, ông dùng một cây kim vẽ lên đó. Ông dùng một thước bằng sắt cho những đường thẳng, dùng một góc sắt cho những cạnh vuông và com-pa cho những đường vòng.

Ông muốn thực hiện ba bản vẽ: một tiết diện để cắt nghĩa nhà thờ sẽ được xây như thế nào; một mặt thẳng để minh họa tỷ lệ đẹp của nó; và một mặt bằng để tỏ rõ phòng ốc. Ông bắt đầu với thiết kế tiết diện.

Ông tưởng tượng nhà thờ chính tòa là một ổ bánh mì dài, rồi ông cắt lớp vỏ đầu phía tây để nhìn vào bên trong, và ông bắt đầu vẽ.

Nó rất đơn giản. Ông vẽ một cổng vòm có mái phẳng. Đó là gian giữa, nhìn từ cuối nhà thờ vào. Nó cũng có một trần bằng gỗ, giống như nhà thờ cũ. Tom rất muốn xây một mái vòm cong bằng đá, nhưng ông biết Philip không có khả năng để chi phí cho việc đó.

Trên đỉnh gian giữa ông vẽ một một mái nhà hình tam giác. Chiều rộng của tòa nhà sẽ được xác định bởi chiều rộng của mái nhà, và ngược lại nó bị giới hạn bởi số gỗ có sẵn. Rất khó để có được những xà ngang dài hơn ba mươi lăm mét – và chúng rất mắc, vì những gỗ tốt rất có giá nên chủ nhân của nó đã chặt sớm và đem bán trước khi nó đủ cao.  Gian giữa của ngôi nhà thờ có lẽ sẽ là ba mươi hai thước.

Gian giữa ông phác họa rất cao, cao bao nhiêu có thể. Nhưng nhà thờ chính tòa phải là một tòa nhà ấn tượng, tạo nên sự kính sợ với kích thước của nó, hướng mắt mọi người lên trời với độ cao của nó. Một lý do thu hút nhiều người đến nhà thờ chính tòa là vì nó lớn nhất trong thời kỳ đó. Một người chưa bao giờ đến nhà thờ chính tòa, người đó trải qua một cuộc đời mà chẳng bao giờ thấy một tòa nhà còn lớn hơn túp lều họ đang ở.

Thật không may, tòa nhà Tom định vẽ có trọng lượng của chì và gỗ trên mái nhà quá nặng, vì thế các bức tường sẽ phình ra hai bên và sụp xuống. Chúng phải có cột đỡ.

Vì mục đích này, Tom vẽ hai đường đi có mái vòm, cao bằng nửa gian giữa và ở hai bên. Đây là hai gian phụ. Chúng có trần cong bằng đá: bởi vì gian phụ thấp và rộng nên chi phí cho đá không tốn nhiều. Mỗi gian phụ có một mái nhà dốc.

Các gian phụ, liên kết với gian giữa bằng mài vòm đá, sẽ hỗ trợ gian giữa, nhưng chúng không cao đủ. Tom phải xây thêm những hỗ trợ khác, chia thành khoảng cách đều đặn, trong khoảng trống của mái gian phụ, bên trên những xà ngang và dưới mái nhà. Ông vẽ một vòm bằng đá bắt đầu từ đỉnh tường của gian phụ sang tới tường của gian giữa. Đầu cuối của thanh hỗ trợ dựa trên tường gian phụ, nơi đó ông xây một cái đòn phụ nhô ra từ bên cạnh bức tường bên ngoài nhà thờ. Ông đặt một tháp nhỏ trên đầu đòn để tăng thêm trọng lượng và trang trí cho nó đẹp hơn.

Một nhà thờ cao uy nghi mà không có những yếu tố tăng cường của gian phụ, các thanh hỗ trợ và các đòn phụ thì không thể đứng vững được; nhưng điều đó khó mà cắt nghĩa cho một tu sĩ, vì thế ông vẽ phác thảo để làm cho nó rõ ràng hơn.

Ông cũng vẽ nền móng, sâu dưới bức tường. Những ai không hiểu về xây dựng thường ngạc nhiên về độ sâu của nền móng.

Nó là một bản vẽ đơn giản, quá đơn giản mà thợ xây tổng thể chính không cần đến, nhưng nó cần thiết để trình bầy cho Tu viện trưởng Philip. Tom muốn ông hiểu những gì được đề xuất, hình dung ra tòa nhà và thích thú về nó. Rất khó để tưởng tượng một ngôi nhà thờ lớn, vững chắc khi mà trước mặt bạn chỉ là một vài đường vẽ trên tấm thạch cao. Philip sẽ cần tất cả sự hướng dẫn mà Tom có thể cho ông.

Bức tường ông vẽ trông vững chắc, nhìn từ ngoài vào, nhưng thực tế nó không phải như vậy. Bây giờ Tom bắt đầu vẽ hình trông nghiêng của bức tường gian giữa, nhìn từ bên trong nhà nhờ. Chúng có ba bậc: Bậc thấp nhất không thể gọi là tường, vì chúng là những hàng cột mà đầu cột nối với nhau bằng mái vòm tròn. Nó được gọi là đường có mái vòm và qua nó có thể nhìn thấy những cửa sổ đầu tròn của gian phụ. Cửa sổ và đường có mái vòm phải hợp với nhau để ánh sáng có thể chiếu vào gian giữa. Những cột trụ ở gian giữa sẽ thẳng hàng với trụ đỡ trên bức tường bên ngoài.

Bên trên mỗi mái vòm của đường đi là một hàng ba mái vòm nhỏ tạo thành một hành lang trên lầu, nơi các tín hữu có thể đứng tham dự thánh lễ. Ánh sáng không xuyên qua đó, bởi vì đàng sau chúng là mái nhà của gian phụ. Bên trên hành lang đố là bức tường có cửa sổ cho ánh sáng chiếu vào gian giữa.

Vào thời điểm khi nhà thờ chính tòa Kingsbridge cũ được xây dựng, các thợ xây cho rằng bức tường dầy sẽ mạnh mẽ, vì thế họ sợ không dám làm nhiều cửa sổ lớn, nên ánh sáng cũng không vào được. Những thợ xây tân thời hiểu rằng một tòa nhà đủ vững vàng nếu bức tường của nó thẳng và chắc chắn.

Tom phác họa ba bậc của bức tường gian giữa – đường có mái vòm của gia phụ, hành lang trên lầu và bức tường có cửa sổ lấy ánh sáng phía trên – chính xác theo đúng tỷ lệ 3:1:2. Đường mái vòm là một nửa chiều cao của bức tường, và đường hành lang trên lầu bằng một phần ba phần còn lại. Mọi sự trong nhà thờ đều theo sát tỷ lệ: nó cho tòa nhà một cảm giác nhẹ nhàng. Nghiên cứu lại bản vẽ, Tom cho rằng nó hoàn toàn thanh nhã. Nhưng không biết Philip sẽ nghĩ gì? Tom có thể nhìn thấy mái vòm, từ hàng trước đến hàng sau cùng, như đi diễn hành theo chiều dài của nhà thờ trong nắng chiều, với những khuôn đúc và trạm trổ. Nhưng Philip có thấy như vậy không?

Ông bắt đầu với bản vẽ thứ ba, đó là mặt bằng của nhà thờ. Trong trí tưởng tượng ông thấy mười hai mái vòm trong đường đi. Nhà thờ như thế bị chia thành mười hai nhịp hay ô. Gian giữa có sáu nhịp và bốn nhịp ở gian cung thánh. Ở nhịp thứ bẩy và tám là khu trung tâm, từ đó hướng ra hai phía tạo thành hai gian ngang. Bên trên khu trung tâm vươn lên một tháp cao.

Tất cả nhà thờ chính tòa, và hầu như các nhà thờ khác cũng vậy, thường có mặt bằng hình chữ thập. Hình thánh giá là biểu tượng quan trọng nhất của Kitô giáo, nhưng nó còn có lý do thực dụng nữa: Các gian ngang tạo nên các không gian hữu ích cho các nhà nguyện phụ, văn phòng, cũng như phòng mặc áo lễ.

Sau khi vẽ xong mặt bằng nhà thờ, Tom trở lại với bản vẽ chính, cho thấy bên trong của nhà thờ nhìn từ cuối nhà thờ lên. Bây giờ ông vẽ tháp chuông vươn lên trên và đàng sau gian giữa.

Tháp nhà thờ phải cao hơn gian giữa ít nhất là một rưỡi hoặc cao gấp đôi. Mẫu thấp nhất tạo cho tòa nhà một nét đặc sắc hấp dẫn cân đối, trong đó các gian phụ, gian chính và tháp nhà thờ cao theo tỷ lệ 1:2:3. Tháp nhà thờ cao sẽ ấn tượng hơn, bởi vì gian chính sẽ gấp đôi gian phụ, và tháp gấp đôi gian chính, tỷ lệ sẽ là 1:2:4. Tom chọn mẫu ấn tượng: đây là nhà thờ chính tòa duy nhất mà ông xây, và ông muốn nó vươn lên tới trời. Ông hy vọng Philip sẽ cảm thấy như vậy.

Nếu Philip chấp nhận dự án, dĩ nhiên Tom sẽ vẽ nó lại một lần nữa, cẩn thận hơn và chính xác với kích thước. Và còn nhiều thứ phải vẽ: bệ cột, cột, khung cửa, tháp nhỏ, cầu thang, tượng đầu thú vật và vô số các chi tiết khác nữa – Tom sẽ phải vẽ hàng năm. Nhưng những gì ông có trước mặt là cái cốt yếu của tòa nhà, và nó mang những yếu tố: đơn giản, rẻ tiền, thanh thoát và hoàn toàn theo tỷ lệ.

Ông nóng lòng muốn chỉ cho ai đó xem.

Ông tìm kiếm một thời điểm thuận tiện để đem nó đến Philip; nhưng bây giờ đã xong, ông muốn Philip thấy nó ngay lập tức.

Philip có nghĩ là ông kiêu ngạo không? Tu viện trưởng không yêu cầu ông chuẩn bị bản vẽ. Có lẽ trong đầu ông đã có một thợ xây dựng chính khác, người có nhiều kinh nghiệm hơn ông. Ông ấy có thể khinh miệt cố gắng của Tom.

Ngược lại, nếu Tom không chỉ gì cho Philip, ông ấy có thể nghĩ Tom không đủ khả năng thiết kế, và có thể mướn người nào đó mà không hỏi ý kiến của Tom. Tom thà bị coi là tự phụ hơn là bị người nào đó cướp mất công việc. Buổi chiều trời vẫn còn nắng. Philip chắc ở trong nhà tu viện trưởng, đọc Kinh thánh. Tom quyết định đến gõ cửa phòng ông.

Cẩn thận mang theo bản vẽ, ông ra khỏi nhà.

Khi ông đi ngang qua khu đổ nát, viễn tượng có thể xây một nhà thờ mới dường như có vẻ khó khăn: tất cả những hòn đá to, tất cả những xà ngang gỗ, tất cả những thợ thủ công, và cần biết bao năm tháng… Ông phải kiểm tra lại tất cả, tìm kiếm nguồn nguyên liệu ổn định, giám sát chất lượng gỗ và đá, mượn và sa thải nhân công, không mệt mỏi kiểm soát công việc của thợ bằng hòn rọi và thước nước, làm mẫu cho khuôn đúc, vẽ kiểu và chế tạo máy nâng… Ông tự hỏi không biết ông cố chu toàn được không.

Rồi ông nghĩ, nó sẽ sung sướng làm sao khi tạo nên được cái gì đó từ đống gạch vụn, khi một ngày nào đó trong tương lai được nhìn thấy ngôi nhà thờ mới mọc lên trên đống điêu tàn, và có thể nói: Tôi đã xây nó.

Ngoài ra còn một ý nghĩ khác trong trí ông, dấu ẩn trong góc sâu bụi bặm; một cái mà ông khó thú nhận với chính mình. Agnes đã chết không có phép lành của linh mục, và bà được chôn cất ở một nơi không phải là đất thánh. Ông rất muốn trở lại mộ bà, mang theo một linh mục để cầu nguyện cho bà và đặt lên đó một bia mộ nhỏ; nhưng ông sợ rằng khi ông gợi sự chú ý đến nơi chôn cất của bà, một cách nào đó câu chuyện của đứa bé bị bỏ rơi có thể bị phơi bầy ra ánh sáng. Bỏ rơi một đứa bé được coi là tội giết người. Khi nhiều tuần lễ đã trôi qua, ông lo sợ nhiều hơn về linh hồn của Agnes, và nơi chôn bà có phải là nơi tốt không. Ông không dám hỏi linh mục về chuyện đó vì ông không muốn kể chi tiết. Nhưng ông tự an ủi mình rằng nếu ông xây được một ngôi nhà thờ chính tòa, Thiên Chúa chắc chắn sẽ ân huệ cho ông; và ông thắc mắc không biết ông có thể xin cho Agnes nhận được ân huệ đó thay ông không. Nếu ông có thể cống hiến công việc xây nhà thờ cho Agnes, ông cảm thấy linh hồn của bà được thanh thoát và bà có thể an nghỉ.

Ông đến nhà tu viện trưởng, một nhà bằng đá trên đất bằng. Cửa mở, mặc dù hôm đó là một ngày trời lạnh. Ông do dự. Ông tự nhủ lòng: Bình tĩnh, năng lực, kiến thức, chuyên môn. Một chuyên gia về mọi lãnh vực của một tòa nhà hiện đại. Một người mà bạn có thể tin tưởng.

Ông bước vào. Nhà chỉ có một phòng. Một bên kê chiếc giường lớn với màn cửa sang trọng, phía kia là một bàn thờ nhỏ với tượng Thánh giá và chân nến. Tu viện trưởng đứng ở cửa sổ, đọc một bản viết trên giấy da, vầng trán nhăn nheo lo lắng. Ông nhìn lên, mỉm cười với Tom. “Ông có cái gì đó?”

“Bản vẽ, thưa cha,” Tom nói và cố giữ giọng bình tĩnh, rõ ràng. “Bản vẽ của nhà thờ chính tòa mới. Tôi có thể chỉ cho ông không?”

Philip vừa tỏ vẻ ngạc nhiên, vừa tò mò. “Dĩ nhiên,” ông nói.

Trong góc có một bục lớn. Tom đem nó đến bên cửa sổ có ánh sáng và đặt tấm thạch cao lên trên. Philip nhìn vào bản vẽ. Tom quan sát nét mặt ông. Tom có thể nhận ra rằng tu viện trưởng chưa bao giờ nhìn thấy một bản vẽ mặt thẳng, mặt bằng và mặt cắt nhìn xuyên qua tòa nhà. Ông cau mày.

Tom bắt đầu cắt nghĩa. Ông chỉ vào bản mặt thẳng. “Ông đang đứng ở trung tâm gian giữa, nhìn vào bức tường,” Tom nói. “Đây là hàng cột của đường đi có mái vòm. Chung nối với nhau bởi mái vòm. Qua đường mái vòm, ông có thể nhìn thấy cửa sổ trong gian phụ. Bên trên đường mái vòm là hành lang, và bên trên đó là khoảng tường có hàng cửa sổ.”

Nét mặt của Philiip rạng rỡ. Ông bắt đầu hiểu và ông có thể học nhanh chóng. Ông nhìn bản vẽ mặt bằng, và Tom có thể nhìn thấy vẻ bối rối của ông.

Tom nói: “Khi chúng ta đi chung quanh khu vực, và đánh dấu nơi đâu bức tường sẽ được xây, nơi đâu cột trụ sẽ được dựng và vị trí cửa ra vào và trụ tường, chúng ta sẽ có một bản vẽ giống thế này, và nó sẽ cho chúng ta biết nơi đâu phải đóng cọc và căng dây.”

Khuôn mặt Philip lại tươi ra. Tom nghĩ, việc Philip không hiểu bản vẽ ngay là một cơ hội tốt cho ông, vì qua đó Tom có thể chứng tỏ được sự đáng tin và khả năng của ông. Sau đó Philip nhìn vào bản vẽ mặt cắt. Tom cắt nghĩa: “Đây là ở giữa gian chính, có mái gỗ. Đàng sau gian chính là tháp nhà thờ. Đây là gian phụ, ở hai bên gian chính. Ở cạnh bên ngoài của gian phụ là trụ tường.”

“Trông có vẻ lộng lẫy,” Philip nói. Bản vẽ mặt cắt ấn tượng ông hơn cả. Nó giống như mặt tiền phía tây được mở ra, giống như cửa tủ mở và người ta có thể nhìn vào phía trong.

Ánh mắt Philip lại quay về với bản vẽ mặt bằng. “Gian chính chỉ có sáu ô sao?”

“Vâng, gian cung thánh có bốn ô.”

“Nó có quá nhỏ không?”

“Ông có thể chi phí cho một công trình lớn hơn không?”

“Tôi không có khả năng xây dựng cái gì cả,” Philip nói. “Ông có biết dự án ông đang có đây sẽ tốn bao nhiêu không?”

“Tôi biết chắc chắn phí tổn xây dựng của nó,” Tom nói. Ông nhìn thấy nét kinh ngạc trên mặt Philip: Ông đã không ngờ Tom biết tính toán. Tom đã dành nhiều giờ tính toán đến đồng xu cuối cùng cho dự án của ông. Tuy nhiên, ông đưa cho Philip một con số chẵn. “Nó sẽ không tốn hơn ba ngàn.”

Philip cười. “Tôi đã tốn cả hàng tuần qua để tính toán tiền thu nhập hàng năm của tu viện.” Ông vẫy bản giấy da mà ông đang đọc một cách lo lắng khi Tom bước vào. “Đây là câu trả lời. Ba trăm trong một năm. Chúng tôi tiêu hết từng đồng xu.”

Tom không ngạc nhiên. Trong thời gian qua tu viện đã được điều hành một cách yếu kém, điều đó quá rõ. Ông tin rằng Philip sẽ cải tổ kinh tế tu viện. “Ông sẽ tìm được tiền, thưa cha,” ông nói. “Với sự giúp đỡ của Chúa,” ông thêm vào.

Philip lại nhìn vào bản vẽ, ông chưa chắc chắn. “Cần bao nhiêu năm để xây nhà thờ này?”

“Nó tùy thuộc vào số nhân công,” Tom nói. “Khi ông mướn ba mươi thợ xây, cùng với những người làm công nhật, thợ học nghề, thợ mộc và thợ rèn phụ việc với họ, thời gian hoàn thành sẽ mất mười lăm năm: một năm cho chân móng, bốn năm cho gian cung thánh, bốn năm cho hai gian ngang và sáu năm cho gian chính.”

Một lần nữa Philip nhìn ấn tượng. “Tôi ước muốn ban lãnh đạo trong tu viện của tôi có khả năng tính toán và dự phóng trước như ông,” ông nói. Ông đăm chiêu nghiên cứu bản vẽ. “Vì thế mỗi năm tôi phải tìm ra hai trăm đồng. Khi chúng ta tính như vậy, nghe nó không có vẻ khó lắm.” Ông ngẫm nghĩ. Tom phấn khởi: Philip đã bắt đầu nghĩ về nó như là một dự án có thể thực hiện, không phải chỉ là một thiết kế trừu tượng. “Giả sử tôi có nhiều tiền hơn, việc xây dựng có nhanh hơn không?”

“Đến một giới hạn nào đó,” Tom trả lời thận trọng. Ông không muốn làm cho Philip quá lạc quan, vì nó có thể gây thất vọng. “Ông có thể mướn sáu mươi thợ, và xây toàn bộ nhà thờ cùng lúc, thay vì xây từ đông sang tây; và nó sẽ mất khoảng tám đến mười năm. Nhiều hơn sáu mươi người, trong một kích thước xây dựng như thế này, họ sẽ dẫm chân lên nhau và làm chậm tiến độ.”

Philip gật đầu. “Nếu tôi chỉ có ba mươi thợ xây, phần nhà thờ phía đông sẽ hoàn tất trong năm năm?”

“Vâng, và ông có thể sử dụng nó cho các giờ kinh, và thiết lập một bàn thờ cho xương thánh Adolphus.”

“Thật sao!” Philip thật sự hào hứng. “Tôi đã nghĩ mười năm nữa chúng tôi mới có nhà thờ mới.” Ông nhìn Tom thăm dò. “Trước đây ông đã xây nhà thờ chính tòa chưa?”

“Chưa, nhưng tôi đã thiết kế và xây nhiều nhà thờ nhỏ. Ngoài ra tôi làm việc nhiều năm ở nhà thờ chính tòa Exeter, với nhiệm vụ là trợ tá cho thợ xây dựng tổng thể chính.”

“Ông muốn tự mình xây nhà thờ chính tòa này, phải không?”

Tom ngập ngừng. Ông biết ông nên thẳng thắn với Philip, một người không có kiên nhẫn cho chuyện vòng vo. “Vâng, thưa cha. Tôi muốn ông chỉ định tôi làm thợ xây dựng tổng thể chính,” ông nói bình tĩnh bao nhiêu có thể.

“Tại sao?”

Tom không ngờ Philip lại đặt câu hỏi đó. Có nhiều lý do. Bởi vì tôi đã nhìn thấy nhiều nhà thờ chính tòa xấu và tôi có thể xây đẹp hơn, ông nghĩ. Bởi vì đối với một nghệ nhân bậc thầy không có gì thỏa mãn hơn, có lẽ ngoại trừ tình yêu đối với một phụ nữ đẹp, là được thực hiện kỹ năng của mình. Bởi vì những việc như vậy cho cuộc đời con người ý nghĩa. Philip muốn câu trả lời nào? Tu viện trưởng có lẽ muốn ông nói điều gì đạo đức. Không ngần ngại, ông nói sự thật. “Bởi vì nó sẽ rất đẹp,” ông nói.

Philip lạnh lùng nhìn ông. Tom không thể nói ông tức giận hay ông nghĩ gì. “Bởi vì nó sẽ rất đep,” Philip lập lại. Tom bắt đầu cảm thấy nó thật ngớ ngẩn, và muốn nói thêm điều gì đó, nhưng ông không biết nói gì. Nhưng sau đó ông nhận ra rằng Philip thật sự không nghi ngờ gì hết. Lời nói của Tom đánh động tâm hồn ông. Sau cùng Philip gật đầu, như tỏ vẻ đồng ý sau khi đắn đo. “Vâng, và còn gì tốt hơn là làm những điều đẹp đẽ cho Thiên Chúa?” Tom nói.

Tom vẫn yên lặng, chờ đợi Philip nói câu: “vâng, ông sẽ là thợ cả.”

Philip dường như đi đến quyết định. “Tôi đang chuẩn bị cùng với giám mục Waleran đến gặp vua ở Winchester trong ba ngày nữa,” ông nói. “Tôi không biết dự định của giám mục, nhưng tôi chắc chắn chúng tôi sẽ xin vua Stephen giúp đỡ trong việc xây dựng nhà thờ mới cho Kingsbridge.”

“Chúng tôi mong nhà vua sẽ chấp nhận ước muốn của ông,” Tom nói.

“Vua còn nợ chúng ta một đặc ân,” Philip nói với một nụ cười bí ẩn. “Ông phải giúp chúng ta.”

“Và nếu ông ấy giúp?” Tom nói.

“Tôi nghĩ Chúa đã gửi ông đến cho tôi với một mục đích, thợ xây Tom ạ,” Philip nói. “Nếu vua Stephen trợ cấp chúng ta tiền bạc, ông có thể xây nhà thờ.”

Đến lượt Tom cảm động. Ông không biết phải nói gì. Ông đạt được ước mơ trong đời – tuy còn tùy thuộc vào điều kiện. Mọi sự tùy thuộc vào sự trợ giúp của vua. Ông gật đầu, chấp nhận lời hứa và mạo hiểm. “Cảm ơn cha,” ông nói. Chuông đổ báo hiệu giờ kinh tối. Tom thu dọn bản vẽ.

“Ông có cần nó không?” Philip hỏi.

Tom nhận ra rằng để bản vẽ ở lại đây thì tốt hơn. Nó sẽ luôn nhắc nhở Philip. “Không, tôi không cần nó,” ông nói. “Tôi có nó trong đầu.”

“Tốt, tôi sẽ giữ nó ở đây.”

Tom gật đầu và đi ra cửa. Ông chợt nghĩ nếu ông không hỏi về Agnes bây giờ, có lẽ ông sẽ chẳng bao giờ hỏi nữa. Ông quay lại.

“Thưa cha,”

“Vâng?”

“Vợ trước của tôi… bà tên là Agnes… bà đã chết mà không được linh mục làm phép và không được chôn ở đất thánh. Bà không có tội, nó chỉ là … do hoàn cảnh. Tôi phân vân… Một đôi khi một người xây một nhà nguyện, hay thành lập một tu viện trong hy vọng rằng đời sau Thiên Chúa sẽ nhớ đến lòng đạo đức của họ. Ông có nghĩ rằng thiết kế của tôi có giúp cứu linh hồn Agnes không?”

Philip nhăn trán. “Abraham được yêu cầu dâng đứa con duy nhất. Thiên Chúa không bao giờ đòi hỏi của lễ bằng máu nữa, bởi vì của lễ lớn lao nhất đã được dâng tiến. Nhưng câu chuyện Abraham muốn nói lên ý nghĩa là Thiên Chúa đòi hỏi những gì tốt nhất chúng ta có, những gì quý giá trong trái tim chúng ta. Có phải thiết kế này là cái tốt nhất ông có thể dâng lên Thiên Chúa không?”

“Ngoại trừ các con tôi, vâng.”

“Vậy hãy yên tâm, thợ xây Tom ạ. Chúa sẽ chấp nhận điều ông dâng Chúa.”

II

 

Philip không hiểu tại sao Waleran Bigod muốn gặp ông tại tại lâu đài đổ nát của Bá tước Bartholomew.

Ông buộc phải đến thị trấn Shiring và qua đêm ở đó, rồi sáng nay lên đường tới lâu đài bá tước. Khi con ngựa từ từ chạy đến và tòa lâu đài lờ mờ hiện ra trong sương mù buổi sáng, ông đoán ra nó có thể vì thuận lợi: Waleran trên đường từ chỗ này đến chỗ kia, vì thế qua đây gần hơn là đến Kingsbridge, và lâu đài là một nơi dễ đến.

Philip muốn biết nhiều hơn về những dự định của Waleran. Từ ngày Waleran đến thăm nhà thờ cũ bị cháy đến nay, Philip không gặp lại ông. Waleran không biết Philip cần bao nhiêu tiền để xây nhà thờ, và Phlip cũng không biết Waleran dự định muốn yêu cầu gì nơi vua. Dường như Waleran muốn giữ ý định riêng cho mình. Điều đó làm Philip lo âu.

Ông mừng vì thợ xây Tom đã cho ông biết về phí tổn cần thiết để xây dựng nhà thờ mới. Một lần nữa ông lại vui vì có Tom bên cạnh. Tom là người của ngạc nhiên. Ông không biết đọc và viết, nhưng ông có thể thiết kế nhà thờ, vẽ dự án, tính toán số nhân công và thời gian xây dựng, và tính ra được chi phí cần thiết cho toàn bộ công trình. Ông là một người trầm tĩnh, mặc dù bên ngoài trông ông đáng sợ: ông cao lớn, đầy râu, mặt rạm nắng, đôi mắt sắc sảo và vầng trán cao. Một đôi khi Phlip cảm thấy như bị đe dọa bởi Tom và ông cố gắng trấn tĩnh bằng giọng nói chân thành. Nhưng Tom rất nghiêm nghị. Cuộc đàm thoại về người vợ của ông thật cảm động, và nó biểu lộ lòng đạo đức mà trước đó ông chưa bao giờ tỏ ra. Tom là một trong những người giữ niềm tin tôn giáo của mình sâu thẳm trong tim. Một đôi khi họ là những người tốt nhất.

Khi Philip đến lâu đài, tâm hồn ông trĩu nặng. Trước đây nó là một lâu đài thịnh vượng, có thành trì bảo vệ khu vực xung quanh, tạo công ăn việc làm cho bao nhiêu người trong vùng. Bây giờ nó chỉ còn là đống đổ nát, những túp lều chung quanh chân tường đã thành hoang phế, giống như các cành cây trụi lá vào mùa đông. Và Philip chịu trách nhiệm về nó. Ông đã tiết lộ âm mưu được cưu mang nơi đây, và đã kéo cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, qua Percy Hamleigh, đến trên lâu đài và cư dân nơi đây.

Ông nhận ra bức tường thành và nhà khách không bị tổn thất nhiều trong cuộc chiến. Nó có nghĩa là kẻ tấn công đã vào bên trong trước khi cổng thành có thể đóng lại. Ông đi ngựa qua cây cầu gỗ vào trong sân thứ nhất của lâu đài. Nơi đây chứng tích cuộc chiến rõ ràng hơn: ngoài ngôi nhà nguyện bằng đá, tất cả những kiến trúc khác của lâu đài chỉ còn lại những thanh gỗ cháy dở ngổn ngang trên mặt đất, và một cơn gió nhẹ thổi bay những tro tàn dọc theo chân tường thành.

Không có dấu hiệu của giám mục. Philip đi ngựa qua sân, vượt qua cầu dẫn vào khu vực bên trên. Ở đây có một khu nhà ở bằng đá với một cầu thang bằng gỗ trông lỏng lẻo dẫn lên cửa vào lầu hai. Philip nhìn lên tường thành phòng thủ với những cửa sổ hẹp: mặc dù nó vĩ đại, nhưng nó vẫn không bảo vệ được Bartholomew.

Từ những cửa sổ này, ông có thể nhìn qua tường thành và quan sát giám mục đến. Ông cột con ngựa vào tay cầm của cầu thang và đi lên.

Khi ông vừa đụng nhẹ, cửa mở ra. Ông bước vào trong. Hội trường lớn tối tăm và bụi bặm, lò sưởi nguội lạnh, có một cầu thang xoắn ốc dẫn lên trên. Philip đi tới cửa sổ. Bụi làm ông khó chịu. Từ cửa sổ ông không nhìn thấy gì, nên ông quyết định lên tầng trên.

Trên đầu cầu thang xoắn, ông đối diện với hai cánh cửa. Ông đoán cửa nhỏ vào nhà vệ sinh và cửa lớn dẫn vào phòng ngủ bá tước. Ông đi vào cửa lớn.

Phòng không trống.

Philip ngừng lại, chết cứng. Ở đó, giữa phòng, đối diện với ông là một phụ nữ đẹp tuyệt vời. Lúc đầu ông tưởng mình đang mơ, và tim ông rộn ràng. Những lọn tóc đen gợn lên như đám mây bao phủ khuôn mặt mê hồn. Cô nhìn ông qua đôi mắt mở lớn, và ông nhận ra cô cũng giật mình giống như ông. Khi ông thoải mái ra và sắp bước vào phòng thì ông bị ghì chặt từ phía sau và cảm thấy một lưỡi kiếm lạnh đè vào cổ ông, và một giọng đàn ông hỏi: “Ông là ai?”

Cô gái di chuyển về phía ông. “Hãy nói tên ra, nếu không Matthew sẽ giết ông,” cô nói một cách uy quyền.

Thái độ của cô cho thấy cô thuộc gia đình quyền quý, nhưng ngay cả quyền quý cũng không được phép hăm dọa tu sĩ. “Hãy nói với Matthew bỏ tay ra khỏi tu viện trưởng của Kingsbridge, nếu không ông sẽ gặp khó khăn,” Philip điềm tĩnh nói.

Ông được trả tự do. Ông quay lưng lại và thấy một người đàn ông mảnh khảnh chạc tuổi ông. Matthew có lẽ từ nhà vệ sinh ra.

Ông quay lại phía cô gái. Cô khoảng mười bẩy tuổi. Mặc dù cô kiêu kỳ, nhưng cô ăn mặc xoàng xĩnh. Khi ông đang quan sát cô, chiếc hòm sát tường đàng sau cô mở lên và một cậu bé nhẩy ra, nhìn bẽn lẽn. Cậu cầm một thanh kiếm. Philip không biết cậu nằm trong đó chờ đợi hay vì ẩn trốn.

“Còn cô là ai?” Philip hỏi.

“Tôi là con gái của bá tước ở Shiring, tên tôi là Aliena.”

Con gái của bá tước! Philip nghĩ. Tôi không biết cô ta vẫn sống ở đây. Ông nhìn cậu con trai. Cậu khoảng mười lăm tuổi, trông giống cô gái, ngoại trừ mũi tẹt và mái tóc ngắn. Philip nhướng mắt hỏi cậu.

“Tôi là Richard, người thừa hưởng gia tài của bá tước,” cậu bé nói bằng giọng ồm ồm của tuổi dậy thì.

Đàng sau Philip, người đàn ông nói: “Còn tôi là Matthew, quản lý của lâu đài.”

Ba người này đã ẩn nấp ở đây từ khi Bá tước Bartholomew bị bắt, Philip nhận ra. Người quản lý chăm sóc các trẻ nhỏ: ông ta phải có một kho thực phẩm và tiền bạc cất dấu. Philip quay về phía cô gái: “Tôi biết bố cô ở đâu nhưng mẹ cô đâu?”

“Mẹ tôi đã chết từ nhiều năm qua.”

Philip cảm thấy có lỗi. Những đứa trẻ giờ thành mồ côi, và một phần do lỗi của ông. “Cô không có họ hàng nào khác chăm sóc cho cô sao?”

“Tôi đang trông giữ lâu đài cho đến khi bố tôi trở về,” cô nói. Philip nhận ra chúng đang sống trong thế giới ảo tưởng. Chúng đang sống như chúng vẫn thuộc về một gia đình giầu có và quyền lực. Với người cha trong tù và bị giáng chức, cô là người con gái khác. Cậu con trai không còn thừa hưởng gì cả. Bá tước Bartholomew sẽ chẳng bao giờ trở về lâu đài này nữa, chỉ trừ khi nhà vua quyết định treo cổ ông ở đây. Ông thương hại cô, nhưng một cách nào đó ông thán phục ý chí mạnh mẽ của cô, một ý chí nuôi sống sự tưởng tượng và lôi kéo hai người khác theo. Cô phải là một nữ hoàng, ông nghĩ.

Từ bên ngoài vẳng về tiếng vó ngựa trên gỗ: nhiều con ngựa đang đi qua cây cầu gỗ. Aliena nói với Philip: “Tại sao ông lại đến đây?”

“Một cái hẹn,” Philip nói. Ông quay lại và bước về phía cửa, nhưng Matthew ngăn ông lại. Họ đứng yên lặng nhìn nhau. Bốn người trong phòng không động tĩnh. Philip tự hỏi có phải họ muốn chặn không cho ông đi. Nhưng rồi người quản lý đứng qua một bên.

Philip đi ra. Ông kéo vạt áo choàng và vội vã xuống thang. Khi ông xuống đến dưới, ông nghe thấy tiếng bước chân sau ông. Matthew bắt kịp ông.

“Đừng nói cho ai biết chúng tôi ở đây,” ông nói.

Philip nhận ra Matthew hiểu hoàn cảnh thực tế của họ. “Các ông muốn ở đây bao lâu?” Philip hỏi.

“Bao lâu có thể,” người quản lý trả lời.

“Và nếu các ông phải đi, các ông sẽ đi đâu?”

“Tôi không biết.”

Philip gật đầu. “Tôi sẽ giữ bí mật,” ông nói.

“Cảm ơn cha.”

Philip đi ngang qua hội trường bụi bặm và ra ngoài. Nhìn xuống, ông thấy giám mục Waleran và hai người khác đang gìm cương gần con ngựa của ông. Waleran mặc một áo choàng nặng bằng lông màu đen và đội mũ lông đen. Ông nhìn lên và Philip bắt gặp đôi mắt tái nhợt của ông. “Kính chào giám mục,” Philip trân trọng nói. Ông xuống cầu thang gỗ. Hình ảnh cô gái trên lầu vẫn ám ảnh ông và ông không dễ đuổi nó ra khỏi đầu như ông muốn. Waleran xuống ngựa. Ông có hai người tùy tùng, Philip nhận ra: Dean Baldwin và người kỵ binh.

Ông gật đầu chào họ, rồi quỳ xuống hôn tay Waleran. Waleran chấp nhận sự kính trọng nhưng không quan tâm lắm: một lúc sau ông rút tay về. Ông thích quyền lực thực sự chứ không phải vỏ bên ngoài của nó.

“Ông chỉ đi có một mình, Philip?” Waleran hỏi.

“Vâng. Tu viện nghèo và đoàn tùy tùng đối với tôi là một phung phí. Khi tôi còn là tu viện trưởng của St. John ở trong rừng, tôi chẳng có hộ tống và tôi vẫn sống.”

Waleran nhún vai. “Đi theo tôi,” ông nói. “Tôi muốn chỉ ông điều này.” Ông đi qua sân tới tòa tháp gần nhất. Philip theo sau. Waleran vào qua cửa thấp ở chân tháp và trèo lên cầu thang bên trong. Những con giơi treo mình trên mái trần thấp và Philip cúi đầu xuống, sợ đụng vào chúng.

Rồi họ lên đến đỉnh, đứng trên thành lũy nhìn qua vùng xung quanh.

“Đây là một trong những lãnh địa bá tước nhỏ nhất trong nước,” Waleran nói.

“Đúng vậy.” Philip rùng mình. Trên đó gió lạnh và ẩm ướp, và áo choàng của ông cũng không dầy như của Waleran. Ông tự hỏi không biết Waleran muốn chỉ ông điều gì.

“Một vài mảnh đất màu mỡ, nhưng đa số là rừng và đất đá.”

“Vâng.” Vào một ngày đẹp trời, họ có thể thấy nhiều khu rừng và đồng ruộng, nhưng bây giờ, mặc dù sương mai đã tan, nhưng họ khó có thể nhận ra góc khu rừng phía nam và đồng cỏ xung quanh lâu đài.

“Lãnh địa này có một quặng mỏ sản xuất những tảng đá vôi thượng hạng,” Waleran tiếp tục. “Rừng của nó có nhiều gỗ tốt và nông trại của nó tạo ra của cải đáng kể. Nếu chúng ta được lãnh địa này, Philip, chúng ta có thể xây nhà thờ chính tòa của chúng ta.”

“Nếu ngựa có cánh, chúng có thể bay,” Philip nói.

“Ôi, người yếu lòng tin!”

Philip nhìn đăm đăm vào Waleran. “Ông nói thật đấy chứ?”

“Rất thật.”

Philip vẫn còn hoài nghi, tuy vậy một hy vọng mong manh nẩy lên trong ông. Nếu điều này thành sự thật! Nhưng ông nói: “Vua cần sự hỗ trợ về quân sự. Ông ấy sẽ trao lãnh địa này cho người nào có thể đem quân ra trận.”

“Nhà vua mắc nợ giáo hội về vương miện của ông, và mắc nợ chúng ta về chiến thắng Bartholomew. Hiệp sĩ không phải là tất cả những gì ông ta cần.”

Waleran nói nghiêm trang, Philip nhận ra. Điều ấy có thể không? Nhà vua có thể trao lãnh địa của Shiring cho giáo hội, để tài trợ kinh tế cho việc xây nhà thờ chính tòa Kingsbridge không? Khó có thể tin được, mặc dù lập luận của Waleran là hợp lý. Nhưng Philip không thể ngừng tưởng tượng nó sẽ tuyệt vời làm sao nếu có được đá, gỗ và tiền trả cho thợ; và Philip nhớ Tom nói rằng ông có thể mướn sáu mươi thợ và hoàn thành nhà thờ trong tám đến mười năm. Chỉ nghĩ về nó thôi đã thấy thú vị.

“Nhưng còn cựu bá tước sẽ ra sao?” ông hỏi.

“Bartholomew đã thú nhận tội phản quốc. Ông không bao giờ chối tội mưu phản, nhưng ông cho rằng những gì ông làm không phải là phản quốc, vì Stephan là một kẻ cướp ngôi. Tuy nhiên, sự tra tấn của nhà vua đã làm ông đầu hàng.”

Philip rùng mình và không dám nghĩ họ đã làm gì Bartholomew để một người đàn ông cứng rắn như ông ấy phải thay đổi. Ông đuổi tư tưởng này ra khỏi đầu. “Lãnh địa của Shiring,” ông lẩm bẩm. Nó là một yêu cầu vô cùng tham vọng. Nhưng ý tưởng này đáng sợ. Ông cảm thấy đầy sự lạc quan vô lý.

Waleran ngước nhìn bầu trời. “Chúng ta hãy đi,” ông nói. “Nhà vua đợi chúng ta ngày kia.”

William Hamleigh quan sát hai người của Chúa từ nơi cậu ẩn nấp đàng sau tường lũy của tháp bên cạnh. Cậu biết cả hai người. Người cao ráo, người giống như con chim đen với chiếc mũi nhọn và áo khoác đen, là giám mục mới của Kingsbridge. Người nhỏ, hăng hái với đầu trọc và mắt xanh sáng là Tu viện trưởng Philip. William tự hỏi họ làm gì ở đây.

Cậu đã quan sát vị tu sĩ khi ông vào, nhìn quanh như thể ông muốn tìm ai rồi đi vào khu nhà. William không đoán được Philip có gặp ba người kia không – ông chỉ vào trong đó một lúc và những người kia chắc đã tránh ông. Khi giám mục đến, Tu viện trưởng Philip đã bước ra và cả hai trèo lên tháp. Bây giờ giám mục chỉ vào các mảnh đất xung quanh lâu đài thân thuộc như mảnh đất này là của ông. Qua cách đứng và cử chỉ của họ, William có thể nhận ra là giám mục đang sôi nổi và tu viện trưởng hoài nghi. Họ đang có một âm mưu, Williiam chắc chắn điều đó.

Tuy nhiên, cậu đến đây không phải để theo dõi họ mà để theo dõi Aliena.

Cậu đã làm việc này càng ngày càng thường xuyên hơn. Cô săn đuổi cậu trong tâm trí mọi nơi mọi lúc, và cậu đau khổ trong những giấc mơ ban ngày, trong những giấc mơ mà cậu thấy Aliena bị trói và trần truồng trong cánh đồng lúa mì, hay co rúm như con chó sợ hãi trong góc phòng ngủ, hay bị lạc trong rừng vào buổi chiều tối. Nó trầm trọng đến nỗi cậu muốn thấy cô bằng xương bằng thịt. Cậu đã đến lâu đài lãnh chúa từ sáng sớm, để Walter, người cận vệ, ở lại trông coi ngựa trong rừng, và một mình cậu đi qua cánh đồng đến lâu đài. Cậu lẻn vào trong tìm được một chỗ nấp, từ đó cậu có thể quan sát khu nhà ở và khu nhà phía trên. Một đôi khi cậu phải chờ lâu mới thấy cô. Sự kiên nhẫn của cậu bị thử thách rất nhiều, nhưng mà đi về mà không thoáng được nhìn thấy cô thì còn đau khổ hơn, vì thế mà cậu luôn ở lại. Rồi, khi cô xuất hiện, cổ họng cậu khô cứng, tim cậu đập nhanh hơn, và bàn tay ẩm ướt. Thường cô đi với em trai hay với người quản lý nữ tính, nhưng một đôi khi cô đi một mình. Một buổi chiều mùa hè, khi cậu đã đợi cô từ buổi sáng sớm, cô đi đến giếng lấy nước, cởi bỏ quần áo và tắm rửa. Chỉ nhớ lại cảnh đó cũng đủ đốt cháy cậu. Cô có bộ ngực sâu, kiêu hãnh chuyển động một cách khêu gợi khi cô nâng bàn tay để chà xà bông vào tóc. Núm vú cô co lại khi cô tạt nước lạnh lên mình. Đám lông đen quăn xoắn giữa hai chân cô rậm rạp, và khi cô tắm rửa ở chỗ đó, chà mạnh với bàn tay đầy xà bông, Williiam không còn kiểm soát được mình và xuất tinh trong quần.

Kể từ đó không còn gì đẹp xẩy ra nữa, và cô chắc chắn sẽ không tắm trong mùa đông, nhưng cũng có những thú vui nhỏ hơn. Khi ở một mình, cô hát và ngay cả nói chuyện với chính mình. William nhì thấy cô bện tóc, nhẩy múa và đuổi chim bồ câu ra khỏi tường thành như một đứa nhỏ. Bí mật quan sát cô làm những chuyện riêng tư như vậy, William cảm thấy một cảm giác quyền lực trên cô, một cảm giác cho cậu sự thích thú.

Dĩ nhiên cô không thể xuất hiện, bao lâu vị giám mục và tu sĩ còn ở đây. May mắn là họ không ở lâu. Họ rời thành lũy nhanh chóng và vài phút sau cùng với đoàn tùy tùng cưỡi ngựa ra khỏi lâu đài. Họ đến đây để chỉ ngắm phong cảnh từ thành lũy? Nếu chỉ có vậy, một phần nào họ đã thất vọng vì thời tiết xấu.

Người quản lý đã ra lấy củi cho lò sưởi trước đó, trước khi các khách đến thăm. Ông nấu ăn trong pháo đài. Chẳng bao lâu sau ông lại ra lấy nước ở giếng. William đoán họ ăn cháo vì họ không có lò để nướng bánh. Trễ hơn trong ngày, người quả lý sẽ rời lâu đài, một đôi khi ông mang theo cậu nhỏ. Một khi họ đã đi thì việc Aliena xuất hiện chỉ còn là vấn đề thời gian.

Khi cậu chán nản vì chờ đợi, William sẽ nhớ lại cảnh cô tắm. Hình ảnh trong ký ức gần như ảnh thật. Nhưng hôm nay cậu không an tâm. Chuyến viếng thăm của giám mục và tu viện trưởng dường như làm mất đi bầu khí. Cho đến nay luôn có một bầu khí mê hoặc về lâu đài và ba cư dân sống trong đó, nhưng sự xuất hiện của những người này trên những con ngựa vấy bùn của họ đã bẻ gẫy sức quyến rũ của nó. Nó giống như một giấc mơ tuyệt vời giữa đêm bị quấy rầy bởi tiếng động: cố gắng bao nhiêu có thể, cậu vẫn không ngủ mê lại được.

Cậu cố gắng đoán những gì các vị khách dự định, nhưng cậu không hiểu được. Cậu chắc chắn một điều là họ đang âm mưu chuyện gì đó. Có một người có thể giải được: mẹ cậu. Cậu quyết định bỏ theo dõi Aliena và về nhà báo cho mẹ những gì cậu nhìn thấy.

Họ đến Winchester vào chiều tối ngày hôm sau. Họ vào qua cửa thành, bên bức tường phía nam của thành phố, và đi ngay đến sân nhà thờ chính tòa. Ở đây họ chia tay nhau. Waleran đến tòa giám mục của Winchester, một dinh thự trên khu đất gần sân nhà thờ chính tòa. Philip đến chào tu viện trưởng và xin một tấm nệm trong nhà ngủ tu sĩ.

Sau ba ngày trên đường, Philip thấy sự bình an và yên tĩnh của tu viện làm ông tươi tỉnh lại như một dòng nước trong ngày nóng nực. Tu viện trưởng Winchester là một người đầy đặn, dễ tính với làn da hồng và mái tóc bạc. Ông mời Philip ăn tối với ông trong nhà ông. Trong khi ăn, họ nói chuyện về giám mục của mình. Tu viện trưởng Winchester rõ ràng là người kính sợ Giám mục Henry và tùy thuộc vào ông. Philip nghĩ rằng, tranh cãi với một giám mục, người giầu có và quyền lực như Henry, chẳng mang lại kết quả gì. Cũng vậy, Philip không muuốn bị điều hành quá nhiều bởi giám mục của ông.

Ông ngủ sâu và thức dậy giữa đêm cho giờ kinh đêm. Khi ông bước chân vào nhà thờ chính tòa Winchester, đây là lần đầu tiên, ông cảm thấy như bị đe dọa.

Tu viện trưởng đã nói với ông rằng đây là nhà thờ lớn nhất thế giới, và khi thấy, ông tin điều đó là sự thật.

Nhà thờ dài gần một dặm: Philip đã gặp những làng có thể đặt vào trong đó. Nó có hai tháp cao, một ở trên khu trung tâm và một cái khác ở cuối phía tây. Tháp ở giữa đã bị sập đổ cách đây ba mươi năm trên mộ của William Rufus, một vị vua không tin Chúa, và có lẽ không nên được chôn ở đây; nhưng nó đã được xây dựng lại. Đứng ngay bên dưới tháp mới hát kinh sáng, Philip cảm thấy toàn thể tòa nhà có một bầu khí xứng đáng và mạnh mẽ. So sánh với nhà thờ này, nhà thờ chính tòa do Tom thiết kế rất khiêm tốn – nếu nó được xây. Ông nhận ra rằng ông đang ở trong vòng cao nhất của những người quyền thế trong nước, và ông thấy lo âu. Ông chỉ là một cậu bé từ ngôi làng đồi Welsh, người đã may mắn trở thành tu sĩ. Hôm nay ông sẽ nói chuyện với nhà vua. Làm sao ông lại có quyền đó?

Ông trở lại nhà ngủ với các tu sĩ khác, nhưng ông thức và lo nghĩ. Ông sợ mình có thể nói hay làm điều gì đó xúc phạm đến vua Stephen hoặc Giám mục Henry và khiến họ chống lại Kingsbridge. Những người sinh ra ở Pháp thường chế nhạo người Anh về cách nói của họ: Họ sẽ nghĩ sao về giọng nói của người Welsh? Trong thế giới của tu viện, người ta đánh giá Philip theo tiêu chuẩn: đạo đức, vâng lời và sự nhiệt thành cho công việc của Chúa. Những tiêu chuẩn này không có giá trị gì ở đây, giữa lòng thủ đô của một vương quốc lớn nhất thế giới. Ông cảm thấy như mất đi chiều sâu của mình. Ông bị áp lực vì cảm thấy rằng một cách nào đó mình là kẻ mạo danh, một người không là gì trở thành một người nào đó, và với thời gian sẽ bị khám phá ra và sẽ bị đuổi về trong nhục nhã.

Ông thức dậy vào lúc bình minh, tham dự giờ kinh sáng, rồi dùng bữa sáng trong phòng ăn. Các tu sĩ có bia mạnh và bánh mì trắng: đây là một tu viện thịnh vượng. Sau ăn sáng, khi các tu sĩ đi vào nhà nguyện, Philip đi bộ tới dinh thự giám mục, một tòa nhà bằng đá đẹp với cửa sổ lớn, trong một khu đất rộng có tường bao quanh.

Waleran tin tưởng sự ủng hộ của Giám mục Henry về dự án táo bạo của ông. Henry rất có thế lực đến nỗi ông có thể cho mọi việc có thể. Ông là Henry thành Blois, em trai của vua. Ông vừa là một giáo sĩ có quan hệ tốt nhất với hoàng gia, lại là người giầu nhất vì ông là viện phụ của tu viện giầu có Glastonbury. Ông có triển vọng thành tổng giám mục của Canterbury. Kingsbridge không thể có được một đồng minh mạnh mẽ hơn. Có thể nó sẽ thực sự xẩy ra, Philip nghĩ; có thể vua sẽ giúp chúng ta có khả năng xây nhà thờ mới. Khi ông nghĩ về nó, trái tim ông như nổ tung vì hy vọng. Người quản gia nói với Philip rằng Giám mục Henry sẽ chỉ tiếp khách trước giữa trưa. Philip quá hồi hộp để trở về tu viện. Cảm thấy thiếu kiên nhẫn, ông đi xem thành phố lớn nhất mà ông chưa bao giờ được thấy.

Tòa giám mục nằm ở góc đông nam của thành phố. Philip đi theo bức tường phía đông, ngang qua khu đất của một tu viện khác, tu viện St. Mary, vào trong khu phố dường như dành cho đồ da và len. Khu vực có những dòng nước nhỏ chằng chịt. Nhìn kỹ, Philip nhận ra chúng không phải tự nhiên mà là các kênh nhân tạo, chia nhánh dòng sông Itchen để chẩy qua các đường phố và cung cấp số lượng lớn cần thiết cho thuộc da và giặt lông cừu. Các khu kỹ nghệ tương tự thường được xây dựng bên dòng sông, và Philip ngạc nhiên vì sự táo bạo của con người, những người đã dám đem nước từ dòng sông đến xưởng việc của họ - thay vì ngược lại.

Dù có kỹ nghệ, thị trấn vẫn yên tĩnh và ít đông đúc hơn bất cứ thị trấn nào Philip đã đi qua. Những nơi như Salisbury hay Hefold dường như bị bó kín trong các bức tường, giống như một người mập trong chiếc áo dài: những căn nhà quá gần nhau, sân sau quá nhỏ, khu chợ quá đông đúc, đường sá quá chật hẹp; và người và súc vật như tranh giành nhau chỗ ở, tạo nên cảm giác như một cuộc chiến có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Nhưng Winchester rộng rãi, dường như đủ chỗ cho mọi người. Khi đi xung quanh, Philip dần dần nhận ra một phần nguyên do của cảm giác rộng rãi này là vì các đường phố được sắp xếp theo mô hình giống như lưới sắt vuông. Các đường phố hầu hết thẳng đứng và giao nhau ở góc bên phải. Ông chưa bao giờ thấy như vậy. Thị trấn được xây theo một dự án. Có hàng chục nhà thờ, đủ kiểu và kích thước khác nhau. Một vài cái được xây bằng gỗ, những cái khác bằng đá, mỗi cái phục vụ cho nhu cầu riêng của từng khu phố nhỏ. Thành phố chắc phải giầu có để trợ cấp cho nhiều linh mục.

Đi dọc theo đường Fleshmonger, ông cảm thấy muốn bệnh. Chưa bao giờ ông nhìn thấy quá nhiều thịt sống trong một chỗ như thế này. Máu chẩy ra từ cửa hàng thịt xuống đường, những con chuột mập mạp chạy qua chân khách hàng.

Phía cuối nam của con đường Fleshmonger dẫn vào giữa đường High Street, đối diện với dinh thự hoàng gia cũ. Các vua đã không sử dụng dinh thự này từ khi pháo đài mới được xây trong lâu đài, Philip đã nghe nói như vậy, nhưng những đồng tiền xu của hoàng gia vẫn được đúc trong tầng hầm của tòa nhà, được bao bọc bởi tường dầy và cửa sắt. Philip đứng lại một lúc trước song sắt, nhìn những tia lửa tung tóe khi chiếc búa đập xuống khuôn. Ông kinh hoàng về sự giầu có trước mắt mình.

Một số đông người khác cũng đứng trước cửa xem. Không nghi ngờ gì, đó là một cảnh mà khách đến Winchester đều muốn coi. Một phụ nữ trẻ đứng bên cạnh mỉm cười với Philip, và ông cười lại. Cô nói: “Với một đồng xu, bạn có thể làm bất cứ gì bạn muốn.”

Ông tự hỏi không biết cô ta muốn nói gì và ông thờ ơ mỉm cười lại. Rồi cô ta mở áo choàng, và ông kinh hoàng thấy rằng dưới áo choàng cô ta hoàn toàn khỏa thân. “Bất cứ điều gì bạn muốn, chỉ một xu bạc thôi,” cô nói.

Ông cảm thấy một khuấy động nhẹ của mong muốn, giống như bóng ma của trí nhớ đã lâu ngày bị quên lãng; rồi ông nhận ra cô là một gái điếm. Ông đỏ mặt vì bối rối. Ông quay lại và vội vã bỏ đi. “Đừng sợ,” cô gọi theo. “Tôi thích một đầu trọc.” Tiếng cười chế nhạo đuổi theo ông.

Cảm thấy nóng và bực bội, ông rẽ xuống đường hẻm dẫn ra chợ. Ông có thể thấy đàng sau quầy hàng tháp nhà thờ vút cao. Ông vội vã xuyên qua đám đông, bỏ ngoài tai tiếng chào hàng, và tìm đường vào sân nhà thờ.

Ông cảm thấy sự yên lặng trật tự của nhà thờ giống như một cơn gió mát. Ông dừng lại bên nghĩa trang và tập trung lại tư tưởng. Ông cảm thấy xấu hổ và tức giận. Làm sao cô ta dám thử thách một người trong tu phục tu sĩ? Rõ ràng cô ta cho rằng ông là một du khách… Có phải những tu sĩ khi ra khỏi tu viện là khách hàng của cô? Dĩ nhiên, nó có thể, ông nhận ra. Các tu sĩ cũng phạm các tội mà người bình thường phạm. Ông bị sốc vì sự trơ tráo cả người phụ nữ. Hình ảnh sự trần truồng vẫn tồn tại trong ông, giống như ngọn bấc của một cây nến, nó có thể bốc cháy đàng sau đôi mắt khép kín.

Ông thở dài. Đó là một buổi sáng đầy hình ảnh: con kênh nhân tạo, con chuột trong cửa hàng thịt, đống bạc xu mới đúc, người phụ nữ trần truồng. Philip biết rằng những hình ảnh này sẽ trở lại với ông trong giờ suy niệm.

Ông đi vào nhà thờ chính tòa. Ông cảm thấy quá bẩn thỉu để quỳ gối cầu nguyện, nhưng chỉ cần đi dọc xuống gian giữa cũng có thể gột rửa ông đôi chút. Ông ra cửa phía nam, xuyên qua tu viện đến dinh thự giám mục.

Tầng trệt là một nhà nguyện. Philip lên cầu thang tới hội trường và bước vào. Một đám nhỏ người giúp việc và giáo sĩ trẻ ở gần cửa ra vào, đứng xung quanh hoặc ngồi trên ghế băng sát tường. Ở cuối phòng Waleran và Giám mục Henry đang ngồi ở một cái bàn. Người quản gia nói: “Giám mục đang ăn sáng,” như thể ông ta muốn ngăn ông không được gặp họ.

“Tôi sẽ cùng bàn với họ,” Philip nói.

“Tốt hơn ông nên đợi,” người quản gia nói.

Philip cho rằng người quản gia nghĩ ông chỉ là một tu sĩ bình thường. “Tôi là tu viện trưởng của Kingsbridge,” ông nói.

Người quản gia nhún vai và đứng qua một bên. Philip đến bàn ăn. Gám mục Henry ngồi ở đầu, Waleran bên tay phải của ông. Henry là một người thấp, vai rộng, khuôn mặt hay gây gỗ. Ông trạc tuổi như Waleran, một hai tuổi lớn hơn Philip; chưa ngoài ba mươi. Tuy nhiên, trái ngược với làn da trắng bệch của Waleran và thân hình gầy gò của Philip, Henry  có nước da hồng hào, chân tay mập mạp, chứng tỏ ông là người thích ăn uống. Mắt ông tỉnh táo và thông minh, khuôn mặt ông nói lên tính quyết định. Là người trẻ nhất trong bốn anh em, có lẽ ông đã phải tranh đấu cho mọi thứ trong đời ông. Philip ngạc nhiên vì đầu ông trọc, một dấu hiệu cho thấy ông đã sống trong tu viện và vẫn coi mình là một tu sĩ. Tuy nhiên, ông không mặc vải thô, mà ông mặc áo dài đẹp nhất làm bằng lụa màu tím.

Waleran mặc một áo sơ mi lụa trắng dưới lớp áo dài đen, và Philip nhận ra rằng cả hai đều ăn mặc chuẩn bị cho buổi tiếp kiến với nhà vua. Họ ăn thịt bò nguội và uống rượu đỏ. Philip đói bụng sau cuộc đi bộ, miệng ông đầy nước. Waleran nhìn lên thấy Philip và một nét khó chịu nhẹ hiện trên mặt ông.

“Xin kính chào,” Philip nói.

Waleran nói với Henry: “Đây là tu viện trưởng của tôi.”

Philip không hài lòng lắm vì được gới thiệu là tu viện trưởng của Waleran.

Ông nói: “Philip thành Gwyned, tu viện trưởng của Kingsbridge, thưa giám mục.”

Philip dự định hôn nhẫn giám mục, nhưng Henry chỉ nói: “Thật tuyệt!” và đưa lên miệng một miếng thịt bò. Philip đứng đó lúng túng không biết phải xử thế làm sao. Họ không mời ông ngồi sao?

Waleran nói: “Chúng tôi sẽ gặp ông sau, Philip.”

Philip nhận ra là ông bị từ chối. Ông quay đi, cảm thấy bị bẽ mặt. Ông trở lại nhóm đứng gần cửa. Người quản gia, người đã cố ngăn Philip lại, cười với ông bằng một cái nhìn như muốn nói “tôi đã bảo rồi mà.” Philip đứng xa những người khác. Chợt ông cảm thấy xấu hổ về chiếc áo choàng màu nâu ông đã mặc ngày mặc đêm trong nửa năm qua. Các tu sĩ dòng Biển Đức thường nhuộm tu phục màu đen, nhưng từ nhiều năm nay Kingsbridge đã bỏ thói quen đó vì tiết kiệm tiền. Philip luôn tin rằng mặc quần áo đẹp là xa hoa, không thích hợp với những người dâng mình cho Chúa, ngay cả ở trong địa vị nào; nhưng bây giờ ông nhìn ra vấn đề. Có lẽ nếu ông đến trong quần áo lụa và lông thú, ông sẽ không bị ngược đãi như hôm nay. À, tốt, ông nghĩ, một tu sĩ phải khiêm nhường, vì thế mà nó tốt cho linh hồn tôi.

Hai giám mục rời bàn ăn và đến bên cửa. Một người tùy tùng chuẩn bị cho Henry một chiếc áo choàng màu đỏ có thêu và đường viền bằng lụa. Khi ông mặc áo, Henry nói: “Hôm nay ông không phải nói nhiều, Philip.”

Waleran thêm vào: “Hãy để chúng tôi nói.”

Henry nói: “Hãy để tôi nói,” ông nhấn mạnh trên chữ ‘tôi’. “Nếu vua hỏi ông, hãy trả lời rõ ràng và đừng phóng đại sự kiện. Nhà vua biết nhu cầu ông muốn có nhà nhờ mới mà không cần ông phải rên la hay nghiến răng.”

Philip không cần phải dặn điều đó. Tuy nhiên Philip gật đầu đồng ý và che dấu sự phẫn uất của mình.

“Chúng ta đi thôi,” Henry nói. “Anh tôi dậy sớm, và xử lý nhanh chóng công việc, sau đó đi săn bắn trong rừng.”

Họ đi ra. Một kỵ binh mang một thanh gươm ngang lưng, trên tay cầm một cây gậy đi trước Henry khi họ đi bộ tới High Street và rồi lên đồi theo hướng cổng phía tây. Người ta đứng qua hai bên cho hai giám mục đi qua, nhưng không nhường chỗ cho Philip, vì thế ông lẽo đẽo theo sau. Lâu lâu có người xin phép lành và Henry làm dấu thánh giá trên không, nhưng không dừng bước. Đến trước cổng nhà họ đi sang đường bên cạnh và qua cây cầu gỗ bắt ngang thành hào. Mặc dù được bảo đảm rằng ông không phải nói nhiều, Philip vẫn có một nỗi sợ trong lòng: ông sắp được gặp vua.

Lâu đài ở góc phía tây nam của thành phố. Tường phía tây và nam của nó là một phần tường của thành phố. Nhưng bức tường chia cách phía sau lâu đài và thành phố cũng không kém cao và chắc chắn so với tường phòng thủ bên ngoài, như thể nhà vua cần được bảo vệ trước thế giới bên ngoài cũng như trước các công dân của mình.

Họ đi vào qua cổng thấp và đến ngay pháo đài kiên cố trội hẳn lên giữa khu vực lâu đài. Nó là một tháp hình vuông. Đếm các lỗ châu mai, Philip nghĩ nó phải cao bốn tầng. Như thông thường, tầng trệt bao gồm nhà kho, một cầu thang bên ngoài dẫn đến lối vào tầng trên. Hai người lính gác dưới chân cầu thang cúi chào khi Henry đi qua.

Họ đi vào hội trường. Hội trường có nền trải thảm, có một lò sưởi, một vài ghế băng và vài chỗ ngồi được khoét trong tường. Trong góc, hai binh sĩ gác cầu thang dẫn lên lầu. Một người nhận ngay ra giám mục Henry. Ông gật đầu và lên cầu thang, có lẽ báo tin cho vua là em vua đang đợi.

Philip toát mồ hôi vì lo âu. Trong vài phút nữa tương lai ông sẽ được định đoạt. Ông ước gì có thể tin tưởng hơn vào những người đồng minh của mình, và ước gì buổi sáng nay đã quỳ cầu nguyện cho sự thành công của mình thay vì đi dạo phố Winchester. Ông ước gì đã mặc một chiếc áo sạch sẽ hơn.

Có hai mươi hay ba mươi người khác trong phòng, hầu hết là đàn ông. Dường như họ là một tập thể hỗn hợp gồm hiệp sĩ, linh mục và dân thành thị giầu có. Bất ngờ Philip ngạc nhiên: Percy Hamleigh ở bên cạnh lò sưởi, đang nói chuyện với một bà và một thanh niên. Ông ấy làm gì ở đây? Người đàn bà xấu xí là vợ ông và chàng trai là người con trai tàn bạo của họ. Họ là những cộng tác viên đắc lực của Waleran trong việc lật đổ Bartholomew: Nó khó có thể là một trùng hợp ngẫu nhiên mà họ có mặt hôm nay ở đây. Philip tự hỏi không biết Waleran có chờ đợi họ không. Philip nói với Waleran: “Ông có thấy…”

“Tôi thấy họ,” Waleran ngắt lời, rõ ràng không hài lòng.

Philip cảm thấy sự hiện diện của họ ở đây là một điều đáng lo ngại, mặc dù ông không thể nói lý do tại sao. Ông quan sát họ. Bố con giống nhau: to lớn, vạm vỡ, mái tóc vàng và khuôn mặt ủ rũ. Người đàn bà trông như quỷ, giống như các bức tranh vẽ về quỷ đang tra tấn tội nhân trong hỏa ngục. Bà ta không ngừng cạy các vết mụn trên mặt, tay bà luôn cử động. Chiếc áo choàng màu vàng bà đang mặc làm bà trông xấu hơn. Hai chân bà luôn di chuyển, mắt bà dõi theo mọi nơi trong phòng. Bà bắt gặp ánh mắt của Philip, ông vội vã quay đi.

Giám mục Henry di chuyển quanh phòng, chào những người ông quen biết, chúc lành cho những người khác, nhưng có lẽ mắt ông luôn để ý đến cầu thang, vì khi người lính đi xuống và nhìn ông gật đầu, ông vội vàng bỏ ngang cuộc nói chuyện.

Waleran theo Henry lên cầu thang và Philip theo sau với trái tim đập mạnh.

Căn phòng trên lầu cũng có cùng kích thước và hình dạng như lối vào hội trường, nhưng nó hoàn toàn khác. Tường được trang trí bằng những tấm thảm và sàn nhà được trải thảm bằng da cừu. Ngọn lửa cháy đỏ và căn phòng được thắp sáng bởi chục ngọn nến. Gần cửa ra vào là một bàn bằng gỗ sồi với bút mực và một chồng thư từ bằng da. Bên bàn là một giáo sĩ ngồi chờ viết chính tả cho vua. Gần lò sưởi, nhà vua ngồi trong một chiếc ghế gỗ phủ lông.

Điều đầu tiên mà Philip chú ý là nhà vua không đội vương miện. Ông mặc một áo dài màu tím bên trên quần da, giống như ông đang chuẩn bị đi ngựa. Hai chó săn lớn nằm dưới chân như cận thần trung thành. Ông trông giống em trai giám mục Henry, nhưng đường nét của Stephen đẹp hơn, và tóc ông màu hung. Tuy nhiên, họ có đôi mắt thông minh như nhau. Ông ngồi sâu trong ghế to – Philip cho là ngai vàng – trông có vẻ thoải mái, hai chân duỗi ra phía trước và hai tay dựa trên thành ghế. Mặc dù thế, một bầu khí căng thẳng bao trùm trong phòng.  Chỉ có nhà vua là thoải mái.

Khi các giám mục và Philip bước vào, một người đàn ông to lớn trong bộ quần áo đắt tiền rời khỏi phòng. Ông thân thiện gật đầu chào Henry, nhưng không để ý đến Waleran. Ông chắc là người có thế lực, Philip nghĩ.

Giám mục Henry đến gần vua, cúi chào và nói: “Xin chào, Stephen.”

“Tôi vẫn chưa thấy tên khốn nạn Ranulf,” Vua Stephen nói. “Nếu ông ấy không xuất hiện sớm, tôi sẽ chặt ngón tay ông ấy.”

Henry nói: “Một ngày gần đây ông sẽ đến, tôi hứa, nhưng dù sao có lẽ ông phải chặt ngón tay ông ấy.”

Philip không biết Ranulf là ai và tại sao nhà vua lại muốn gặp ông ta, nhưng ông có cảm tưởng rằng mặc dù Stephen không hài lòng, ông vẫn không thực sự có ý định cắt ngón tay Ranulf. Trước khi Philip có thể nghĩ thêm, Waleran bước lên và cúi đầu, và Henry nói: “Chắc ông nhớ Waleran Bigod, tân giám mục của Kingsbridge.”

“Có,” Stephen nói, “nhưng còn ai kia?” Ông nhìn vào Philip.

Waleran nói: “Đây là tu viện trưởng của tôi.”

Waleran không nêu tên ông, Philip ngạc nhiên về điều đó. “Philip thành Gwynedd, tu viện trưởng của Kingsbridge.” Giọng ông to hơn ông dự định. Ông cúi chào.

“Tới gần đây, cha tu viện trưởng,” Stephen nói. “Ông có vẻ sợ. Ông đang có điều gì phải lo lắng?”

Philip không biết phải trả lời làm sao. Ông đang có nhiều điều để lo. Trong tuyệt vọng, ông trả lời: “Tôi lo lắng vì tôi không có quần áo tươm tất hơn để mặc.”

Stephen cười to, nhưng không phải là nụ cười đểu cáng. “Vậy hãy ngưng lo lắng,” ông nói. Liếc mắt nhìn về người em trong bộ quần áo đẹp đẽ, ông nói thêm: “Tôi muốn một tu sĩ trông như một tu sĩ, không phải trông như vua.”

Philip cảm thấy thoải mái hơn.

Stephen nói: “Tôi đã nghe nói về cuộc hỏa hoạn. Ông đang xử lý như thế nào?”

Philip nói: “Vào ngày có hỏa hoạn, Thiên Chúa đã gửi đến cho chúng tôi một thợ xây. Ông đã nhanh chóng sửa sang lại tu viện và chúng tôi dùng tầng hầm cho các giờ kinh. Với sự giúp đỡ của ông ấy, chúng tôi đã dọn sạch đống đổ nát, sẵn sàng xây mới lại; và ông ấy đã thiết kế dự án nhà thờ mới.”

Waleran nhướng mày, ông không biết về kế hoạch này. Philip sẽ nói cho ông nếu ông hỏi; nhưng ông đã không hỏi gì. Nhà vua nói: “Thật đáng khen. Khi nào ông bắt đầu xây?”

“Khi nào tôi tìm ra tiền.”

Giám mục Henry chen vào: “Đó là lý do tại sao tôi đưa Tu viện trưởng Philip và giám mục Waleran đến gặp ông. Cả tu viện lẫn giáo phận đều không có nguồn kinh phí cho một dự án to lớn như thế.”

“Nhà vua cũng vậy, em thân yêu ạ,” Stephen nói.

Philip thất vọng: Đó không phải là một khởi đầu đầy hứa hẹn.

“Tôi biết,” Henry nói. “Vì thế tôi đã tìm cách để ông có thể tạo cho họ cơ hội xây lại nhà thờ Kingsbridge, nhưng chính ông không phải mất gì cả.”

Stephen nhìn hoài nghi. “Và ông có thể đưa ra một kế hoạch ma thuật để làm được chuyện đó?”

“Vâng. Đề nghị của tôi là ông nên giao cho giáo phận đất đai của bá tước ở Shiring để tài trợ cho dự án xây dựng.”

Philip ngừng thở.

Nhà vua trông có vẻ tư lự.

Waleran mở miệng nói, nhưng Henry ra dấu cho ông im lặng.

Nhà vua nói: “Đó là một ý tưởng rõ ràng. Tôi muốn làm điều đó.”

Trái tim Philip nhẩy mừng.

Nhà vua nói: “Thật không may, tôi hầu như đã hứa trao lãnh địa này cho Percy Hamleigh.”

Một tiếng kêu toát ra từ miệng Philip. Ông đã nghĩ nhà vua đã đồng ý. Sự thất vọng này giống như một vết dao đâm. Henry và Waleran chết lặng. Không ai dự đoán điều đó. Henry là người đầu tiên mở miệng. Ông nói: “Hầu như?”

Nhà vua nhún vai. “Tôi có thể qua cách nào đó luồn lách qua nó, nhưng không phải là không có bối rối. Nhưng thực ra Percy là người đã đưa kẻ phản bội Bartholomew ra trước công lý.”

Waleran bật miệng nói: “Nhưng không phải là không có sự giúp đỡ, thưa nhà vua.”

“Tôi biết ông có góp phần trong đó.”

“Tôi là người đã nói cho Percy Hamleigh về âm mưu chống lại ông.”

“Đúng. Nhân tiện tôi muốn hỏi, làm sao ông biết được về nó?”

Chân Philip bối rối. Họ ở trong tình trạng nguy hiểm. Không ai được biết rằng thông tin này đầu tiên phát ra từ em của ông, Francis, bởi vì Francis vẫn còn làm việc cho Robert thành Gloucester, người đã được tha cho tội tham gia vào vụ mưu phản. Waleran nói: “Thông tin này đến từ cuộc xưng tội của một người trước khi chết.”

Philip thở phào nhẹ nhõm. Waleran lập lại lời nói dối mà Philip đã nói với ông, nhưng ông nói như “cuộc xưng tội” này đã xẩy ra với ông, chứ không phải với Philip. Philip hài lòng khi vai trò của ông trong chuyện này ít được chú ý đến.

Nhà vua nói: “Tuy vậy, chính Percy chứ không phải ông, người đã tấn công lâu đài của Bartholomew, mạo hiểm đời sống và tính mạng mình, và đã bắt giữ kẻ phản bội.”

“Ông có thể thưởng cho Percy bằng cách khác,” Henry cắt ngang.

“Ông ấy muốn Shiring,” nhà vua nói. “Ông ấy quen thuộc vùng đó và ông ấy sẽ cai trị vùng đó tốt. Tôi có thể cho ông ta Cambridgeshire, nhưng vấn đề là dân cư vùng đầm lầy đó có theo ông ấy không?”

Henry nói: “Ông phải cảm ơn Chúa trước rồi mới đến người. Chính Chúa là người cho ông làm vua.”

“Nhưng chính Percy là người đã bắt giữ Bartholomew.”      

Henry kiềm chế trước sự vô lễ này.  “Thiên Chúa điều khiển tất cả…”

“Đừng ép buộc tôi theo cách ấy,” Stephen giơ cánh tay phải lên nói.

“Tất nhiên,” Henry nói một cách phục tùng.

Nó là một minh chứng sống động về uy quyền của nhà vua. Trong khoảnh khắc, họ đã tranh cãi gần như bình đẳng, nhưng với một lời nói, Stephan đã lấy lại thế thượng phong.

Philip thất vọng cay đắng. Lúc đầu ông nghĩ đó là một đòi hỏi không thể, nhưng ông dần dần hy vọng nó sẽ được cấp cho ông, và ngay cả tưởng tượng ông sẽ làm gì với sự giầu có ấy. Bây giờ ông ngã xuống thực tế một cách đau đớn.

Waleran nói: “Thưa vua, tôi cảm ơn nhà vua đã sẵn sàng xem xét lại số phận của lãnh địa Shiring, và tôi chờ đợi quyết định của ngài một cách lo âu và trong sự cầu nguyện.”

Thật khôn ngoan, Philip nghĩ. Nó dường như Waleran đã hài lòng tùng phục. Trong thực tế ông kết luận lại bằng cách nói rằng vấn đề vẫn còn mở. Nhà vua đã không nói như thế. Nếu có nói thì câu trả lời của ông chỉ là tiêu cực. Nhưng không có gì là khăng khăng đòi hỏi, vì thế mà nhà vua có thể quyết định cách này hay cách khác. Tôi phải nhớ điều đó, Philip nghĩ: Khi bạn hầu như bị từ chối, hãy tìm cơ hội trì hoãn.

Stephen do dự một lúc, như thể ông sợ lời nói của ông bị lợi dụng. Sau đó dường như ông vượt qua mọi nghi ngờ và nói: “Cảm ơn tất cả đã đến gặp tôi.”

Philip và Waleran quay ra về, nhưng Henry đứng nguyên và nói: “Khi nào chúng tôi được biết quyết định của ông?”

Một lần nữa Stephan lại cảm thấy bị dồn vào chân tường. “Ngày mốt,” ông nói. Henry cúi đầu rồi cả ba đi ra.

Sự không chắc chắn cũng gần xấu như một lời từ chối. Đối với Philip, thời gian chờ đợi không thể chịu đựng được. Cả buổi chiều ông thưởng lãm bộ sưu tập sách tuyệt vời của tu viện, nhưng chúng không làm ông quên được nỗi phân vân không biết nhà vua đang nghĩ gì. Ông có thể rút lại lời hứa với Percy Hamleigh không? Percy có quan trọng lắm không? Ông là một thành viên của tầng lớp quý tộc, người mong muốn có được một lãnh địa – chắc chắn Stephen không sợ làm mất lòng ông. Nhưng Stephen muốn giúp Kingsbridge tới mức độ nào?

Vua chúa được biết đến họ sẽ sùng đạo khi tuổi đã về già. Stephen còn quá trẻ. Philip nghĩ đi nghĩ lại những khả năng có thể xẩy ra, nhìn vào cuốn sách ‘Niềm an ủi triết học’ của tác giả Boethius, nhưng không đọc. Một tập sinh rón rén đi theo hành lang tu viện đến gặp ông. “Có một người yêu cầu được gặp cha ngoài hành lang,” cậu thì thầm.

Một người khách muốn gặp ngoài hành lang có nghĩa là người đó không phải là tu sĩ. “Ai vậy?” Philip hỏi.

“Một người đàn bà.”

Philip kinh hoàng nghĩ đến cô gái điếm đã gạ gẫm ông buổi sáng nay trước lò đúc tiền xu; nhưng một cái gì đó trong cách diễn tả của người tập sinh nói lên điều gì khác. Có một người đàn bà khác mà ánh mắt bà đã gặp ông sáng nay. “Bà ta nhìn ra sao?” Cậu ta làm bộ mặt ghê tởm.

Philip gật đầu, ông hiểu. “Regan Hamleigh.” Bà lại dở trò ma quỷ gì nữa đây? “Tôi sẽ đến ngay.” Ông trầm tư chậm rãi bước trong hành lang tu viện ra đến sân. Ông cần sự thông minh để đối phó với người đàn bà này.

Bà đứng trước phòng đợi, quấn mình trong áo choàng nặng, giấu mặt trong mũ áo. Bà nhìn Philip bằng một cái nhìn ác ý đến nỗi ông muốn quay gót ngay; nhưng ông xấu hổ phải trốn chạy trước một người phụ nữ, vì thế ông đứng lại và nói: “Bà muốn gì nơi tôi?”

“Ông, vị tu sĩ ngu ngốc,” bà phun ra. “Làm sao ông có thể ngu ngốc như thế?”

Philip đỏ mặt. “Tôi là tu viện trưởng ở Kingsbridge, và tốt hơn bà nên gọi tôi là cha,” ông nói; nhưng vì ông giận dữ nên giọng ông nóng nẩy hơn là có thẩm quyền.

“Được, thưa cha – Làm sao mà ông lại để hai giám mục tham lam lợi dụng mình?”

Philip hít sâu một hơi thở. “Hãy nói rõ ràng,” ông tức giận nói.

“Thật khó để tìm được những từ rõ ràng cho những người ngu ngốc như ông, nhưng tôi sẽ cố gắng. Waleran muốn dùng nhà thờ bị hỏa hoạn làm cớ để chiếm lãnh địa Shiring cho riêng ông ấy. Nói như vậy đã rõ chưa? Ông có hiểu kế hoạch này không?” Giọng điệu khinh bỉ của bà tiếp tục gây tức giận cho Philip, nhưng ông không thể thể chịu đựng được nữa.

Ông phản kháng lại: “Không có gì là ám muội trong chuyện này cả. Các thu nhập từ lãnh địa được dùng để xây dựng lại nhà thờ chính tòa.”

“Ông có lý do nào để nghĩ như vậy?”

“Tất cả vì mục đích đó!” Philip chống đối; nhưng ở một góc trong đầu ông đã bắt đầu rung lên mối nghi ngờ.

Giọng điệu khinh bỉ của Regan thay đổi và bây giờ bà trở thành ranh mãnh. “Mảnh đất mới thuộc về tu viện hay thuộc về địa phận?” bà hỏi.

Philip đăm đăm nhìn bà, rồi quay đi chỗ khác: khuôn mặt bà quá kinh tởm để nhìn vào. Ông đã cho rằng mảnh đất này thuộc tu viện và dưới sự kiểm soát của ông, hơn là thuộc địa phận dưới quyền của Waleran. Nhưng bây giờ ông nhớ lại khi họ gặp nhà vua, Giám mục Henry đã đặc biệt xin mảnh đất đó cho địa phận. Philip cho rằng đó chỉ là một lỗi lầm trong lời nói, nhưng sau đó nó cũng không được sửa lại. Ông nhìn Regan nghi ngờ. Bà ta không thể biết những gì Henry nói với nhà vua.

Bà ta có thể đúng trong vấn đề này. Mặt khác, bà ta cố gắng gây ra rắc rối. Bà ta đã có tất cả mọi thứ để đạt được từ cuộc tranh cãi giữa Philip và Waleran vào thời điểm này. Philip nói: “Waleran là giám mục – ông phải có một nhà thờ chính tòa.”

“Ông ấy phải có nhiều thứ nữa,” bà đáp lại. Bà ít ác độc và trở nên nhân bản hơn, nhưng Philip vẫn không thể nhìn lâu vào bà. “Đối với một số giám mục, một nhà thờ chính tòa đẹp là ưu tiên hàng đầu. Đối với Waleran, ông còn nhiều nhu cầu khác. Ngoài ra, bao lâu ông kiểm soát túi tiền, ông có thể chia cho ông và thợ xây của ông ít hay nhiều tùy theo ý ông ấy.”

Philip nhận ra bà ấy có lý, ít nhất về điều đó. Nếu Waleran được thu tiền thuê, dĩ nhiên ông sẽ giữ lại một phần cho chi phí của mình. Ông là người duy nhất có thể quyết định. Không gì có thể ngăn cản ông dùng tiền xây nhà thờ cho mục đích khác. Và Philip sẽ không biết, tháng tới ông có khả năng thanh toán tiền cho các thợ xây không.

Không nghi ngờ gì, nếu tu viện sở hữu mảnh đất thì sẽ tốt hơn. Nhưng Philip chắc chắn Waleran sẽ chống lại ý tưởng đó và Giám mục Henry sẽ hỗ trợ Waleran. Khi đó niềm hy vọng duy nhất của Philip sẽ là cầu cứu nhà vua. Và vua Stephen, khi nhìn thấy giáo hội chia rẽ, sẽ giải quyết vấn đề bằng cách trao lãnh địa vào tay Percy Hamleigh.

Dĩ nhiên, đó là điều Regan muốn.

Philip lắc đầu. “Khi Waleran muốn lừa gạt tôi, tại sao ông ấy lại đưa tôi đến đây? Ông ấy có thể đến đây một mình và cũng có thể tự mình xin điều này.”

Bà gật đầu. “Ông ấy có thể. Nhưng nhà vua sẽ tự hỏi việc xin lãnh địa để xây nhà thờ chính tòa của Waleran có thành thật không. Sự xuất hiện của ông đánh tan nghi ngờ của ông ấy.” Giọng bà lại trở nên khinh bỉ. “Và ông trông rất thảm hại trong bộ áo dòng bẩn của ông, và nhà vua thương hại ông. Không, Waleran rất thông minh khi mang ông theo.”

Một cảm giác kinh hoàng len lỏi vào ông. Có lẽ bà ấy có lý nhưng ông không muốn thừa nhận điều đó. “Bà chỉ muốn lãnh địa cho chồng bà,” ông nói.

“Tôi sẽ chỉ cho ông biết bằng cớ, nếu ông có thể đi với tôi nửa ngày đàng để thấy nó?”

Điều Philip sợ là bị kéo vào âm mưu của Regan Hamleigh. Nhưng ông phải tìm hiểu xem lời cáo buộc của bà có đúng sự thật không. Bất đắc dĩ, ông nói: “Vâng, tôi sẽ đi nửa ngày đàng.”

“Ngày mai?”

“Vâng.”

“Ông hãy sẵn sàng vào lúc bình minh.”

Đó là William Hamleigh, người con của Percy và Regan, người sáng hôm sau đợi Philip ngoài sân trong khi ông đọc kinh sáng. Philip và William rời Winchester qua cổng phía tây, rồi ngay lập tức quẹo vào con đường Athelynge phía bắc. Dinh thự của Waleran ở hướng này, Philip nhận ra; và nó cách đây nửa ngày đàng. Vì thế đó là nơi họ sẽ đến. Nhưng tại sao? Ông rất nghi ngờ và nghĩ mình phải cảnh giác. Gia đình Hamleigh cũng có thể lợi dụng ông. Ông suy nghĩ xem họ muốn dùng ông cách nào. Có thể gia đình Hamleigh muốn xem hoặc ngay cả ăn cắp một tài liệu của Waleran – một hợp đồng hay một đặc quyền của hoàng gia. Bá tước trẻ William có thể nói với nhân viên của Waleran rằng họ được sai đến để lấy tài liệu: họ có thể tin vì Philip đi chung với cậu ấy. William dễ dàng có mánh khóe này hoặc những cái tương tự. Philip phải luôn luôn cảnh giác.

Buổi sáng hôm đó trời ảm đạm và mưa phùn. William phi ngựa nhanh trên những dặm đường dầu tiên, sau đó cậu chạy chậm lại cho ngựa nghỉ ngơi. Một lúc sau cậu nói: “Này ông tu sĩ, ông muốn lấy lãnh địa của tôi à?”

Philip sửng sốt vì giọng điệu thù nghịch của cậu ấy: ông đã không làm gì để gây ra thù nghịch và ông tức giận về nó. Ông trả lời mạnh mẽ. “Của cậu? Này cậu bé, cậu không có thể nhận nó. Có thể tôi sẽ nhận được, hoặc bố cậu hoặc giám mục Waleran. Nhưng không ai đã yêu cầu nhà vua cho cậu. Vì thế ý tưởng của cậu là một trò đùa.”

“Tôi sẽ thừa hưởng nó.”

“Rồi sẽ hay.” Philip quyết định không nên cãi nhau với William về điểm đó. “Tôi không muốn làm hại gì cậu,” ông nói bằng giọng hòa giải. “Tôi chỉ muốn xây một nhà thờ mới.”

“Vậy thì lấy lãnh địa của người khác,” William nói. “Tại sao người ta luôn luôn nhắm vào chúng tôi?”

Giọng nói của William chứa đựng nhiều cay đắng, Philip nhận thấy. Ông hỏi: “Mọi người luôn gây chuyện với cậu sao?”

“Số phận của Bá tước Bartholomew phải là một bài học cho họ. Ông ấy đã làm sỉ nhục gia đình tôi và ông xem, bây gờ ông ấy đang ở đâu.”

“Tôi nghĩ, chính con gái của ông ấy mới là người gây nên vấn đề.”

“Con chó cái đó cũng tự hào và kiêu ngạo như bố của cô ấy. Nhưng cô ấy sẽ còn phải đau khổ nữa. Sau cùng, tất cả họ sẽ phải quỳ gối trước mặt chúng tôi. Rồi ông sẽ thấy.”

Đây không phải là một cảm xúc bình thường của một chàng trai hai mươi tuổi, Philip nghĩ. Cách nói của cậu là của một người trung niên đầy ghen tị và ghê gớm. Philip không thích cuộc nói chuyện. Hầu hết mọi người thường mặc cho sự thù hận trần truồng của mình bằng những bộ quần áo hợp lý, nhưng William quá ngây thơ để làm chuyện đó. Philip nói: “Tốt nhất nên để sự trả thù cho ngày phán xét sau cùng.”

“Tại sao ông không đợi đến ngày phán xét sau cùng rồi mới xây nhà thờ?”

“Bởi vì khi đó đã quá trễ để cứu các linh hồn tội nhân khỏi đau khổ của hỏa ngục.”

“Đừng bắt đầu với chuyện đó!” William nói và trong giọng cậu có tính hiếu chiến. “Hãy để dành chuyện đó cho bài giảng của ông.”

Philip muốn phản kháng mạnh mẽ, nhưng ông kìm lại được. Có một điều gì bất thường nơi cậu bé này. Philip có cảm giác rằng William có thể nổi giận bất cứ lúc nào mà cậu không kiềm chế được, và nó có thể đi đến bạo lực chết người. Philip không sợ cậu. Ông không sợ những người hung tợn, có lẽ bởi vì khi còn nhỏ ông đã chứng kiến điều tồi tệ nhất mà họ có thể làm và ông vẫn sống sót. Nhưng lời khiển trách William chẳng mang lại kết quả gì, nên ông nói nhẹ nhàng: “Thiên đàng và hỏa ngục là lãnh vực của tôi. Cũng như đức hạnh và tội lỗi, tha thứ và trừng phạt, tốt và xấu. Tôi sợ rằng tôi sẽ không thể không nói về chúng.”

“Vậy hãy tự nói cho mình nghe,” William nói và thúc ngựa tiến lên phía trước. Sau khi cậu đã đi bên trước được bốn hay năm dặm, cậu cho ngựa chạy chậm lại. Philip tự hỏi không biết có phải cậu bé bớt giận và muốn trở lại đi bên cạnh ông không; nhưng không phải vậy, và trong cả buổi sáng hôm đó, họ đi riêng.

Philip cảm thấy lo lắng và thất vọng. Ông không còn làm chủ được số phận của mình. Ông đã để cho Waleran Bigod lãnh đạo Kingsbridge, và bây giờ ông lại để Williamm Hamleigh đưa ông vào cuộc du hành bí ẩn.

Họ luôn cố gắng lợi dụng tôi, ông nghĩ; tại sao tôi để họ làm thế? Đã đến lúc tôi phải chủ động. Nhưng ngay bây giờ ông không thể làm gì được, ngoài trừ quay lại và trở về Winchester, và điều đó dường như vô ích, vì thế ông tiếp tục theo sau William, và chán nản nhìn đuôi ngựa của William chạy phía trước.

Trước trưa họ đến thung lũng nơi có dinh thự giám mục. Philip nhớ lại vào đầu năm nay ông đã đến đây, đầy lo âu, mang theo một bí mật chết người. Và từ đó bao nhiêu chuyện đã thay đổi.

Philip ngạc nhiên vì William cưỡi ngựa ngang qua dinh thự và lên đồi. Con đường dẫn vào một lối đi hẹp giữa cánh đồng. Khi họ lên đến đỉnh đồi, Philip nhìn thấy một vài công rình xây dựng đang diễn ra. Ngay dưới đỉnh đồi họ bị chặn lại bởi một bức tường đất trông giống như vừa mới được đào lên. Trong lòng ông gợn lên một mối nghi ngờ khủng khiếp.

Họ quay sang bên và đi dọc theo bức tường đất cho đến khi tìm được lối vào. Họ đi vào. Phía trong bức tường là một hào khô được đổ đầy đất vào lúc này để mọi người có thể qua lại.

Philip nói: “Chúng ta đến xem cái này sao?” William chỉ gật đầu.

Dự đoán của Philip đã được xác nhận. Waleran đang xây một lâu đài. Philip thất vọng.

Ông thúc ngựa về phía trước và qua con mương, William phía sau. Con mương và bức tường bao quanh đỉnh đồi. Phía trong con mương, một bức tường đá dày đã được xây cao khoảng hai ba mét. Bức tường rõ ràng là chưa xong, và đánh giá theo độ dầy của nó, bức tường phải rất cao.

Waleran đang xây một lâu đài, nhưng không thấy công nhân trên công trường, không dụng cụ, không gỗ đá. Một số lớn công việc đã được thực hiện trong thời gian ngắn, rồi công việc bất ngờ bị ngưng trệ.

Rõ ràng là Waleran đã hết tiền.

Philip nói với William: “Tôi cho rằng không còn nghi ngờ gì là giám mục đang xây lâu đài này.”

William nói: “Ông cho rằng Waleran Bigod sẽ cho phép một người khác xây một lâu đài gần dinh thự của ông ấy sao?”

Philip cảm thấy đau và bị sỉ nhục. Hình ảnh đã rõ như pha lê: Giám mục Waleran muốn lãnh địa Shiring, với mỏ đá và gỗ của nó để xây lâu đài cho riêng ông chứ không phải để xây nhà thờ chính tòa. Philip chỉ là công cụ của ông, cuộc hỏa hoạn của nhà thờ chính tòa chỉ là một cái cớ. Vai trò của chúng chỉ là khơi dậy lòng đạo đức của nhà vua để ông cho Waleran lãnh địa.

Philip tự nhìn mình như là Waleran và Henry đã nhìn ông: khờ dại, tuân thủ, tươi cười và đồng ý khi bị dẫn đi làm thịt. Họ đã xử lý ông quá tốt! Ông đã phó thác cho họ và trao mọi quyền quyết định cho họ, ông đã đón nhận sự coi thường của họ bằng nụ cười can đảm, bởi vì ông nghĩ họ muốn giúp ông, nhưng trong thực tế cả thời gian họ đã lừa dối ông.

Ông bị sốc bởi sự vô lương tâm của Waleran. Ông nhớ lại nỗi buồn trong đôi mắt của Waleran khi ông nhìn đống đổ nát của nhà thờ. Philip đã thoáng thấy lòng đạo đức sâu xa của Walera vào thời điểm đó. Waleran có thể nghĩ rằng lòng đạo đức biện minh cho phương tiện không lương thiện trong việc phục vụ giáo hội. Philip chẳng bao giờ tin vào điều đó. Tôi sẽ chẳng bao giờ làm cho Waleran những gì ông ấy đang thử làm với tôi, ông nghĩ.

 Trước đây ông chẳng bao giờ cho rằng mình cả tin. Ông ngạc nhiên không biết ông đã sai lầm từ đâu. Ông đi đến kết luận là ông đã để mình trở thành khúm núm – trước Giám mục Henry và quần áo lụa của ông ấy, bởi vẻ tráng lệ của Winchester và nhà thờ chính tòa của nó, bởi các đồng tiền bạc trong xưởng đúc tiền và đống thịt trên cửa hàng, và bởi tư tưởng được gặp vua. Ông quên rằng Thiên Chúa nhìn thấu xuyên qua quần áo lụa tới tận trái tim tội lỗi; ông cũng quên rằng chỉ có kho tàng trên trời mới là sự giầu có đích thực, và ngay cả nhà vua cũng phải quỳ xuống trong nhà thờ. Cảm thấy rằng người khác quyền lực hơn, thạo đời hơn mình, ông đã đánh mất giá trị đích thực của mình, lãng quên khả năng phê phán của mình và đặt lòng tin của mình vào thượng cấp. Hậu quả là ông bị phản bội.

Ông nhìn một lần nữa khu xây dựng trong mưa, rồi quay ngựa đi khỏi, lòng tràn ngập thương tích. William theo sau. “Tu sĩ, ông nghĩ gì về điều này?” William trêu chọc. Philip không trả lời.

Ông nhớ lại ông đã ủng hộ Waleran trở thành giám mục. Waleran đã nói: “Ông muốn tôi giúp ông làm tu viện trưởng. Tôi muốn ông giúp tôi làm giám mục.” Dĩ nhiên, Waleran đã không tiết lộ là giám mục đã qua đời, như thế lời hứa có vẻ thiếu nền tảng vững chắc. Và dường như Philip bắt buộc phải hứa để bảo đảm rằng ông sẽ được bầu cử làm tu viện trưởng. Sự thật là ông nên để sự chọn lựa chức tu viện trưởng và giám mục trong tay Thiên Chúa. Ông đã không thực hiện quyết định đạo đức đó vì thế hình phạt là ông phải tranh cãi với Waleran.

Khi ông nghĩ về việc ông bị coi khinh, bị hạ xuống, bị lợi dụng và lừa dối, ông cảm thấy tức giận. Vâng lời là một đức tính trong tu viện, nhưng ngoài đời nó có những yếu điểm của nó, ông cay đắng nghĩ. Thế giới của quyền lực và giầu có đòi hỏi con người phải nghi ngờ và bền bỉ.

“Các giám mục lừa đảo này đã coi ông là thằng hề, phải không?” William nói.

Philip kìm giây cương, run lên vì giận, ông chỉ tay vào William và hét lên: “Câm miệng lại, cậu bé. Cậu đang nói về những linh mục thánh thiện của Chúa. Nếu cậu nói thêm lời nào, cậu sẽ bị đốt vì nó, tôi hứa với cậu.”

Mặt William trắng bệch vì sợ.

Philip dục ngựa đi. Nụ cười mỉa mai của Willian nhắc nhở ông rằng gia đình Hamleigh đã có một ý định kín đáo khi đưa ông đi xem lâu đài của Waleran. Họ muốn gây ra sự tranh cãi giữa Philip và Waleran để đảm bảo rằng lãnh địa bị tranh chấp sẽ không rơi vào tay tu viện trưởng cũng chẳng vào tay giám mục, mà vào Percy. Tốt, Philip sẽ không để họ lợi dụng, cả người này lẫn người kia. Ông không muốn bị lợi dụng nữa. Từ bây giờ trở đi ông muốn chủ động. Điều đó tốt, nhưng ông có thể làm gì? Nếu Philip tranh cãi với Waleran, Percy sẽ nhận được đất; và nếu Philip không làm gì, Waleran sẽ nhận được.

Nhà vua muốn gì? Ông muốn giúp xây nhà thờ chính tòa mới: điều đó thích hợp với vua chúa và nó sẽ có ích cho linh hồn ông ấy ở đời sau. Nhưng ông cũng cần phải thưởng cho lòng trung thành của Percy nữa. Một cách ngạc nhiên là không có áp lực phải làm hài lòng hai giám mục, hai người nhiều quyền lực hơn. Đối với Philip, dường như một giải pháp cho tình trạng khó xử của nhà vua là làm hài lòng chính ông và Hamleigh.

Và ông chợt có một ý tưởng.

Ông hài lòng với ý tưởng đó. Một liên minh giữa ông và Hamleigh là một điều không ai nghĩ đến – và vì thế nó sẽ thành công. Các giám mục không chuẩn bị chuyện đó nên sẽ tính sai.

Đó sẽ là một cuộc đảo ngược thú vị.

Nhưng ông có thể đàm phán một thỏa thuận với gia đình Hamleigh không? Percy muốn nông trại giầu có ở Shiring, danh xưng bá tước, và quyền lực cũng như uy tín của một lực lượng hiệp sĩ dưới quyền điều khiển của ông. Còn Philip cũng muốn nông trại phong phú, nhưng ông không muốn tước hiệu hay cần các hiệp sĩ: ông quan tâm nhiều hơn đến mỏ đá và rừng.

Hình thức của một thỏa hiệp bắt đầu thành hình trong đầu Philip. Ông nghĩ rằng tất cả vẫn chưa muộn. Sau những sự việc xẩy ra, một cuộc chiến thắng bây giờ sẽ ngọt ngào làm sao.

Với sự hứng thú, Philip nghĩ cách thỏa hiệp với gia đình Hamleigh. Ông quyết định ông không đóng vai van xin. Ông phải đưa ra một đề xuất mà họ không thể cưỡng lại được. Khi ông về lại đến Winchester, quần áo ông ướt đẫm, ngựa ông trong tính khí cáu kỉnh, nhưng ông nghĩ ông đã tìm được câu trả lời.

Khi họ đi dưới mái vòm cổng phía tây, ông nói với William: “Chúng ta đi gặp mẹ cậu.”

William ngạc nhiên. “Tôi tưởng ông sẽ đi gặp giám mục Waleran ngay.”

Không nghi ngờ gì, đó là điều mà Regan đã nói với William và là điều họ chờ đợi. “Đừng băn khoăn kể cho tôi những gì cậu nghĩ, chàng trai ạ.” Philip nói. “Hãy đưa tôi đến gặp mẹ cậu.” Ông cảm thấy đã sẵn sàng đối phó với bà Regan. Ông thụ động đã quá lâu.

William quay vào phía nam và dẫn Philip đến một căn nhà ở đường Gold, nằm giữa lâu đài và nhà thờ chính tòa. Nó là một căn nhà lớn với tường đá tới ngang lưng và phía trên bằng gỗ. Bên trong là một lối vào hội trường với nhiều căn hộ. Gia đình Hamleigh có lẽ trú ngụ tại đây: nhiều cư dân Winchester cho những người đang tham dự triều đình thuê phòng. Nếu Percy trở thành bá tước, ông sẽ có nhà riêng ở phố.

William chỉ Philip đi vào một phòng phía trước có một giường lớn và một lò sưởi. Regan đang ngồi ở lò sưởi và Percy đứng gần bà. Regan nhìn lên Philip với một cảm xúc ngạc nhiên, nhưng bà che đậy ngay lại và nói: “Tốt, tu sĩ nhỉ - tôi có đúng không?”

“Bà sai lầm, bà ngu ngốc ạ!” Philip gay gắt nói.

Bà bị sốc và câm lặng vì giọng nói giận dữ của ông. Ông vui vì kết quả của việc cho bà một hương vị của liều thuốc riêng của bà. Ông tiếp tục trong cùng giọng nói ấy. “Bà nghĩ bà có thể gây nên một cuộc tranh cãi giữa tôi và Waleran. Bà nghĩ rằng tôi không nhìn thấy những gì bà đang dự tính sao? Bà là một con chồn tinh quái, nhưng bà không phải là người duy nhất trên thế giới này biết suy nghĩ.”

Qua nét mặt của bà, ông có thể nhận thấy bà nhận ra chương trình của bà đã thất bại, và bà đang điên tiết suy nghĩ về bước kế tiếp phải đi. Ông tạo áp lực trong khi bà đang bối rối.

“Bà đã thất bại, Regan. Bây giờ bà có hai chọn lựa. Một là bà ngồi lại đây và chờ quyết định của nhà vua. Cơ hội của bà tùy thuộc vào tâm trạng của vua sáng mai.” Ông ngưng lại.

Bà miễn cưỡng nói: “Còn chọn lựa thứ hai?”

“Chọn lựa thứ hai là chúng ta làm một thỏa hiệp giữa bà và tôi. Chúng ta chia lãnh địa giữa chúng ta, không cho Walera tham dự. Chúng ta đến gặp riêng vua và cho ông biết chúng ta đã có một thỏa thuận và xin sự đồng ý của ông trước khi các giám mục có thể can thiệp.” Philip ngồi xuống ghế băng và giả vờ tạo nên một bầu khí bình thường. “Đây là cơ hội tốt nhất cho bà. Bà không có chọn lựa thực sự.” Ông nhìn vào lò sưởi, không muốn bà nhìn thấy sự căng thẳng của ông. Họ phải chấp nhận ý tưởng này, ông nghĩ. Thà là được cái gì còn hơn là mất tất cả. Nhưng họ là người tham lam – có thể họ thích một canh bạc hoặc là được tất cả hay là mất hết.

Percy là người đầu tiên nói. “Phân chia lãnh địa? Như thế nào?”

Ít nhất họ quan tâm đến. Philip thở phào nhẹ nhõm. “Tôi đề nghị một sự phân chia hào phóng mà ông bà không thể từ chối,” Philip nói với ông ta. Rồi ông quay sang Regan. “Tôi cho ông bà phần tốt nhất.”

Cả hai nhìn vào ông, chờ đợi, nhưng ông không nói gì thêm. Regan nói: “Ông nói phần tốt nhất nghĩa là làm sao?”

“Cái gì giá trị hơn – đất nông nghiệp hay rừng?”

“Đất nông nghiệp, dĩ nhiên rồi.”

“Vậy thì ông bà nhận đất nông nghiệp, còn tôi nhận phần rừng.”

Regan mở rộng đôi mắt. “Nó sẽ cho ông gỗ để xây nhà thờ.”

“Đúng vậy.”

“Thế còn đồng cỏ thì sao?”

“Ông bà thích cái nào – đồng cỏ chăn thả gia súc hay bầy cừu?”

“Đồng cỏ.”

“Vậy tôi nhận nông trại trên đồi với đàn cừu. Ông bà muốn thu nhập từ chợ hay từ quặng mỏ?”

Percy nói: “Từ chợ …”

Regan cắt lời ông. “Giả sử chúng tôi nói muốn thu nhập từ mỏ đá thì sao?”

Philip biết bà hiểu những gì ông nghĩ trong đầu. Ông cần đá từ mỏ để xây nhà thờ. Ông biết bà không muốn mỏ đá. Chợ mang lại nhiều tiền mà không cần nhiều cố gắng. Ông nói một cách tự tin: “Có thực sự bà không muốn không?”

Bà lắc đầu. “Không, chúng tôi lấy chợ.”

Percy nói với bộ mặt buồn bã: “Tôi cần rừng để đi săn. Một bá tước phải có một rừng săn.”

“Ông có thể đi săn ở đó,” Philip vội vã nói. “Tôi chỉ cần gỗ.”

“Đồng ý,” Regan nói. Sự đồng ý của bà đến quá nhanh. Philip cảm thấy lo lắng. Ông đã đưa ra một cái gì đó quan trọng mà không biết không? Hay chỉ đơn giản là bà không còn kiên nhẫn và không muuốn tiếp tục tranh cãi về những chi tiết nhỏ nữa? Trước khi ông có thể nghĩ tiếp, bà tiếp tục: “Giả sử chúng ta tìm được tài liệu của Bá tước Bartholomew về những mảnh đất khác, rồi chúng tôi nói nó thuộc về chúng tôi và ông nói nó thuộc quyền sở hữu của ông thì sao?”

Sự kiện là bà ta chú ý đến những chi tiết như thế khiến ông nghĩ bà sẽ chấp thuận đề nghị của ông. Ông che dấu sự phấn khích của mình và nói lạnh lùng. “Chúng ta phải tìm ra một trọng tài. Giám mục Henry thì sao?”

“Một linh mục?” Bà nói với một chút khinh miệt theo thói quen của bà. “Ông ấy có khách quan không? Không, Thế còn cảnh sát trưởng ở Shiring?” Ông ấy sẽ không khách quan hơn giám mục, Philip nghĩ; nhưng ông không tìm được ai có thể làm cả hai phía hài lòng, vì thế ông nói: “Đồng ý – với điều kiện là nếu chúng ta tranh cãi về quyết định của ông ấy, chúng ta có quyền kháng cáo lên nhà vua.” Đó là một biện pháp tự vệ đầy đủ.

“Đồng ý,” Regan nói; rồi bà nhìn Percy và thêm vào: “Nếu chồng tôi hài lòng.”

Percy nói: “Vâng, vâng,”

Philip biết ông đã gần đến thành công. Ông hít một hơi sâu và nói: “Nếu toàn bộ đề nghị đã được đồng ý thì…”

“Hãy đợi một chút.” Regan cắt lời ông. “Nó chưa được đồng ý.”

“Nhưng tôi đã cho ông bà tất cả những gì ông bà muuốn.”

“Có thể chúng tôi sẽ nhận được toàn bộ lãnh địa.”

“Hay là ông bà chẳng nhận được gì cả.”

Regan do dự. “Ông đề nghị phải xử lý việc này làm sao nếu chúng tôi đồng ý?”

Philip đã nghĩ về chuyện đó. Ông nhìn Percy. “Ông có thể gặp nhà vua đêm nay không?”

Percy nhìn lo âu, nhưng ông nói: “Nếu tôi có lý do tốt – vâng, tôi có thể.”

“Đi gặp nhà vua và nói chúng ta đã đi đến một thỏa thuận. Yêu cầu ông ta công bố nó như là quyết định của chính ông ấy vào buổi sáng ngày mai. Đảm bảo với ông ấy là ông bà và tôi sẽ tuyên bố hài lòng với quyết định đó.”

“Nếu nhà vua hỏi hai giám mục có hài lòng với nó không, thì phải làm sao?”

“Nói với ông ấy là không có đủ thời gian để thông báo cho họ. Nhắc cho ông ấy rằng tu viện trưởng, chứ không phải giám mục, là người xây lại nhà thờ chính tòa. Ngụ ý rằng nếu tôi hài lòng, các giám mục cũng hài lòng nữa.”

“Nhưng nếu các giám mục phàn nàn khi thỏa thuận được công bố thì sao?”

“Làm sao họ làm việc đó được?” Philip nói. “Họ đã giả vờ hỏi xin lãnh địa chỉ để tài trợ cho việc xây nhà thờ. Waleran khó có thể phản đối vì ông không thể sử dụng vào việc khác được.”

Regan cười khúc khích. Sự láu cá của Philip làm bà hài lòng. “Đó là một kế hoạch tốt,” bà nói.

“Có một điều kiện quan trọng,” Philip nói, và ông nhìn vào mắt bà. “Nhà vua phải công bố rằng phần của tôi được giao cho tu viện. Nếu ông ấy không nói rõ điều đó, tôi sẽ hỏi ông ấy. Nếu ông nói bất cứ gì khác – địa phận, người phụ trách phụng vụ hay tổng đại diện – tôi sẽ bác bỏ toàn bộ thỏa thuận. Tôi không muốn ông bà gặp khó khăn về việc đó.”

“Tôi hiểu,” Regan càu nhàu nói.

Sự phát cáu của bà đã làm Phhilip nghi ngờ rằng bà đã có ý định trình bầy với vua khác với những gì đã thỏa thuận. Ông vui vì đã đưa ra một quan điểm rõ ràng.

Ông đứng lên nhưng ông còn muốn bằng cách nào đó đóng dấu vào hiệp ước của họ. “Như vậy, chúng ta đã đồng ý,” ông nói và giọng ông nghe như là một lời xác định chứ không phải một câu hỏi. “Chúng ta có một thỏa hiệp nghiêm nghị.” Ông nhìn vào cả hai.

Regan gật đầu nhẹ, và Percy nói: “Chúng ta có một thỏa hiệp.”

Trái tim Philip đập nhanh hơn. “Tốt,” ông nói mạnh. “Tôi sẽ gặp ông bà sáng mai tại lâu đài.” Ông giữ mặt bình thản khi ông rời phòng, nhưng khi ông ra tới con đường tối, ông thư giãn và cho phép mình nở một nụ cười chiến thắng.

Philip rơi vào một giấc ngủ chập chờn đầy lo âu sau bữa ăn tối. Ông dậy vào giữa đêm cho giờ kinh đêm, sau đó nằm thao thức trên nệm rơm, băn khoăn những gì sẽ xẩy ra ngày mai.

Ông cảm thấy vua Stephen phải đồng ý với đề nghị đó. Nó giải quyết vấn đề của nhà vua: nó tăng thêm cho ông một bá tước và một nhà thờ chính tòa. Ông không chắc chắn rằng Waleran sẽ để yên chuyện này, bất chấp những gì ông nói với bà Regan. Waleran có thể tìm ra cái cớ để phản đối sự thỏa thuận. Ông có thể, nếu ông nghĩ nhanh, phản đối rằng thỏa thuận này không mang lại đủ tiền để xây nhà thờ ấn tượng, thanh thế và trang hoàng lộng lẫy như ông muốn. Nhà vua có thể bị thuyết phục phải suy nghĩ lại.

Một nguy hiểm khác Philip chợt nghĩ tới trước bình minh: Regan có thể bỏ ngang ông và thỏa hiệp với Waleran. Giả sử bà ta sẵn sàng cho giám mục cùng thỏa thuận này? Waleran sẽ có đá mà ông cần cho lâu đài của ông. Sự có thể này làm Philip bối rối và ông trằn trọc trên giường. Ông ước gì chính ông có thể đi gặp vua, nhưng có lẽ nhà vua sẽ không tiếp ông, và Waleran, nếu một cách nào đó ông biết được, sẽ trở nên nghi ngờ. Không, không còn cách nào chống lại mối nguy cơ bị phản bội. Tất cả những gì ông có thể làm bây giờ là cầu nguyện.

Ông cầu nguyện cho đến bình minh.

Ông ăn sáng chung với các tu sĩ. Ông thấy bánh mì trắng không làm no bụng lâu như bánh mì lúa mạch; nhưng ngay cả như vậy hôm nay ông cũng không thể ăn nhiều. Ông đi sớm đến lâu đài, mặc dù ông biết vua sẽ không tiếp dân vào giờ đó. Ông vào trong hội trường, ngồi xuống trên chiếc ghế bằng đá và chờ đợi.

Dần dần căn phòng đầy những người đến kiến nghị và cận thần. Một vài người trong số họ mặc quần áo lộng lẫy, với áo dài màu vàng, xanh hay hồng và áo choàng gắn lông xum xuê. Cuốn sách nổi tiếng ‘Domesday’ được bảo quản tại một chỗ nào đó trong lâu đài này, Philip nhớ lại. Có lẽ ở phòng bên trên, nơi nhà vua đã tiếp kiến Philip và hai giám mục: Ông đã không chú ý đến nó và ông cũng quá căng thẳng để mà chú ý đến chuyện khác. Kho tàng hoàng gia cũng ở đây nữa, nhưng có lẽ ở tầng cao nhất, trong một tủ sắt gần phòng ngủ của vua. Một lần nữa Philip lại bị kinh hoàng bởi môi trường chung quanh, nhưng ông đã quyết tâm không để bị đe dọa nữa. Những người trong bộ quần áo sang trọng này, mặc dù họ là hiệp sĩ, bá tước, thương gia hay giám mục, họ vẫn chỉ là người. Một số họ còn không biết viết tên mình. Hơn nữa, họ đến đây để xin một cái gì đó cho riêng họ, còn ông, Philip, ông đến đây nhân danh Chúa. Sứ mạng của ông và chiếc áo dòng nâu bẩn của ông đặt ông lên trên những người đến kiến nghị khác, chứ không phải dưới họ.

Suy nghĩ đó cho ông can đảm.

Sự căng thẳng lan tỏa trong phòng khi một linh mục xuất hiện ở cầu thang dẫn lên lầu trên. Mọi người đều hy vọng đó là dấu hiệu nhà vua bắt đầu cho tiếp kiến. Vị linh mục thì thầm vài lời với lính gác, rồi lại biến mất ở cuối chân cầu thang. Lính bảo vệ chọn ra một hiệp sĩ trong đám đông. Chàng hiệp sĩ bỏ kiếm lại cho lính gác rồi lên cầu thang.

Philip nghĩ vị linh mục của hoàng gia này phải có một cách sống đặc biệt. Vua cần giáo sĩ, dĩ nhiên, không những để dâng thánh lễ, mà còn làm những việc hành chánh khác của vương quốc như đọc và viết các văn bản. Không ai có thể làm công việc này tốt hơn các giáo sĩ: Những giáo dân có học thức không có thể đọc và viết nhanh đủ. Đời sống của các giáo sĩ trong hoàng gia không được thánh thiện lắm. Em ruột của Philip, Francis, đã chọn đời sống đó và làm việc cho Robert thành Gloucester. Lần sau nếu gặp em ấy, tôi sẽ hỏi em ấy xem đời sống ở đó ra sao, Philip nghĩ.

Chẳng bao lâu sau khi người kiến nghị đầu tiên lên cầu thang, gia đình Hamleigh đi vào.

Philip chống lại ý muốn đến gặp họ ngay: ông không muốn cả thế giới biết họ thông đồng với nhau, không phải bây giờ. Ông chăm chú nhìn họ, nghiên cứu nét mặt họ, cố gắng đọc tư tưởng của họ. Ông thấy William nhỏ có vẻ hy vọng, Percy dường như lo lắng và Regan căng thẳng như dây cung. Sau một lúc, Philip đứng lên, đi ngang qua phòng, bình tĩnh như ông có thể. Ông lịch sự chào họ và nói với Percy: “Ông có gặp nhà vua chưa?”

“Có.”

“Rồi sao?”

“Ông nói sẽ suy nghĩ về chuyện đó trong đêm.”

“Nhưng tại sao? Philip nói. Ông thất vọng và cáu gắt. “Phải suy nghĩ về chuyện gì?”

Percy nhún vai. “Hỏi ông ấy.”

Philip bực tức. “Tốt, ông ấy trông ra sao – hài lòng hay không?”

Regan trả lời. “Tôi đoán ông ấy thích ý tưởng đó vì nó giúp ông ra khỏi tình trạng khó xử, nhưng ông cảm thấy nghi ngờ vì nó nghe có vẻ quá dễ dàng.”

Điều đó có thể tin được, nhưng Philip vẫn giận dữ vì vua Stephen đã không nắm lấy cơ hội bằng cả hai tay. “Tốt hơn chúng ta không nên nói nữa,” sau một lúc ông nói. “Chúng ta không muốn các giám mục đoán được chúng ta đã thông đồng chống lại họ - nhất là trước khi vua loan báo.” Ông lễ phép gật đầu và rời đi.

Ông trở lại ghế đá. Ông cố gắng xua đuổi thời gian bằng cách nghĩ về cách ông sẽ làm nếu kế hoạch của ông thành công. Khi nào công việc xây dựng nhà thờ có thể bắt đầu? Nó tùy thuộc vào việc khi nào ông có thể rút ra tiền mặt từ tài sản mới của ông. Có một số lớn cừu: Ông sẽ có lông bán trong mùa hè. Một vài nông trại trên đồi còn được cho thuê và tiền thuê sẽ được trả ngay sau mùa gặt. Vào mùa thu chắc sẽ có đủ tiền để thuê một chuyên viên lâm nghiệp và một thợ chuyên môn về mỏ đá và bắt đầu dự trữ gỗ và đá. Cùng thời gian đó, những lao công có thể bắt đầu đào chân móng, dưới sự điều hành của thợ xây Tom. Họ sẽ sẵn sàng xây tường đá vào năm tới.

Nó là một giấc mơ đẹp.

Triều thần lên xuống cầu thang với một tốc độ đáng báo động: Vua Stephen làm việc nhanh chóng ngày hôm nay. Philip sợ vua sẽ chấm dứt làm việc và đi săn trước khi hai giám mục đến.

Sau cùng họ đến. Philip từ từ đứng lên khi họ bước vào. Waleran trông có vẻ căng thẳng, nhưng Henry có vẻ chán nản. Đối với Henry đây chỉ là việc nhỏ: ông phải hỗ trợ cho người anh em giám mục của mình, nhưng kết quả không quan trọng đối với ông. Tuy nhiên, đối với Waleran kết quả rất quan trọng cho kế hoạch của ông để xây một lâu đài – và lâu đài chỉ là một bước trong tiến trình đi lên trên bậc thang quyền lực.

Philip không biết phải đối xử với họ như thế nào. Họ đã thử lừa ông và ông muốn trực diện với họ, nói với họ là ông đã khám phá ra sự phản bội của họ; nhưng điều đó sẽ cảnh báo họ rằng có một điều gì đó không ổn và ông muốn tất cả họ không nghi ngờ gì để nhà vua có thể xác nhận thỏa hiệp đó trước khi họ có thể tập trung tư tưởng đối phó lại. Vì thế ông che giấu cảm xúc của mình và mỉm cười một cách lịch sự. Ông không cần phải bận tâm: họ hoàn toàn lờ ông đi.

Không bao lâu sau lính gác gọi họ. Henry và Waleran lên cầu thang trước, Philip theo sau. Gia đình Hamleigh đi sau cùng. Philip nghe thấy tim mình đập.

Vua Stephen đứng ở phía trước lò sưởi. Hôm nay dường như ông có một bầu khí vội vàng và bận rộn. Điều đó tốt: Ông sẽ không có đủ kiên nhẫn cho bất cứ ngụy biện nào của giám mục. Giám mục Henry đến đứng bên cạnh anh ông ở lò sưởi, và những người khác đứng trong hàng ở giữa phòng. Philip cảm thấy đau ở bàn tay, và ông nhận ra ông đã nhấn móng tay vào bàn tay mình. Ông cố gắng giữ tay mình thanh thản.

Nhà vua nói chuyện với Giám mục Henry bằng một giọng nhỏ không ai nghe thấy được. Henry cau mày và thì thầm điều gì đó. Họ nói chuyện một lúc, rồi Stephen giơ ta ra hiệu cho em ông yên lặng. Nhà vua nhìn Philip.

Philip nhớ lại lần trước nhà vua đã nói chuyện tử tế với ông, đùa với ông vì ông lo lắng và nói ông thích một tu sĩ mặc quần áo như một tu sĩ.

Tuy nhiên hôm nay không có lời pha trò. Nhà vua ho và nói. “Người trung thành của tôi, Percy Hamleigh, hôm nay trở thành bá tước của Shiring.”

Từ khóe mắt, Philip nhìn Waleran bước lên, như muốn phản đối; nhưng Giám mục Henry nhanh chóng ngăn ông lại bằng một cử chỉ.

Nhà vua tiếp tục. “Về tài sản của lãnh địa cũ, Percy sẽ có lâu đài, tất cả đất đai được thuê bởi các hiệp sĩ, cộng thêm đất canh tác và các đồng cỏ ở thung lũng.”

Philip không thể dấu nổi sự sốt ruột của mình. Dường như nhà vua đã chấp thuận thỏa thuận này! Ông liều nhìn Waleran, khuôn mặt ông biểu lộ sự thất vọng.

Percy quỳ xuống trước mặt vua và hai tay chắp lại như khi cầu nguyện. Nhà vua đặt tay trên đầu Percy. “Tôi phong ông, Percy, làm bá tước của Shiring và được tận hưởng đất đai và hoa lợi từ tài sản trên.”

Percy nói: “Tôi thề trước những gì là thánh thiện rằng tôi là người trung thành của ông và chiến đấu cho ông chống lại bất cứ quân thù nào.”

Stephen buông tay Percy ra và ông ấy đứng lên.

Stephen quay qua những người khác. “Tất cả những đất đai khác của cựu bá tước, tôi cho…” ông ngừng lại một lúc, nhìn từ Philip đến Waleran rồi quay lại, “tôi cho tu viện Kingsbridge, để xây nhà thờ chính tòa mới.”

Philip cố gắng không thốt lên tiếng kêu vui mừng – ông đã thắng! Ông không thể ngăn lại nụ cười rạng rỡ vì hài lòng. Ông nhìn Waleran. Ông ta bị sốc nặng. Ông không còn giữ được bình thản: miệng ông mở to, mắt ông rộng và ông nhìn chằm chằm vào vua. Rồi ông nhìn Philip. Waleran biết một cách nào đó ông đã sai và Philip là người thừa hưởng từ sai lầm của ông; nhưng ông không thể hình dung được làm sao nó lại có thể xẩy ra như thế.

Vua Stephen nói: “Tu viện trưởng Kingsbridge sẽ có quyền lấy đá từ quặng của bá tước và gỗ từ rừng của ông ấy, không giới hạn, để xây nhà thờ chính tòa mới.”

Cổ họng Philip khô lại. Điều đó không đúng với thỏa thuận. Quặng mỏ và rừng thuộc về tu viện, và Percy chỉ có quyền săn bắn. Regan đã thay đổi các điều khoản. Bây giờ Percy sở hữu tài sản và tu viện chỉ có quyền lấy gỗ và đá. Philip chỉ có vài giây để quyết định có nên phủ nhận toàn bộ thỏa thuận. Nhà vua nói thêm: “Trong trường hợp có sự bất đồng, cảnh sát trưởng của Shering sẽ xét xử, nhưng cả hai phía có quyền khiếu nại với tôi.” Philip nghĩ: Regan đã cư xử kỳ quặc, nhưng nó đã gây ra sự khác biệt nào? Sự thỏa thuận vẫn cho tôi hầu hết những cái tôi cần. Rồi nhà vua nói: “Tôi tin là sự thỏa thuận này đã được cả hai phía chấp thuận.” Bây giờ không còn thời gian nữa.

Percy nói: “Vâng, tâu vua.”

Waleran mở miệng muốn phản kháng rằng ông ấy không chấp nhận thỏa hiệp này, nhưng Philip lên tiếng trước: “Vâng, tâu vua.”

Giám mục Henry và Waleran cả hai quay đầu về phía Philip và nhìn ông. Biểu lộ của họ cho thấy họ ngạc nhiên hoàn toàn khi nhận ra rằng Philip, một tu viện trưởng trẻ, người ngay cả không biết mặc một áo dòng sạch sẽ cho cuộc tiếp kiến với nhà vua, đã thương lượng một thỏa thuận với vua sau lưng họ. Một lúc sau, nét mặt Henry biểu lộ sự thích thú như một người lớn bị thua một đứa trẻ tinh ranh trong một cuộc chơi; nhưng ánh mắt của Waleran nói lên sự ác hiểm. Philip cảm thấy có thể đọc được tư tưởng của Waleran. Waleran nhận ra rằng lỗi lầm chủ yếu của ông là đã đánh giá thấp đối thủ của mình và đã bị hạ nhục vì thất bại. Đối với Philip, giây phút này bù đắp lại mọi thứ mà ông đã phải chịu: sự phản bội, sự sỉ nhục, sự coi thường. Philip hất cằm, chịu phạm tội kiêu ngạo và nhìn Waleran như muốn nói: Ông phải cố gắng hơn nữa mới đánh lừa được Philip thành Gwynedd.

Nhà vua nói: “Hãy báo cho cựu Bá tước Bartholomew biết quyết định của ta.”

Bartholomew ở trong một hầm ngục nào gần đây, Philip đoán chừng. Ông nhớ lại những đứa trẻ sống với người phục vụ trong lâu đài đổ nát, và ông cảm thấy nhói lên cảm xúc tội lỗi khi ông tự hỏi những gì sẽ xẩy ra với chúng.

Nhà vua cho mọi người ra về, ngoại trừ giám mục Henry. Như đi trên mây, Philip bước ra cửa. Ông đến đầu cầu thang cùng lúc với Waleran, và ngừng lại để Waleran đi trước. Waleran bắn một cái nhìn giận dữ vào Philip. Khi ông nói, giọng ông như mật đắng, và mặc dù Philip đang hào hứng, lời nói của Waleran làm ông ớn lạnh đến tận xương. Bộ mặt đầy hận thù mở miệng: “Tôi thề bởi tất cả những gì thánh thiện, ông sẽ không xây được nhà thờ của ông.” Rồi ông kéo áo choàng đen của mình lên vai và xuống thang.

Philip nhận ra ông đã gây ra một kẻ thù truyền kiếp.

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của ken follett