Những Cột Trụ Của Trái Đất

Lượt đọc: 25298 | 15 Đánh giá: 9,9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN BA - Chương 8
1140 - 1142

Cô gái điếm mà William chọn không phải là rất đẹp, nhưng bộ ngực to và mái tóc xoăn của cô đã thu hút cậu. Cô bước đến bên cậu, lắc lư đôi mông và cậu thấy cô già hơn cậu nghĩ, có lẽ hai mươi lăm hay ba mươi, trong khi miệng cô mỉm cười một cách ngây thơ, đôi mắt cô nghiêm khắc và tính toán. Walter chọn cô tiếp sau. Ông chọn một cô gái nhỏ, trông có vẻ dễ bị tổn thương, có thân hình nam tính, ngực phẳng. Khi William và Walter đã chọn xong, bốn chàng hiệp sĩ khác bước vào.

William đã đem họ đến nhà thổ bởi vì họ cần được giải trí. Đã nhiều tháng nay họ không có cuộc chiến nào và họ trở nên buồn chán và thường hay gây gỗ.

Cuộc nội chiến đã nổ ra các đây một năm, giữa vua Stephen và kẻ thù của ông, Maud, được gọi là nữ hoàng, hiện nay đang lắng đọng. William và quân của ông đã theo Stephen khắp vùng tây nam nước Anh. Chiến lược của Stephen là đánh mạnh nhưng thất thường. Ông sẽ tấn công một trong những đồn lũy của Maul một cách mạnh mẽ, nhưng khi ông không thắng được ngay, ông dễ bỏ cuộc và lại kéo quân đi. Người lãnh đạo quân đội phía bên kia không phải là Maud mà là em trai cùng cha khác mẹ Robert, bá tước của Gloucester; và cho đến nay Stephen vẫn không thể ép buộc ông ấy có một cuộc chiến đối đầu. Đây là một cuộc chiến tranh thiếu quyết đoán, với nhiều vận động và ít giao tranh thực tế; vì thế mà quân đội mỏi mệt.

Nhà thổ được chia thành từng phòng nhỏ bằng vách che, mỗi phòng có nệm rơm. William và hiệp sĩ của ông đem cô gái họ chọn vào sau vách che. Cô gái điếm của William điều chỉnh tấm bình phong để có không gian riêng tư, kéo áo xuống để lộ bộ ngực. Ngực cô lớn như William đã hình dung, nhưng núm vú của cô to và trên ngực cô hiện lên những đường gân của đàn bà, những người đã cho con bú, và William thất vọng. Tuy nhiên cậu kéo cô về phía mình, ôm lấy ngực cô và mân mê núm vú. “Nhẹ thôi,” cô nói với giọng phản đối nhẹ nhàng. Cô quàng tay qua cậu và kéo hông cậu về phía trước, cọ xát vào cô. Một lúc sau cô đẩy tay giữa hai thân thể và lần mò xuống quần cậu.

Cậu lẩm bẩm chưởi thề. Cơ thể cậu không đáp ứng.

“Đừng lo,” cô thì thầm. Giọng chiếu cố của cô làm cậu tức giận, nhưng cậu không nói gì khi cô buông mình khỏi vòng tay cậu, quỳ xuống, kéo áo cậu lên và bắt đầu làm việc bằng miệng.

Lúc đầu cảm giác làm cậu hài lòng, và cậu nghĩ mọi chuyện sẽ tốt đẹp, nhưng sau sự rung động ban đầu cậu lại mất hứng. Cậu quan sát khuôn mặt cô mà đôi lúc đã thu hút cậu, nhưng bây giờ nó không còn mấy ấn tượng. Cậu bắt đầu tức giận và nó lại càng làm cậu teo lại.

Cô ngưng lại và nói: “Cố thư giãn.” Khi cô bắt đầu lại, cô hút quá mạnh làm cậu đau. Ông kéo mình ra, và răng cô làm xước da nhạy cảm của cậu và cậu kêu rú lên. Cậu tát mu bàn tay vào mặt cô. Cô thở hổn hển và ngã sang một bên.

“Con đĩ vụng về,” cậu gầm gừ. Cô nằm trên nệm dưới chân cậu, nhìn lên cậu sợ hãi. Cậu đạp vào cô, vì tức giận hơn là vì ác ý. Nó trúng vào bụng cô. Nó mạnh hơn cậu thực sự dự định, và cô quặn người vì đau.

Sau cùng cậu nhận ra thân thể cậu đòi hỏi.

Cậu quỳ xuống, kéo cô nằm ngả lưng và cưỡi lên mình cô. Cô nhìn cậu với đôi mắt sợ hãi và đau đớn. Cậu kéo áo cô lên đến ngang hông. Lông giữa hai chân cô rậm và xoăn. Cậu thích điều đó. Cậu vuốt ve cơ thể cậu khi cậu nhìn ngắm thân thể cô. Nó vẫn chưa đủ cứng. Mắt cô lộ vẻ sợ hãi. Cậu cho rằng cô đã cố ý làm cho cậu mất hứng để cô khỏi phải phục vụ cậu. Ý nghĩ này làm cậu tức điên lên. Cậu nắm tay và đấm mạnh vào mặt cô.

Cô hét lên và cố gắng chui ra khỏi cậu. Cậu đè sức nặng của mình lên người cô, ghì cô xuống, nhưng cô tiếp tục chống cự và gào thét. Bây giờ cậu hoàn toàn cương lên. Cậu cố gắng kéo giạng chân cô ra, nhưng cô chống cự.

Tấm bình phong mở ra và Walter bước vào, chỉ mang giầy và áo lót, với cậu nhỏ chĩa ra ngoài như cái cột cờ. Hai người hiệp sĩ khác đến sau ông: Ugly Gervase và Hugh Axe.

“Giữ cô ấy xuống cho tôi,” William nói với họ.

Ba chàng hiệp sĩ quỳ xuống xung quanh cô gái điếm và giữ cô yên.

William cho vào cô, rồi ngưng lại, thưởng thức những gì sắp xẩy ra.

Walter nói: “Chuyện gì xẩy ra vậy, thưa chủ?”

“Cô ta thay đổi ý định khi cô nhìn thấy kích thước của nó,” William nói với một nụ cười.

Tất cả cười to lên. William xâm nhập vào cô. Cậu thích làm việc đó khi có nhiều người theo dõi. Cậu bắt đầu cho ra cho vào.

Walter nói: “Ông đã ngắt quãng vừa khi tôi cho vào.”

Williiam có thể nhìn thấy Walter chưa thỏa mãn. “Cho vào trong miệng cô ta,” cậu nói. “Cô ta thích thế.”

“Tôi sẽ thử nó.” Walter thay đổi vị trí, nắm tóc người phụ nữ, nâng đầu cô lên. Bây giờ cô ấy quá sợ nên sẵn sàng làm bất cứ chuyện gì, cô hợp tác nhanh chóng. Gervase và Hugh không cần phải giữ cô nữa, nhưng họ ở lại để xem. Họ thích thú nhìn: có lẽ họ chưa bao giờ thấy một phụ nữ phục vụ hai người đàn ông cùng lúc. Ngay cả William cũng chưa nhìn thấy. Đó là điều tò mò thú vị. Walter dường như cũng cảm thấy như thế, bởi vì sau một lúc ông thở dồn dập và người ông co rúm lại rồi ông ra. Nhìn Walter, một hai giây sau William cũng làm như vậy.

Một lúc sau, họ đứng lên. William vẫn còn hứng thú. “Tại sao hai bạn không làm cô ấy?” cậu nói với Gervase và Hugh. Cậu muốn xem cảnh này được diễn lại.

Tuy nhiên họ không hào hứng. “Một người yêu bé nhỏ chờ đợi tôi,” Hugh nói, và Gervase tiếp lời: “Tôi cũng vậy.”

Cô gái điếm đứng lên và mặc lại áo. Mặt cô không biểu lộ cảm xúc nào. William nói với cô: “Nó không tệ, phải không?”

Cô đứng trước mặt ông và nhìn vào ông, rồi cô mở miệng và nhổ vào cậu. Cậu cảm thấy mặt cậu đầy chất lỏng dính và ấm: cô đã giữ tinh dịch của Walter trong miệng cô. Chất lỏng làm ông không còn thấy gì. Tức giận, ông dơ tay lên đánh cô, nhưng cô chui ra khỏi tấm bình phong. Walter và hai người hiệp sĩ phá lên cười. William nghĩ đó không phải là chuyện buồn cười, nhưng cậu không thể đuổi theo cô gái với tinh dịch đầy trên mặt và cậu nhận ra rằng cách duy nhất để giữ thể diện là làm ra vẻ không thèm quan tâm đến, vì thế cậu cười theo.

Ugly Gervase nói: “Vâng, thưa ngài, tôi hy vọng ông không có con với Walter!” và họ cười ầm lên. Thậm chí William cũng cảm thấy buồn cười. Họ cùng nhau rời buồng, đi dựa vào nhau và lau dụi mắt. Các cô gái khác chăm chú nhìn họ, trông có vẻ sợ sệt: họ đã nghe thấy cô gái điếm của William kêu thét lên và sợ bị liên lụy. Một hai khách hàng tò mò lén nhìn từ các buồng khác. Walter nói: “Lần đầu tiên tôi thấy tinh dịch bắn ra từ một cô gái!” và họ lại cười to.

Một trong những người cận vệ của William đứng ngoài cửa, trông có vẻ lo lắng. Cậu chỉ là một chàng trai và có lẽ chưa bao giờ vào nhà thổ. Cậu mỉm cười một cách cuống quýt không biết có nên tham gia vào cuộc vui không.

William nói với cậu: “Mày làm gì ở đây, thằng ngu này?”

“Có một tin cho ông, thưa ngài,” người cận vệ của William nói.

“Được, đừng mất giờ, hãy nói cho tôi biết chuyện gì vậy?”

“Tôi rất tiếc, thưa ngài,” cậu bé nói. Trông cậu quá sợ hãi đến nỗi William nghĩ cậu sẽ quay đi và chạy ra khỏi nhà.

“Mày tiếc về chuyện gì, thằng khốn nạn này?” William gầm lên. “Nói ngay cho tôi biết!”

“Thưa ngài, bố ngài đã qua đời,” cậu bé thốt ra và bật khóc.

William đứng như trời chồng. Chết? Cậu nghĩ. Chết? “Nhưng bố tôi hoàn toàn còn khỏe mạnh!” Cậu ngớ ngẩn quát lên. Sự thật là ông không còn có thể chiến đấu trên trận địa nữa, nhưng đó không phải là sự ngạc nhiên đối với người gần năm mươi tuổi. Người cận vệ tiếp tục khóc. William nhớ lại hình ảnh của ông trong lần cuối cùng cậu gặp ông: mập, mặt đỏ, nồng nhiệt, nóng tính, và tràn đầy sức sống như một người có thể có; và đó chỉ… Cậu nhận ra với một cái sốc nhỏ, rằng lần cuối cùng cậu gặp bố là cách đây đã một năm. “Chuyện gì đã xẩy ra với ông?” cậu hỏi người cận vệ.

“Ông bị nhồi máu, thưa ngài,” người cận vệ nức nở.

Một cơn nhồi máu. Dần dần cậu bình tĩnh lại để nhận ra rằng bố cậu đã thực sự chết. Người đàn ông to lớn, mạnh mẽ, nóng tính hay quát tháo đang nằm bất lực và lạnh lẽo trên một tấm đá ở một nơi nào đó…

“Tôi phải về nhà,” William bất ngờ nói.

Walter nói nhẹ nhàng: “Trước hết ông nên xin phép vua cho nghỉ phép.”

“Đúng, nó hợp lý,” William nói mơ hồ. “Tôi phải xin phép.” Tâm trí cậu hỗn loạn.

“Chúng ta phải trả tiền cho chủ nhà thổ,” Walter nói.

“Đúng,” William trao cho Walter chiếc ví của cậu. Một người choàng chiếc áo lên vai cậu. Walter thì thầm điều gì đó với chủ nhà thổ và cho bà ít tiền. Hugh Axe mở cửa cho William. Tất cả đi ra.

Họ đi yên lặng qua những con đường của thị trấn nhỏ. Cậu cảm thấy bị tách ra một cách khác thường như thể cậu quan sát mọi thứ từ trên cao. Cậu không thể tưởng tượng được là bố cậu không còn sống nữa. Khi họ đến gần tổng hành dinh, cậu cố tập trung lại.

Vua Stephen đang chủ tọa một phiên tòa trong nhà thờ, bởi vì ở đây không có lâu đài hay tòa thị chính. Nó là một nhà thờ nhỏ, bằng đá đơn giản với các bức tường bên trong được sơn màu đỏ sáng, xanh và cam. Một ngọn lửa được đốt giữa nhà, và nhà vua đẹp trai, mái tóc màu hung ngồi gần đống lửa trên một ngai bằng gỗ, với đôi chân duỗi ra về phía trước trong một tư thế thoải mái mà ông thường làm. Ông mặc quần áo binh lính, giầy cao cổ và áo khoác da, nhưng ông đội vương miện thay vì đội mũ sắt. William và Walter chen qua đám đông những người khiếu kiện gần cửa nhà thờ, gật đầu chào người lính gác có nhiệm vụ giữ công chúng lại và sải bước vào phía trong. Stephen đang nói chuyện với một bá tước mới đến, nhưng ông chú ý ngay đến William và cắt ngang ngay câu chuyện với bá tước. “William, ông đã nghe gì chưa?”

William cúi đầu. “Tâu vua.”

Stephen đứng lên. “Tôi chia buồn với ông,” ông nói. Ông ôm William và giữ chặt cậu một lúc trước khi bỏ cậu ra.

Sự đồng cảm của ông làm những giọt nước mắt đầu tiên của William rơi xuống. “Tôi muốn xin phép ông cho tôi được nghỉ phép để về nhà,” cậu nói.

“Sẵn sàng, mặc dù không muốn chút nào,” nhà vua nói. “Chúng tôi mất đi cánh tay phải mạnh mẽ của ông.”

“Cảm ơn, thưa ngài.”

“Tôi cũng cho ông giữ lãnh địa của Shiring, và tất cả lợi nhuận từ đó, cho đến khi vấn đề người kế vị được quyết định. Hãy về chôn cất bố và mau trở lại sớm bao nhiêu có thể.”

William cúi chào và rút lui. Nhà vua tiếp tục cuộc nói chuyện với bá tước. Nhân viên trong hoàng cung tụ tập quanh William để chia buồn với cậu. Sau đó ý nghĩa của lời vua nói làm cậu đau lòng. Ông cho cậu tạm giữ lãnh địa cho đến khi vấn đề người kế vị được quyết định. Vấn đề gì? William là con duy nhất của bố cậu. Làm sao lại có thể có vấn đề? Cậu nhìn các khuôn mặt quanh cậu và mắt cậu để ý đến một linh mục trẻ, một trong những người hiểu biết nhất trong giới tu sĩ của nhà vua. Ông kéo vị linh mục lại phía mình và nói khẽ: “Nhà vua nói ‘vấn đề người thừa kế’ nghĩa là làm sao, Joseph?”

“Có một người khác nữa đứng lên đòi lãnh địa.”

“Một người nữa khiếu kiện?” William lập lại trong sự ngạc nhiên. Cậu không có anh em cùng cha khác mẹ, không có anh em bất hợp pháp, anh em họ… “Vậy là ai?”

Joseph chỉ tay về một nhân vật đang đứng quay lưng về phía họ. Cậu ấy đi cùng với bá tước vừa đến. Cậu ấy mặc quần áo của một cận vệ.

“Nhưng cậu ấy chưa phải là một hiệp sĩ!” William nói lớn. “Bố tôi là bá tước của Shiring!”

Người cận vệ nghe thấy và quay lại. “Bố tôi cũng là bá tước của Shiring.”

Lúc đầu William không nhận ra cậu. Cậu nhìn thấy một thanh niên đẹp trai, vai rộng chạc mười tám tuổi, mặc quần áo đẹp và mang một thanh kiếm tốt. Cậu tỏ ra tự tin và kiêu ngạo trong cách đứng. Nổi bật hơn hết, cậu nhìn chằm chằm vào William với cái nhìn hoàn toàn hận thù đến nỗi William chùn lại.

Khuôn mặt này trông có vẻ quen thuộc. Nhưng William vẫn chưa nhận ra đã gặp cậu ở đâu. Rồi cậu nhìn thấy vết sẹo bên tai phải của người cận vệ, nơi dái tai đã bị cắt. Trong nháy mắt cậu nhớ lại một miếng thịt trắng rơi trên ngực phập phồng của một trinh nữ, và nghe tiếng một đứa trẻ thét lên. Đó là Richard, con trai của kẻ phản bội Bartholomew, người em của Aliena. Cậu bé đã bị bắt buộc xem cảnh hai người đàn ông hãm hiếp chị mình bây giờ đã trở thành một thanh niên oai nghi với ánh lửa hận thù trong đôi mắt xanh sáng. William bất ngờ kinh hoàng sợ hãi.

“Ông nhớ rồi, phải không?” Richard cố nói bằng giọng nhẹ nhưng không dấu được sự giận dữ lạnh lùng tiềm ẩn trong đó.

William gật đầu. “Tôi nhớ.”

“Tôi cũng vậy, William Hamleigh,” Richard nói. ”Tôi cũng vậy.”

William ngồi trong một chiếc ghế lớn ở đầu bàn, nơi bố cậu thường ngồi. Cậu luôn biết rằng một ngày nào đó cậu sẽ chiếm chỗ này. Cậu đã tưởng tượng rằng cậu sẽ mạnh mẽ kinh khủng khi cậu nhận cương vị này, nhưng thực tế cậu hơi sợ hãi. Cậu sợ người ta nói rằng cậu không phải là người như bố cậu, và người ta sẽ không tôn trọng cậu. Mẹ cậu ngồi bên tay phải cậu. Cậu đã thường theo dõi bà, khi cha cậu còn ngồi trên ghế này, và quan sát cách bà đánh vào sự sợ hãi và yếu điểm của ông để đạt được điều bà muốn. Cậu quyết định không để bà làm như vậy đối với cậu.

Arthur, một người đàn ông tóc hoa râm, hòa nhã, trước kia là quản lý tài sản của Bá tước Bartholomew, ngồi bên trái cậu. Sau khi trở thành bá tước, bố cậu đã thuê Arthur, vì ông biết nhiều về đất đai. William luôn nghi ngờ về quyết định này vì những nhân viên của các người khác thường theo đường lối của chủ cũ.

“Vua Stephen không thể phong Richard thành bá tước,” bà mẹ giận dữ nói. “Cậu ấy chỉ là một cận vệ.”

“Ngay cả con cũng không hiểu được làm sao cậu ấy lại có thể xoay sở được chuyện đó,” William cáu kỉnh nói. “Con nghĩ họ không còn đồng xu nào. Nhưng cậu ấy có quần áo đẹp và một thanh kiếm tốt. Họ lấy đâu ra tiền?”

“Cậu ấy đứng vững nhờ buôn len,” bà mẹ nói. “Cậu ấy kiếm ra tiền mà cậu ấy cần. Hay đúng hơn, chị của cậu ấy – Mẹ nghe nói Aliena làm kinh doanh.”

Aliena. Thì ra cô ấy ở đàng sau việc này. William chẳng bao giờ hoàn toàn quên cô, nhưng từ khi chiến tranh xẩy ra, cô không còn theo đuổi tâm trí cậu nhiều nữa, cho đến khi gặp Richard. Từ đó cô thường xuyên ở trong tâm trí cậu, tươi vui và xinh đẹp, dễ tổn thương và đáng khao khát hơn bao giờ hết. Cậu ghét cô vì cô hơn cậu.

“Vậy thì bây giờ Aliena giầu rồi phải không?” cậu hỏi như không muốn quan tâm đến.

“Đúng. Nhưng con đã chiến đấu cho vua cả năm nay. Nhà vua không thể khước từ quyền kế vị của con.”

“Richard cũng đã can đảm chiến đấu nữa,” William nói. “Con đã dò hỏi. Tệ hơn nữa, sự can đảm của cậu ấy đã được nhà vua lưu ý đến.”

Biểu lộ của bà mẹ thay đổi từ tức giận, khinh miệt thành trầm tư thận trọng. “Vậy là thực sự cậu ấy có cơ hội.”

“Con sợ như thế.”

“Đúng. Chúng ta phải tìm cách chống lại.”

Williiam bộc phát nói: “Bằng cách nào?” Cậu đã quyết định không để mẹ can dự vào nhưng bây giờ cậu lại hỏi bà.

“Con phải trở lại với nhà vua, mang theo một đoàn hiệp sĩ mạnh hơn với vũ khí mới và ngựa tốt, và rất nhiều hộ vệ và binh lính.”

William thích chống lại bà nhưng cậu biết bà có lý. Sau cùng nhà vua có lẽ sẽ trao lãnh địa cho người có triển vọng trở thành người hỗ trợ đắc lực nhất – không tùy thuộc vào đúng hay sai theo pháp lý.

“Đó không phải là tất cả,” bà mẹ tiếp tục. “Con phải biết chăm sóc bề ngoài và hành động như một bá tước. Nhà vua sẽ coi đó như là một yếu tố cho việc bổ nhiệm.”

Mặc dù còn nhiều nghi ngờ, William vẫn háo hức. “Một bá tước phải ăn mặc và cư xử rao sao?”

“Hãy nghĩ nhiều hơn trong đầu. Hãy có một quan điểm cho mọi sự: nhà vua nên tiến hành chiến tranh ra sao, chiến thuật tốt nhất cho mỗi cuộc chiến, tình hình chính trị ở miền Bắc – đặc biệt điều này – khả năng và sự trung thành của các bá tước khác. Nói chuyện với người này về người kia. Kể cho bá tước của Huntingdon rằng bá tước của Warenne là một người chiến đấu vĩ đại; kể cho giám mục của Ely rằng con không tin tưởng cảnh sát trưởng của Lincoln. Người ta sẽ nói với vua: ‘William thành Shiring thuộc phe của Warenne’, hay ‘William thành Shiring và thuộc hạ của ông chống lại cảnh sát trưởng của Lincoln.’ Nếu con tỏ ra uy quyền, nhà vua sẽ an tâm trao cho con nhiều quyền lực.”

William không tin lắm về những sự tinh tế như vậy. “Con nghĩ sức mạnh của quân đội được coi trọng hơn,” cậu nói, rồi cậu quay sang người quản lý tài sản. “Còn bao nhiêu tiền trong kho bạc của tôi, Arthur?”

“Không có gì, thưa ngài,” Arthur nói.

“Ông nói gì thế?” William gay gắt nói. “Phải còn chút gì chứ! Còn bao nhiêu?”

Arthur hơi trịnh thượng như thể ông không có gì phải sợ William. “Thưa ngài, không có đồng nào trong kho bạc.”

William muốn siết cổ ông ấy. “Đây là lãnh địa Shiring!” cậu nói, đủ lớn để các hiệp sĩ và quan chức lâu đài từ bàn xa nhìn lên. “Ở đây phải có tiền!”

“Dĩ nhiên tiền luôn luôn đến, thưa ngài,” Arthur ôn tồn nói. “Nhưng nó lại ra, nhất là trong thời chiến.” William nghiên cứu khuôn mặt nhợt nhạt, râu được cạo sạch. Arthur quá tự mãn. Ông ta có trung thực không? Không thể nói được. William ước mong đôi mắt cậu có thể nhìn vào tim ông.

Bà mẹ biết những gì William nghĩ. “Arthur trung thực,” bà nói, không ngần ngại dù ông ta còn ở đó. “Ông ấy già, lười biếng, làm theo ý mình, nhưng ông ta trung thực.”

William thất vọng. Cậu mới ngồi vào chiếc ghế này và quyền lực của cậu đã dần dần mất đi, như là ma thuật. Cậu như bị nguyền rủa. Dường như đó là một định luật rằng cậu luôn là một đứa bé trước mặt người khác dù cậu bao nhiêu tuổi. Yếu ớt, cậu nói: “Làm sao chuyện đó có thể xẩy ra được?”

Bà mẹ nói: “Bố con đã bệnh hơn nửa năm qua trước khi ông mất. Mẹ thấy bố lơ là nhiều chuyện, nhưng mẹ không thể bắt bố làm bất cứ chuyện gì.”

Việc bà không có mọi khả năng là một điều mới lạ đối với William. Cậu chưa bao giờ thấy bà không theo cách của bà. Cậu quay qua Arthur. “Chúng ta có vài đất nông nghiệp tốt nhất trong vương quốc. Tại sao chúng ta lại không có xu nào?”

“Một vài nông trại gặp khó khăn, và nhiều người chưa trả tiền thuê.”

“Nhưng tại sao?”

“Một nguyên do tôi thường nghe là các người trẻ không muốn làm việc ở nhà quê nữa, mà bỏ lên tỉnh ở.”

“Vậy chúng ta phải ngăn họ lại!”

Arthur nhún vai. “Một nông nô nếu đã sống ở thành phố được một năm, họ sẽ là người tự do. Đó là luật.”

“Còn những người chưa trả tiền thuê, ông làm gì với họ?”

“Chúng ta có thể làm gì?” Arthur nói. “Nếu chúng ta lấy đi kế sinh nhai của họ, họ sẽ chẳng bao giờ có thể trả. Vì thế chúng ta phải kiên nhẫn, và hy vọng một mùa gặt tốt giúp họ có thể trả.”

Nhìn chung, Arthur bất lực trong việc giải quyết vấn đề này, William tức giận nghĩ; nhưng lúc này cậu kìm hãm tính khí của cậu lại. “Tốt, nếu các người trẻ di chuyển vào thành phố, thế còn tiền thuê nhà ở Shiring ra sao? Nó phải mang lại một số tiền?”

“Một cách lạ lùng, không đem lại đồng nào,” Arthur nói. “Một số lớn nhà ở Shiring bỏ không. Các người trẻ dường như đi nơi khác.”

Hay mọi người đang nói dối ông, William nghĩ. “Tôi đoán ông đang định nói rằng thu nhập từ chợ ở Shiring và hội chợ lông cừu cũng như vậy?”

“Vâng –“

“Vậy tại sao ông không tăng tền thuê và thuế lên?”

“Chúng tôi đã làm, thưa ngài, theo lệnh của bố ngài, nhưng dù sao thu nhập vẫn đi xuống.”

“Với bất động sản không mang lại hiệu quả như vậy, tại sao Bartholomew đã có thể sống thoải mái được?” William nói trong bực tức.

Cho vấn đề này Arthur cũng đã có câu trả lời: “Ông ấy có quặng đá. Ngày xưa nó đã mang lại rất nhiều tiền.”

“Và bây giờ nó nằm trong tay của vị tu sĩ đáng ghét.” William run lên. Ngay lúc cậu cần phô trương, cậu biết cậu không còn đồng xu dính túi. Tình hình nguy hiểm cho cậu. Nhà vua chỉ cho cậu tạm thời giữ lãnh địa. Đó là một loại thử thách. Nếu cậu trở lại hoàng cung với một đội quân nhỏ bé, nó có thể được coi là cậu vô ơn hoặc ngay cả không trung thành.

Bên cạnh đó, bức tranh ảm đạm mà Arthur vẽ ra có thể không hoàn toàn đúng. William cảm thấy chắc chắn người ta lừa dối cậu – và có lẽ họ còn cười sau lưng cậu nữa. Ý nghĩ đó làm cậu tức giận. Cậu không thể bỏ qua nó. Cậu phải tỏ cho họ biết. Phải có đổ máu trước khi cậu chấp nhận thất bại.

“Ông luôn luôn có một lời bào chữa cho mọi việc,” cậu nói với Arthur. “Thực tế là ông đã không coi sóc bất động sản này trong thời gian bố tôi bị bệnh mà chính ra đó là thời điểm ông cần cảnh giác nhất.”

“Nhưng thưa ngài –“

William cao giọng: “Nếu ông không câm miệng, tôi sẽ ra lệnh đánh ông.”

Arthur tái mặt và lặng im.

William nói: “Bắt đầu từ ngày mai, chúng ta sẽ đi một vòng quanh lãnh địa. Chúng ta sẽ thăm mọi làng thuộc quyền của tôi, và đánh thức họ. Có thể ông không biết phải xử sự thế nào với những nông dân hay than van, lười biếng, nhưng tôi biết. Chẳng bao lâu nữa tôi sẽ tìm ra xem lãnh địa của tôi kiệt quệ như thế nào. Và nếu ông đã nói dối tôi, tôi thề ông sẽ là người đầu tiên trong số nhiều người bị treo cổ.”

Ngoài Arthur, cậu mang theo người phục vụ Walter và bốn hiệp sĩ khác, những người đã chiến đấu bên cạnh cậu trong năm qua: Ugly Gervase, Hug Axe, Gilbert de Rennes và Miles Dice. Họ đều là những ngườ to con, hung bạo, dễ nổi giận và luôn sẵn sàng chiến đấu. Họ cưỡi ngựa tốt nhất và mang đầy đủ vũ khí để dọa giai cấp nông dân. William cho rằng một người đàn ông bất lực là người mà người ta không sợ.

Đó là một ngày nóng nực vào mùa hè, và những bó lúa chất đứng trong cánh đồng. Sự giầu có hiển nhiên càng làm William thêm nổi giận vì cậu không có đồng xu nào. Phải có một ai đó ăn cướp của cậu. Ai dám làm chuyện đó. Gia đình cậu đã chiếm được cả lãnh địa của Bartholomew khi ông bị thất sủng, và bây giờ cậu không có xu nào trong khi con của Bartholomew giầu có. Ý tưởng rằng người ta đã ăn cắp của cậu, và cười vào sự ngu dốt của cậu, day dứt cậu giống như một cơn đau dạ dầy, và cậu càng giận dữ hơn trên đường đi.

Cậu quyết định bắt đầu ở Northbrook, một ngôi làng nhỏ nằm hẻo lánh xa lâu đài. Dân làng lẫn lộn giữa nông nô và người tự do. Nông nô thuộc quyền sở hữu của William, và họ không được phép làm bất cứ chuyện gì nếu không có phép của cậu. Họ phải làm việc cho cậu một số ngày vào những thời điểm nhất định trong năm, và chia cho cậu một phần hoa lợi. Những người tự do chỉ phải trả tiền thuê, bằng tiền mặt hay bằng hiện vật. Năm trong số họ còn thiếu nợ. William để ý rằng có thể họ nghĩ vì họ ở xa lâu đài nên họ có thể trốn được nợ. Nó có thể là một nơi tốt để bắt đầu cuộc thanh trừng này.

Đó là một chuyến đi dài, và mặt trời lên cao khi họ đến làng. Có chừng hai mươi hay ba mươi nhà được bao quanh bởi ba cánh đồng lớn vừa gặt xong. Gần những căn nhà, ở một góc cánh đồng, ba cây sồi to đứng thành một cụm. Khi William và đoàn tùy tùng đến gần, cậu thấy hầu hết dân làng đang ngồi dưới gốc sồi và ăn trưa. Vài trăm mét sau cùng, cậu thúc ngựa phi nhanh, và những người khác cũng làm theo. Họ dừng lại trước mặt dân làng trong một đám bụi mù.

Trong khi dân làng đứng lên, nuốt nốt miếng bánh trong miệng và dụi bụi ra khỏi mắt, đôi mắt nghi ngờ của William quan sát một cảnh kỳ lạ. Một người trung niên có bộ râu đen nói nhẹ nhàng nhưng khẩn trương với một cô gái má phúng phính đỏ đang bế một em bé má đỏ. Một thanh niên tham gia với họ và bị người đàn ông lớn tuổi đuổi đi ngay. Rồi cô gái chạy đi về hướng các căn nhà và mất hút trong bụi. William tò mò. Có một cái gì đó lén lút trong cảnh này, và William ước mong có mẹ ở đây để cắt nghĩa nó.

Cậu quyết định không làm gì về chuyện đó trong lúc này. Cậu nói với Arthur bằng giọng đủ to để mọi người có thể nghe thấy. “Năm người thuê nhà của tôi ở đây còn thiếu nợ phải không?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Ai thiếu nhiều nhất?”

“Athelstan đã không trả từ hai năm nay, nhưng ông ấy không gặp may mắn với đàn heo của ông –“

William cắt lời Arthur. “Ai trong các ông là Athelstan?”

Một người đàn ông cao, gù lưng chừng bốn mươi lăm tuổi tiến ra phía trước. Ông có mái tóc mỏng và mắt đầy nước.

William nói: “Tại sao ông không trả tiền thuê cho tôi?”

“Thưa ngài, đất tôi nhỏ và tôi không có người giúp việc, ngoài ra các con trai tôi đã đi làm trong phố, rồi heo còn bị sốt –“

“Chờ một chút,” William nói. “Con trai ông đi đâu?”

“Tới Kingsbridge, thưa ngài, để làm việc cho nhà thờ chính tòa ở đó, bởi vì chúng muốn kết hôn, như những người trẻ khác, và đất tôi không đủ cho ba gia đình.”

Thông tin về các người trẻ đi làm việc cho nhà thờ chính tòa ở Kingsbridge được William ghi nhớ trong đầu để suy nghĩ trong tương lai. “Đất ông đủ lớn để hỗ trợ ít nhất cho một gia đình, nhưng tại sao ông không trả tiền thuê?”

Athelstan bắt đầu lại kể về đàn heo của ông. William hiểm ác nhìn ông, nhưng không để ý nghe. Tôi biết tại sao ông không trả, cậu nghĩ; ông biết chủ ông bị bệnh và ông quyết định lừa bịp trong khi ông ấy không có sức để thi hành quyền hạn của ông ấy. Bốn người khác cũng nghĩ như vậy. Ông ăn cướp của chúng tôi khi chúng tôi yếu thế.

Một lúc lâu cậu đã tự thương hại mình. Năm người họ đã cười khúc khích về sự khôn ngoan của họ, cậu cảm thấy chắc chắn như thế. Tốt, bây giờ họ sẽ học được bài học. “Gilbert và Hugh, bắt người nông dân này và giữ chặt ông ta,” cậu trầm tĩnh nói.

Athelstan vẫn còn đang nói. Hai người hiệp sĩ xuống ngựa và đến gần ông ta. Câu chuyện về heo bị sốt của ông không có giá trị. Hai hiệp sĩ giữ chặt cánh tay ông. Mặt ông xanh đi vì sợ.

William nói với Walter trong cùng một giọng trầm tĩnh. “Ông có mang theo găng tay bằng móc xích sắt không?”

“Có, thưa ngài.”

“Đeo chúng vào. Cho Athelstan một bài học. Nhưng để ông ta sống để loan tin này.”

“Vâng, thưa ngài.” Walter lấy từ trong bị bên yên ngựa một đôi găng tay da với chuỗi mắt xích nhỏ khâu trên đốt ngón tay và lưng ngón tay. Ông chậm rãi đeo chúng vào. Tất cả dân làng nhìn trong sợ hãi, và Athelstan bắt đầu rên rỉ vì kinh hoàng.

Walter xuống ngựa, đến gần Athelstan và đấm vào bụng ông. Tiếng đấm vào bụng ông vang lên ghê rợn. Athelstan gập người lại, nghẹt thở không còn kêu lên được. Gilbert và Hugh kéo ông ta thẳng lên và Walter đấm vào mặt ông. Máu trào ra từ miệng và mũi ông. Một người đứng xem, một người đàn bà có lẽ là vợ ông, rú lên, nhẩy vào Walter và hét to: “Ngưng lại! Hãy để cho ông ấy yên! Đừng giết ông ấy!”

Walter gạt bà ra, và hai người phụ nữ nắm lấy bà và kéo bà trở lại. Bà tiếp tục la hét và vùng vẫy. Các nông dân khác nhìn xem trong chống đối yên lặng khi Walter đánh Athelstan một cách có hệ thống cho đến khi cơ thể ông mềm nhũn, khuôn mặt ông đầy máu và mắt ông nhắm lại bất tỉnh.

“Cho ông ấy đi,” sau cùng William nói.

Gilbert và Hugh thả Athelstan ra. Ông ngã xuống đất và nằm yên. Các đàn bà khác buông vợ ông ấy ra và bà chạy tới ông, khóc thổn thức và quỳ xuống bên cạnh ông. Walter cởi găng tay, và gỡ máu và thịt khỏi dây xích nhỏ.

William không còn thích thú gì về Athelstan. Nhìn quanh làng, cậu thấy bên bờ con rạch một cấu trúc hai tầng bằng gỗ còn mới. Cậu chỉ vào nó và hỏi Arthur: “Cái gì đây?”

“Trước đây tôi chưa nhìn thấy nó, thưa ngài,” Arthur lo lắng nói.

William nghĩ ông ta nói dối. “Đó là một máy xay bằng nước phải không?”

Arthur nhún vai, nhưng sự thờ ơ của ông không thuyết phục William. “Một cấu trúc được xây dựng ngay bên bờ suối thì tôi không thể tưởng tượng nó là cái gì khác.”

Làm sao ông ấy dám xấc láo khi ông ấy vừa nhìn thấy một nông dân bị đánh gần chết theo lệnh của William? Hầu như tuyệt vọng, William nói: “Có phải nông nô của tôi được phép xây dựng nhà máy xay mà không cần xin phép tôi không?”

“Không, thưa ngài.”

“Ông có biết lý do tại sao điều này bị cấm không?”

“Vì họ sẽ đem lúa của họ tới nhà máy xay của lãnh chúa và trả tiền xay cho lãnh chúa.”

“Và lãnh cúa được hưởng lợi.”

“Vâng, thưa ngài.” Arthur nói bằng giọng điệu của một người giải thích những cơ bản nhất cho một đứa trẻ. “Nhưng nếu họ trả tiền phạt cho việc thiết lập nhà máy xay, lãnh chúa cũng được hưởng lợi giống như thế.”

William điên lên về giọng nói của ông. “Không, lãnh chúa sẽ không hưởng lợi giống nhau. Tiền phạt bao giờ cũng ít hơn tiền công xay lúa. Đó là lý do tại sao họ thích xây nhà máy xay. Và đó là lý do tại sao bố tôi không cho phép họ xây.” Không cho Arthur cơ hội đáp lại, cậu đạp vào ngựa và đi đến nhà máy xay. Các hiệp sĩ đi theo ông, và dân làng theo sau họ thành một đám đông rời rạc.

William xuống ngựa. Không còn nghi ngờ gì về tòa nhà này nữa. Một bánh xe lăn lớn được quay bởi sức mạnh của dòng nước chẩy. Bánh xe quay một trục xuyên qua bức tường nhà máy xay. Nó là một kiến trúc chắc chắn bằng gỗ, bền vững cho lâu dài. Người nào xây dựng nó chắc cũng đã hy vọng sẽ sử dụng nó miễn phí trong nhiều năm.

Người xay lúa đứng bên ngoài cánh cửa mở, mang bộ mặt vô tội đáng thương. Trong căn phòng phía sau ông là những bao hạt được xếp gọn gàng. William xuống ngựa. Người xay lúa cúi chào cậu một cách lịch sự, nhưng có phải trong cái nhìn của ông dấu ẩn một thoáng khinh miệt? Một lần nữa William có một cảm giác đau đớn rằng những người này coi cậu không ra gì, và cậu không có khả năng áp đặt ý muốn của cậu trên họ. Cảm giác đó làm cậu thấy sự bất lực của cậu. Sự phẫn nộ và thất vọng bùng lên trong cậu, và cậu giận dữ hét người xay lúa. “Tại sao ông dám làm việc này? Ông nghĩ là tôi ngu đần sao? Có phải vậy không? Có phải đó là điều ông nghĩ không?” Rồi cậu đấm vào mặt ông ấy.

Người xay lúa kêu lên một tiếng kêu đau đớn và gục xuống đất.

William bước qua ông và đi vào bên trong. Trục của bánh xe được kết nối bởi một số các bánh răng bằng gỗ tới trục của đá mài ở tầng trên. Hạt được xay sẽ rơi qua một cầu trượt tới một sàn đập ở tầng trệt. Tầng trên phải chịu đựng sức nặng của đá mài, nên được đỡ bởi bốn cột gỗ dầy. Những cột gỗ này không nghi ngờ gì là được lấy từ rừng của William mà không có phép. Nếu các cột gỗ bị gẫy, toàn bộ công trình sẽ bị sập.

William đi ra ngoài. Hugh Axe mang vũ khí mà qua đó cậu được đặt tên – Hugh búa rìu. William nói: “Đưa cho tôi chiếc búa rìu của ông.” Hugh làm theo. William đi vào lại trong nhà và bửa vào cột gỗ đỡ tầng nhà trên.

Cậu rất hài lòng khi những lưỡi rìu bửa vào tòa nhà mà các nông dân đã cẩn thận xây dựng để lừa phí xay của cậu. Khi tôi làm xong việc này, cậu nghĩ một cách dã man, không còn ai dám cười tôi nữa.

Walter đi vào và đứng nhìn. William bửa một khe sâu vào một trong những cột gỗ và búa thứ hai cắt luôn một nửa cột gỗ. Sàn tầng nhà trên, nơi chịu gánh nặng lớn của cối đá xay, bắt đầu rung lên. William nói: “Lấy một sợi dây thừng.” Walter đi ra ngoài.

William chặt hai cột gỗ khác, chặt sâu như ông dám. Tòa nhà sẵn sàng xụp đổ. Walter trở lại với vài sợi dây thừng. William cột sợi dây thừng vào một trong những cột gỗ, rồi kéo đầu dây kia ra ngoài và cột nó vào cổ con ngựa chiến.

Các nông dân nhìn xem trong im lặng ủ rũ.

Khi dây thừng đã được cột chắc, William nói: “Người xay lúa đâu?”

Người xay lúa đến gần, vẫn cố gắng làm ra vẻ như đã vị đối xử bất công.

William nói: “Gervase, cột ông ấy lại và đưa ông ấy vào bên trong.”

Người thợ xay cố tìm đường thoát thân, nhưng Gilbert đá vào ông và ngồi trên ông, và Gilbert cột chân tay ông ấy lại bằng dây da. Hai kỵ binh nhấc ông ấy lên. Ông bắt đầu vùng vẫy và nài xin lòng thương xót.

Một người dân làng bước ra khỏi đám đông và nói: “Ông không thể làm điều đó. Đó là giết người. Ngay cả một lãnh chúa cũng không được phép giết người.”

William chỉ một ngón tay run rẩy vào ông. “Nếu ông còn mở miệng lần nữa, tôi sẽ cho ông vào trong với ông ấy.”

Người đàn ông nhìn thách thức, rồi ông ấy nghĩ lại và quay đi.

Các hiệp sĩ ra khỏi nhà máy xay. William cho ngựa tiến về phía trước cho đến khi sợi dây thừng căng ra, rồi ông đập vào mông ngựa và nó kéo đi.

Bên trong tòa nhà, người xay lúa bắt đầu kêu la. Tiếng kêu kinh hoàng. Nó là tiếng kêu sợ hãi của một người lúc sắp chết, một người biết rằng trong vài khoảnh khắc nữa họ sẽ bị đè bẹp cho đến chết.

Con ngựa cựa quậy cái đầu, muốn nới lỏng sợi dây thừng quanh cổ nó. William la hét nó, đá vào mông nó cho nó kéo đi, rồi hét các hiệp sĩ: “Kéo dây đi, các ông!” Bốn hiệp sĩ nắm lấy sợi dây và cùng kéo với con ngựa. Tiếng dân làng vang lên phản đối, nhưng họ quá sợ hãi để can thiệp vào. Arthur đứng một bên, trông có vẻ bệnh hoạn.

Tiếng hét của người thợ xay inh ỏi. William tưởng tượng ông ấy phải chờ đợi cái chết khủng khiếp trong một quá trình kinh hoàng như thế nào. Không người nào trong số những nông dân này sẽ quên được sự trả thù của gia đình Hamleigh, cậu nghĩ.

Tiếng gỗ kêu cọt kẹt; sau đó là tiếng kêu răng rắc khi nó đổ. Con ngựa lao về phía trước và các hiệp sĩ bỏ sợi dây ra. Một phía mái sụp xuống. Các phụ nữ kêu khóc. Các bức tường bằng gỗ lung lay; tiếng la hét của người thợ xay to hơn; một tiếng đổ ầm kinh khủng khi tầng trên đổ xuống; tiếng kêu của người thợ xay đột ngột im bặt; và mặt đất rung chuyển khi tảng đá mài rơi xuống trên sân đạp lúa. Các bức tường vỡ vụn, mái nhà sập, và trong một thoáng chốc nhà máy không còn gì, ngoài một đống gỗ vụn và một người đàn ông chết trong đó.

William cảm thấy hài lòng.

Một vài dân làng chạy về phía trước và điên cuồng đào bới đống đổ vỡ. Nếu họ chờ đợi tìm thấy người thợ xay vẫn sống, họ sẽ phải thất vọng. Thân thể ông là một cảnh tượng rùng rợn. Thà như vậy còn tốt hơn!

Nhìn quanh, William phát hiện ra cô gái có má đỏ với đứa bé má đỏ đang đứng đàng sau đám đông như thể cô sợ bị phát hiện. Cậu nhớ người đàn ông râu đen – có lẽ là bố cô – đã tìm cách cho cô trốn đi. Cậu quyết định tìm ra bí mật này trước khi rời làng. Cậu nhìn cô và ra hiệu cho cô. Cô nhìn vào phía sau, hy vọng cậu đã chỉ vào người nào khác. “Cô,” William nói. “Lại đây.”

Người đàn ông râu đen nhìn thấy cô và càu nhàu bực tức.

William nói: “Ai là chồng cô?”

Ông bố nói: “Cô ấy không có chồng –“

Đã quá trễ, bởi vì cô gái nói: “Edmund.”

“Thì ra cô đã kết hôn. Nhưng ai là bố cô?”

“Tôi,” người đàn ông râu đen nói. “Theobald.”

William quay sang Arthur. “Có phải Theobald là người tự do không?”

“Ông ấy là nông nô, thưa ngài.”

“Và khi người con gái của nông nô kết hôn, đó không phải là quyền của lãnh chúa, chủ của cô, được hưởng cô trong đêm tân hôn sao?”

Arthur bị sốc. “Thưa ngài, tục lệ thô lỗ này từ xa xưa đã không còn được áp dụng trong vùng đất này của thế giới.”

“Đúng,” William nói. “Thay vào đó, ông bố phải trả tiền phạt. Theobald đã trả bao nhiêu?”

“Ông ta chưa trả, nhưng –“

“Chưa trả! Vậy mà cô ấy đã có một đứa con má đỏ mập mạp!”

Theobald nói: “Chúng tôi chẳng bao giờ có tiền, thưa ngài, và cô ấy có con với Edmund và muốn được kết hôn, nhưng bây giờ chúng tôi có thể trả, bởi vì mùa gặt đã tới.”

William mỉm cười với cô gái. “Cho tôi xem đứa bé.”

Cô nhìn cậu sợ hãi.

“Lại đây, đưa đứa bé cho tôi.”

Cô sợ hãi nhưng cô đứng chết lặng, không thể tiến lên trao đứa bé. William đến gần và nhẹ nhàng lấy đứa bé khỏi tay cô. Mắt cô đầy kinh hoàng nhưng cô không thể chống lại cậu.

Đứa nhỏ bắt đầu khóc. William giữ nó một lúc, và sau đó dùng một tay nắm hai cổ chân nó và với một chuyển động nhanh chóng ném nó lên cao bao nhiêu có thể.

Cô gái hét lên và nhìn theo đứa bé bay lên cao.

Ông bố chạy về phía trước với hai cánh tay dang ra đỡ nó khi nó rơi xuống.

Trong khi cô gái nhìn lên và kêu la, William nắm áo cô và xé nó ra. Cô có một thân thể trẻ trung, màu hồng và tròn trịa.

Cô gái chạy đi, nhưng William giữ cô lại và quật cô xuống nền đất.

Ông bố trao đứa bé cho một phụ nữ và quay lại nhìn William.

William nói: “Vì tôi không được hưởng quyền của tôi trong đêm tân hôn, và tiền phạt cũng chưa được trả, nên bây giờ tôi sẽ lấy những gì thuộc về quyền tôi.”

Ông bố lao vào cậu.

William rút gươm ra.

Ông bố dừng lại.

William nhìn cô gái đang nằm trên đất, cô gắng dùng hai tay che đậy sự trần truồng của mình. Sự sợ hãi của cô kích động cậu. “Và khi tôi làm xong, các hiệp sĩ của tôi sẽ làm cô ấy nữa,” cậu nói với nụ cười mãn nguyện.

II

Trong ba năm qua, Kingsbridge đã thay đổi không còn nhận ra được.

William đã không đến đây từ lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, khi Philip và đoàn người thiện nguyện của ông đã phá vỡ kế hoạch của Giám mục Waleran Bigod. Ngày trước có bốn mươi hay năm mươi ngôi nhà gỗ nằm rải rác bên cổng tu viện và dọc theo lối đi lầy lội đến cây cầu. Bây giờ, khi đến gần ngôi làng, cậu nhìn qua cánh đồng nhấp nhô và thấy ít nhất số nhà đã tăng lên gấp ba lần. Chúng tạo nên một đường vành nâu xung quanh bức tường đá màu xám của tu viện và hoàn toàn đổ đầy khoảng cách giữa tu viện và dòng sông. Nhiều nhà trông rộng lớn. Trong khu tu viện đã có nhiều tòa nhà bằng đá mới, và bức tường của nhà thờ dường như cao nhanh. Có hai cầu cảng mới bên dòng sông. Kingsbridge đã thành một thị trấn.

Khung cảnh nơi đây xác nhận sự nghi ngờ đã lớn lên trong tâm trí cậu từ khi cậu về lại nhà sau chiến tranh. Khi cậu đi một vòng quanh lãnh địa, đòi lại tiền thuê và khủng bố các nông nô không vâng lời, cậu thường nghe nói về Kingsbridge. Những người trẻ không có đất đai canh tác đến đó làm việc; gia đình giầu có gửi con đến học ở tu viện; gia đình nhỏ bán trứng và phô mát cho các công nhân làm việc trên công trường xây dựng; và ai có khả năng đều đến đó vào các ngày lễ nghỉ, mặc dù ở đó chưa có nhà thờ chính tòa. Hôm nay là ngày lễ nghỉ - lễ Tổng lãnh Thiên thần Micae, năm nay rơi vào ngày chủ nhật. Đó là một buổi sáng mùa thu sớm, nhẹ nhàng, thời tiết tốt thuận tiện cho hành trình, vì thế có đông người đến đó. William chờ đợi có thể tìm ra lý do đã thu hút người ta đến Kingsbridge.

Năm cận vệ của cậu cùng đi. Họ đã hoàn thành công việc tốt trong các làng. Tin tức về chuyến đi của William truyền đi với tốc độ kỳ lạ, và chỉ sau vài ngày người ta đã biết những gì đang chờ đợi họ. Khi William đến một làng nào đó, dân làng đã sai các trẻ em và phụ nữ trẻ vào ẩn trong rừng. William thích tạo nên sự sợ hãi trong tâm hồn người khác: nó giữ họ trong vị trí của họ. Chắc chắn bây giờ họ biết cậu là người có quyền ra lệnh.

Khi nhóm họ đến gần Kingsbridge, cậu thúc ngựa phi nước đại và đoàn tùy tùng cũng làm theo. Đến bằng tốc độ nhanh luôn tạo ấn tượng mạnh. Những người trên đường đi dạt qua hai bên hoặc nhẩy vào ruộng để tránh những con ngựa lớn.

Họ chạy lóc cóc trên chiếc cầu gỗ, tạo nên tiếng ồn ào lớn và bỏ qua trạm thu phí, nhưng con đường hẹp trước mặt họ bị ngăn lại bởi chiếc xe chở đầy vôi, được kéo bởi hai con bò lớn, chậm chạp; và những con ngựa của hiệp sĩ phải đột ngột giảm tốc độ lại.

William nhìn quanh và theo xe bò lên đồi. Những căn nhà mới xây vội vã giữa các nhà cũ. Cậu chú ý đến một tiệm ăn, một quán bia và một tiệm đóng giày. Không nhầm lẫn được, sự thịnh vượng đang phát triển ở đây. William ghen tị.

Tuy nhiên, không có nhiều người trên đường phố. Có lẽ tất cả họ ở trong tu viện.

Với các hiệp sĩ đàng sau, cậu theo xe bò vào cổng tu viện. Đó không phải là cách mà cậu thích vào, và cậu cũng lo lắng có người nhìn thấy và cười cậu. Nhưng may mắn thay, không ai để ý đến cậu.

Trái ngược với thị trấn hoang vắng bên ngoài bức tường, khuôn viên tu viện ồn ào với các sinh hoạt.

William ghìm ngựa lại và nhìn quanh, cố gắng có cái nhìn tổng quát. Có rất nhiều người và nhiều sinh hoạt làm cậu hoang mang. Sau đó cậu nhận ra cảnh tượng được chia thành ba phần.

Gần cậu nhất, ở phía tây của khu tu viện, có một khu chợ. Các quầy hàng được dựng theo hàng, từ bắc đến nam, và hàng trăm người chen chúc giữa các lối đi. Họ mua đồ ăn và nước uống, mũ và giày dép, dao, dây thắt lưng, vịt, chó, chậu, bông tai, len, sợi, dây thừng và hàng chục nhu cầu cần thiết và xa xỉ khác. Khu chợ rõ ràng đã phát triển mạnh, và các đồng xu, nửa đồng xu và đồng hào được trao từ tay người này qua người khác tạo nên một khối giao dịch tiền tệ lớn lao.

Chẳng có gì lạ, William cay đắng nghĩ, khi khu chợ ở Shiring suy sụp vì ở đây có một khu chợ phồn thịnh thay thế. Tiền thuê từ chủ quầy, phí về dịch vụ và thuế bán hàng thay vì vào kho bạc của lãnh chúa ở Shiring, nay lại làm đầy kho bạc của tu viện Kingsbridge.

Nhưng một khu chợ cần giấy phép của nhà vua, và William chắc chắn Tu viện trưởng Philip không có. Cậu lên kế hoạch để bắt ông, giống như bắt người thợ xay ở Northbrook. Đáng tiếc cho William là nó không dễ để cho Philip một bài học.

Đàng sau khu chợ là một khu yên tĩnh. Tiếp giáp với tu viện, nơi khu trung tâm của nhà thờ cũ, có một bàn thờ dưới bóng cây và một tu sĩ tóc bạc đứng trước đó và đọc sách. Ở phía bên kia bàn thờ, các tu sĩ ngồi theo hàng đàng hoàng và hát thánh ca, mặc dù ở khoảng cách này tiếng ồn ào của chợ búa đã che lấp tiếng hát của họ. Đó là một cộng đoàn nhỏ. Đây có lẽ là giờ kinh trưa, một giờ kinh dành cho các tu sĩ, William nghĩ: tất cả công việc và chợ búa sẽ ngưng lại cho thánh lễ chính kính Thiên thần Micae, dĩ nhiên.

Ở phía bên kia khu tu viện, gian phía đông của nhà thờ chính tòa đang được xây. Đây là nơi tu viện trưởng chi tiền mà ông đã thu được từ khu chợ, William chua chát nghĩ. Những bức tường đã xây cao được ba mươi hay bốn mươi feet, và nó đã có thể nhìn thấy nét đại cương của các cửa sổ và mái vòm của đường đi hai bên gian phụ. Người lao động làm việc khắp nơi trên công trường. William nghĩ họ trông có vẻ kỳ lạ, và sau đó cậu nhận ra đó là do quần áo nhiều màu sắc của họ. Họ không phải là những người lao động thường ngày, dĩ nhiên – lực lượng lao động có lương được nghỉ lễ hôm nay. Những người lao động này là những người thiện nguyện.

Cậu không ngờ số người này quá đông. Hàng trăm đàn ông và đàn bà khênh đá, tách gỗ, lăn thùng và lấy những xe cát nặng từ dòng sông. Tất cả họ làm việc không nhận gì cả, chỉ để được tha thứ tội lỗi của họ.

Tu viện trưởng tinh ranh này đã tổ chức một cách khôn ngoan, William quan sát một cách ghen tị. Những người đến làm việc cho nhà thờ sẽ tiêu tiền trên chợ. Những người đến chợ sẽ dùng vài giờ làm việc cho nhà thờ vì tội lỗi của họ. Vì thế tay này rửa tay kia.

Cậu thúc vào ngựa cho tiến về phía trước và đi ngang nghĩa địa tới phía khu tòa nhà để quan sát nó kỹ hơn.

Tám cột trụ lớn của đường mái vòm đứng thành hàng hai dọc theo chiều dài của khu xây dựng. Từ xa William tưởng đã có thể nhìn thấy mái vòm được nối từ đầu cột này sang đầu cột khác, nhưng bây giờ cậu nhận ra mái vòm chưa được xây – những gì cậu nhìn thấy chỉ là những khuôn gỗ hình mái vòm, trong đó những viên đá được giữ cho đến khi vữa khô. Những khuôn gỗ không cần cột chống từ nền nhà, nhưng nằm trên các khuôn nhô ra trên đầu cột trụ.

Song song với đường mái vòm, các bức tường ngoài của hai gian phụ đang cao lên, với những khoảng trống đều đặn dành cho cửa sổ. Từ giữa bức tường của hai cửa sổ nhô ra một trụ đỡ. William nhìn vào phần cuối của những bức tường chưa hoàn thành và nhận ra chúng không phải hoàn toàn bằng đá, nhưng là bức tường đôi, ở giữa có một khoảng trống mà có lẽ sẽ được đổ đầy bằng đá vụn và vữa.

Giàn giáo được làm bằng những cột chắc chắn cột lại với nhau bằng dây, sàn cầu được làm bằng cây nhỏ và phiến đan bằng lau sậy.

Một số tiền lớn đã được chi tiêu ở đây, William ghi nhận.

Cậu cưỡi ngựa đi chung quanh bên ngoài gian cung thánh, theo sau là những cận vệ. Dựa vào tường là những túp lều bằng gỗ, nhà xưởng và nhà nghỉ cho các thợ thủ công. Hầu hết chúng đều đóng cửa, bởi vì hôm nay không có thợ xây làm tường, cũng như không có thợ mộc làm giàn giáo. Tuy nhiên, các thợ thủ công giám sát – thợ xây chính và thợ mộc chính – đang chỉ đạo các người lao động thiện nguyện, chỉ cho họ chỗ xếp các viên đá, các thanh gỗ và cát mà họ khiêng từ dưới sông lên.

William đi quanh gian phía đông của nhà thờ tới phía nam, nơi đường đi bị những tòa nhà của tu viện chặn lại. Rồi cậu quay trở lại, kinh ngạc trước sự khôn ngoan của Tu viện trưởng Philip đã biết dùng các thợ thủ công chính làm việc trong ngày lễ và người tình nguyện làm việc không lương.

Khi cậu suy nghĩ lại những gì cậu đã thấy, rõ ràng tu viện trưởng là nguyên nhân chính gây nên sự suy tàn của lãnh địa Shiring. Các trang trại thiếu đi các người trẻ vì họ làm trên công trường xây dựng, và Shiring – hòn ngọc của lãnh địa – bị lu mờ vì thị trấn mới Kingsbridge đang mọc lên. Dân cư trả tiền thuê cho Philip, chứ không phải William, và những người mua bán ở ngoài chợ tạo ra thu nhập cho tu viện, chứ không phải cho lãnh địa. Và Philip có gỗ, trang trại cừu và mỏ đá, những thứ một thời đã làm giầu cho lãnh chúa Shiring.

William và đoàn tùy tùng đi trở lại sân tới khu chợ. Cậu quyết định nhìn kỹ hơn. Cậu thúc ngựa vào giữa đám đông, nhưng chỉ nhích đi được. Dân chúng không sợ hãi tán loạn tránh đường cho cậu. Khi ngựa thúc vào họ, họ nhìn cậu tức bực hay khó chịu chứ không khiếp sợ; và không ai hạ mình nhường đường cho cậu, nhưng họ thanh thản đi trên đường của họ. Điều đó làm cậu lo lắng. Nếu người ta không khiếp sợ cậu thì cậu cũng khó ra lệnh cho họ.

Cậu đi xuống theo một hàng các quầy rồi lại đi lên ở hàng sau, với các hiệp sĩ phía sau. Cậu trở nên tức bực với đám đông di chuyển chậm chạp. Đi bộ có lẽ nhanh hơn; nhưng cậu chắc chắn rằng dân cư Kingsbridge cứng đầu này có lẽ sẽ tự mãn đủ để chen lấn cậu.

Đang trên đường đi cậu thấy Aliena.

Cậu cho ngựa dừng lại đột ngột và sững sờ nhìn cô.

Cô không còn là cô bé gầy, căng thẳng, sợ hãi trong đôi guốc gỗ mà cậu đã nhìn thấy trong lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống cách đây ba năm. Khuôn mặt cô, ngày trước cau lại vì căng thẳng, bây giờ đầy đặn, và cô trông khỏe mạnh và hạnh phúc. Đôi mắt cô ánh lên niềm vui và mái tóc cô xõa xuống trên mặt khi cô lắc đầu.

Cô quá đẹp đến nỗi cô làm cho Williiam choáng lên vì thèm muốn.

Cô mặc chiếc áo thêu màu đỏ tươi và bàn tay cô lung linh với nhẫn. Có một bà già cùng đi với cô, đứng xa cô một chút, giống như người phục vụ. Cô có nhiều tiền, mẹ cậu đã nói; và đó là lý do tại sao Richard có thể trở thành một cận vệ và gia nhập quân đội của vua Stephen với vũ khí đẹp. Một cô gái cơ cực, không xu dính túi, bất lực – làm sao cô có thể làm được điều ấy?

Cô ở gian hàng bán kim chỉ và các nhu yếu phẩm về may vá, và đang nói chuyện hào hứng với người bán hàng, một người Do Thái tóc đen ngắn. Tư cách của cô đáng khâm phục, và cô thoải mái, tự tin. Cô đã tìm lại được tư thế đĩnh đạc của một người con gái của bá tước.

Cô trông già hơn. Cô phải già hơn, dĩ nhiên: William hai mươi bốn, vì thế bây giờ cô phải hai mươi mốt tuổi. Nhưng cô trông già hơn thế. Không còn nét trẻ thơ trong cô. Cô đã trưởng thành.

Cô quay lên và bắt gặp ánh mắt cậu.

Lần trước cậu nhìn cô, cô đã đỏ mặt xấu hổ và trốn đi. Lần này cô đứng nguyên và nhìn lại cậu.

Cậu cố gắng nở nụ cười thân thiện.

Khuôn mặt cô tỏ lộ sự khinh bỉ ghê tởm.

William cảm thấy mặt cậu đỏ lên. Cô ngạo mạn hơn bao giờ hết, và bây giờ cô khinh thường cậu như cô đã làm cách đây năm năm về trước. Cậu đã làm nhục và chiếm đoạt cô, nhưng cô vẫn không kinh sợ cậu. Cậu muốn nói chuyện với cô, và nói với cô rằng cậu có thể làm lần nữa những gì cậu đã làm với cô trước đây; nhưng cậu không muốn hét lên trước mặt đám đông. Cái nhìn thản nhiên của cô làm cậu cảm thấy mình nhỏ bé. Cậu cố gắng chế nhạo cô, nhưng cậu không có thể và cậu biết cậu đã vừa làm một cái nhăn mặt ngu xuẩn. Trong sự bối rối cậu quay đi và thúc vào ngựa, nhưng đám đông cản đường vì thế cậu chỉ có thể đi từng bước một và cái nhìn khinh miệt của cô đốt cháy cổ cậu.

Sau cùng cậu ra khỏi khu chợ và cậu gặp mặt Tu viện trưởng Philip.

Người đàn ông gốc Welsh lùn, đứng chống tay trên hông và cằm ngẩng lên khiêu khích về phía trước. Ông không còn hoàn toàn gầy như trước, và mái tóc ít ỏi của ông đã ngả từ màu đen sang màu xám, William nhận thấy. Ông không còn trông quá trẻ cho chức vụ của ông. Bây giờ đôi mắt xanh sáng lên vì tức giận. “Ngài William!” ông gọi bằng giọng ra lệnh.

William cố tách đầu óc mình khỏi dòng suy nghĩ về Aliena và cậu nhớ lại cậu còn món nợ phải đòi Philip. “Tôi cũng vui được gặp ông, thưa tu viện trưởng.”

“Và tôi vui vì gặp ông,” Philip nói giận dữ, nhưng chiếc bóng của cái cau mày hiện trên trán ông.

“Ông đang có một khu chợ ở đây.” William buộc tội.

“Vậy thì sao?”

“Tôi không nghĩ rằng vua Stephen đã cho phép mở một khu chợ ở Kingsbridge. Các vị vua khác cũng vậy, như tôi được biết.”

“Ai cho phép ông?”

“Tôi hay bất cứ người nào –“

“Ông!” Philip quát to, cắt lời ông. “Làm sao ông dám đến đây và nói chuyện về phép tắc. Ông, một người trong tháng qua đã đi qua miền này và đã đốt phá, trộm cắp, hiếp dâm và ít nhất đã giết chết một người!”

“Điều đó không có gì liên hệ gì với –“

“Làm sao ông dám đến một tu viện và hỏi về giấy phép!” Philip hét lên. Ông bước lên, chỉ ngón tay vào William, và con ngựa của William sợ hãi né tránh. Giọng của Philip mạnh hơn William và cậu không nói được một lời. Một đám đông các tu sĩ, người tình nguyện và người đi chợ tụ họp chung quanh. Không gì có thể ngăn cản Philip. “Qua những gì ông đã làm, ông chỉ còn một cách để nói: ‘Lạy cha, con đã phạm tội!’ Ông nên quỳ gối xuống trong tu viện này! Ông phải xin tha thứ, nếu ông muốn thoát khỏi lửa hỏa ngục.”

William tái mặt. Nghe nói về hỏa ngục, ông kinh hoàng, hoảng hốt. Ông cố gắng ngăn Philip lại: “Thế còn khu chợ của ông thì sao? Thế thì khu chợ của ông thì sao?”

Philip không muốn nghe cậu. Ông đang trong cơn phẫn nộ. “Hãy xin tha thứ những tội lỗi khủng khiếp ông đã làm!” ông hét lên. “Hãy quỳ xuống! Hãy quỳ xuuống! Hay ông sẽ bị thiêu đốt trong hỏa ngục!”

William hầu như sợ đủ để tin rằng cậu sẽ phải đau khổ trong lửa hỏa ngục, trừ khi cậu quỳ xuống và cầu nguyện ngay bây giờ trước mặt Philip. Cậu biết chính ra cậu phải xưng tội lâu rồi, không những vì những tội cậu phạm trong chuyến thăm lãnh địa vừa qua, mà còn tội giết bao nhiêu người trong chiến tranh. Cậu sẽ ra sao nếu cậu chết trước khi xưng tội? Cậu bắt đầu cảm thấy run khi nghĩ về ngọn lửa đời đời và các quỷ dữ với những con dao sắc.

“Philip tiến về phía cậu, chỉ ngón tay và hét: “Hãy quỳ xuống!”

William lùi ngựa lại. Cậu tuyệt vọng nhìn xung quanh. Đám đông vây quanh cậu. Các hiệp sĩ ở đàng sau cậu, kinh ngạc nhìn: họ không thể quyết định đối phó thế nào với một đe dọa tinh thần từ một tu sĩ không vũ khí. William không thể chịu sự sỉ nhục hơn nữa. Sau Aliena, giờ lại thêm chuyện này nữa! Cậu kéo dây cương làm con ngựa chiến chồm lên nguy hiểm. Đám đông trước móng vuốt nguy hiểm của con ngựa phân tán ra hai bên. Khi bàn chân trước của nó rơi xuống đất, cậu đá mạnh vào nó và nó lao về phía trước. Đám đông dạt ra. Cậu đá nó một lần nữa, và nó phi nhanh. Nóng mặt vì xấu hổ, cậu trốn qua cổng tu viện với các hiệp sĩ theo sau, giống như một bầy chó gầm gừ bị một bà già đuổi đi bằng một cây chổi.

William xưng các tội của cậu, trong sợ hãi và run rẩy, trên nền nhà bằng đá lạnh lẽo của một ngôi nhà nguyện nhỏ ở dinh thự giám mục. Giám mục nghe trong thinh lặng, mặt ông đờ ra kinh tởm khi nghe William xưng về những tội cậu đã phạm, từ tội giết người, đánh đập đến hãm hiếp. Ngay cả khi xưng tội, William cảm thấy sự ghê tởm của giám mục kiêu hãnh, với bàn tay trắng sạch đặt trên ngực, và lỗ mũi trắng hếch lên một chút như muốn nói rằng có mùi gì khó chịu trong không khí bẩn. William phải đau khổ khi xưng tội với Waleran, nhưng vì tội cậu quá nặng mà một linh mục thường không thể tha được. Vì thế cậu quỳ xuống, đầy sợ hãi, trong khi Waleran ra lệnh cho cậu đốt một cây đèn chầu, luôn luôn cháy sáng trong nhà nguyện ở lâu đài lãnh chúa, và rồi bảo cậu là tội cậu đã được tha.

Chậm rãi như sương mù, nỗi sợ hãi của cậu tăng lên.

Họ bước ra khỏi nhà nguyện vào không khí đầy khói của đại sảnh và ngồi bên đống lửa. Mùa thu đã nhường chỗ cho mùa đông và căn nhà đá lạnh lẽo.  Một người nhà bếp mang lên bánh mì nóng có gia vị mật ong và gừng. Cuối cùng William cảm thấy mọi chuyện ổn định.

Rồi cậu nhớ lại vấn đề khác: Con của Bartholomew, Richard, đã xin được tiếp nhận lãnh địa, và William quá nghèo để có thể trang bị cho một đoàn quân lớn để gây ấn tượng cho nhà vua. Trong tháng qua cậu đã thu về một khoản tiền đáng kể nhưng vẫn chưa đủ. Cậu thở dài và nói: “Vị tu sĩ đáng ghét đang uống máu của lãnh địa Shiring.”

Waleran lấy một miếng bánh bằng ngón tay xanh xao, có móng dài như móng vuốt. “Tôi đã tự hỏi ông cần bao lâu để đi đến kết luận này.”

Dĩ nhiên, từ lâu Waleran đã nghĩ về nó trước cả William. Ông quá tự cao. Tốt hơn William không nên nói với ông về chuyện đó. Nhưng cậu muốn nghe ý kiến của giám mục về một quan điểm pháp lý. “Nhà vua đã chẳng bao giờ cho phép mở một chợ ở Kingsbridge, có phải vậy không?”

“Theo tôi biết, không.”

“Vậy Philip phạm luật.”

Waleran nhún đôi vai gầy dưới chiếc khăn đen. “Như ông muốn, đúng.”

Waleran có vẻ không quan tâm đến, nhưng William đào sâu thêm. “Phải ngưng ông ấy lại.”

Waleran mỉm cười. “Ông không thể xử sự với ông ấy giống như ông làm với người nông nô có con gái lấy chồng mà không có giấy phép.”

William đỏ mặt: Waleran vừa đề cập đến một tội ông vừa xưng, “Vậy ông có thể đối xử thế nào với ông ấy?”

Waleran cân nhắc. “Chợ là đặc quyền của nhà vua. Trong thời bình có lẽ chính nhà vua sẽ tự xử lý lấy.”

William cười khinh bỉ. Mặc dù sự thông minh của ông, Waleran không biết rõ vua bằng William. “Ngay cả trong thời bình nhà vua cũng không cảm ơn tôi vì đã kiến nghị tới ông về một ngôi chợ không có giấy phép.”

“Đúng, như thế người đại diện của nhà vua để giải quyết những vấn đề địa phương, là cảnh sát trưởng Shiring.”

“Ông ấy có thể làm gì?”

“Ông ấy có thể truy tố tu viện tại tòa án quận.”

William lắc đầu. “Điều đó chẳng mang lại kết quả gì. Tòa án sẽ đòi tiền phạt, tu viện trả tiền đó, và khu chợ lại tiếp tục. Nó gần giống như cho một giấy phép.”

“Vấn đề là thực sự có những lý do từ chối Kingsbridge thiết lập một ngôi chợ không?

“Vâng, có!” William phẫn nộ nói. “Nó lấy đi khách hàng của khu chợ ở Shiring.”

“Shiring cách Kingsbridge một ngày đàng.”

“Dân chúng sẵn sàng đi xa.”

Waleran lại nhún vai. William nhận ra ông nhún vai khi ông không đồng ý. Waleran nói: “Người ta thường nói rằng một người cần một phần ba ngày để đi đến chợ, một phần ba ngày ở chợ và một phần ba ngày để đi về. Vì thế, một ngôi chợ phục vụ cho những người trong vòng một phần ba ngày đàng, tương tự với bẩy dặm. Nếu hai chợ cách nhau hơn mười bốn dặm, diện tích lưu vực của nó không chồng chéo lên nhau. Shiring cách Kingsbridge hai mươi dặm. Theo luật, Kingsbridge được phép có một khu chợ, và nhà vua nên cấp cho nó.”

“Nhà vua làm những gì ông ấy thích,“ William nổi giận, nhưng cậu trở nên ngờ vực. Cậu không biết về luật này. Nó cho Tu viện trưởng Philip một vị trí mạnh mẽ hơn.

Waleran nói: “Dù sao chúng ta cũng không trực tiếp với nhà vua, chúng ta sẽ giả quyết vấn đề với cảnh sát trưởng.” Ông cau mày. “Cảnh sát trưởng chỉ có thể ra lệnh cho tu viện ngưng họp chợ, bao lâu tu viện không có giấy phép.”

“Nó chỉ lãng phí thời gian,” William tức giận nói. “Ai giữ lề luật mà chẳng phải vì bị đe dọa?”

“Có thể là Philip.”

William không tin điều đó. “Tại sao ông ta phải giữ?”

Một nụ cười chế nhạo trên đôi môi Waleran. “Tôi không biết có thể giải thích cho ông được không,” ông nói. “Philip tin rằng lề luật là nhà vua.”

“Một ý tưởng ngu đần,” William sốt ruột nói. “Nhà vua là nhà vua.”

“Tôi đã nói ông không hiểu.”

Sự hiểu biết hơn của Waleran làm William tức giận. Cậu đứng lên và đi tới cửa sổ. Nhìn ra ngoài, cậu có thể nhìn thấy khu đất đào trên đỉnh ngọn đồi gần đó, nơi Waleran đã khởi công xây dựng một lâu đài cách đây bốn năm. Waleran đã hy vọng có thể xây dựng nó từ tiền thu nhập của lãnh địa Shiring. Philip đã làm hỏng kế hoạch của ông, và bây giờ cỏ đã mọc trở lại trên gò đất và bụi gai mọc đầy mương khô.

William nhớ lại rằng Waleran đã hy vọng xây bằng đá từ mỏ đá của lãnh địa Shiring. Bây giờ Philip có mỏ đá. William trầm ngâm: “Nếu tôi có lại được mỏ đá, tôi có thể dùng nó thế chân để vay tiền thành lập một đội quân.”

“Vậy tại sao ông không lấy lại nó?” Waleran hỏi.

William lắc đầu. “Tôi đã thử một lần.”

“Và Philip đã qua mặt ông. Nhưng bây giờ không còn tu sĩ nào ở đó nữa. Ông có thể gửi vài người đến đó đuổi các thợ cắt đá đi.”

“Và làm sao tôi ngăn cản được Philip khi ông ấy trở lại như lần trước?”

“Xây một hàng rào cao xung quanh mỏ đá và cho người gác thường xuyên.”

Nó có thể thực hiện được, William háo hức nghĩ. Và nó sẽ giải quyết vấn đề của ông. Nhưng động cơ nào đã thúc đẩy Waleran đề nghị chuyện đó? Mẹ cậu đã cảnh báo phải đề phòng vị giám mục vô lương tâm này. “Một việc duy nhất con cần biết về Waleran Bigod,” bà đã nói, “là mọi chuyện ông ấy làm đều có tính toán cẩn thận. Không có gì là tự nhiên, không có gì là bất cẩn, không có gì là tình cờ, không có gì là dư thừa. Trên tất cả, không có gì là rộng lượng.” Nhưng Waleran ghét Philip, và đã thề ngăn chặn không cho Philip xây nhà thờ chính tòa. Đó có thể là động cơ của ông.

William nhìn trầm tư vào Waleran. Sự nghiệp của ông bị gò bó. Ông đã trở thành giám mục khi còn rất trẻ, nhưng Kingsbridge là một giáo phận không đáng kể và nghèo nàn, và chắc chắn Waleran dùng nó như những bậc thang cho những dự định xa hơn. Tuy nhiên, không phải giám mục mà là tu viện trưởng, người đã gặt hái được sự thịnh vượng và tiếng tăm. Waleran héo mòn trong bóng của Philip, và William cũng vậy. Cả hai đều có nguyên do để muốn tàn phá Philip.

William quyết định vượt qua sự không ưa Waleran vì mục đích lâu dài của cậu.

“Được,” cậu nói. “Nó có thể thực hiện được. Nhưng giả sử Philip kiến nghị lên nhà vua?”

Waleran nói: “Ông sẽ nói ông làm như vậy để trả thù cho khu chợ không có giấy phép của Philip.”

William gật đầu. “Lời bào chữa nào cũng được, miễn là tôi có thể trở lại chiến trường với một đoàn quân hùng mạnh.”

Trong đôi mắt Waleran có điều ác ý. “Tôi có cảm tưởng Philip không thể xây nhà thờ nếu ông ấy phải mua đá bằng giá thị trường, và nếu ông ấy ngừng xây dựng, Kingsbridge có thể sẽ xuống dốc. Điều đó sẽ giải quyết mọi vấn đề của ông, William.”

William không tỏ lòng biết ơn. “Ông thực sự ghét Philip, phải không?”

“Ông ấy cản đường tôi,” Waleran nói, nhưng trong khoảnh khắc William đã thoáng thấy sự dã man trần truồng dấu ẩn đàng sau thái độ lạnh lùng, tính toán của giám mục.

William trở về với vấn đề thực tế. “Phải có ba mươi thợ mỏ ở đó, một vài người còn có vợ con,” cậu nói.

“Vậy thì sao?”

“Phải có đổ máu.”

Waleran dương đôi lông mày màu đen. “Thật vậy sao?” ông nói. “Vậy tôi sẽ tha tội cho ông.”

III

 

Họ lên đường khi trời vẫn tối, hy vọng sẽ đến nơi vào lúc bình minh. Họ mang theo đuốc cháy khiến những con ngựa hốt hoảng. Ngoài Walter và bốn hiệp sĩ, William mang thêm sáu binh lính. Theo sau họ là hàng chục nông dân, những người sẽ đào rãnh và làm hàng rào.

William tin vào việc lập kế hoạch quân sự cẩn thận – đó là lý do tại sao ông và quân của ông được vua Stephen tin dùng – nhưng trong trường hợp này cậu không có kế hoạch chiến đấu. Nó chỉ là một cuộc tấn công dễ dàng nên chẳng phải chuẩn bị như một cuộc chiến thật sự. Một vài thợ đá và gia đình của họ không thể có sự chống cự mạnh mẽ; và ngoài ra William nhớ lại, cậu đã được nghe nói rằng người lãnh đạo của nhóm thợ mỏ - Tên ông ta là gì nhỉ? À, Otto Blackface – đã từ chối chiến đấu trong lần Tom đem người của ông đến mỏ đá.

Một buổi sáng tháng mười hai lạnh lẽo hé mở, với giẻ và mảnh vụn của sương treo trên cây giống như quần áo của người nghèo. William không thích mùa này. Trời lạnh vào buổi sáng và tối nhanh vào buổi chiều, lâu đài luôn ẩm ướt, và chỉ được ăn thịt và cá ướp muối. Mẹ cậu dễ nổi nóng và người phục vụ cáu kỉnh. Hiệp sĩ của cậu hay gây gỗ. Cuộc tấn công nhỏ này sẽ tốt cho họ. Nó cũng tốt cho cậu: Cậu đã sắp xếp cầm mỏ đá để vay hai trăm bảng Anh của những người Do Thái ở London. Vào cuối ngày hôm nay tương lai cậu sẽ được bảo đảm.

Khi họ cách mỏ đá chừng trăm dặm William dừng lại, cậu chọn ra hai gười và sai họ đi trước, đi bộ. “Có thể có lính gác hoặc chó,” cậu cảnh báo. “Hãy chuẩn bị sẵn một mũi tên trên cây cung.”

Một lúc sau con đường cong về phía trái và bất ngờ chấm dứt ở sườn đồi bị cắt xén. Đó là mỏ đá. Hoàn toàn im lặng. Bên vệ đường, William và người của ông bắt giữ một cậu bé sợ hãi – có lẽ là người học việc được giao cho nhiệm vụ canh gác – và dưới chân cậu là một con chó chết vì một mũi tên đâm qua cổ nó.

Nhóm tiên phong tiến vào, không còn sợ phải giữ yên lặng. William kìm ngựa lại và quan sát hiện trường. Nhiều ngọn đồi đã biến đi so với lần trước cậu đến đây. Giàn giáo được dựng sát sườn đồi đến mọi góc cạnh và chạy xuống một hố sâu bên chân đồi. Các khối đá trong hình dạng và kích thước khác nhau được xếp bên vệ đường, và hai xe bằng gỗ lớn có bánh xe to vĩ đại xếp đầy đá đã sẵn sàng di chuyển. Mọi thứ được bao phủ bằng bụi xám, ngay cả bụi rậm và cây cối. Một khoảng lớn rừng cây đã bị chặt phá – rừng của tôi, William tức giận nghĩ – và có mười hay mười hai căn nhà bằng gỗ, một số có vườn rau nhỏ, một số có chuồng heo. Nó là một ngôi làng nhỏ.

Người lính gác có lẽ đã ngủ - và con chó của ông ta cũng vậy. William nói với cậu bé. “Bao nhiêu người ở đây, cậu bé?”

Cậu bé sợ hãi nhưng can đảm. “Ông là Bá tước William, phải không?”

“Trả lời câu hỏi của ta hay ta sẽ cắt đầu mày bằng thanh kiếm này.”

Cậu tái xanh vì sợ, nhưng đáp lại bằng giọng run run thách thức. “Ông định ăn cắp quặng đá này của Tu viện trưởng Philip sao?”

Chuyện gì xẩy ra với tôi vậy, William nghĩ. Ngay cả một đứa trẻ gầy, chưa có râu cũng không sợ tôi. Làm sao người ta dám coi thường tôi? “Mỏ đá này là của tôi!” cậu rít lên. “Hãy quên Tu viện trưởng Philip đi – bây giờ ông ấy không có thể làm gì cho mày nữa đâu. Bao nhiêu người?”

Thay vì trả lời, cậu bé ngửa đầu và la to. “Coi chừng! Có tấn công! Có tấn công!”

Tay William đưa xuống đuôi kiếm. Cậu do dự, nhìn quanh khu nhà. Một khuôn mặt sợ hãi nhìn qua khung cửa. Cậu quyết định quên đi người học việc. Cậu giật một cây đuốc và thúc ngựa đi.

Cậu phi ngựa đến khu nhà, dơ cao ngọn đuốc, nghe tiếng toán quân ở phía sau. Cánh cửa ngôi nhà gần nhất mở ra và một người đàn ông mắt nhắm mắt mở trong quần áo lót nhìn ra. William quăng cây đuốc qua đầu ông. Nó rơi xuống đất vào ngay đống rơm trên sàn nhà đàng sau ông, và đống rơm bắt lửa ngay. William hú to vì chiến thắng và phóng ngựa qua.

Cậu đi qua các cụm nhà nhỏ. Đàng sau ông, người của ông bủa vào, la hét và ném đuốc vào các mái nhà tranh. Các cánh cửa mở toang, và đàn ông, đàn bà, trẻ con kinh hoàng bắt đầu đổ ra khỏi nhà, la hét và cố tránh các nhát búa. Tất cả loay hoay trong hoảng sợ khi ngọn lửa bắt cao. William dừng ngựa ở góc và quan sát. Những gia xúc đã thoát khỏi chuồng, một con heo điên dại chạy qua chạy lại một cách mù quáng, trong khi một con bò đứng yên, chiếc đầu ngu ngốc của nó lắc từ bên này sang bên kia trong hoang mang. Ngay cả những người trẻ, thông thường rất hiếu chiến, bây giờ cũng bối rối và sợ hãi. Bình minh là thời gian tốt nhất cho những cuộc tấn công như thế này: khi người ta một nửa còn trần truồng, người ta không có hứng thú chiến đấu.

Một người đàn ông da đen đeo giầy ra khỏi lều và bắt đầu ra lệnh. Đó phải là Otto Blackface. William không thể nghe thấy ông nói gì. Cậu có thể đoán qua cử chỉ rằng Otto nói với các phụ nữ đem trẻ em trốn vào rừng, nhưng ông ta nói gì với các đàn ông? Một lúc sau William khám phá ra. Hai người thanh niên chạy tới một chiếc lều nằm xa khu nhà ở và mở cửa, nó được khóa ở bên ngoài. Họ đi vào và mang ra những chiếc búa cắt đá nặng. Otto ra lệnh cho các người khác cũng tới túp lều đó, nó rõ ràng là một nhà kho để công cụ. Họ sẵn sàng tự vệ.

Ba năm trước Otto đã từ chối chiến đấu cho Philip. Điều gì đã làm ông thay đổi?

Bất cứ nó là điều gì, nó cũng đưa ông tới sự chết. William mỉm cười dứt khoát và rút gươm ra.

Bây giờ có sáu hay tám người trang bị với búa và rìu cán dài. William thúc ngựa vào nhóm người đứng quanh cửa nhà kho. Họ tránh ra, nhưng cậu vung kiếm và chém vào tay một người trong nhóm họ. Người đàn ông rơi rìu.

William phóng ngựa đi, rồi lại quay lại. Cậu thở mạnh và cảm thấy hài lòng: trong sức nóng của trận chiến không có sợ hãi mà chỉ có hứng thú. Một vài người của cậu đã nhìn thấy những gì xẩy ra và nhìn William chờ lệnh. Cậu ra lệnh cho họ theo cậu và tấn công vào nhóm người thợ đá lần nữa. Họ không thể né tránh sáu hiệp sĩ dễ dàng như họ né tránh một. William đánh gục hai người và nhiều người khác ngã xuống do kiếm từ người của cậu, cậu di chuyển quá nhanh nên không thể đếm được bao nhiêu người đã bị chết hoặc bị thương.

Khi cậu trở lại, Otto tập hợp lực lượng lại. Khi các hiệp sĩ tấn công, các thợ đá phân tán vào các cụm nhà cháy. Nó là một chiến thuật khôn ngoan, William tiếc rẻ nhận ra. Các hiệp sĩ đuổi theo, nhưng các thợ đá dễ dàng né tránh và các con ngựa né tránh các đám nhà cháy. William đuổi theo một người đàn ông tóc xám có một chiếc búa, và nhiều lần bắt hụt ông trước khi ông chạy qua một ngôi nhà có mái đang cháy rực.

William nhận ra rằng Otto là một đối thủ đáng sợ. Ông ta vừa truyền cho các thợ đá can đảm, vừa điều hành họ. Khi nào ông gục xuống, những người khác sẽ bỏ cuộc. William ghìm ngựa và tìm người đàn ông da đen. Hầu hết đàn bà và trẻ em đã trốn hết, chỉ còn hai người trẻ năm tuổi đứng ở giữa chiến trường, nắm tay nhau và khóc. Hiệp sĩ của William chạy theo giữa các căn nhà và đuổi theo thợ đá. William bàng hoàng khi thấy một binh lính của cậu ngã xuống vì một nhát búa, và nằm trên đất, rên rỉ và máu chẩy ra: Cậu đã không dự đoán có thương vong về phía cậu.

Một phụ nữ quẫn trí chạy ra chạy vào một ngôi nhà đang cháy, gọi một điều gì đó mà cậu không nghe được. Bà đang tìm kiếm một ai đó. Sau cùng bà thấy hai đứa bé năm tuổi và xách mỗi đứa một tay. Khi bà đang chạy trốn, bà chạm ngay vào một trong những hiệp sĩ của William, Gilbert de Rennes. Gilbert dơ kiếm đâm vào bà. Bất ngờ Otto nhẩy ra từ đàng sau một túp lều và vung chiếc rìu cán dài. Ông sử dụng vũ khí khéo léo và lưỡi chiếc rìu cắt ngang qua đùi và bập vào yên ngựa. Chân bị cắt rơi trên đất, rồi Gilbert hét lên và ngã khỏi ngựa.

Ông sẽ chẳng bao giờ còn chiến đấu được nữa.

Gilbert là một hiệp sĩ đáng giá. Giận dữ, William thúc ngựa về phía trước. Người phụ nữ và trẻ em biến mất. Otto cố gắng kéo lưỡi rìu bị cắm vào yên ngựa ra. Ông nhìn lên và thấy William đang đến. Nếu lúc đó ông ấy chạy đi, ông ấy sẽ thoát, nhưng ông đứng lại và vẫn cố kéo chiếc rìu ra. Khi William đến gần, chiếc rìu được tháo khỏi yên ngựa. William dơ thanh kiếm lên. Otto đứng trên đất và nâng rìu. Vào lúc đó William nhận ra chiếc rìu nhắm vào con ngựa, và người thợ đá có thể làm tê liệt con vật trước khi William có thể đến gần để đánh ông ấy gục xuống. William tuyệt vọng kéo dây cương, và con ngựa trượt chân trước khi đứng lại, nó ngẩng lên và quay đầu xa khỏi Otto. Lưỡi rìu bổ xuống cổ ngựa, và cạnh của chiếc rìu cắm sâu vào bắp thịt khỏe mạnh của con ngựa. Máu chảy ra thành vòi và con ngựa ngã xuống. William nhẩy ra khỏi lưng ngựa, trước khi nó gục xuống đất.

Cậu nổi giận. Con ngựa chiến là một gia tài lớn của cậu và đã sống sót với cậu trong suốt một năm của cuộc nội chiến, và bây giờ nó bị chết vì một cái rìu của người thợ đá. Cậu nhẩy qua mình nó và tức giận lao vào Otto với thanh kiếm trên tay.

Otto không phải là một nạn nhân dễ ăn. Ông cầm búa rìu bằng cả hai tay và dùng cán gỗ bằng tim gỗ sồi để đỡ lưỡi kiếm của William. William đâm mạnh hơn và mạnh hơn, đẩy lui ông ta. Mặc cho tuổi tác, Otto có bắp thịt mạnh khỏe, và những đòn của William không làm ông chùn chân. William cầm kiếm bằng cả hai tay và đâm mạnh hơn. Một lần nữa Otto lại dùng cán rìu để đỡ, nhưng lần này lưỡi kiếm của William kẹt trong cán gỗ. Rồi Otto tấn công và William phải lui. William cố kéo lưỡi kiếm ra và khi lưỡi kiếm ra khỏi thì Otto đã ở gần kề bên.

Bất ngờ William sợ mất mạng.

Otto giơ rìu lên. William lùi lại né tránh. Gót chân cậu vấp phải cái gì đó và trượt chân rồi ngã xuống trên con ngựa chết. Cậu rớt xuống trên một vũng máu nóng nhưng cố gắng giữ thanh kiếm của cậu. Otto đứng trên cậu với lưỡi rìu giơ trên cậu. Khi vũ khí giáng xuống, William lăn mình qua bên. Cậu cảm thấy tiếng gió khi chiếc lưỡi rìu sắc cắt không khí bên cạnh mặt cậu; rồi cậu đứng lên và dùng lưỡi kiếm đâm vào người thợ đá.

Một người lính sẽ tránh qua một bên trước khi kéo vũ khí của mình ra khỏi mặt đất, vì người ta dễ bị tổn thương nhất khi đánh hụt một đòn; nhưng Otto không phải là người lính, mà chỉ là một người ngốc dũng cảm, và ông đứng với một tay trên chiếc rìu và tay khác dơ ra để giữ thăng bằng, còn toàn thân trở thành mục tiêu tấn công dễ dàng. Vội vàng William đâm vào, hầu như mù quáng, nhưng nó trúng đích. Mũi kiếm đâm vào ngực Otto. William đẩy mạnh hơn và lưỡi kiếm lướt qua giữa các xương sườn của người đàn ông. Otto buông chiếc rìu, khuôn mặt ông xuất hiện một biểu lộ mà William biết rõ. Đôi mắt ông tỏ vẻ ngạc nhiên, miệng ông mở rộng như muốn hét lên mặc dù không âm thanh nào có thể thốt ra được, và da ông đột nhiên xanh mét. Nó là biểu lộ của một người bị một vết thương chí tử. Để cho chắc chắn, William đẩy mũi kiếm sâu thêm rồi rút ra. Mắt Otto trở ngược lên, một vết máu đỏ tươi chảy trên áo sơ mi của ông và ngay lập tức ông ngã xuống.

William quay ngay lại, quan sát toàn bộ chiến trường. Cậu nhìn thấy hai thợ đá chạy đi, có lẽ đã nhìn thấy người chỉ huy của mình bị giết. Khi họ chạy, họ gọi các người đồng nghiệp khác. Cuộc chiến đã biến thành cuộc rút lui. Các hiệp sĩ đuổi theo người chạy trốn.

William đứng yên lặng, thở dốc. Không ngờ các thợ đá đáng ghét này đã tự vệ! Cậu nhìn Gilbert. Ông ta nằm im, giữa bãi máu, đôi mắt nhắm nghiền. William đặt một tay lên ngực ông ta: không còn hơi thở. Gilbert đã chết.

William đi quanh khu nhà vẫn cháy, đếm xác chết. Ba người thợ đá, cộng thêm một phụ nữ và một trẻ em dường như bị ngựa chà đạp. Ba người lính của William bị thương, và bốn con ngựa chết hoặc thương tật.

Sau khi đếm xong cậu đứng bên xác con ngựa chiến. Cậu yêu quý con ngựa chiến này còn hơn yêu quý hầu hết những người khác. Sau mỗi cuộc chiến cậu thường cảm thấy phấn khởi, nhưng bây giờ cậu chán nản. Nó là một tâm trạng hỗn độn. Đó chỉ là một cuộc thanh trừng đơn giản để đuổi một nhóm công nhân bất lực, nhưng nó lại trở thành một trận đánh với thương vong cao.

Các hiệp sĩ đuổi các thợ đá đến bìa rừng, nhưng không bắt được họ nên đã quay về. Walter cưỡi ngựa đến chỗ William đứng và thấy Gilbert chết trên đất. Ông bước qua và nói: “Gilbert đã giết nhiều người hơn tôi.”

“Không có nhiều người giống như ông ấy, và tôi đã mất ông ấy chỉ vì tranh cãi với một tu sĩ đáng ghét,” William cay đắng nói. “Chưa kể gì đến những con ngựa.”

“Thật tức!” Walter nói. “Những người này đã gây ra một cuộc chiến lớn hơn phiến quân của Robert thành Gloucester!”

William lắc đầu phẫn nộ. “Tôi không biết,” cậu nói, nhìn quanh những xác chết, “họ đã chiến đấu cho điều gì?”

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của ken follett