Nó là một ngày đáng nhớ khi thợ xây Tom cùng với các thợ đến mỏ đá.
Họ lên đường một vài ngày trước lễ Phục sinh, mười lăm tháng sau khi ngôi nhà thờ cũ bị cháy rụi. Tu viện trưởng Philip đã cần nhiều thời gian để gom góp tiền thuê thợ thủ công.
Tom đã tìm được một nhân viên lâm nghiệp và một thợ cả về mỏ ở Salisbury, nơi cung điện giám mục Roger hầu như đã hoàn tất. Nhân viên lâm nghiệp và thợ của ông đã bắt tay vào việc hai tuần nay, tìm chặt cây thông cao và cây sồi già. Họ tập trung công việc vào khu rừng ven sông, thượng nguồn của Kingsbridge, bởi vì nó tốn rất nhiều tiền nếu chuyên chở gỗ trên con đường quanh co đầy bùn lầy lội, và nó sẽ rẻ hơn nhiều khi thả gỗ theo dòng nước về đến công trường xây dựng. Những thanh gỗ hỗn độn được dùng làm giàn giáo, những gỗ tốt hơn dùng làm khuôn mẫu cho thợ xây và thợ đục đá, hay những cây cao nhất được dành để làm xà ngang trong tương lai. Những cây gỗ tốt được chở về Kingsbridge đều đặn, tất cả những gì Tom phải làm bây giờ là trả cho nhân viên lâm nghiệp mỗi thứ bẩy.
Các thợ mỏ đã đến vài ngày qua. Thợ mỏ chính, Otto Blackface, mang theo hai người con, cả hai là thợ cắt đá; bốn cháu trai đang học nghề; hai công nhân, một là họ hàng của ông và người khác là anh vợ. Thói quen dùng người nhà như vậy là bình thường và Tom không phản đối: một tổ chức gia đình thường là một nhóm làm việc tốt.
Trên công trường ở Kingsbridge không có thợ thủ công nào làm việc, ngoại trừ Tom và các thợ mộc của tu viện. Trước hết cần dự trữ một số vật liệu. Nhưng chẳng bao lâu nữa Tom phải thuê người để hình thành một đội ngũ xây dựng quan trọng: thợ xây. Họ là những người xếp hòn đá này lên hòn đá kia cho đến khi bức tường cao lên. Khi đó cuộc phiêu lưu kỳ thú sẽ bắt đầu. Tom đi nhún nhẩy theo bước chân mình: đây là điều ông đã từng hy vọng và sẽ làm việc trong mười năm tới.
Người thợ xây đầu tiên được thuê, ông đã quyết định, là Alfred, con trai ông. Alfred mười sáu tuổi, gần như vậy, và có kỹ năng cơ bản của một thợ xây: cậu có thể cắt đá vuông và xây một bức tường thật sự. Khi được thuê, Alfred sẽ có lương đầy đủ.
Người con khác của Tom, Jonathan, được mười lăm tháng và lớn nhanh. Một đứa bé cứng cáp được cả tu viện nuông chiều. Lúc đầu Tom đã lo lắng một chút khi đứa bé được chăm sóc bởi Johnny Eightpence, một người không được bình thường lắm, nhưng Johnny ý tứ như bất kỳ người mẹ nào và có nhiều thời giờ hơn hầu hết các bà mẹ để chu toàn trách nhiệm được giao. Các tu sĩ đã không nghi ngờ rằng Tom là bố đứa bé và bây giờ có lẽ họ sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến.
Martha bẩy tuổi, gẫy mất một răng cửa và cô vẫn còn nhớ Jack. Cô là mối lo lớn nhất của Tom, bởi vì cô cần một người mẹ.
Không thiếu những phụ nữ muốn cưới Tom và chăm sóc cho con gái nhỏ của ông. Ông không phải là người không hấp dẫn, ông biết, và cuộc sống của ông bây giờ được bảo đản, nhất là từ khi Tu viện trưởng Philip thật sự bắt đầu xây dựng. Tom đã ra khỏi nhà khách và xây cho mình một nhà hai phòng đẹp đẽ, với một ống khói, ở trong làng. Tính cho cùng, là một thợ xây dựng tổng thể chính lo cho toàn bộ dự án, ông có thể chờ đợi một mức lương và quyền lợi mà nhiều nhà quý tộc nhỏ phải ghen tỵ. Nhưng ông không thể tưởng tượng có thể kết hôn với ai, ngoài Ellen. Ông giống như một người đã quen uống rượu nho ngon nhất, và bây giờ cảm thấy rượu thường ngày như dấm. Có một góa phụ trong làng, một phụ nữ xinh xắn đầy đặn với khuôn mặt tươi, ngực to, có hai con ngoan ngoãn, người đã nướng cho ông một số bánh và đã hôn ông khao khát trong dịp lễ Giáng sinh, và sẵn sàng cưới ông ngay khi ông muốn. Nhưng ông biết ông sẽ không hạnh phúc với bà bởi vì ông sẽ luôn luôn khao khát cưới một Ellen đầy phẫn nộ, khó lường, mê hoặc và đam mê.
Ellen đã hứa sẽ quay về, một ngày nào đó, để thăm nhau. Tom cảm thấy chắc chắn mãnh liệt là bà sẽ giữ lời hứa, và ông đã kiên quyết bám vào nó, mặc dù bà đã đi hơn một năm rồi. Và khi bà quay về, ông sẽ hỏi cưới bà.
Ông nghĩ, bây giờ bà sẽ đồng ý. Ông không còn cơ cực: ông có thể nuôi sống gia đình và cả bà nữa. Ông cảm thấy có thể ngăn cản Alfred và Jack đánh nhau, nếu đối xử đúng với chúng. Nếu Jack cũng làm việc, Alfred sẽ không bực bội với cậu ấy, Tom nghĩ. Ông dự định sẽ nhận Jack như người học việc. Cậu bé tỏ ra thích thú với việc xây dựng, học nhanh và trong vài năm cậu sẽ đủ lớn cho các công việc nặng nhọc. Khi đó Alfred không thể nói rằng Jack lười biếng. Một vấn đề khác là Jack có thể đọc còn Alfred thì không. Tom dự định sẽ yêu cầu Ellen dạy Alfred đọc và viết. Bà có thể dạy cậu mỗi chúa nhật. Cả hai chàng trai sẽ bằng nhau, cả trong học vấn lẫn trong công việc, và chẳng bao lâu sau cùng lớn như nhau.
Ông biết Ellen thực sự thích sống với ông, mặc dù trải qua những khó khăn. Bà thích thân thể và đầu óc của ông. Bà sẽ trở lại với ông.
Không biết ông có thể giải quyết chuyện này với Tu viện trưởng Philip không, đó là chuyện khác. Ellen đã xúc phạm nặng đến tôn giáo của Philip. Thật khó mà tưởng tượng được còn điều gì sỉ nhục Tu viện trưởng hơn những gì bà đã làm. Tom vẫn chưa giải quyết vấn đề đó.
Trong lúc này tất cả trí tuệ của ông dùng cho việc hoạch định nhà thờ chính tòa. Otto và đoàn thợ cắt đá sẽ dựng cho họ một nhà nghỉ thô sơ ở mỏ đá, nơi họ có thể ngủ qua đêm. Khi họ định cư, họ sẽ xây nhà thực sự, và những người đã có gia đình sẽ mang gia đình họ đến sống chung.
Trong tất cả các nghề thủ công xây dựng, nghề khai thác đá đòi hỏi ít kỹ năng nhưng nhiều bắp thịt. Thợ mỏ đá chính làm những công việc về đầu óc: ông quyết định khu vực nào sẽ khai thác và theo trật tự nào; ông thu xếp để có đủ thang và thiết bị nâng đá; khi phải làm việc bên sườn đá, ông phải trang bị giàn giáo; ông lo cho có đủ công cụ từ lò rèn. Thực ra việc đào các phiến đá là việc đơn giản. Thợ đá sẽ dùng một búa chim đầu bằng sắt tạo ra một rãnh trong đá, sau đó đào sâu nó bằng búa và dùi đục. Khi rãnh đã đủ lớn, ông ấy sẽ đóng gỗ vào đó. Nếu ông ấy đã tính đúng, tảng đá sẽ bửa ra vào đúng chỗ ông ấy muốn.
Người lao động di chuyển các phiến đá từ mỏ đá, bằng cách khênh chúng trên cáng hay nâng chúng bằng một sợi dây gắn với bánh xe cuộn lớn. Trong lều, các thợ cắt đá sẽ đẽo đá theo kích thước do thợ cả xây dựng đưa ra. Dĩ nhiên, việc cắt chính xác sẽ được thực hiện ở Kingsbridge.
Vấn đề khó khăn nhất là vận chyển. Mỏ đá ở cách xa công trình xây dựng một ngày đàng, và người lái xe sẽ đòi khoảng bốn xu cho mỗi chuyến – và không thể chở hơn tám hay chín phiến đá lớn mà không làm hư xe hoặc ngựa chết. Chẳng bao lâu khi thợ đá đã ổn định, Tom phải thám hiểm khu vực này xem có bất kỳ đường thủy nào để rút ngắn việc vận chuyển không.
Họ lên đường từ Kingsbridge vào lúc bình minh. Khi họ đi qua rừng, hàng cây cong bao phủ qua đường làm ông nghĩ đến các cột trụ của nhà thờ chính tòa ông sẽ xây. Những lá mới vừa nhú ra. Ông được dạy rằng các đầu cột nên được trang trí bằng các hình vòng xoắn hay ngoằn ngoèo, nhưng bây giờ ông chợt có ý tưởng rằng trang trí bằng hình các lá trông sẽ rất ấn tượng.
Họ đi rất nhanh và vào giữa trưa đã đến gần mỏ đá. Tom ngạc nhiên khi nghe tiếng kim loại đập trên đá ở xa xa, như có ai đang làm việc ở đó. Một cách nghiêm túc mỏ đá thuộc quyền sở hữu của bá tước Shiring, Percy Hamleigh, và nhà vua cho tu viện Kingsbridge quyền khai thác nó cho việc xây dựng nhà thờ chính tòa. Có lẽ, Tom suy đoán, lãnh chúa Percy cũng muốn khai thác mỏ đá cho mục đích riêng cùng lúc với tu viện. Nhà vua có lẽ đã không ngăn cấm điều đó, nhưng nó sẽ gây ra nhiều bất tiện.
Khi họ đến gần, Otto, người đàn ông da đen với thái độ hung dữ, nhăn mặt vì âm thanh vang dội, nhưng không nói gì. Những người khác thầm thì với nhau. Tom không màng đến họ nhưng bước nhanh hơn, sốt ruột muốn xem chuyện gì xẩy ra.
Con đường cong xuyên qua một khu rừng và chấm dứt ở chân đồi. Ngọn đồi chính là mỏ đá, và một mảng đá lớn đã bị lấy đi. Ấn tượng đầu tiên của Tom là chỗ đá đó dễ khai thác hơn: kéo đá từ trên xuống thì dễ hơn là lấy đá từ dưới đất lên.
Mỏ đá đã bị lấy, không còn nghi ngờ gì. Một túp lều dưới chân đồi, một giàn giáo vững vàng cao đến hai mươi feet dựa vào thành đồi, và một đống đá chờ đợi để được thu thập. Tom có thể nhìn thấy ít nhất mười người thợ đá. Một cách đáng ngại vì có hai người mặt dữ dằn, có trang bị vũ khí, đang ở ngoài lều và ném đá vào thùng.
“Tôi không thích nhìn cảnh này,” Otto nói.
Tom cũng không muốn, nhưng ông giả vờ như không để ý đến. Ông đi vào mỏ đá như thể ông là chủ nhân và nhanh chân đi đến hai người có trang bị vũ khí. Họ giật mình, mang một cảm giác tội lỗi vì sau nhiều ngày gác mà lại bị bất ngờ. Tom nhanh chóng nhìn vào vũ khí của họ: mỗi người có một thanh kiếm và một con dao găm, và họ mặc áo khoác da nặng, nhưng không có áo giáp.
Tom có một búa thợ xây đeo bên thắt lưng. Ông không chuẩn bị cho một cuộc chiến. Ông đi thẳng đến hai người lính mà không nói gì, rồi vào phút chót ông đi qua một bên và đi xung quanh họ, rồi tiếp tục đến túp lều. Họ nhìn nhau, không biết chắc chắn phải làm gì: nếu Tom nhỏ con hơn, hay ông không có chiếc búa, họ sẽ chặn ông lại ngay, nhưng bây giờ đã quá trễ. Tom đi vào lều. Nó là căn nhà bằng gỗ rộng rãi với lò sưởi. Những công cụ sạch sẽ được treo trên tường và có một hòn đá mài lớn trong góc. Hai người thợ cắt đá đứng gần một ghế bằng gỗ thô, chẻ đá bằng rìu. “Chào anh em,” Tom nói, dùng hình thức của các nghệ nhân chào hỏi nhau. “Ai là thợ chính ở đây?”
“Tôi là thợ đá chính,” một người trong họ nói. “Tôi là Harold thành Shiring.”
“Tôi là thợ xây dựng tổng thể chính ở nhà thờ chính tòa Kingsbridge. Tên tôi là Tom.”
“Chào ông, thợ xây Tom. Ông làm gì ở đây?”
Tom dò xét Harold một lúc trước khi trả lời. Ông là một người xanh xao, bụi bặm với đôi mắt xanh bẩn nhỏ, mà mỗi lần nói ông nheo lại như thể ông luôn luôn chớp mắt để tránh bụi đá. Ông tình cờ nghiêng người về phía ghế băng, nhưng trông ông không thoải mái như ông giả vờ. Ông lo lắng, cảnh giác và sợ hãi. Ông ấy biết rõ tại sao tôi đến đây, Tom nghĩ. “Tôi mang theo thợ mỏ đá chính của tôi để làm việc ở đây, dĩ nhiên.”
Hai người lính gác theo Tom vào trong, và Otto cùng đoàn của ông cũng theo đàng sau họ. Bây giờ một hay hai người của Harold cũng nhập bọn, tò mò xem sự gì xẩy ra.
Harold nói: “Mỏ đá thuộc quyền sở hữu của bá tước. Nếu ông muốn lấy đá, ông phải gặp ông ấy.”
“Không, tôi không gặp,” Tom nói. “Khi nhà vua trao mỏ đá cho Bá tước Percy, nhà vua cũng cho tu viện Kingsbridge quyền khai thác đá. Chúng tôi không cần thêm bất cứ sự cho phép nào nữa.”
“Được, nhưng chúng ta không thể cùng lúc làm việc ở đây, phải không?”
“Có lẽ chúng ta có thể,” Tom nói. “Tôi không có ý định cướp đi người của ông. Cả ngọn đồi là mỏ đá – đủ cho hai hay nhiều nhà thờ chính tòa. Chúng ta có thể tìm cách quản lý mỏ đá để tất cả chúng ta có thể cùng lấy đá.”
“Tôi không thể chấp nhận điều đó,” Harold nói. “Tôi là nhân viên của bá tước.”
“Được, tôi là nhân viên của tu viện Kingsbridge, và người của tôi sẽ bắt đầu làm việc ở đây từ sáng mai, cho dù ông thích hay không thích.”
Một trong hai người lính gác lên tiếng. “Các anh sẽ không làm việc ở đây ngày mai hay bất cứ ngày nào khác.”
Cho đến giờ phút này Tom vẫn cho rằng mặc dù Percy đã vi phạm sắc lệnh hoàng đế bằng cách khai thác đá cho mục đích riêng, nhưng nếu ông ấy bị ép buộc, ông ấy sẽ tuân thủ sự thỏa thuận và cho phép tu viện lấy đá. Nhưng người lính này đã nhận được lệnh đuổi thợ khai thác mỏ đá của tu viện đi. Đó là vấn đề khác. Tuyệt vọng Tom nhận ra rằng ông sẽ không lấy được viên đá nào nếu không chiến đấu.
Người lính gác vừa nói là một người nhỏ con, chắc nịch, chạc hai mươi lăm tuổi, có nét hay gây gỗ. Anh nhìn ngu ngốc, nhưng bướng bỉnh – mẫu người khó có thể nói chuyện lý lẽ. Tom nhìn ông ấy thách thức và nói: “Ông là ai?”
“Tôi là thừa phát lại cho bá tước của Shiring. Ông ra lệnh cho tôi gác mỏ đá này, và đó là nhiệm vụ mà tôi sẽ làm.”
“Và ông muốn thi hành nó như thế nào?”
“Với thanh kiếm này.” Ông chạm vào chuôi kiếm đeo ở thắt lưng.
“Và ông nghĩ nhà vua sẽ làm gì khi ông bị đưa đến nhà vua vì tội phá vỡ hòa bình?”
“Tôi sẵn sàng mạo hiểm.”
“Nhưng các ông chỉ có hai người,” Tom nói bằng giọng hợp lý. “Chúng tôi có bẩy người và bốn thanh niên, và chúng tôi có phép của nhà vua cho làm việc ở đây. Nếu chúng tôi giết ông, chúng tôi sẽ không bị treo cổ.”
Cả hai người lính gác trầm ngâm suy nghĩ, nhưng trước khi Tom có thể đẩy thêm ưu điểm của mình, Otto nói: “Đợi một chút,” ông nói với Tom. “Tôi đem người của tôi đến đây để cắt đá, chứ không phải để đánh nhau.”
Tom mất hứng. Nếu các thợ đá không sẵn sàng chiến đấu thì không có hy vọng. “Đừng quá nhút nhát!” ông nói. “Ông sẵn sàng để bị tước đoạt công việc bởi hai thằng bắt nạt này à?”
Otto cáu kỉnh. “Tôi không chống lại người có vũ trang,” ông lập lại. “Tôi đã có công việc ổn định từ mười năm nay và tôi không bị lệ thuộc vào công việc này. Ngoài ra tôi không biết ai đúng ai sai trong vấn đề này.”
Tom nhìn vào nhóm người còn lại của Otto. Cả hai thợ cắt đá cũng có cùng cái nhìn bướng bỉnh như Otto. Dĩ nhiên họ theo lãnh đạo của họ: ông là bố họ, đồng thời cũng là thợ cả của họ. Và Tom có thể nhận ra quan điểm của Otto. Thực vậy, nếu ông ở vị trí của Otto có lẽ ông cũng có cùng đường lối. Ông sẽ không tham dự vào cuộc đánh nhau với người có vũ khí, trừ khi nó liên quan đến mạng sống của ông.
Mặc dù biết Otto có lý, Tom vẫn không thoải mái, ngược lại nó còn làm ông thất vọng hơn. Ông quyết định thử một lần nữa. “Sẽ không có cuộc đánh nhau,” ông nói. “Họ biết nhà vua sẽ treo cổ họ, nếu họ đánh chúng ta. Chúng ta hãy đốt lửa, và nghỉ qua đêm, và sáng mai sẽ bắt đầu công việc.”
Đề cập đến ngủ đêm là một sai lầm. Một trong hai người con của Otto nói: “Làm sao chúng ta có thể ngủ được khi những kẻ giết người này ở gần đây?”
Những người khác thì thầm đồng ý.
“Chúng ta sẽ cử người gác,” Tom nói một cách tuyệt vọng.
Otto lắc đầu dứt khoát. “Chúng ta sẽ về tối nay. Ngay bây giờ.”
Tom nhìn quanh mọi người và ông biết ông đã thất bại. Ông đã lên đường sáng nay bằng hy vọng lớn lao như thế, và ông khó có thể tin được rằng kế hoạch của ông bị thất bại chỉ vì những tên côn đồ nhỏ bé này. Khó có thể tìm ra lời. Ông không thể không nói lên lời cay đắng sau cùng: “Các ông chống lại nhà vua, và đó là một việc nguy hiểm,” ông nói với Harold. “Ông hãy nói với bá tước của Shring điều đó. Và nói với ông ấy rằng tôi là thợ xây Tom của Kingsbridge, và nếu khi nào bàn tay tôi được ôm lấy chiếc cổ béo của ông ấy, tôi sẽ bóp nó cho đến khi ông ấy nghẹt thở.”
Johnny Eightpence may một tu phục nhỏ cho bé Jonathan, hoàn chỉnh với cả tay áo rộng và mũ đội đầu. Một hình dáng nhỏ trong bộ áo trông thật dễ thương làm cảm động tâm hồn mọi người, nhưng nó không thực tế lắm: Chiếc mũ luôn tụt về phía trước che mắt nó, và khi nó bò đầu gối nó gặp khó khăn với chiếc áo dài.
Vào giữa buổi chiều, khi Jonathan đã có giấc ngủ trrưa, và các tu sĩ cũng vậy, Tu viện trưởng Philip đi qua gian giữa ngôi nhà thờ cũ, bây giờ là sân chơi của các tập sinh, đến với em bé và Johnny Eightpence. Đây là thời điểm trong ngày mà các tập sinh được phép chơi đùa, và Johnny chăm chú xem họ chơi trong khi Jonathan mò mẫm xem hệ thống cọc và dây mà thợ xây Tom đã thiết lập sơ đồ mặt bằng cho gian đầu phía đông của nhà thờ chính tòa.
Philip đứng bên cạnh Johnny một vài phút yên lặng, quan sát đứa bé bò xung quanh. Philip rất hài lòng với Johnny, người thiếu sự hiểu biết nhưng thay vào đó có một trái tim rộng lượng. Jonathan đứng lên, dựa vào cây cọc mà Tom đã đóng xuống đất đánh dấu nơi mái hiên phía bắc sẽ được xây. Nó bám theo sợi dây và bước đi vài bước không vững vàng, chậm rãi. “Chẳng bao lâu nữa nó có thể đi được rồi,” Philip nói với Johnny.
“Thưa cha, nó luôn thử, nhưng thường lại ngã xuống.”
Philip cúi xuống, đưa hai cánh tay về phía Jonathan. “Đi về đây,” ông nói. “Đi nào.”
Jonathan cười toe toét, khoe vài chiếc răng. Nó nắm lấy dây của Tom và đi thêm vài bước. Rồi nó chỉ vào Philip, như nó cần sự giúp đỡ, và bất ngờ buông sợi dây, đi ba bước nhanh, vững chãi.
Philip đỡ nó trong tay và nói: “Tốt quá!” Ông ôm nó, cảm thấy hãnh diện như đó là kết quả của chính ông chứ không phải của em bé.
Johnny hoàn toàn thích thú. “Nó đi được rồi! Nó đi được rồi!”
Jonathan cựa quậy đòi xuống. Philip đặt chân nó xuống để xem nó có thể đi được nữa không; nhưng như thế đã đủ cho ngày hôm nay và ngay lập tức nó bò đến Johnny.
Một vài tu sĩ đã khó chịu, Philip nhớ lại, khi ông mang Johnny và bé Jonathan tới Kingsbridge. Mọi việc đối với Johnny tương đối dễ dàng bao lâu người ta không quên là tự bản chất anh ấy là một đứa bé trong một thân thể đàn ông; và Jonathan đã vượt qua mọi sự phản đối vì sự quyến rũ cá nhân của nó.
Jonathan không phải là nguyên nhân duy nhất gây nên bất ổn trong năm đầu tiên. Các tu sĩ đã bầu một người mà họ chờ đợi sẽ mang lại kinh tế tốt hơn cho tu viện, họ cảm thấy bị lừa khi Philip đưa ra một kế hoạch cắt giảm chi tiêu trong cuộc sống hàng ngày của tu viện. Philip bị tổn thương: ông tỏ ra rõ ràng rằng ưu tiên hàng đầu của ông là xây nhà thờ chính tòa mới. Các người lãnh đạo trong tu viện cũng đã chống lại kế hoạch xóa bỏ sự độc lập về tài chính của họ, ngay cả mặc dù họ biết rõ ràng rằng nếu không cải tổ, tu viện càng ngày càng suy tàn. Và khi ông dành tiền mở rộng thêm đàn cừu của tu viện, gần như đã có một cuộc nổi loạn. Nhưng trong căn bản các tu sĩ vẫn là những người biết vâng lời; và Giám mục Waleran, người khuyến khích nổi loạn, đã đi Roma mất gần một năm; vì thế cuối cũng các tu sĩ cũng chẳng làm gì khác hơn là lẩm bẩm.
Nhiều lúc Philip đã phải cô đơn, nhưng ông chắc chắn kết quả sẽ minh oan cho ông. Chính sách của ông đã đem lại kết quả khả quan. Giá len tăng lên, và Philip đã có thể cắt lông cừu: đó là lý do tại sao ông có thể thuê thợ làm rừng và thợ khai thác đá. Khi tình trạng kinh tế phát triển và việc xây dựng nhà thờ chính tòa tiến triển, vị trí tu viện trưởng của ông không còn bị công kích.
Ông trìu mến vỗ nhẹ vào đầu Johnny Eightpence và đi về phía công trường xây dựng. Với sự giúp đỡ của nhân viên trong tu viện và các tu sĩ trẻ, Tom và Alfred đã bắt đầu đào chân móng. Tuy nhiên, nó chỉ sâu năm hay sáu feet. Tom đã nói với Philip rằng chân móng phải sâu hai mươi lăm feet. Ông cần một số lớn nhân công cùng với thiết bị nâng để đào sâu hơn.
Nhà thờ mới sẽ lớn hơn nhà thờ cũ, nhưng nó vẫn còn quá nhỏ cho một nhà thờ chính tòa. Một phần Philip muốn nó phải là nhà thờ chính tòa dài nhất, cao nhất, giầu nhất và đẹp nhất trong toàn vương quốc, nhưng ông phải kìm lại ước muốn này và tự nhủ lòng mình rằng phải hài lòng với bất cứ nhà thờ nào.
Ông đi vào lều của Tom và nhìn vào sản phẩm gỗ trên ghế băng. Người xây dựng chính đã trải qua cả mùa đông ở đây, làm việc với một thước sắt và một bộ đục tốt, để hoàn thành cái mà ông gọi là mẫu – mô hình bằng gỗ cho thợ xây dùng làm mẫu khi cắt đá. Philip đã chăm chú nhìn với sự ngưỡng mộ trong khi Tom, một người to lớn với bàn tay to, khắc gỗ một cách cẩn thận thành những đường cong hoàn hảo, những góc vuông và góc cạnh chính xác. Bây giờ Philip cầm một mẫu lên và xem xét nó. Nó được tạo thành hình giống như một cánh hoa cúc, một phần tư vòng tròn với nhiều chỗ tròn nhô ra như cánh hoa. Người ta cần những viên đá đó làm gì? Ông thấy những vật này rất khó hình dung, và ông cảm phục khả năng tưởng tượng của Tom. Ông nhìn bản vẽ của Tom, khắc trên thạch cao trên khung gỗ, và nhận ra rằng ông đang cầm một mẫu cho đầu cột trụ của khu mái vòm, nó trông giống như cụm của những cột, nhưng bây giờ ông nhận ra đó chỉ là tưởng tượng: trong thực tế cột trụ là những hàng cột bằng đá với sự trang trí như những trục.
Năm năm, Tom đã nói, và gian đầu phía đông nhà thờ sẽ hoàn tất. Năm năm, và Phlip lại có thể dâng lễ trong nhà thờ chính tòa. Tất cả những gì ông phải làm là tìm ra tiền. Năm nay sẽ khó góp được đủ tiền để có thể khiêm tốn bắt đầu, bởi vì sự cải cách của ông cần thời gian, nhưng năm sau, khi ông bán len mới mùa xuân, ông sẽ có khả năng thuê thêm nhiều thợ thủ công và bắt đầu xây dựng một cách nghiêm túc.
Chuông chiều báo hiệu giờ kinh tối. Philip rời nhà kho và đến lối đi vào tầng hầm. Nhìn qua cổng tu viện, ông ngạc nhiên thấy thợ xây Tom đi vào với tất cả các thợ đá. Tại sao họ lại trở về? Tom đã nói ông sẽ đi một tuần và những thợ đá sẽ ở lại đó luôn. Philip vội vã gặp họ.
Khi đến gần ông thấy họ mệt mỏi và chán nản, như có một điều gì thất vọng khủng khiếp đã xẩy ra. “Chuyện gì vậy?” ông nói. “Tại sao các ông lại về?”
“Tin xấu,” thợ xây Tom nói.
Trong cả giờ kinh tối, Philip cố nén cơn giận. Những gì Bá tước Percy làm là thái quá. Quy định về quyền lợi rất rõ ràng và chỉ thị của nhà vua không thể bị hiểu lầm: chính bá tước có mặt khi thông báo được đưa ra và quyền khai thác đá của tu viện được ghi rõ trong điều lệ. Đôi chân Philip bước trên sàn đá trong một nhịp điệu khẩn cấp và giận dữ. Ông đang bị cướp. Percy đang ăn cướp những đồng xu của nhà thờ. Không có lý do nào bào chữa cho hành động đó. Percy bất chấp cả Thiên Chúa lẫn nhà vua. Nhưng tệ hơn cả là Philip không thể xây nhà thờ mới nếu không được lấy đá từ mỏ. Ông đã bắt đầu với một ngân sách khiêm tốn nhất, và nếu ông phải mua đá ngoài thị trường, và chuyên chở nó từ xa về, ông không còn khả năng xây dựng. Ông sẽ phải đợi thêm một hay nhiều năm nữa, và rồi sáu hay bẩy năm nữa ông mới lại được dâng thánh lễ trong nhà thờ chính tòa. Ông không thể chịu đựng được khi nghĩ về đó.
Ông triệu tập một cuộc họp khẩn cấp sau giờ kinh chiều và thông tin cho các tu sĩ.
Ông đã phát triển một kỹ thuật điều hành cuộc họp. Remigius, tu viện phó, vẫn còn ác cảm với Philip vì đã thất bại trong cuộc bầu cử, và ông vẫn thường tỏ sự bất mãn của mình khi công việc kinh doanh của tu viện được thảo luận. Ông là một nhà mô phạm bảo thủ, thiếu sáng tạo, vì thế mà ông không đồng ý với cách điều hành tu viện của Philip. Những tu sĩ đã ủng hộ Remigius trong cuộc bầu cử có khuynh hướng thiên về ông trong buổi họp: Andrew, người phụ trách phụng vụ; Pierre, người có trách nhiệm về kỷ luật; và John Small, người giữ kho báu lười biếng. Tương tự như vậy, những tu sĩ gần gũi nhất với Philip là những người đã vận động tranh cử cho ông: Cuthbert Whitehead, người quản lý già; và Milius trẻ, người mà Philip trao cho chức đặc trách về tài chánh, một chức vụ Philip mới đặt ra có nhiệm vụ kiểm soát tài chánh của tu viện.
Philip luôn luôn để Milius thảo luận với Remigius. Thông thường Philip thảo luận với Milius về mọi vấn đề quan trọng trước cuộc họp. Trong trường hợp khác, ông có thể tin tưởng Milius sẽ đưa ra một quan điểm tương tự như ông. Sau đó Philip có thể đúc kết lại giống như một trọng tài không thiên vị. Mặc dù Remigius hiếm có cơ hội theo ý riêng của ông, nhưng Philip vẫn chấp nhận một số lập luận của ông hoặc thông qua một phần đề xuất của ông, để duy trì cảm giác về một cách lãnh đạo dựa trên sự đồng nhất của mọi người.
Các tu sĩ tức giận về những gì Bá tước Percy đã làm. Tất cả họ đã vui mừng khi biết nhà vua cho tu viện khai thác gỗ và đá không giới hạn, và bây giờ họ bực mình về việc Percy chống lại lệnh vua.
Khi bầu khí sôi nổi đã dịu, Remigius đưa ra một quan điểm khác. “Tôi nhớ tôi đã nói cách đây một năm,” ông bắt đầu. “Một hiệp ước, trong đó quy định mỏ đá thuộc quyền sở hữu của lãnh chúa và chúng ta có quyền khai thác, thì không thể đạt yêu cầu. Từ đầu chúng ta phải cố gắng có được quyền sở hữu trên mỏ đá.”
Trong lời nhận xét này có vài điều đúng và Philip không dễ nuốt nó. Quyền sở hữu là điều mà ông đã đồng ý với bà Regan, nhưng bà đã lừa ông vào phút cuối. Ông định nói rằng ông đã xử lý tốt nhất những gì ông có thể và ông muốn thấy Remigius có thể làm gì tốt hơn trong hoàng cung; nhưng ông cắn lưỡi nhường nhịn, vì là một tu viện trưởng, sau cùng ông phải chịu trách nhiệm cho mọi sự sai trái.
Milius mở lời cứu. “Nếu nhà vua đã cho chúng ta quyền sở hữu trên hầm mỏ thì quá tốt, nhưng ông đã không cho, và câu hỏi là, chúng ta phải làm gì bây giờ?”
“Tôi nghĩ nó đã khá rõ ràng,” Remigius vội vã nõi. “Chúng ta không thể tự đuổi những người của bá tước, vì thế chúng ta cần xin nhà vua làm chuyện đó. Chúng ta phải gửi một phái đoàn đến nhà vua và yêu cầu ông thực hiện quy định của ông.”
Có tiếng thì thầm tán thành. Andrew, người phụ trách phụng vụ nói: “Chúng ta phải gửi người thông thái và ăn nói lưu loát nhất.”
Philip nhận ra Remigius và Andrew coi họ như thành phần lãnh đạo của phái đoàn.
Remigius nói: “Sau khi nhà vua đã nghe những gì đã xẩy ra, tôi nghĩ Percy Hamleigh sẽ không được là bá tước nữa.”
Philip không chắc chắn về chuyện đó.
“Nhà vua ở đâu?” Andrew hỏi. “Có ai biết không?”
Gần đây Philip đã ở Winchester, và đã nghe nói về chương trình của nhà vua. “Nhà vua đã đến Normandy,” ông nói.
Milius nhanh chóng nói: “Sẽ mất một thời gian dài mới bắt kịp nhà vua.”
“Việc theo đuổi công lý luôn đòi hỏi sự kiên nhẫn,” Remigius tuyên bố trịnh thượng.
“Nhưng nếu mỗi ngày đi đuổi theo công lý, chúng ta sẽ không xây dựng được nhà thờ,” Milius đáp lại. Giọng ông tỏ ra rằng ông bực tức vì Remigius muốn trì hoãn kế hoạch xây dựng. Philip cũng có cùng cảm giác. Milius tiếp tục: “Và đó không phải là vấn đề duy nhất của chúng ta. Một khi chúng ta gặp nhà vua, chúng ta phải thuyết phục ông lắng nghe chúng ta. Điều đó mất hàng tuần. Rồi có lẽ ông ta sẽ cho Percy cơ hội để bào chữa – rồi lại tiếp tục chờ đợi…”
“Làm sao Percy có thể bào chữa mình?” Remigius gắt gỏng nói.
Milius trả lời: “Tôi không biết, nhưng tôi chắc chắn ông ấy có một kế hoạch.”
“Nhưng sau cùng nhà vua phải giữ lời mình.”
Một giọng mới nói vang lên: “Đừng nên chắc chắn như vậy.” Mọi người quay lại nhìn. Người vừa lên tiếng là thầy Timothy, người tu sĩ già nhất trong tu viện. Một người nhỏ bé, khiêm tốn, ít khi nói, nhưng khi ông nói, lời của ông đáng nghe. Một đôi khi Philip nghĩ chính ra ông phải là tu viện trưởng. Thường thường trong cuộc họp, ông ngồi như ngủ gật, nhưng bây giờ ông nghiêng người về phía trước, mắt sáng lên quả quyết. “Nhà vua là người của thời điểm,” ông tiếp tục. “Nhà vua luôn bị đe dọa bởi cuộc nổi loạn trong nước và từ các nước láng giềng. Ông ấy cần đồng minh. Bá tước Percy là người có quyền lực và có nhiều hiệp sĩ. Nếu nhà vua cần Percy vào thời điểm chúng ta xin kiến nghị, chúng ta sẽ bị từ chối, hoàn toàn không tùy thuộc vào sự công bằng trong trường hợp của chúng ta. Nhà vua không hoàn hảo. Chỉ có một thẩm phán thực sự, và đó là Thiên Chúa.”
Ông ngồi xuống, dựa người vào tường và nhắm mắt lại, như thể không màng quan tâm đến lời nói của mình có được tán thành không. Philip dấu một nụ cười: Timothy đã nói lên chính xác sự lo ngại của Philip khi cầu cứu sự công bằng nơi nhà vua.
Remigius miễn cưỡng phải từ bỏ viễn tượng có một chuyến đi thú vị đến Pháp và lưu lại trong triều đình; nhưng ông không thể chống lại lập luận của Timothy. “Vậy chúng ta có thể làm gì khác?” Ông hỏi.
Philip không chắc chắn. Cảnh sát trưởng không có khả năng can thiệp trong trường hợp này: Percy có quá nhiều quyền lực, ông không để bị kiểm soát bởi một viên cảnh sát trưởng. Và cả hai phía cũng không thể dựa trên giám mục. Thật thất vọng! Nhưng Philip không muốn ngồi nhìn thất bại. Ông phải tự lấy lại hầm mỏ…
Ông có một ý tưởng.
“Cho tôi một phút,” ông nói.
Chỉ cần tất cả các tu sĩ còn khỏe mạnh làm theo… chỉ cần tổ chức cẩn thận, giống như một đội quân không vũ khí… và cần thực phẩm cho hai ngày đường…
“Tôi không biết nó có thành công không, nhưng nên thử,” ông nói. “Hãy cho tôi nói.”
Ông nói cho họ kế hoạch của ông.
Ngay sau đó họ chuẩn bị lên đường: ba mươi tu sĩ, mười tập sinh, Otto Blackface và đội công nhân cắt đá của ông, thợ xây Tom và Alfred, hai con ngựa và một chiếc xe. Khi trời tối họ thắp đèn soi đường đi. Vào giữa đêm họ dừng lại ăn đồ ăn dã ngoại đã được chuẩn bị vội vàng: thịt gà, bánh mì trắng và rượu nho đỏ. Philip luôn quan niệm rằng công việc khó khăn nên được thưởng bằng đồ ăn ngon. Khi đi họ hát kinh mà thông thường họ sẽ làm khi ở trong tu viện.
Vào một thời điểm tối nhất, thợ xây Tom, người dẫn đường, giơ một tay lên ra hiệu cho mọi người dừng lại. Ông ấy nói với Philip: “Chỉ còn một dặm nữa là đến mỏ đá.”
“Tốt,” Philip nói. Ông quay về phía các tu sĩ. “Hãy cởi guốc và dép ra, và mang giầy nỉ vào.” Ông cởi dép của ông ra và đeo đôi giầy nỉ mà nông dân thường mang trong mùa đông.
Ông chọn ra hai tập sinh. “Edward và Philemon, ở lại đây với các con ngựa và xe. Hoàn toàn giữ im lặng và chờ cho đến khi trời sáng, rồi nhập đoàn với chúng tôi. Rõ chưa?”
“Vâng, thưa cha,” họ cùng nhau nói.
“Được rồi, những người còn lại,” Philip nói. “Hãy theo thợ xây Tom, bây giờ tất cả xin vui lòng hoàn toàn im lặng.”
Tất cả họ lại bước đi.
Gió phía tây thổi nhẹ, và tiếng xào xạc của lá cây che lấp hơi thở của năm mươi người và tiếng chân của năm mươi đôi giầy nỉ. Philip bắt đầu cảm thấy căng thẳng. Kế hoạch mà ông đưa ra thực hiện có vẻ điên rồ. Ông âm thầm đọc một lời kinh xin cho được thành công.
Con đường cong về bên trái và ánh đèn chập chờn soi tỏ một túp lều gỗ, một đống đá đã gần hoàn thành, một số thang và giàn giáo, và phía xa là một ngọn đồi đen có những vết sẹo trắng vì đã bị khai thác đá. Bất ngờ Philip tự hỏi không biết những người ngủ trong lều có chó không. Nếu họ có, Philip sẽ mất đi yếu tố bất ngờ và toàn bộ kế hoạch bị ảnh hưởng. Nhưng đã quá muộn để quay về.
Đám người tản mác đàng sau túp lều. Philip nén thở, chờ đợi tiếng chó sủa. Nhưng may mắn không có chó.
Ông phân tán người xung quanh giàn giáo. Ông tự hào về họ vì họ hoàn toàn yên lặng. Giữ yên lặng là một điều khó, ngay cả trong nhà thờ. Có lẽ họ quá sợ để gây nên tiếng động.
Thợ xây Tom và Otto Blackface âm thầm đặt người cắt đá xung quanh công trường. Họ chia thành hai nhóm. Một nhóm tụ tập trên mặt đất gần sườn đá. Nhóm kia trèo lên giàn giáo. Khi họ đã vào vị trí, Philip hướng dẫn các tu sĩ qua cử chỉ để đứng hay ngồi quanh các công nhân. Còn ông đứng riêng, ở khoảng giữa túp lều và sườn đá.
Cách hoạch định thời gian của họ hoàn hảo. Bình minh lên một vài phút sau khi Philip đã ổn định vị trí cuối cùng. Ông lấy một cây nến từ túi áo khoác và châm lửa từ cây đèn, sau đó ông nhìn các tu sĩ và nâng cao cây nến. Đó là một tín hiệu được quy định trước. Bốn mươi tu sĩ và tập sinh, mỗi người lấy cây nến ra và châm lửa. Hiệu quả thật ấn tượng. Ngày mới bắt đầu trên quặng mỏ hoàn toàn yên lặng, những bóng ma cầm ánh nến nhỏ bé, chập chờn.
Philip quay lại phía túp lều. Vẫn chưa có dấu hiệu của sự sống. Ông quyết định chờ đợi. Các tu sĩ rất giỏi về việc đó. Đứng hàng giờ là một phần trong đời sống hàng ngày của họ. Tuy nhiên, các nhân công không quen với việc đó, và sau một lúc họ không còn kiên nhẫn, họ cựa quậy đôi chân và thì thào với nhau; nhưng việc đó bây giờ không còn quan trọng.
Không biết tiếng thì thầm hay ánh sáng ban ngày đánh thức người đang ngủ trong lều. Philip nghe có tiếng ho và khạc nhổ, sau đó là tiếng động như của một thanh gỗ được nâng lên đàng sau cửa. Ông giơ tay ra hiệu im lặng.
Cánh cửa túp lều bật mở. Philip giơ tay lên. Một người bước ra, tay dụi mắt. Philip biết ông qua lời miêu tả của Tom, đó là Harold thành Shiring, thợ mỏ chính.
Trước hết ông không thấy điều gì bất thường. Ông dựa vào thành cửa và ho khù khụ như một người đã hút quá nhiều bụi đá vào trong phổi. Philip bỏ tay xuống. Một nơi nào đó sau ông, người ca trưởng bắt giọng và tất cả các tu sĩ cất tiếng hát. Hầm mỏ tràn ngập âm thanh kỳ lạ.
Harold hoảng hồn. Đầu ông bị giật ngược lên. Mắt ông mở to và hàm ông trễ xuống khi ông nhìn thấy ca đoàn như bóng ma xuất hiện trong mỏ đá của ông. Một tiếng kêu sợ hãi phát ra từ miệng ông. Ông loạng choạng trở lại vào trong lều.
Philip cho phép mình mỉm cười hài lòng. Sự khởi đầu tốt đẹp.
Tuy nhiên sự sợ hãi về siêu nhiên sẽ không kéo dài lâu. Ông giơ tay và vẫy mà không quay đầu lại. Đáp lại dấu hiệu của ông, các thợ mỏ bắt đầu làm việc và tiếng va chạm của sắt trên đá tạo thành âm thanh của dàn hợp xướng.
Hai ba khuôn mặt sợ hãi nhìn từ cửa ra vào. Từ từ họ nhận ra rằng họ đang thấy những tu sĩ và các công nhân bình thường, bằng xương bằng thịt chứ không phải thị kiến hay siêu nhiên, và họ bước ra ngoài nhìn cho rõ hơn. Hai người lính gác đi ra, đeo kiếm và nhìn chăm chú. Đây là giờ phút quan trọng cho Philip: Hai người lính gác sẽ làm gì?
Nhìn vào họ, những người lính to lớn, râu ria và dơ bẩn, với dây thắt lưng sắt, với gươm và dao găm, và áo da nặng, Philip nhớ lại rõ nét và sinh động cảnh hai người lính xông vào nhà khi ông sáu tuổi và giết bố mẹ ông. Bất ngờ và không chờ đợi một niềm đau xót về bố mẹ nhói trong lòng ông. Ông ghê tởm nhìn vào quân của Bá tước Percy, không thấy chúng mà thay vào đó thấy một người đàn ông xấu xí với một mũi quặp và một người da đen có máu trên bộ râu; ông đầy tức giận và ghê tởm, và ông quyết tâm đánh bại bọn côn đồ ngu đần, vô thần này.
Một lúc lâu họ không làm gì. Dần dần tất cả thợ khai thác đá của bá tước ra khỏi lều. Philip đếm: tất cả là mười hai người thợ và hai người lính gác.
Mặt trời hé ra trên đường chân trời.
Thợ đá của Kingsbridge đã đào được đá ra. Nếu các lính gác muốn ngưng họ lại, họ sẽ phải chạm vào các tu sĩ đang bao vây bảo vệ các công nhân của họ. Philip đoán rằng các lính gác sẽ do dự dùng bạo lực với các tu sĩ đang cầu nguyện.
Cho đến lúc này ông đã đúng: họ đang do dự.
Hai tập sinh, người đã ở lại phía sau, mang theo ngựa và xe đến. Họ nhìn quanh sợ hãi. Philip dùng tay ra hiệu cho họ phải kéo xe tới chỗ nào. Rồi ông quay lại nhìn Tom và gật đầu.
Nhiiều tảng đá đã được cắt trong thời gian này, và bây giờ Tom chỉ định vài tu sĩ trẻ đem đá chất lên xe. Người của bá tước chăm chú theo dõi những biến chuyển. Những tảng đá quá nặng mà một người không thể vác được, vì thế họ phải dùng dây hạ chúng xuống khỏi giàn giáo, rồi dùng cáng khiêng chúng. Khi viên đá đầu tiên được cho vào xe, người lính gác đi vào trong đám đông với Harold. Một viên đá khác lại được cho vào xe. Hai người lính gác tách đám đông chung quanh lều và đi tới xe. Một trong các tập sinh, Philemon, trèo vào trong xe và ngồi trên tảng đá, nhìn thách thức. Chàng trai dũng cảm! Philip nghĩ, nhưng ông lo sợ.
Họ đi đến gần xe. Bốn tu sĩ, người đã khênh hai tảng đá, đứng đàng trước xe, tạo thành rào cản. Philip hồi hộp. Những người đàn ông dừng lại, mặt đối mặt với các tu sĩ. Cả hai người để tay vào chuôi kiếm. Tiếng ca im bặt khi mọi người nín thở theo dõi.
Chắc chắn, Philip nghĩ, họ sẽ không dám dùng kiếm chống lại những tu sĩ không có gì để tự vệ này. Rồi ông nghĩ, nó thật dễ dàng cho những người đàn ông này, những người to lớn, khỏe mạnh và đã quen với chiến trường, để đâm thanh kiếm của họ qua những người này, những người mà họ không phải sợ hãi gì, ngay cả sự trả thù. Chắc chắn họ phải cân nhắc hình phạt của Thiên Chúa vì họ đã mạo hiểm giết người của Ngài. Ngay cả những tên côn đồ như thế này phải biết rằng họ sẽ phải đứng trước tòa phán xét sau cùng. Họ có sợ lửa đời đời không? Có lẽ, nhưng họ cũng sợ chủ của họ, Bá tước Percy. Philip đoán rằng điều trên hết họ suy nghĩ bây giờ là liệu bá tước có coi lý do thất bại, không ngăn cản những người của Kingsbridge khỏi hầm mỏ, là chính đáng không. Ông nhìn họ do dự trước các tu sĩ trẻ, bàn tay trên chuôi kiếm. Ông tưởng tượng họ cân nhắc giữa sự đe dọa của Percy và cơn thịnh nộ của Thiên Chúa.
Hai người đàn ông nhìn nhau. Một người lắc đầu. Người khác nhún vai. Họ cùng nhau đi ra khỏi khu mỏ đá.
Ca trưởng bắt một nốt mới và các tu sĩ nổ tung ra trong một bài thánh ca chiến thắng. Các thợ mỏ reo hò vì chiến thắng và Philip nhẹ hẳn người. Trong một vài khoảnh khắc tưởng chừng đã có nguy hiểm. Bây giờ ông rạng rỡ vì vui. Mỏ đá thuộc về ông.
Ông tắt nến và đi tới xe. Ông ôm bốn tu sĩ, những người đã dám đương đầu với lính gác, và hai tập sinh, những người đã đem xe tới. “Tôi hãnh diện về anh em,” ông nói chân thành. “Và tôi tin Thiên Chúa cũng vậy.”
Các tu sĩ và các thợ mỏ bắt tay và chúc mừng lẫn nhau. Otto Blackface đi đến Philip và nói: “Thật vĩ đại, cha Philip ạ. Ông là người can đảm, nếu tôi được phép nói như vậy.”
“Thiên Chúa phù trợ chúng ta,” Philip nói. Mắt ông nhìn vào đám thợ mỏ của bá tước đang đứng chán nản quanh cửa lều của họ. Ông không muốn biến họ thành thù nghịch, bởi vì Percy có thể tiếp tục dùng họ để gây thêm rắc rối. Philip quyết định nói chuyện với họ.
Ông nắm tay Otto và dẫn ông đến lều ngủ. “Ý muốn của Thiên Chúa được thể hiện hôm nay,” ông nói với Harold. “Tôi hy vọng, các anh sẽ không tức giận.”
“Chúng tôi sẽ thất nghiệp,” Harold nói. “Đó là điều khó khăn cho chúng tôi.”
Bất ngờ Philip thấy một cách để cho Harold theo về phía ông. Một cách bốc đồng ông nói: “Các ông có thể trở lại làm việc ngay hôm nay, nếu các ông muốn. Làm việc cho tôi. Tôi sẽ thuê cả nhóm các ông. Ngay cả các ông có thể ở lại trong lều của các ông.”
Harold ngạc nhiên về những thay đổi nhanh chóng này. Ông sửng sốt nhìn, sau đó ông bình tĩnh lại và nói: “Tiền công là bao nhiêu?”
“Giá trung bình,” Philip đáp lại kịp thời. “Hai xu một ngày cho thợ thủ công, một xu cho người lao động, bốn xu cho ông, và ông phải trả cho người học nghề.”
Harold quay đi, nhìn vào những người thợ của ông. Philip cho Harold đi để họ thảo luận về đề nghị này một cách riêng tư. Philip thật sự không đủ khả năng thuê thêm mười hai người, và nếu họ chấp nhận đề nghị của ông, ông sẽ phải trì hoãn việc thuê thợ xây. Điều đó có nghĩa là số đá được cắt nhanh hơn so với với nhu cầu. Ông có thể xây một kho dự trữ, nhưng tiền mặt sẽ khan hiếm. Tuy nhiên, nếu có những thợ đá của Percy trong đội công nhân của tu viện thì đó sẽ là một sự phòng thủ tốt. Nếu Percy muốn lấy đá một lần nữa cho chính ông, trước hết ông phải thuê một toán thợ mỏ; điều đó có thể khó khăn một khi tin tức về sự việc hôm nay được truyền đi. Và nếu trong tương lai Percy có mưu kế khác để đóng cửa mỏ, Philip đã có sẵn một số đá dự trữ.
Harold dường như tranh cãi với thợ của ông. Sau vài phút ông trở lại với Philip. “Nếu chúng tôi làm việc cho ông, ai sẽ là người chịu trách nhiệm?” ông nói. “Tôi hay thợ mỏ chính của ông?”
“Otto là người chịu trách nhiệm,” Philip nói không do dự. Harold chắc chắn không thể chịu trách nhiệm để tránh tình trạng ông trở về với Percy. Và cũng không thể có hai thợ chính vì sẽ dẫn đến tranh chấp. “Ông vẫn có thể điều hành nhóm của ông,” Philip nói với Harold. “Nhưng Otto vẫn là xếp của ông.”
Harold thất vọng quay về với nhóm của ông. Cuộc thảo luận lại tiếp tục. Thợ xây Tom nhập đoàn với Philip và Otto. “Kế hoạch của ông thành công, thưa cha,” ông nói với nụ cười rộng. “Chúng ta chiếm lại được hầm mỏ mà không đổ một giọt máu nào. Ông thật tuyệt vời.”
Philip có khuynh hướng chấp nhận lời khen, nhưng ông nhận ra ông phạm tội kiêu ngạo. “Chính Chúa đã làm phép lạ,” ông nói để nhắc nhở chính mình cũng như nhắc nhở Tom.
Otto nói: “Cha Philip đã đề nghị thuê Harold và thợ của ông ta để cùng làm việc với tôi.”
“Thật sao?” Tom không hài lòng. Việc tuyển thợ thủ công là trách nhiệm của thợ xây dựng tổng thể chính, chứ không phải của tu viện trưởng. “Tôi không nghĩ, ông ấy có đủ tiền để thuê thêm người.”
“Tôi không thể,” Philip thừa nhận. “Nhưng tôi không muốn những người này lang thang không có gì làm, rồi chờ đợi Percy và nghĩ ra một cách khác dành lại mỏ đá.”
Tom trầm tư suy nghĩ, rồi ông gật đầu. “Và nó cũng chẳng có hại gì khi chúng ta có một số đá dự trữ, trong trường hợp Percy thành công.”
Philip vui vì Tom cũng có cùng suy nghĩ như ông.
Dường như Harold đã thỏa thuận được với nhân viên của ông. Ông trở lại với Philip và nói: “Ông có đồng ý trao tiền lương cho tôi và cho tôi được chia tiền phù hợp theo ý tôi?”
Philip lưỡng lự. Nó có nghĩa là người thợ chính có thể nhận nhiều hơn phần lương của ông. Nhưng ông nói: “Điều đó tùy thuộc thợ xây dựng tổng thể chính.”
“Thông thường là như vậy,” Tom nói. “Nếu đó là điều mà thợ của ông muốn, tôi cũng đồng ý.”
“Nếu như vậy, chúng tôi đồng ý,” Harold nói.
Harold và Tom bắt tay nhau. Philip nói: “Thế thì mọi người đạt được điều mà họ muốn. Tốt thôi!”
“Có một người không được cái mà họ muốn,” Harold nói.
“Ai vậy?” Philip hỏi.
“Vợ của Bá tước Percy, Regan,” Harold buồn rầu nói. “Khi bà ấy biết những gì xẩy ra ở đây, thì sẽ có một cuộc đổ máu.”
II
Hôm nay không đi săn bắn, vì thế những thanh niên ở lâu đài chơi một trong những trò chơi mà William Hamleigh ưa thích, đó là ném đá những con mèo.
Có rất nhiều mèo trong lâu đài, vì thế có thêm hoặc bớt một con cũng không sao. Những thanh niên đóng cửa ra vào, kéo cửa sổ của hội trường xuống, và đẩy đồ đạc dựa vào tường để mèo không thể trốn sau chúng; sau đó họ đổ một đống đá giữa phòng. Một con mèo già, chuyên gia bắt chuột, có lông màu xám, cảm nhận được bầu khí khát máu, nên ra ngồi gần cửa, hy vọng có thể chạy ra.
Mỗi người phải bỏ một xu vào trong nồi cho mỗi viên đá họ ném, và người nào ném chết con mèo sẽ được nhận chiếc nồi.
Khi họ rút thăm xem ai ném đá trước, con mèo trở nên bồn chồn, chạy qua chạy lại trước cửa ra vào.
Walter ném trước. Đó là sự may mắn, bởi vì mặc dù con mèo đã cảnh giác, nhưng nó vẫn chưa biết trò chơi nên có thể bị bất ngờ. Quay lưng lại phía con thú, Walter nhặt một viên đá và dấu nó trong tay; rồi ông nhìn quanh và bất ngờ ném.
Ông ném trật. Viên đá trúng vào cửa và con mèo nhảy lên và chạy. Những thanh niên khác cười chế nhạo.
Người ném thứ hai là người không may mắn, vì con mèo vẫn còn khỏe và đôi chân còn nhanh nhẹn, nhưng sau này nó sẽ mệt mỏi và có thể bị thương. Tới phiên một cận vệ trẻ. Cậu quan sát con mèo chạy xung quanh phòng tìm một lối ra, và đợi cho đến khi nó đi chậm lại; rồi cậu ném. Nó là một cú ném tốt, nhưng con mèo nhìn thấy và tránh được. Những người khác rên lên vì thất vọng.
Nó lại chạy quanh phòng, bây giờ nó chạy nhanh hơn vì hoảng sợ, nhẩy lên đống bàn ghế được xếp dựa vào tường, rồi nhẩy xuống. Một hiệp sĩ già sẽ ném kế tiếp. Ông làm bộ ném để xem con mèo nhẩy như thế nào, rồi ông ném thật khi nó chạy, nhắm vào một chút phía trước của nó. Những người khác vỗ tay khen sự xảo quyệt của ông, nhưng con mèo nhìn thấy hòn đá đến và bất ngờ dừng lại. Nó tránh được hòn đá.
Trong tuyệt vọng con mèo cố gắng trốn đàng sau một chiếc rương bằng gỗ sồi trong một góc phòng. Người ném kế tiếp nhìn thấy cơ hội và lợi dụng nó: ông ném ngay khi con mèo đứng yên và trúng mông của nó. Tiếng cổ vũ vang lên. Con mèo từ bỏ chỗ ẩn trú đàng sau chiếc rương và chạy quanh phòng, nhưng bây giờ nó đi khập khiễng và chậm hơn.
Đến lượt William.
Cậu nghĩ cậu có thể giết con mèo nếu cậu cẩn thận. Để làm cho nó mệt hơn, cậu la hét cho nó chạy nhanh hơn; rồi cậu làm bộ ném và nó lại chạy. Nếu ai đó đã trì hoãn trò chơi như thế, người đó sẽ bị la ó, nhưng Wiilliam là con của bá tước, vì thế họ kiên nhẫn chờ đợi. Con mèo đi chậm lại vì đau đớn. Nó đến bên cửa ra vào một cách hy vọng. William giơ cánh tay lên. Không ngờ con mèo lại dừng lại, dựa người vào bức tường bên cánh cửa. William bắt đầu ném. Trước khi viên đá rời khỏi tay cậu, cánh cửa bật mở, và một linh mục mặc áo đen đứng giữa cửa. William ném, nhưng con mèo nhẩy lên giống như một mũi tên bật ra khỏi cây cung và hú lên đắc thắng. Vị linh mục ở cửa hét lên kinh hãi và nắm chặt áo choàng của mình. Các thanh niên bật cười. Con mèo bắn vào chân linh mục, rồi rơi xuống chân ông và thoát ra khỏi cửa. Vị linh mục đứng chết lặng giống như một bà già hoảng sợ vì một con chuột, và những thanh niên cười rống lên.
William nhận ra vị linh mục. Đó là Giám mục Waleran.
Cậu cười to hơn nữa. Việc một linh mục nữ tính hoảng hốt vì một con mèo, cộng thêm ông ấy lại là kẻ thù của gia đình nên nó lại càng thú vị hơn.
Vị giám mục lấy lại bình tĩnh nhanh chóng. Mặt ông đỏ bừng, chỉ ngón tay vào William và nói bằng giọng chói tai: “Anh sẽ phải đau khổ đời đời trong tầng sâu nhất của hỏa ngục.”
Trong nháy mắt tiếng cười của William biến thành nỗi sợ hãi. Mẹ cậu đã gây cho cậu những cơn ác mộng. Khi cậu còn nhỏ, bà đã kể cho cậu về những gì quỷ làm cho những người trong hỏa ngục: đốt họ trong lửa, chọc mắt họ ra, cắt chỗ kín của đàn ông bằng dao sắc. Và từ đó cậu ghét nghe nói về chuyện đó. “Im đi!” cậu hét lên với giám mục. Cả phòng im lặng. William rút dao và đi về phía Waleran. “Ông đừng đến đây giảng đạo, con rắn độc ạ.” Waleran không sợ gì, nhưng ông có vẻ thích thú tìm kiếm điểm yếu của William; và điều đó làm William giận dữ hơn. “Tôi sẽ cho ông biết tay…”
Cậu đủ điên tiết để đâm lưỡi dao vào vị giám mục, nhưng cậu ngưng lại vì một giọng nói từ cầu thang phía sau cậu: “William, đủ rồi!”
Đó là bố cậu.
William dừng lại và một lúc sau cậu cho dao vào vỏ.
Waleran bước vào trong phòng. Một linh mục khác theo sau ông và đóng cửa lại: Dean Baldwin.
Ông bố nói: “Tôi ngạc nhiên khi gặp ông, thưa giám mục.”
“Bởi vì trong lần gặp sau cùng, ông đã tạo cho tu viện trưởng cơ hội phản bội đàng sau lưng tôi, phải không? Đúng, tôi nghĩ ông sẽ ngạc nhiên. Tôi không phải là người dễ tha thứ.” Ông đưa mắt lạnh nhìn William một lúc, rồi lại nhìn ông bố. “Nhưng tôi không mang mối hận khi nó thuận theo quyền lợi của tôi. Chúng ta cần nói chuyện với nhau.”
Ông bố gật đầu trầm tư. “Tốt hơn mời ông lên lầu. Cả con nữa, William.”
Giám mục Waleran và Dean Baldwin leo cầu thang lên nơi ở của bá tước, và William theo sau. Cậu thất vọng vì con mèo đã trốn thoát. Mặt khác cậu nhận ra rằng cậu đã may mắn thoát hiểm: nếu cậu đâm giám mục, có lẽ cậu sẽ bị treo cổ. Nhưng William ghét điệu bộ kiểu cách và sự tinh xảo của Waleran.
Họ đi vào phòng ngủ của ông bố, nơi William đã hãm hiếp Aliena. Mỗi lần vào đây cậu lại nhớ lại cảnh đó: thân thể trắng ngần của cô, sự sợ hãi trên nét mặt của cô, tiếng hét của cô, khuôn mặt nhăn nhó của em cô khi cậu bị bắt buộc phải chứng kiến cảnh tượng đó, và rồi – nước bài xuất sắc nhất của William - cậu đã để cho Walter hưởng thụ cô sau đó. Cậu ước muốn giữ cô ở đây như một tù nhân, vì thế cậu sẽ có cô bất cứ khi nào cậu cần.
Từ ngày đó cậu bị ám ảnh vì cô. Cậu đã cố gắng tìm cô. Một ông kiểm lâm bị bắt khi đang bán con ngựa chiến của William ở Shiring. Khi bị tra tấn ông thú nhận đã ăn cắp con ngựa của một cô gái mà theo lời mô tả của ông, cô ấy là Aliena. William đã nghe được từ nhà tù Winchester rằng cô đã thăm viếng bố cô trước khi ông ấy qua đời. Và bà bạn của cậu, Kate, chủ nhà điếm nơi cậu thường xuyên lui tới, kể với cậu rằng bà đã đề nghị cho cô một chỗ trong nhà bà. Nhưng sau cùng dấu vết cô đã mất.
“Đừng bận tâm về chuyện đó, chàng trai ạ.” Kate thông cảm nói. “Cậu muốn ngực lớn và tóc dài? Chúng tôi có cho cậu. Tại sao tối nay không lấy Betty và Millie cùng một lúc, để cậu có riêng cho cậu bốn bộ ngực to? “Nhưng Betty và Millie không còn ngây thơ, không sợ hãi đến chết và họ không làm vừa lòng cậu. Kể từ đêm với Aliena trong căn phòng bá tước này, cậu thực ra chưa hài lòng với bất kỳ một phụ nữ nào.
Cậu ngưng không còn nghĩ về cô nữa. Giám mục Waleran đang nói chuyện với mẹ. “Tôi đoán rằng bà biết tu viện Kingsbridge đã chiếm quyền sở hữu mỏ đá của bà?”
Họ chưa biết. William ngạc nhiên và bà mẹ tức giận. “Cái gì?” bà nói. “Bằng cách nào?”
Các lính canh đã đuổi được các thợ đá ra khỏi mỏ, nhưng ngày hôm sau khi họ thức giấc họ thấy mỏ đá tràn ngập các tu sĩ đang hát thánh ca, và họ sợ phải đụng vào những người của Thiên Chúa. Tu viện trưởng Philip đã thuê các thợ mỏ của bà và bây giờ họ làm việc chung với nhau trong một sự hài hòa trọn vẹn. Tôi ngạc nhiên tại sao các lính canh không trở lại báo cáo với bà.”
“Họ ở đâu, những kẻ hèn nhát?” Bà mẹ rít lên. Bà ta đỏ mặt. “Tôi sẽ gặp họ… Tôi sẽ cắt trứng của họ…”
“Tôi biết tại sao họ không trở lại,” Waleran nói.
“Đừng bận tâm đến người lính gác đó,” ông bố nói. “Họ chỉ là lính. Ông tu viện trưởng ranh mãnh kia mới là người chịu trách nhiệm. Tôi chẳng bao giờ tưởng tượng ông ấy lại có một mánh khóe như thế. Ông ấy đánh lừa chúng ta. Đó là tất cả.”
“Chính xác,” Waleran nói. “Ông ấy có vẻ thánh thiện đơn sơ, nhưng ông ấy có xảo trá của con chuột nhà.”
William nghĩ Waleran cũng giống như vậy, cũng là một con chuột nhà màu đen có mõm nhọn và mái tóc đen bóng mượt, ngồi trong góc nhà với một mẩu bánh ở chân, đôi mắt cảnh giác lượn qua phòng khi nó gặm nhắm bữa ăn của nó. Tại sao ông ấy lại quan tâm đến mỏ đá? Ông cũng xảo quyệt như Tu viện trưởng Philip: cả ông ta nữa cũng có âm mưu gì đó.
Bà mẹ nói: “Chúng ta không thể để ông ấy lấy mất mỏ đá. Gia đình Hamleigh không để cho người khác coi là bị thất bại. Tu viện trưởng đó sẽ phải nhục nhã.”
Ông bố không chắc chắn như vậy. “Đó chỉ là mỏ đá,” ông nói. “Và nhà vua đã…”
“Nó không phải chỉ là mỏ đá, nó là danh dự của gia đình,” bà mẹ cắt ngang. “Không cần để ý đến nhà vua đã nói gì.”
William đồng ý với mẹ. Philip thành Kingsbridge đã thách thức Hamleigh, và ông ấy sẽ bị tiêu diệt. Nếu người ta không sợ bạn, bạn không là gì cả. Nhưng cậu không nhìn ra vấn đề. “Tại sao chúng ta không vào đó với mấy người nữa, rồi đuổi công nhân đá của tu viện đi?”
Ông bố lắc đầu. “Việc chúng ta khai thác mỏ đá cho chúng ta là hành động thụ động chống lại ý muốn của nhà vua; nhưng gửi người có vũ khí đến đánh đuổi công nhân, những người có phép của vua, lại là chuyện khác. Tôi có thể mất chức bá tước về việc đó.”
William miễn cưỡng chấp nhận quan điểm của ông. Ông bố thường thận trọng, nhưng ông thường có lý.
Giám mục Waleran nói: “Tôi có một đề nghị.” William đã cảm thấy chắc chắn ông có một ý định gì đó bí ẩn. “Tôi cho rằng nhà thờ chính tòa này không nên xây ở Kingsbridge.” William bối rối, và cũng như ông bố, không hiểu gì về đề nghị này. Nhưng đôi mắt bà mẹ mở to, bà ngưng nặn mụn trên mặt và trầm tư nói: “Đó là một ý kiến độc đáo.”
“Trước đây hầu hết các nhà thờ chính tòa ở trong làng mạc như Kingsbridge,” Waleran tiếp tục. “Nhiều ngôi đã được dời vào thành phố từ sáu mươi hay bẩy mươi năm về trước, trong thời vua William thứ nhất. Kingsbridge là một làng nhỏ ở giữa vùng không tên tuổi. Nơi đây không có gì, ngọai trừ một tu viện đang xuống cấp, không đủ giầu có để duy trì một nhà thờ chính tòa, chưa nói gì đến việc xây dựng một nhà thờ mới.
Bà mẹ nói: “Và ông muốn xây nhà thờ ở đâu?”
“Shiring,” Waleran nói. “Đó là một thành phố lớn – dân số phải trên một ngàn – và nó có một ngôi chợ và hội chợ lông cừu hàng năm. Và nó nằm trên trục đường chính. Và nếu cả hai chúng ta – giám mục và bá tước cùng hiệp nhất - cùng vận động cho nó, chúng ta sẽ vượt qua.”
Ông bố nói: “Nếu nhà thờ chính tòa ở Shiring, các tu sĩ của tu viện Kingsbridge sẽ không thể trông nom nó.”
“Chính vì thế,” bà mẹ sốt ruột nói. “Không có nhà thờ chính tòa, Kingsbridge sẽ không còn là gì cả, tu viện sẽ chìm vào quên lãng, và Philip sẽ lại là số không, đó là cái mà ông ấy đáng hưởng.
“Vậy thì ai sẽ chăm sóc nhà thờ chính tòa mới?” Ông bố cứng đầu hỏi.
“Một ủy ban của nhà thờ chính tòa,” Waleran nói, “do tôi chỉ định.”
William đã không hiểu như bố của cậu, nhưng bây giờ ông bắt đầu hiểu sự tính toán của Waleran: khi di chuyển nhà thờ chính tòa về Shiring, Waleran sẽ kiểm soát về nhân sự của nhà thờ.
“Thế còn về vấn đề tài chánh?” ông bố hỏi. “Ai sẽ trả chi phí cho việc xây nhà thờ chính tòa mới, nếu không phải là tu viện Kingsbridge?”
“Tôi nghĩ hầu hết tài sản của tu viện được chuyên dụng cho nhà thờ chính tòa,” Waleran nói. “Nếu nhà thờ chính tòa chuyển đi, tài sản cũng chuyển theo. Thí dụ như khi vua Stephen chia lãnh địa cũ của Shiring, ông trao trang trại đồi cho tu viện Kingsbridge, như chúng ta đều quá biết; nhưng nhà vua làm điều đó là để giúp tài trợ cho việc xây dựng nhà thờ chính tòa mới. Nếu chúng ta cho ông biết người nào khác sẽ xây nhà thờ chính tòa mới, ông ấy sẽ mong rằng tu viện sẽ trao đất này lại cho người xây dựng mới. Dĩ nhiên các tu sĩ sẽ chống lại; nhưng vấn đề sẽ được giải quyết khi xem xét lại các quy định.”
Mọi chuyện trở nên rõ ràng hơn đối với William. Qua mưu kế này Waleran không những có được quyền kiểm soát trên nhà thờ chính tòa, mà ông còn nhúng tay vào hầu hết tài sản của tu viện.
Ông bố cũng nghĩ như vậy. “Nó là một kế hoạch lớn cho ông, thưa ngài giám mục, nhưng tôi được gì trong đó?”
Bà mẹ trả lời ông. “Ông không thấy gì sao?” bà nói. “Shiring là của ông. Hãy nghĩ xem bao nhiêu sự thịnh vượng sẽ theo nhà thờ chính tòa đến Shiring. Hàng trăm thợ thủ công và người lao động sẽ xây dựng nhà thờ trong nhiều năm: họ sẽ phải trả tiền thuê nhà cho ông, cũng như mua đồ ăn và quần áo ở chợ. Chưa kể tới nhân viên của nhà thờ chính tòa và những tín hữu đi dự lễ, thay vì đến Kingsbridge họ sẽ đến Shiring vào dịp lễ Phục sinh và lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, và những khách hành hương đến kính viếng di tích thánh… Tất cả họ đều tiêu tiền.” Đôi mắt bà sáng lên vì tham vọng. Đã từ lâu William không nhìn thấy bà háo hức như thế. “Nếu chúng ta xử lý đúng, chúng ta có thể biến Shiring thành một trong những thành phố quan trọng nhất vương quốc.”
Và nó sẽ là của tôi, William nghĩ. Khi ông bố qua đời tôi sẽ là bá tước.
“Được rồi,” ông bố nói. “Nó sẽ làm suy sụp Philip. Nó sẽ đem lại cho ông quyền lực, thưa ngài giám mục, và nó sẽ làm tôi giầu có. Làm sao chúng ta có thể thực hiện nó?”
“Quyết định dời địa điểm nhà thờ chính tòa một cách lý thuyết thuộc quyền Tổng giám mục ở Canterbury.”
Bà mẹ sắc sảo nhìn ông. “Tại sao lại là ‘một cách lý thuyết’?”
“Bởi vì hiện nay không có Tổng giám mục ở đó. William thành Corbeil đã chết vào lễ Chúa giáng sinh và vua Stephen chưa chỉ định người nối nghiệp. Tuy nhiên chúng ta biết ai muốn chức vụ đó: người bạn cũ của chúng ta Henry thành Winchester. Ông ấy muốn chức vụ đó; giáo hoàng đã cho ông ta tạm quyền cai quản; và anh ông ấy là vua.”
“Ông thân với ông ấy như thế nào?” ông bố nói. “Ông ấy đã không giúp được ông nhiều, khi ông muốn lãnh địa này.”
Waleran nhún vai. “Ông ấy sẽ giúp tôi nếu ông ấy có thể. Chúng ta phải trình bầy dự định của chúng ta một cách thuyết phục.”
Bà mẹ nói: “Ngay lúc này ông ấy sẽ không muốn biến những người có quyền lực thành kẻ thù, nếu ông ấy muốn làm tổng giám mục.”
“Chính xác. Nhưng Philip không đủ mạnh trong vấn đề này. Ông ta sẽ không được hỏi ý kiến trong việc chọn tổng giám mục.”
“Vậy tại sao Henry không cho chúng ta những gì chúng ta muốn?” William hỏi.
“Bởi vì ông ấy chưa phải là tổng giám mục, chưa phải; và ông ấy biết người ta quan sát xem ông cư xử như thế nào trong thời gian tạm quyền. Ông muốn tỏ ra có những quyết định đúng đắn, chứ không phải ban ân huệ cho bạn bè. Sau cuộc bầu cử còn nhiều cơ hội cho việc đó.”
Bà mẹ suy tư nói: “Vì thế cách tốt nhất để nói với ông ấy là xin ông ấy thông cảm lắng nghe sự việc của chúng ta. Nhưng sự việc của chúng ta là gì?”
“Đó là Philip không thể xây nhà thờ chính tòa, và chúng ta có thể.”
“Và chúng ta thuyết phục ông ấy về điều đó bằng cách nào?”
“Thời gian gần đây bà có đến Kingsbridge không?”
“Không.”
“Tôi ở đó vào lễ Phục sinh.” Waleran mỉm cười. “Họ chưa bắt đầu xây dựng. Tất cả những gì họ đã làm là dọn được mặt bằng, đóng được vài cái cọc và chăng vài sợi dây đánh dấu nơi họ hy vọng sẽ xây. Họ đã bắt đầu đào chân móng, nhưng chỉ sâu vài feet. Có một thợ xây làm việc ở đó với mấy người học việc, cùng với thợ mộc của tu viện, một đôi khi có một hay hai tu sĩ giúp. Đó là một cảnh tượng chán nản, nhất là khi trời mưa. Tôi muốn giám mục Henry nhìn cảnh tượng đó.”
Bà mẹ gật đầu. “Trước hết chúng ta sẽ cắt nghĩa cho ông ấy biết Kingsbridge là một nơi bé nhỏ và không quan trọng, và tu viện nghèo như thế nào; sau đó chúng ta sẽ chỉ cho ông ấy nơi mà họ đã cần cả một năm trời để đào được vài hố cạn; rồi chúng ta sẽ đưa ông ấy đến Shiring và chỉ cho ông ấy thấy chúng ta sẽ xây nhà thờ nhanh như thế nào ở đó, với sự trợ lực của giám mục, bá tước và cư dân trong thành phố, tất cả dồn sức lực cho dự án.”
“Liệu Henry có đến không?” bà mẹ lo lắng hỏi.
“Tất cả những gì chúng ta có thể làm là hỏi,” Waleran đáp lại. “Tôi sẽ mời ông ấy vào lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống trong tư cách là tổng giám mục. Qua đó chúng ta tôn ông lên, ngụ ý là chúng ta đã coi ông là tổng giám mục.”
Ông bố nói: “Chúng ta phải giữ bí mật này không cho Tu viện trưởng Philip biết.”
“Tôi nghĩ không thể làm điều đó được,” Waleran nói. “Một giám mục không thể thăm viếng Kingsbridge một cách bất ngờ - nó rất kỳ quặc.”
“Nhưng nếu Philip biết trước rằng Giám mục Henry đến, ông ấy có thể nỗ lực thúc đẩy chương trình xây dựng.”
“Bằng cách nào? Ông ấy không có tiền, nhất là bây giờ ông ấy đã thuê tất cả các thợ đá của ông. Thợ đá không thể xây tường.” Waleran lắc đầu từ bên này sang bên kia với một nụ cười hài lòng. “Trong thực tế, ông ấy không thể làm gì ngoại trừ hy vọng mặt trời chiếu sáng trong ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống.”
Thoạt tiên Philip vui mừng vì giám mục của Winchester sẽ đến Kingsbridge. Nó sẽ là một thánh lễ ngoài trời, dĩ nhiên, nhưng cũng tốt thôi. Thánh lễ sẽ được cử hành nơi nền nhà thờ cũ. Trong trường hợp trời mưa, thợ mộc của nhà thờ sẽ làm một lều tạm thời trên bàn thờ và khu xung quanh bàn thờ để giữ cho giám mục được khô ráo. Cuộc thăm viếng của Giám mục Henry dường như muốn nói lên rằng một phần nào ông vẫn coi Kingsbridge là một nhà thờ chính tòa, và hoàn cảnh hiện tại của nhà thờ chỉ là vấn đề tạm thời.
Tuy nhiên, Phiilip thắc mắc về động cơ thăm viếng của Henry. Lý do thăm viếng tu viện của giám mục thường là vì đồ ăn, nước uống và chỗ ở miễn phí cho ông và đoàn tùy tùng; nhưng Kingsbridge nổi tiếng, nói đúng hơn mang tiếng, về đồ ăn dở và chỗ ăn ở tồi tàn, và sự cải cách của Philip chỉ nâng tiêu chuẩn từ khủng khiếp lên đến có thể chấp nhận được. Henry hầu như là giáo sĩ giầu nhất trong vương quốc, vì thế chắc chắn ông ấy đến Kingsbridge không phải vì đồ ăn và thức uống. Nhưng Philip biết ông là người không làm chuyện gì mà không có lý do.
Càng nghĩ về nó, ông càng nghi ngờ giám mục Waleran có mục đích gì trong việc này. Ông đã chờ đợi sau khi lá thư đến một hoặc hai ngày, giám mục Waleran sẽ đến Kingsbridge, thảo luận về nghi thức thánh lễ và sự tiếp đón Henry để tạo cho ông sự thoải mái và ấn tượng về Kingsbridge; và khi thời gian trôi qua mà Waleran vẫn không đến, Philip vô cùng lo ngại.
Tuy nhiên, ngay cả trong những khoảnh khắc nghi ngờ nhất ông cũng không nghĩ đến sự phản bội, cho đến khi sự việc được lộ ra mười ngày trước lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, qua một lá thư của tu viện trưởng ở nhà thờ chính tòa Canterbury. Giống như Kingsbridge, nhà thờ chính tòa của Canterbury cũng do các tu sĩ dòng Biển Đức coi sóc, và các tu sĩ luôn giúp đỡ lẫn nhau khi có thể. Tu viện trưởng của Canterbury, người làm việc chặt chẽ với tổng giám mục, biết rằng Waleran mời Henry đến Kingsbridge để thuyết phục ông di chuyển tòa giám mục và nhà thờ chính tòa đến Shiring.
Philip bị sốc. Tim ông đập mạnh và tay ông cầm lá thư run lẩy bẩy. Nó là một nước cờ cực kỳ khôn ngoan mà Philip không thể dự đoán và không thể tưởng tượng được.
Lỗi lầm là ông không biết nhìn xa, mặc dù ông đã biết Waleran là người nguy hiểm. Trước đây một năm, giám mục đã muốn qua mặt ông trong việc chia lãnh địa Shiring. Và ông sẽ chẳng quên được Waleran đã giận dữ như thế nào khi Philip lừa ông. Ông có thể hình duung khuôn mặt đầy giận dữ, khi ông nói: Tôi thề trước các Thánh, ông sẽ chẳng bao giờ xây được nhà thờ của ông. Nhưng thời gian trôi qua đã làm lu mờ lời thề của ông ấy, và Philip đã quên cảnh giác. Bây giờ đây là một lời nhắc nhở rằng Waleran có một trí nhớ lâu dài.
“Giám mục Waleran nói anh không có tiền, và trong mười lăm tháng vừa qua anh đã không xây dựng được gì,” tu viện trưởng của Canterbury đã viết. “Ông ấy nói rằng Giám mục Henry phải tận mắt nhìn thấy rằng nhà thờ chính tòa sẽ chẳng bao giờ xây được nếu giao cho tu viện Kingsbridge. Ông lập luận rằng bây giờ là lúc phải quyết định di chuyển, trước khi công việc được xúc tiến.”
Waleran đã phóng đại mọi chuyện. Trong thực tế, Philip đã làm được nhiều điều lớn lao. Ông đã dọn sạch đống đổ nát, phê chuẩn kế hoạch, đặt kích thước cho gian phía đông, bắt đầu đào chân móng, chặt cây và và khai thác mỏ đá. Nhưng ông không có gì nhiều để chỉ cho quan khách. Và ông đã vượt qua nhiều trở ngại kinh khủng để đạt được điều này – cải tổ tài chính, nhận được một số lớn đất của nhà vua, và đánh bại Bá tước Percy trong việc tranh dành hầm mỏ. Đó thật là bất công.
Cầm lá thư từ Canterbury trên tay, ông đi tới cửa sổ và nhìn qua công trường xây dựng. Mưa mùa xuân đã biến nó thành một biển bùn lầy. Hai tu sĩ trẻ với mũ chụp trên đầu đang kéo gỗ từ bờ sông về. Thợ xây Tom đã thực hiện một thiết bị với ròng rọc và dây thừng để kéo thùng đất từ dưới lỗ chân móng lên, và ông đang quay bánh răng cưa trong khi con ông Alfred ở dưới hố, múc đầy bùn đất vào thùng. Trông như thể họ có thể làm việc với tốc độ này mãi mãi mà không có sự khác biệt nào. Mỗi người, ngoại trừ các chuyên gia, khi nhìn cảnh tượng này đều có thể kết luận rằng cho đến ngày phán xét sau cùng cũng không có nhà thờ nào được xây lên ở đây.
Philip rời cửa sổ và quay về bàn làm việc. Phải làm gì bây giờ? Trong khoảnh khắc ông bị cám dỗ không làm gì cả. Hãy để Giám mục Henry đến nhìn, rồi tự quyết định, ông nghĩ. Nếu nhà thờ chính tòa được xây ở Shiring, hãy cứ để xây ở đó. Hãy để Giám mmục Waleran kiểm soát nó và dùng nó cho mục đích riêng của ông; hãy mang sự thịnh vượng cho thành phố Shiring và triều đại Hamleigh xấu xa. Hãy để ý Chúa được thể hiện.
Dĩ nhiên ông biết điều đó không được phép. Tin vào Thiên Chúa không có nghĩa là ngồi đó và không làm gì. Tin vào Thiên Chúa nghĩa là bạn phải làm nó với hết sức bạn một cách trung thực và hăng say. Nhiệm vụ thiêng liêng của Philip là làm tất cả những gì có thể để ngăn chặn nhà thờ chính tòa rơi vào tay những người thiếu đức tin, vô đạo đức, những người muốn dùng nó cho lợi ích riêng tư. Điều đó có nghĩa là làm cho Giám mục Henry thấy rằng kế hoạch xây dựng đang được thực hiện tốt và Kingsbridge có năng lực và quyết tâm hoàn thành nó.
Có đúng như vậy không? Thực sự Philip thấy việc xây dựng nhà thờ chình tòa ở đây thật khó khăn. Khi bá tước từ chối không cho ông khai thác mỏ đá, ông tưởng đã phải bỏ dự án. Nhưng ông biết sau cùng ông sẽ thành công, vì Thiên Chúa giúp ông. Tuy nhiên niềm tin riêng của ông không đủ thuyết phục Giám mục Henry.
Ông quyết định sẽ làm hết sức để công trường xây dựng gây nên ấn tượng hơn. Ông sẽ cho tất cả các tu sĩ làm việc liên tiếp mười ngày liền cho đến lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Có thể họ sẽ đào chân móng tới độ xây đầy đủ của nó để Tom và Alfred có thể đặt những viên đá nền tảng.
Có lẽ một phần móng phải cao bằng mặt đất để Tom có thể xây một bức tường. Điều đó sẽ tốt hơn là cảnh tượng hiện nay, mặc dù nó không nhiều. Những gì Philip thực sự cần là một trăm nhân công, nhưng ngay cả ông không có tiền để thuê mười người.
Giám mục Henry sẽ đến vào ngày chủ nhật, dĩ nhiên, vì thế không ai làm việc, trừ khi ông kêu gọi mọi người đến giúp. Ông tưởng tượng ông đứng trước mặt họ và loan báo một hình thức phụng vụ lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống mới: thay vì hát thánh ca và cầu nguyện, chúng ta sẽ đào hố và khênh đá. Họ sẽ ngạc nhiên. Họ sẽ…
Thực sự họ sẽ làm gì?
Có lẽ họ sẽ hết lòng hợp tác.
Ông cau mày. Một là tôi điên, ông nghĩ, hai là ý tưởng này sẽ thành công.
Ông nghĩ thêm về nó. Tôi sẽ đứng lên vào cuối thánh lễ và nói rằng việc đền tội hôm nay để được tha thứ tội lỗi là một nửa ngày lao động trên công trường xây dựng nhà thờ chính tòa. Bánh mì và bia sẽ được cung cấp cho bữa ăn trưa.
Họ sẽ làm theo. Dĩ nhiên họ sẽ làm.
Ông muốn bàn với ai đó về ý tưởng này. Ông nghĩ đến Milius, nhưng lại bỏ ngay vì cách suy nghĩ của Milius quá giống ông. Ông cần một người có cái nhìn khác ông. Ông quyết định nói chuyện với Cuthbert Whitehead, người quản lý. Ông mặc áo khoác, đội mũ lưỡi trai để tránh mưa rơi vào mặt và đi ra.
Ông vội vã đi qua công trường xây dựng đầy bùn lầy, vẫy tay chiếu lệ khi đi qua Tom và vào sân nhà bếp. Khu vực này bây giờ có chuồng gà, một chuồng bò và một xưởng sản xuất bơ sữa, vì Philip không muốn tốn kém cho các mặt hàng đơn giản mà các tu sĩ có thể tự cung cấp được, giả sử như trứng và bơ.
Ông bước vào nhà kho của người quản lý trong hầm dưới nhà bếp. Ông ngửi thấy mùi không khí khô, thơm tho, mùi của các thảo mộc và gia vị mà Cuthbert đã lưu trữ. Cuthbert đang đếm hành và tỏi được xâu trong dây, miệng ông lẩm bẩm những con số. Philip giật mình vì ông đã già: ông chỉ còn da bọc xương.
“Ba mươi bẩy,” Cuthbert nói to. “Anh có muốn một ly rượu không?”
“Không, cảm ơn.” Philip thấy uống rượu vào ban ngày làm ông lười biếng và nóng nẩy. Không nghi ngờ gì tại sao thánh Biển Đức khuyên các tu sĩ nên uống điều độ. “Tôi cần lời khuyên của anh, không phải đồ ăn. Hãy ngồi xuống đây.”
Cuthbert len lỏi qua các hộp và thùng, rồi sắp ngã vì vấp phải một bao tải trước khi ngồi xuống chiếc ghế ba chân trước mặt Philip. Nhà kho không còn gọn gàng như xưa, Philip nhận thấy. Một tư tưởng làm ông đau lòng. “Có phải anh đang gặp khó khăn về đôi mắt không, Cuthbert?”
“Nó không còn tốt như xưa, nhưng nó vẫn còn tốt,” Cuthbert nói ngắn gọn.
Đôi mắt của ông đã kém từ nhiều năm nay – đó là lý do tại sao ông chẳng học đọc được. Tuy nhiên, ông nhậy cảm về việc đó nên Philip không nói nữa, nhưng ghi nhớ để chuẩn bị tìm một người quản lý thay thế. “Tôi nhận được một lá thư làm tôi bối rối của tu viện trưởng ở Canterbury,” ông nói và kể cho Cuthbert về kế hoạch của Giám mục Waleran. Để kết luận ông nói: “Cách duy nhất để làm cho công trường giống như tổ ong đang làm việc là kêu gọi cộng đoàn làm việc trên đó. Anh có lý do nào chống lại việc đó không?”
Cuthbert không cần nghĩ, ông nói ngay lập tức: “Ngược lại, đó là một sáng kiến tốt.”
“Nó có vẻ bất thường, phải không?” Philip hỏi.
“Nó không phải là lần đầu.”
“Thật không?” Philip ngạc nhiên và hài lòng. “Ở đâu?”
“Tôi đã nghe nói ở nhiều nơi.”
Philip hào hứng. “Nó có thành công không?”
“Một đôi khi. Có lẽ nó tùy thuộc vào thời tiết.”
“Làm sao thực hiện nó? Vị linh mục loan báo sau thánh lễ, hay làm sao?
“Nó cần phải được tổ chức cẩn thận hơn. Giám mục hay tu viện trưởng gửi các sứ giả đến loan báo ở các nhà thờ giáo xứ rằng tội lỗi sẽ được tha nếu làm việc trong công trường xây dựng của nhà thờ.”
“Đó là một sáng kiến tốt,” Philip nói nhiệt tình. “Chúng ta sẽ có một cộng đoàn lớn hơn bình thường, vì sự mới lạ sẽ thu hút thêm nhiều người.”
“Hay một cộng đoàn nhỏ hơn,” Cuthbert nói. “Một số người thà đưa tiền cho các linh mục, hay đốt một ngọn nến cho các Thánh hơn là làm việc cả ngày trong bùn lầy và vác đá nặng.”
“Tôi chưa bao giờ nghĩ đến điều đó,” Philip nói, bất ngờ mất hết hứng thú.
Có lẽ đó không phải hoàn toàn là một sáng kiến tốt.”
“Anh còn sáng kiến nào nữa?”
“Không. Tôi không còn.”
“Vậy hãy thử nó, và hy vọng điều tốt nhất sẽ đến, phải không?”
“Vâng,” Philip nói. “Hy vọng điều tốt nhất.”
III
Cả đêm trước lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống Philip không ngủ được.
Mặt trời chiếu sáng cả tuần qua, giúp cho kế hạch của ông thêm hoàn hảo, vì sẽ có nhiều người tình nguyện khi thời tiết đẹp. Nhưng một cụm mây xuất hiện vào ngày thứ bẩy và trời bắt đầu đổ mưa. Tu viện trưởng nằm thao thức, chán chường nghe những giọt mưa rơi trên mái nhà và tiếng gió thổi qua những hàng cây. Ông thấy mình đã cầu nguyện đủ. Chắc chắn Chúa biết hoàn cảnh bây giờ.
Vào chủ nhật tuần trước, các tu sĩ trong tu viện đã đến một hay nhiều nhà thờ, loan báo cho các cộng đoàn là họ có thể làm việc trong công trường xây dựng của nhà thờ chính tòa vào các ngày chủ nhật để được tha thứ tội lỗi. Vào chủ nhật lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống họ sẽ được tha các tội trong năm trước, và sau đó mỗi ngày làm việc được tha các tội thường phạm cho một tuần, trừ những tội như giết người và tội phạm thánh. Philip tự mình đã đến Shiring và đã nói trong bốn nhà thờ lớn ở đó. Ông cũng gửi hai tu sĩ tới Winchester để thăm nhiều nhà thờ nhỏ trong thành phố bao nhiêu có thể. Winchester cách đó hai ngày đàng, nhưng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là một kỳ nghỉ kéo dài sáu ngày, và người ta sẵn sàng làm cuộc hành trình dài như thế cho các buổi chợ hàng năm hoặc cho các thánh lễ đặc biệt. Tổng cộng lại đã có hàng ngàn người nghe thông điệp này. Nhưng không thể nói bao nhiêu người sẽ đáp lại lời mời gọi này.
Thời gian còn lại các tu sĩ đã làm việc trên công trường. Thời tiết tốt và ngày dài trong mùa hè đã giúp họ đạt được hầu hết những gì Philip hy vọng. Nền móng cho bức tường phía đông của gian cung thánh đã xong. Một vài chân móng cho bức tường phía bắc đã được đào sâu đầy đủ, sẵn sàng cho việc đặt các viên đá móng; và Tom đã chuẩn bị đủ các thiết bị nâng để một số đông người có thể đào các chân móng còn lại. Ngoài ra bờ sông chất đầy gỗ và đá được chuyên chở qua đường sông, tất cả những thứ đó cần được mang đến công trường. Có đủ việc cho hàng trăm người.
Nhưng có ai đến không?
Giữa đêm Philip thức dậy và đi qua mưa tới nhà thờ hầm cho giờ kinh đêm. Khi ông trở về, trời đã tạnh. Ông không trở lại giường, nhưng ngồi đọc sách. Vào những ngày này, ông chỉ còn khoảng thời gian từ giữa đêm đến bình minh để nghiên cứu và chiêm niệm, thời gian còn lại trong ngày ông luôn bận rộn với công việc của tu viện.
Đêm nay, tuy nhiên, ông không thể tập trung được và tâm trí ông luẩn quẩn về ngày mai, về cơ hội thành công hay thất bại. Ngày mai có thể ông sẽ mất tất cả những gì ông đã cố gắng từ hơn một năm qua hoặc hơn nữa. Ông nghĩ có thể ông đã muốn thành công không phải vì mục đích tinh ròng của nó. Niềm kiêu hãnh của ông có đóng một vai trò nào không? Kiêu hãnh là tội mà ông dễ bị công kích nhất. Rồi ông nghĩ về những người nương tựa vào ông, cần sự nâng đỡ, bảo vệ và công ăn việc làm: các tu sĩ, nhân viên tu viện, thợ đá, Tom và Alfred, dân làng Kingsbridge và những người tham dự phụng vụ của toàn vùng. Giám mục Waleran không lo cho họ theo đường hướng của Philip. Dường như Waleran nghĩ rằng ông được trao quyền dùng người để phục vụ Thiên Chúa bằng bất cứ cách nào theo ý ông. Đối với Philip, lo lắng cho con người là phục vụ Thiên Chúa. Đó là ý nghĩa của cứu chuộc. Không, ý muốn của Thiên Chúa không thể để cho Waleran thắng trong việc này. Có lẽ sự hãnh diện của tôi đóng một phần trong cuộc đua này, một ít, Philip tự thú nhận; nhưng nó cũng liên quan đến linh hồn của những người khác nữa.
Sau cùng bình minh cũng đến, và một lần nữa ông lại đi bộ qua nhà nguyện cho giờ kinh sáng. Các tu sĩ bồn chồn và hồi hộp: Họ biết ngày hôm nay sẽ quyết định tương lai họ. Người phụ trách phụng vụ sướng kinh vội vàng, và lần đầu tiên Philip tha thứ cho ông.
Khi họ rời nhà nguyện và tiến về nhà ăn cho bữa sáng, trời đầy ánh sáng và bầu trời xanh. Ít nhất Chúa đã cho họ thời tiết tốt như họ cầu nguyện. Đó là một bắt đầu tốt đẹp.
Thợ xây Tom biết tương lai của ông tùy thuộc vào ngày hôm nay.
Philip đã cho ông xem lá thư của tu viện trưởng ở Canterbury. Tom chắc chắn rằng nếu nhà thờ chính tòa được xây ở Shiring, Waleran sẽ thuê thợ xây dựng tổng thể chính của ông. Ông ấy sẽ không muốn dùng kiểu mẫu mà Philip đã phê duyệt, hay ít nhất ông ấy sẽ không mạo hiểm dùng người trung thành với Philip. Đối với Tom, một là nhà thờ xây ở Kingsbridge hai là không. Đây là cơ hội duy nhất ông có để xây dựng nhà thờ chính tòa, và hôm nay sẽ là ngày thử thách.
Ông được mời tham dự cuộc họp của các tu sĩ sáng nay. Điều này hiếm khi xẩy ra. Thông thường ông chỉ được mời tham dự khi buổi họp liên quan đến vấn đề xây dựng, hoặc cần ý kiến chuyên môn của ông, hay những thắc mắc về kiểu mẫu, giá cả hoặc thời gian xây dựng. Hôm nay ông sẽ điều hành công việc cho những người tình nguyện, nếu có ai đến. Ông muốn biến công trường xây dựng thành một tổ ong bận rộn, với những hoạt động hiệu quả khi Giám mục Henry đến.
Ông kiên nhẫn ngồi nghe đọc và cầu nguyện, mặc dù ông không hiểu chữ Latin nào. Ông nghĩ về kế hoạch trong ngày, rồi Philip chuyển sang tiếng Anh và yêu cầu Tom trình bầy sơ qua dự án tổ chức cho ngày hôm nay.
“Tôi sẽ xây bức tường phía đông và Alfred đặt đá trong nền móng,” Tom bắt đầu. “Mục đích cho cả hai việc này là tỏ cho Giám mục Henry thấy công việc đã tiến hành đến đâu.”
“Hai ông cần bao nhiêu người giúp việc?” Philip hỏi.
“Alfred cần hai người lao công mang đá đến cho cậu ấy. Cậu ta cũng cần vật liệu cũ từ đống đổ nát. Cậu ấy cũng cần người trộn vữa. Tôi cũng cần một người trộn vữa và hai người lao công. Alfred có thể dùng những viên đá gồ ghề, miễn là phía trên và phía dưới bằng phẳng; nhưng những viên đá của tôi phải cắt đẹp, bởi vì chúng nằm trên mặt đất và sau này có thể nhìn thấy được, vì thế tôi đem hai thợ cắt từ mỏ về để giúp tôi.”
Philip nói: “Tất cả những điều đó rất cần thiết để gây ấn tượng cho Giám mục Henry, nhưng hầu hết những người tình nguyện sẽ đào móng.”
“Đúng vậy. Nền móng của gian cung thánh đã được đóng dấu, và hầu hết chúng mới chỉ sâu vài feet. Các tu sĩ sẽ điều khiển các thiết bị nâng – tôi đã hướng dẫn một số người cách sử dụng nó – và các người tình nguyện sẽ đổ đất vào thùng.”
Remigius nói: “Chúng ta sẽ làm gì nếu chúng ta có nhiều thiện nguyện viên hơn chúng ta cần?”
“Chúng ta có đủ công việc cho bất cứ số lượng người nào,” Tom nói. “Nếu chúng ta không đủ máy nâng, người ta có thể khênh đất từ dưới lỗ bằng xô hoặc bằng rổ. Thợ mộc sẽ luôn túc trực để trong trường hợp cần có thể làm thêm thang – chúng ta đã có gỗ.”
“Nhưng số người ở dưới hố chỉ có giới hạn,” Remigius ương ngạnh nói.
Tom có cảm xúc rằng Remigius chỉ muốn chống lại. “Nó có đủ chỗ cho hàng trăm người,” ông cứng rắn nói. “Nó là một hố to.”
Philip nói: “Bên cạnh việc đào chân móng còn có nhiều việc để làm.”
“Thực vậy,” Tom nói. “Công việc chính khác là mang gỗ và đá từ bờ sông lên. Các tu sĩ phải để ý xếp chúng đúng chỗ trên công trường. Các viên đá được xếp bên cạnh các nền móng, nhưng bên ngoài nhà thờ, nếu không chúng sẽ cản lối đi. Thợ mộc sẽ chỉ cho chúng ta biết xếp gỗ ở đâu.”
Philip hỏi: “Có phải tất cả những người thiện nguyện là những người không có tay nghề không?”
“Không nhất thiết. Nếu có một số thiện nguyện viên từ thành phố, tôi hy vọng trong số họ sẽ có một số thợ thủ công. Thợ mộc có thể làm nhà kho cho mùa đông. Bất cứ thợ xây nào cũng có thể cắt đá và đặt nền móng. Nếu có thợ rèn, chúng ta sẽ nhờ họ làm công cụ trong các lò rèn ở trong làng.”
Milius lên tiếng: “Mọi chuyện đã rõ ràng. Chúng ta nên bắt đầu ngay. Một số dân làng đã đến và đang chờ lệnh phải làm gì.”
Còn một điều quan trọng mà Tom cần nói với họ, một điều quan trọng nhưng nhậy cảm, và ông cố gắng tìm cho đúng chữ. Các tu sĩ có thể tự phụ và có thể làm cho các tình nguyện viên chán nản. Tom muốn công việc ngày hôm nay trôi chẩy một cách thoải mái và vui vẻ. “Trước đây tôi đã làm việc nhiều với các tình nguyện viên,” ông bắt đầu. “Quan trọng là… là đừng coi họ như người phục vụ. Họ phải cảm thấy rằng họ làm việc vì phần thưởng trên trời, và qua đó họ sẽ làm việc hăng say hơn là họ làm vì tiền; nhưng họ không cần thiết phải có cùng quan điểm này. Họ cảm thấy họ làm không công, và qua đó làm một điều tốt cho chúng ta; và nếu chúng ta tỏ ra vô ơn họ sẽ lười biếng và gây ra lỗi lầm. Sự nhẹ nhàng là cách tốt nhất để điều hành họ.”
Tom bắt gặp ánh mắt Philip và nhìn thấy tu viện trưởng cố dấu nụ cười, như thể ông biết mối nghi ngại ở trong những lời mật ngọt của Tom. “Một điểm cần thiết,” Philip nói. “Nếu chúng ta đối xử tốt với họ, những người này sẽ cảm thấy vui vẻ, thoải mái, và họ sẽ tạo nên một bầu khí tốt gây ấn tượng lạc quan cho Giám mục Henry.” Ông nhìn quanh các tu sĩ. “Nếu không còn câu hỏi nào, chúng ta hãy bắt đầu.”
Aliena đã có một năm thành công và không phải lo lắng nhiều dưới đôi cánh che chở của Tu viện trưởng Philip.
Các dự định của cô tiến triển tốt. Cô và Richard đã rảo quanh khắp vùng quê, mua lông cừu từ các nông dân trong cả mùa xuân và mùa hè vừa qua, rồi bán cho Philip khi chúng gom đủ một bao tải. Vào cuối mùa chúng đã gom được năm bảng Anh.
Ông bố đã qua đời chỉ vài ngày sau khi chúng thăm ông, mặc dù vậy mãi đến sau Giáng sinh Aliena mới biết tin. Sau khi mất nhiều tiền hối lộ, cô mới tìm ra được mộ ông trong một nghĩa trang nghèo ở Winchester. Cô khóc to, không phải cho ông mà cho quãng đời đã sống chung, một quãng đời được bảo đảm và không phải lo lắng, một quãng đời sẽ chẳng bao giờ trở lại. Một cách nào đó cô đã vĩnh biệt ông trước khi ông chết: Khi cô rời nhà tù cô đã biết cô sẽ chẳng bao giờ gặp lại ông nữa. Một cách khác ông vẫn sống bên cô, bởi vì cô đã gắn liền với lời thề mà ông muốn cô tuyên hệ, và cô quyết định dùng cuộc đời còn lại để hoàn thành điều ông ước nguyện.
Trong mùa đông cô và Richard sống trong một căn nhà nhỏ dựa vào tường tu viện Kingsbridge. Họ đã chế ra một chiếc xe, mua những bánh xe từ tu viện, và vào mùa xuân họ mua một con ngựa nhỏ kéo xe. Mùa cắt lông đã bắt đầu và chúng đã kiếm được nhiều hơn số tiền chúng đã mua con ngựa và chiếc xe. Năm tới có lẽ cô sẽ thuê một người giúp cô, và tìm cho Richard một công việc như là tiểu đồng trong một gia đình quý tộc nhỏ để cậu có thể bắt đầu việc huấn luyện của một hiệp sĩ.
Nhưng nó còn tùy thộc vào Tu viện trưởng Philip.
Là một cô gái mười tám tuổi, cô vẫn còn là món mồi ngon của các tên cướp đường và các thương gia. Cô đã thử bán bao len cho các thương gia ở Shiring và Gloucester để xem chuyện gì sẽ xẩy ra, và cả hai lần người ta đều muốn trả cho cô nửa giá. Không phải chỉ có một thương gia mà còn có nhiều người nữa muốn lừa gạt cô, vì thế cô biết cô không còn chọn lựa nào khác. Một lúc nào đó, cô muốn có một nhà kho và bán trực tiếp cho thương gia người Bỉ; nhưng còn một thời gian dài nữa ngày đó mới đến. Hiện tại cô đang tùy thuộc vào Philip.
Và hoàn cảnh của Philip bất ngờ trở thành bấp bênh.
Cô luôn luôn đề phòng những nguy hiểm về những người sống bên ngoài pháp luật và trộm cướp, nhưng nó là một cú sốc lớn cho cô khi tất cả mọi thứ đang diễn ra suôn sẻ, bất ngờ toàn bộ đời sống của cô bị đe dọa.
Richard không muốn làm việc trên công trường xây dựng nhà thờ chính tòa vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống – cậu là gì, nếu không phải là vô ơn – nhưng Aliena đã bắt cậu phải đồng ý, và cả hai đã đi vài dặm đến sân tu viện chẳng bao lâu khi mặt trời lên. Hầu như toàn bộ dân làng đã ra đường: ba mươi hay bốn mươi đàn ông, một vài người còn đem theo vợ con. Aliena ngạc nhiên cho đến khi cô nhận ra rằng, Tu viện trưởng Philip là chủ đất của họ, và khi chủ yêu cầu sự tình nguyện thì không nên từ chối. Trong năm qua cô đã học được cái nhìn mới của những người dân bình thường.
Thợ xây Tom giao cho dân làng nhiệm vụ của họ. Richard đến nói chuyện ngay với Alfred, con của Tom. Họ dường như cùng lứa tuổi – Richard mười lăm và Alfred lớn hơn một tuổi – và chúng cùng chơi đá bóng với các trẻ em khác trong làng mỗi chủ nhật. Đứa bé gái, Martha, cũng ở đây, nhưng người đàn bà tên là Ellen và đứa con trai trông buồn cười có mái tóc đỏ không có mặt, không ai biết họ ở đâu. Aliena nhớ lại ngày họ đến lâu đài lãnh chúa. Khi đó họ còn nghèo. Giống như Aliena, họ đã được Tu viện trưởng Philip cứu giúp.
Aliena và Richard, mỗi người được giao cho một chiếc xẻng để đào nền móng. Mặt đất ẩm ướt nhưng mặt trời đã xuất hiện và chẳng bao lâu mặt đất sẽ khô ráo. Aliena bắt đầu hăng hái đào. Ngay cả với năm mươi người làm việc, nó cũng cần thời gian dài để làm cho hố sâu hơn. Richard thường xuyên nghỉ trên cán xẻng. Một lần Aliena nói: “Nếu em muốn trở thành hiệp sĩ, hãy đào đi!” Nhưng cậu vẫn không thay đổi.
Cô gầy và mạnh khỏe hơn một năm trước đây nhờ đi bộ đường dài và nâng những bao lông cừu nặng, nhưng bây giờ cô thấy việc đào bới làm cô đau lưng. Cô vui mừng khi Tu viện trưởng Philip rung chuông báo hiệu giờ nghỉ giải lao. Các tu sĩ mang bánh mì nóng và bia nhẹ từ nhà bếp ra. Mặt trời chiếu mạnh hơn, một số người cởi bớt áo.
Trong khi họ nghỉ ngơi, một nhóm người lạ đi qua cổng. Aliena nhìn họ một cách hy vọng. Họ chỉ có vài người, nhưng có thể họ là những người đi trước, còn đám đông theo sau. Họ đi đến bàn ăn, nơi phân phát bánh mì và bia, và Philip chào đón họ.
“Các bạn từ đâu đến?” ông hỏi khi họ vui vẻ uống bia.
“Từ Horsted,” một người trong nhóm đáp lại, lau miệng vào ống tay áo. Đó là một điều đầy hứa hẹn: Horsted là một làng có chừng hai ba trăm người, ở phía tây Kingsbridge vài dặm. Với may mắn, họ có thể hy vọng hàng trăm tình nguyện viên khác nữa từ đó đến.
“Và bao nhiêu người đang đến?”
Người đàn ông ngỡ ngàng về câu hỏi đó. “Chỉ có bốn người chúng tôi,” ông đáp lại.
Trong những giờ sau đó một số người tiếp tục bước qua cổng tu viện cho đến giữa buổi sáng, con số lên đến bẩy mươi hay tám mươi tình nguyện viên, bao gồm cả dân làng. Sau đó dừng lại.
Vẫn chưa đủ.
Philip đứng ở cuối phía đông, quan sát Tom xây tường. Ông đã thiết lập hai trụ đá cao tới viên đá thứ ba, và bây giờ ông xây tường ở giữa. Nó sẽ chẳng bao giờ xong được, Philip chán nản nghĩ.
Việc đầu tiên mà Tom làm, khi lao công đem đá đến cho ông, là ông lấy một công cụ bằng sắt có hình chữ L và dùng nó để kiểm soát xem viên đá có thẳng góc không. Sau đó ông xúc một lớp vữa vào mặt tường, dùng bay chà phẳng, đặt viên đá lên rồi cạo các vữa dư thừa đi. Khi đặt viên đá ông dựa vào sợi dây được căng giữa hai trụ tường.
Philip chú ý thấy viên đá hầu như nằm ở trên vữa, ở phía trên cũng như phía dưới. Điều này làm ông ngạc nhiên và ông hỏi Tom về điều này. “Một viên đá không bao giờ được phép đụng viên đá khác ở trên cũng như ở dưới,” Tom trả lời. “Và đó là công dụng của vữa.”
“Tại sao chúng không được đụng nhau?”
“Nó sẽ gây ra các vết nứt.” Tom đứng thẳng người lên giải thích. “Nếu ông đi trên một mái đá, chân ông có thể sẽ làm bể nó; nhưng nếu ông đặt một tấm ván lên trên, ông có thể đi qua mà không làm hư hại mái đá. Tấm ván phân chia trọng lượng, và vữa đóng vai trò tương tự như vậy.”
Philip đã chẳng bao giờ nghĩ về điều đó. Xây dựng là một nghề hấp dẫn, đặc biệt đối với những người như Tom, người có thể cắt nghĩa những gì ông làm.
Mặt gồ ghề của đá được xây vào phía trong. Philip nghĩ, chắc chắn mặt đó sẽ được nhìn thấy ở phía trong nhà thờ? Sau đó ông nhớ lại Tom muốn xây hai bức tường với khoảng trống ở giữa, vì thế mà mặt sau của viên đá sẽ bị che lấp. Khi Tom đã đặt viên đá lên lớp vữa, ông lấy mặt phẳng. Ông dùng một hình tam giác bằng sắt với một dây da ở đỉnh và một vài dấu hiệu trên chân đế. Dây da có một cục chì, vì thế nó luôn treo thẳng xuống. Ông đặt chân đế của dụng cụ lên viên đá và xem viên chì treo xuống chỗ nào. Nếu viên chì treo xuống bên cạnh đường giữa, ông dùng búa đập viên đá cho đến khi hòn chì ở chính giữa. Rồi ông di chuyển thiết bị sang chỗ tiếp giáp của hai hòn đá bên cạnh để kiểm soát đầu của hòn đá có thẳng hàng không. Sau cùng ông xoay thiết bị trên hòn đá để bảo đảm nó không nghiêng sang bên này hoặc bên kia. Trước khi lấy một hòn đá mới, ông dùng dây căng để chắc chắn bề mặt của viên đá thẳng hàng. Philip đã không nhận ra sự quan trọng rằng các viên đá phải chính xác và thật thẳng.
Ông nhìn quanh công trường xây dựng. Nó quá lớn đến nỗi tám mươi người và một số trẻ em như bị mất hút trong đó. Họ làm việc vui vẻ dưới ánh mặt trời, nhưng họ quá ít đến nỗi ông có cảm tưởng rằng những nỗ lực của họ không đem lại kết quả gì. Ông đã từng hy vọng sẽ có một trăm người, nhưng bây giờ ông nhận ra ngay cả một trăm người cũng không đủ.
Một nhóm khác nữa bước qua cổng và Philip buộc mình ra chào họ với một nụ cười. Dân chúng không cần biết rằng những cố gắng của họ chỉ như muối bỏ biển. Dù sao họ cũng sẽ được tha thứ về tội lỗi của họ. Khi ông đến gần, ông nhận ra đó là một nhóm lớn hơn là ông tưởng. Ông đếm được mười hai, rồi hai người nữa đi tới. Có lẽ vào buổi trưa ông sẽ có được một trăm người. “Chúa chúc lành cho các bạn,” ông nói với họ. Ông đang dự định nói với họ bắt đầu đào ở đâu thì ông bị ngắt bởi tiếng gọi lớn: “Philip!”
Ông cau mày phản đối. Đó là giọng nói của thầy Milius, và bình thường Milius phải xưng hô với Philip trong nơi công cộng bằng “cha”. Philip nhìn về hướng phát ra tiếng gọi. Milius đang đu mình trên bức tường tu viện, trong một tư thế không xứng đáng. Với giọng nói bình tĩnh nhưng chắc chắn Philip nói: “Thầy Milius, hãy xuống ngay.”
Trước sự ngạc nhiên của ông, Milius vẫn ở đó và nói lớn: “Hãy đến mà xem!”
Những người mới đến sẽ có một ấn tượng xấu về sự vâng lời trong tu viện, Philip nghĩ, nhưng ông không khỏi ngạc nhiên rằng điều gì đã làm ông hào hứng quên cả tư cách. “Hãy xuống đây và nói cho tôi biết chuyện gì, Milius,” ông nói bằng giọng ông thường dùng cho những tập sinh gây ồn ào.
“Anh phải nhìn nó!” Milius kêu lên.
Tốt hơn ông ấy phải nhận ra lỗi lầm trong cách cư xử này, Philip nghĩ một cách tức tối; nhưng ông không muốn la rầy người cộng tác đắc lực nhất trước những người xa lạ này, ông miễn cưỡng mỉm cười và đi qua sân đầy bùn lầy trước chuồng ngựa và nhẩy lên bức tường thấp. “Ý nghĩa của hành vi này là gì?” ông rít lên.
“Hãy nhìn xem!” Milius chỉ tay và nói.
Theo hướng ông chỉ, Philip nhìn ra ngoài, qua mái nhà trong làng, qua bên kia dòng sông tới con đường vượt lên ngọn đồi xuống phía tây. Lúc đầu ông không tin vào mắt mình. Giữa cánh đồng xanh, một đám đông người trên con đường nhấp nhô, hàng trăm người đang đi về hướng Kingsbridge. “Cái gì thế?’ ông ngỡ ngàng nói. “Một đoàn quân?” Rồi ông chợt hiểu đó là những người thiện nguyện. Tim ông nhẩy mừng. “Hãy nhìn họ!” ông hét lên. “Đó phải là năm trăm – một ngàn – hay nhiều hơn nữa!”
“Đúng như vậy!” Milius vui vẻ nói. “Sau cùng họ đã tới!”
“Chúng ta được cứu rồi!” Philip quá hào hứng quên cả sự tức giận với Milius. Đám đông tràn đầy các con đường đến cây cầu, rồi xuyên qua làng đến cổng tu viện. Những người mà ông đã chào đón chỉ là nhóm đi trước. Bây giờ họ tràn qua cổng, vào trong phía tây của công trường, chờ đợi người nào đó nói cho họ biết phải làm gì. “Hal-lê-lu-i-a!” ông hô lên không cần giữ ý tứ.
Chỉ vui mừng thôi chưa đủ, những người này cần được trưng dụng. Ông nhẩy xuống khỏi bức tường. “Hãy theo tôi!” ông la lên với Milius. “Hãy gọi các tu sĩ ra khỏi công việc họ đang làm – bây giờ chúng ta cần các tu sĩ như là những người quản đốc hơn là người lao động. Hãy nói với nhà bếp nướng bao nhiêu bánh có thể và lăn ra thêm vài thùng bia. Chúng ta cần thêm xô và xẻng. Chúng ta phải đưa những người này vào công việc trước khi Giám mục Henry tới!”
Những giờ sau đó Philip bận điên cuồng. Trước hết để phân tán người, ông phân công hơn một trăm người xuống suối mang vật liệu xây dựng lên. Ngay sau khi Milius tụ tập được một nhóm tu sĩ làm quản đốc, ông sai các tình nguyện viên xuống đào chân móng. Chẳng bao lâu xẻng, thùng, xô đã hết nhẵn. Philip ra lệnh đem các nồi niêu từ trong bếp, và cắt đặt một số tình nguyện viên làm các thùng bằng gỗ thô và giỏ bằng mây để khiêng đất. Vì không có đủ thang và thiết bị nâng đất, nên người ta làm một dốc dài ở đầu lỗ chân móng cho mọi người lên xuống dễ dàng. Phlip nhận ra rằng ông đã quên suy nghĩ về việc đem số lượng lớn đất đào từ dưới chân móng đi đâu. Bây giờ đã quá trễ để suy nghĩ kỹ hơn: Ông quyết định nhanh chóng, và ra lệnh cho đổ đất trên một khu đất đá gần sông. Sau này có thể canh tác trên đó được. Khi ông đang ra lệnh, đầu bếp Bernard hoảng hốt đến gặp ông và nói ông chỉ có thể nấu ăn cho chừng hai trăm người, và bây giờ ít nhất là một ngàn người ở đây. “Hãy dựng một lò nấu trong sân nhà bếp và nấu súp trong một bồn tắm lớn bằng sắt,” Philip nói. “Pha nhạt bia ra. Dùng tất cả đồ trong kho. Kêu gọi một số dân làng chuẩn bị đồ ăn trong nhà bếp của họ. Hãy tùy cơ mà ứng biến!” Ông bỏ người đầu bếp và tiếp tục tổ chức nhóm lao động.
Ông đang ra lệnh thì một người vỗ vào vai ông và nói bằng tiếng Pháp: “Tu viện trưởng Philip, tôi có được phép nói chyện với ông một chút không?” Đó là Dean Baldwin, người phụ tá của Giám mục Waleran.
Philip nhìn quanh và thấy đoàn khách, tất cả ngồi trên lưng ngựa, mặc quần áo sang trọng, ngạc nhiên nhìn quanh công trường xây dựng. Đó là Giám mục Henry, một người nhỏ, chắc nịch với nét mặt hay gây gỗ, mái tóc cắt theo kiểu tu sĩ tương phản với chiếc áo khoác thêu đỏ của ông. Bên cạnh ông là Giám mục Waleran, mặc đồ đen như mọi khi. Khuôn mặt lạnh lùng, khinh khi quen thuộc không thể che dấu được sự mất tinh thần của ông. Ngoài ra còn có Percy Hamleigh mập, con trai vạm vỡ William và bà vợ xấu xí Regan của ông: Percy và William nhìn ngạc nhiên, nhưng Regan hiểu rõ ràng điều gì Philip đã làm và bà rất tức giận.
Philip lại chú ý vào Giám mục Henry, và ngạc nhiên khi thấy giám mục nhìn ông với một vẻ quan tâm đặc biệt. Philip nhìn đáp lại. Nét mặt của Giám mục Henry nói lên sự ngạc nhiên, tò mò và sự tôn trọng thích thú. Một lúc sau Philip đến bên giám mục, giữ đầu ngựa, và hôn bàn tay đeo nhẫn mà Henry đưa ra.
Henry xuống ngựa nhẹ nhàng và đoàn tùy tùng làm theo. Philip gọi một số các tu sĩ cất ngựa đi. Henry cùng xấp xỉ tuổi với Philip, nhưng tính chất và hình dạng mập mạp khiến ông trông già hơn. “Vâng, cha Philip,” ông nói. “Tôi nhận được báo cáo là ông không có khả năng xây nhà thờ chính tòa ở Kingsbridge này.” Ông ngưng lại, nhìn vào hàng trăm người đang làm việc, rồi quay sang Philip. “Nó dường như là một thông tin sai lạc.”
Tim Philip ngừng đập. Henry không cần phải nói rõ hơn: Philip đã thắng.
Philip quay sang giám mục Waleran. Nét mặt ông đè nén cơn tức giận. Ông biết một lần nữa ông lại thất bại. Philip quỳ xuống, cúi đầu để che dấu nụ cười chiến thắng trên mặt, và hôn tay Waleran.
Tom thích thú xây tường. Đã từ lâu ông đã không xây tường và đã quên đi cảm giác của niềm vui sâu thẳm sau khi đặt viên đá này lên trên viên đá khác trong một hàng thẳng tuyệt hảo và theo dõi bức tường mỗi ngày cao hơn.
Khi số người tình nguyện viên lên đến một trăm, ông đã nhận ra kế hoạch của Philip thành công và ông lại thích thú với việc làm hơn nữa. Những viên đá này là một phần nhà thờ chính tòa của Tom; và bức tường này mặc dù bây giờ chỉ cao một mét nhưng ngày nào đó sẽ cao tới bầu trời. Tom cảm thấy ông ở vào giai đoạn bắt đầu của phần đời còn lại.
Khi Giám mục Henry tới, Tom đã biết ngay. Giống như hòn đá rơi vào trong ao, giám mục đã tạo nên một gợn sóng xuyên qua đám đông lao động. Họ ngưng tay làm việc chốc lát và nhìn lên những nhân vật trong trang phục lộng lẫy đang tìm đường xuyên qua đám bùn lầy. Tom tiếp tục đặt các viên đá. Giám mục phải phấn khởi khi nhìn thấy cảnh hàng ngàn người tình nguyện vui vẻ và nhiệt tình đang xây dựng nhà thờ chính tòa mới. Bây giờ đến lượt ông phải tạo ấn tượng tốt. Ông chẳng bao giờ thoải mái với những người ăn mặc đẹp, nhưng bây giờ ông cần chứng tỏ khả năng và sự khôn ngoan, sự bình tĩnh và tự tin, một mẫu người mà người ta vui vẻ tin tưởng trao phó một công trình xây dựng vĩ đại và tốn kém như thế này.
Ông mở mắt nhìn và đặt bay xuống khi đoàn khách đến gần. Philip dẫn Giám mục Henry đến Tom và Tom quỳ xuống hôn tay giám mục. Philip nói: “Tom là thợ xây dựng tổng thể chính của chúng tôi, được Chúa sai đến vào chính ngày nhà thờ bị cháy.”
Tom lại qùy xuống trước mặt Giám mục Waleran, rồi nhìn đoàn tùy tùng còn lại. Ông nhắc nhở mình rằng ông là thợ xây dựng tổng thể chính và ông không nên quá khúm núm. Ông nhận ra Percy Hamleigh, người mà ông đã xây cho nửa căn nhà. “Chủ Percy của tôi,” ông nói với một sự nghiêng mình nhẹ. Ông khám phá ra bà vợ xấu xí của Percy. “Thưa bà Regan.” Rồi mắt ông dừng lại ở người con. Ông nhớ lại cậu trên lưng con ngựa chiến đã sắp đè bẹp Martha và đã thử mua Ellen trong rừng như thế nào. Cậu là một chàng thanh niên kinh tởm. Nhưng Tom làm ra vẻ lịch sự. “Và xin chào chủ trẻ William.”
Giám mục Henry chăm chú nhìn Tom. “Ông có đồ án không, thợ xây Tom?”
“Vâng, thưa giám mục. Ngài có muốn xem nó không?”
“Chắc chắn rồi.”
“Có lẽ ngài nên theo lối này.”
Henry gật đầu và Tom dẫn đường tới nhà kho, cách đó vài mét. Ông bước vào trong căn nhà gỗ nhỏ và lấy ra đồ án mặt bằng, được vẽ trên thạch cao trong một khung gỗ dài bốn mét. Ông đặt nó dựa vào tường và lui lại.
Đó là giây phút tế nhị. Hầu hết không thể đọc được đồ án, nhưng giám mục và bá tước không muốn thừa nhận điều đó, vì thế phải giải thích dự án cho họ trong một cách mà không bêu xấu sự thiếu hiểu biết của họ trước mặt người khác. Một vài giám mục có thể hiểu được đồ án, dĩ nhiên, và họ sẽ cảm thấy bị xúc phạm khi một thợ xây bình thường muốn chỉ dạy họ.
Lo lắng, Tom chỉ vào đồ án và nói: “Đây là bức tường tôi đang xây.”
“Đúng, rõ ràng là mặt tiền phía đông,” Henry nói. Nó chứng tỏ ông có thể đọc tốt đồ án. “Tại sao gian ngang lại không có gian phụ?”
“Vì lý do tài chính,” Tom trả lời kịp thời. “Tuy nhiên nếu chúng ta bắt đầu xây dựng chúng trong năm năm tới, và nếu tu viện tiếp tục phát triển thịnh vượng như năm đầu tiên trong thời Tu viện trưởng Philip, lúc đó chúng ta sẽ có khả năng xây gian phụ hai bên.” Ông vừa ca ngợi Philip, lại đồng thời trả lời câu hỏi, và ông tự cảm thấy mình khá thông minh.
Henry gật đầu chấp thuận. “Nó hợp lý khi lên kế hoạch khiêm tốn và để chỗ khi cần nới rộng. Chỉ cho tôi đồ án trực diện”
Tom lấy ra đồ án nhìn thẳng. Ông không dẫn giải nó, bây giờ ông biết Henry có thể hiểu những gì ông đang nhìn. Điều này được công nhận khi ông nói: “Tỷ lệ này rất hài hòa.”
“Cảm ơn ngài,” Tom nói. Giám mục hình như hài lòng với mọi chuyện. Tom nói thêm: “Nó là một nhà thờ chính tòa khiêm tốn, nhưng nó sẽ sáng hơn và đẹp hơn nhà thờ cũ.”
“Và bao lâu nó sẽ hoàn thành?”
“Mười lăm năm, nếu công việc không bị gián đoạn.”
“Bao giờ cũng có chuyện bất thường xẩy ra. Tuy nhiên. Ông có thể chỉ cho tôi cái mà nó giống như thế nào – ý tôi muốn nói một người đứng bên ngoài thấy nó như thế nào?”
“Tom hiểu ý ông ấy. “Ông muốn xem một phác họa?”
“Đúng.”
“Vâng.” Tom trở lại bức tường cùng với đoàn khách. Ông quỳ xuống trước một tấm ván, trải đều hồ vữa lên trên và làm mịn mặt phẳng. Rồi, với đầu nhọn của chiếc bay, ông vẽ lên vữa một phác họa của gian nhà thờ phía tây. Ông biết mình vẽ giỏi. Giám mục, đoàn tùy tùng, tất cả các tu sĩ và tình nguyện viên đang làm việc ở gần đó chăm chú theo dõi một cách hấp dẫn. Vẽ luôn là một phép lạ đối với những người không biết vẽ. Trong một vài phút Tom đã vẽ xong mặt tiền phía tây, với ba cửa mái vòm, cửa sổ lớn và hai tháp bên cạnh. Nó là một thủ thuật đơn giản, nhưng luôn gây ấn tượng.
“Đáng khen,” giám mục Henry nói khi bức phác thảo xong. “Xin Chúa chúc lành cho kỹ năng của ông.”
Tom mỉm cười. Nó như lời chứng thực mạnh mẽ của cấp trên về việc chỉ định ông làm thợ xây dựng tổng thể chính.
Tu viện trưởng Philip nói: “Thưa giám mục, ngài có muốn dùng một chút nước giải khát trước khi bắt đầu thánh lễ không?”
“Rất vui.”
Tom thấy nhẹ nhõm. Sự kiểm tra đã xong và ông đã vượt qua.
“Xin mời ngài vào nhà tu viện trưởng, theo lối này,” Philip nói với giám mục. Đoàn khách bắt đầu di chuyển. Philip siết chặt cách tay của Tom và thì thầm bằng giọng nói đầy đắc thắng: “Chúng ta đã thành công!”
Tom thở phào khi đoàn khách đi xa. Ông cảm thấy hài lòng và hãnh diện. Vâng, ông nghĩ, chúng ta đã thành công. Giám mục Henry còn hơn là bị ấn tượng: ông sửng sốt, mặc dù tính ông rất bình tĩnh. Rõ ràng Waleran đã chuẩn bị cho ông một viễn cảnh buồn chán, trì trệ, vì thế mà thực tế lại càng ấn tượng hơn. Cuối cùng ác ý của Waleran đã làm hại ông và nâng cao chiến thắng của Philip và Tom.
Vừa khi ông còn đang đắm mình trong chiến thắng, ông nghe một giọng nói quen thuộc: “Chào thợ xây Tom.”
Ông quay quanh và thấy Ellen.
Đến lượt Tom sửng sốt. Sự khủng hoảng của nhà thờ chính tòa đã chiếm hết tâm trí ông đến nỗi ông không còn nhớ đến bà thường xuyên. Ông nhìn bà hạnh phúc. Bà trông giống như ngày bà bỏ đi: mảnh mai, da nâu, tóc đen chuyển động như sóng trên bãi biển, và đôi mắt sâu màu vàng sáng. Bà cười với ông, đôi môi đầy đặn khiến ông muốn hôn bà.
Ông muốn ôm bà trong vòng tay nhưng ông đành bỏ ý định. Ông miễn cưỡng nói: “Chào em, Ellen.”
Một thanh niên bên cạnh bà nói: “Chào Tom.”
Tom nhìn cậu tò mò.
Ellen nói: “Anh không nhớ Jack à?”
“Jack!” ông giật mình nói. Cậu bé đã thay đổi. Bây giờ cậu cao hơn mẹ một chút và có vóc dáng gầy gò mà các bà già thường nói là cậu ta phát triển về chiều cao hơn chiều ngang. Cậu vẫn có mái tóc đỏ sáng, da trắng và mắt xanh, nhưng các tính năng đã ở trong một tỷ lệ tương xứng hấp dẫn hơn, và một ngày nào đó thậm chí cậu sẽ trở thành đẹp trai.
Tom quay lại nhìn Ellen. Lúc này ông chỉ muốn nhìn chằm chằm vào bà. Ông muốn nói anh nhớ em, anh không thể nói với em được anh nhớ em nhiều như thế nào, và ông hầu như muốn nói, nhưng ông không đủ can đảm, thay vào đó ông nói: “Em đã ở đâu?”
“Chúng em ở chỗ cũ, trong rừng,” bà nói.
“Và tại sao em lại trở về vào đúng ngày hôm nay?”
“Chúng em đã nghe lời kêu gọi các tình nguyện viên, và chúng em tò mò muốn biết anh ra sao. Và em không quên em đã hứa một ngày nào đó sẽ trở về.”
“Anh rất vui vì em về,” Tom nói. “Anh đã mong mỏi gặp em.”
Bà có vẻ thận trọng. “Vậy à?”
Đây là giờ phút ông đã chờ đợi và hoạch định từ một năm qua, và bây giờ nó đã đến làm ông hoảng sợ. Cho đến bây giờ ông đã sống trong hy vọng, nhưng nếu hôm nay bà lại ra đi, ông sẽ mất bà mãi mãi. Ông sợ không biết bắt đầu từ đâu. Cả hai im lặng. Ông lấy một hơi dài. “Hãy nghe,” ông nói. “Anh muốn em trở về với anh. Bây giờ, đừng nói gì cho đến khi em đã nghe những gì anh nói – làm ơn!”
“Vâng,” bà nói chung chung.
“Philip là một tu viện trưởng rất tốt. Tu viện đã thịnh vượng hơn nhờ tài điều hành của ông. Công việc của anh ở đây được bảo đảm. Chúng ta không còn phải lang thang ngoài đường nữa, chẳng bao giờ, anh hứa.”
“Nó không phải là…”
“Anh biết, nhưng anh muốn kể cho em mọi chuyện.”
“Được rồi.”
“Anh đã xây một căn nhà hai phòng và một lò sưởi trong làng, và anh có thể nới rộng nó. Chúng ta không phải sống trong tu viện nữa.”
“Nhưng Philip sở hữu ngôi làng.”
“Bây giờ Philip còn mắc nợ anh.” Tom đưa tay chỉ tất cả cảnh tượng xung quanh. “Ông ấy biết nếu không có anh, ông ấy sẽ không làm được những việc này. Nếu anh xin ông ấy tha cho em những gì em đã làm, và coi năm lưu vong của em như việc đền tội, anh nghĩ ông ấy sẽ đồng ý. Ông ấy không thể từ chối anh, nhất là trong ngày hôm nay.”
“Thế chuyện của các chàng trai thì sao?” bà nói. “Em phải tiếp tục chứng kiến cảnh Alfred đánh Jack chẩy máu mỗi khi cậu ấy nổi khùng sao?”
“Anh nghĩ anh đã có một giải pháp cho chuyện đó, thật đấy!” Tom nói. “Alfred bây giờ là một thợ xây. Anh sẽ nhận Jack là người học việc của anh. Qua cách đó Alfred sẽ không còn bực bội về sự lười biếng của Jack nữa. Và em có thể dạy Alfred đọc và viết, vì thế mà cả hai chàng trai có cùng trình độ - trong nghề nghiệp và học vấn.”
“Anh đã nghĩ nhiều về việc này phải không?” bà hỏi.
“Vâng.”
Ông chờ đợi phản ứng của bà. Ông không có tài thuyết phục. Tất cả những gì ông có thể làm là giãi bầy hoàn cảnh. Thật tốt biết bao nếu ông có thể vẽ cho bà một bức phác thảo! Nhưng tôi đã nói tất cả, ông nghĩ, bà còn điều gì phải chống lại? Bà phải đồng ý ngay. Nhưng bà vẫn do dự. “Em không chắc chắn,” bà nói.
Sự tự kiềm chế của ông vỡ ra. “Ồ, Ellen, em đừng nói thế.” Ông sợ phải khóc trước đám người này, và ông nghẹn ngào khó nói ra lời. “Anh yêu em nhiều lắm, đừng bỏ đi một lần nữa,” ông năn nỉ. “Chỉ có một điều đã giúp anh sống đó là niềm hy vọng em sẽ trở về. Anh không thể sống thiếu em. Đừng đóng cửa thiên đàng. Em không thấy anh yêu em với tất cả con tim sao?”
Thái độ của bà thay đổi ngay lập tức. “Tại sao anh không nói ngay như vậy?” bà thì thầm, và bà đến bên ông. Ông ôm lấy bà. “Em cũng yêu anh, anh ngu đần ạ,” bà nói.
Ông cảm thấy mềm yếu vì vui. Bà ấy yêu tôi, bà yêu tôi, ông nghĩ. Ông ôm bà chặt hơn, rồi ông nhìn vào mặt bà. “Em có đồng ý lấy anh không, Ellen?”
Có nước mắt trong mắt bà, nhưng bà cũng mỉm cười. “Vâng, Tom, em sẽ lấy anh,” bà nói. Mặt bà hướng lên.
Ông kéo bà vào lòng và hôn môi bà. Từ một năm nay ông đã mơ đến giờ phút này. Ông nhắm mắt lại và cảm nhận đôi môi đầy đặn của bà trên môi ông. Miệng bà hé mở và đôi môi bà ướt. Nụ hôn thú vị đến nỗi lúc đó ông quên đi chính mình. Rồi một người nào đó bên cạnh nói: “Đừng nuốt bà ta, ông ạ!”
Ông thả bà ra và nói: “Chúng ta đang ở trong nhà thờ!”
“Em không quan tâm,” bà vui vẻ nói, và bà hôn ông lần nữa.
Tu viện trưởng Philip lại đánh lừa chúng ta lần nữa, William cay đắng nghĩ khi cậu ngồi trong nhà tu viện trưởng, uống rượu loãng pha nước và ăn đồ ngọt từ nhà bếp tu viện. William cần một thời gian để nhận ra chiến thắng lẫy lừng và hoàn toàn của Philip. Đánh giá tình trạng ban đầu của Waleran không có gì sai: Sự thật là Philip không có tiền và khó có thể xây nhà thờ chính tòa ở Kingsbridge. Mặc dù thế vị tu sĩ khôn ngoan này đã cứng đầu tiến hành công việc, mướn thợ xây dựng tổng thể, bắt đầu xây dựng và rồi, với hai bàn tay không, đã thu thập được một lực lượng lớn nhân công gây ấn tượng cho Giám mục Henry. Và Henry đã thật sự bị thuyết phục, nhất là vì trước đó Waleran đã vẽ lên một bức tranh ảm đạm về hoàn cảnh của nhà thờ.
Vị tu sĩ chết tiệt này còn biết ông đã chiến thắng. Ông không thể dấu được nụ cười đắc thắng trên khuôn mặt. Bây giờ ông đang nói chuyện sôi nổi với Giám mục Henry về giống cừu và giá len, và Henry chăm chú nghe, đầy tôn trọng, trong khi đó ông lại thô lỗ bỏ qua cha mẹ của William, những người thật ra đầy uy quyền hơn là một tu viện trưởng bình thường.
Philip sẽ phải hối hận về ngày hôm nay, William nghĩ. Không ai được phép coi thường gia đình Hamleigh. Họ đạt được địa vị ngày hôm nay và không muốn các tu sĩ hơn họ. Bartholomew thành Shiring đã xúc phạm họ và đã chết trong tù. Số phận Philip cũng sẽ không tốt hơn.
Thợ xây Tom cũng sẽ phải hối hận vì đã cản đường gia đình Hamleigh. William không quên Tom đã thách thức ông ở Durstead, giữ đầu ngựa và buộc ông phải trả tiền nhân công. Hôm nay Tom đã vô lễ gọi ông là “Chủ trẻ William.” Bây giờ rõ ràng là ông tay trong tay với Philip, cùng xây nhà thờ chính tòa thay vì các dinh thự. Ông phải học rằng thà tìm những cơ hội nơi nhà Hamleigh còn hơn là cộng tác với kẻ thù của họ.
William ngồi giận dữ cho đến khi Giám mục Henry đứng lên và nói đã sắp đến giờ lễ. Tu viện trưởng Philip ra hiệu cho một tập sinh. Anh ấy chạy ra khỏi phòng và vùi phút sau tiếng chuông vang lên.
Tất cả rời nhà, trước hết là Giám mục Henry, thứ hai là Giám mục Waleran, rồi đến Tu viện trưởng Philip và sau đó là giáo dân. Tất cả các tu sĩ đứng chờ ở ngoài, và họ xếp hàng sau Philip, tạo thành một cuộc rước. Gia đình Hamleigh phải đi sau cùng.
Các tình nguyện viên tụ họp đầy nửa sân phía tây của tu viện, ngồi trên các bức tường và mái nhà. Henry bước lên bục ở giữa công trường xây dựng. Các tu sĩ tạo thành một hàng đàng sau ông, nơi sau này sẽ là cung thánh của nhà thờ mới. Gia đình Hamleigh và các giáo dân khác trong đoàn tùy tùng theo đường của họ vào chỗ sau này sẽ là gian giữa.
Khi họ vào chỗ, William thấy Aliena.
Cô trông khác xưa. Cô mặc quần áo thô, rẻ tiền, mang guốc gỗ, và mái tóc quanh khuôn mặt cô ướt đẫm mồ hôi. Nhưng đó chắc chắn là Aliena, và cô vẫn đẹp đến nỗi miệng ông khô đi và ông chăm chú nhìn cô, không thể rời ánh mắt khỏi cô, trong khi thánh lễ đã bắt đầu và sân tu viện tràn đầy âm thanh của hàng ngàn giọng vang lên lời kinh “Lạy Cha.”
Dường như cô cảm thấy ánh mắt ông chăm chú nhìn cô, bởi vì cô bồn chồn, đôi chân cựa quậy và mắt đảo quanh như tìm kiếm. Sau cùng cô bắt gặp ánh mắt cậu. Một nét kinh hoàng và sợ hãi biểu lộ trên khuôn mặt cô, và cô lùi lại, mặc dù cô ở cách xa cậu cả hơn mười mét và có hàng chục người ở giữa họ. Nỗi sợ hãi trên khuôn mặt cô càng thu hút cậu, và cậu cảm thấy cơ thể của cậu phản ứng như chưa bao giờ có từ một năm nay. Sự ham muốn cô pha lẫn sự phẫn uất vì cô đã trốn cậu. Cô đỏ mặt và cúi xuống như thể cô mắc cở. Cô nói nhanh với người con trai bên cạnh cô – đó là em cô, dĩ nhiên, William nghĩ, thoáng nhớ lại khuôn mặt đó trong ký ức dâm đãng của cậu – và rồi cô quay đi, mất hút trong đám đông.
William thất vọng. Cậu muốn đi theo cô, nhưng dĩ nhiên cậu không thể, nhất là giữa thánh lễ, trước mặt bố mẹ, hai giám mục, bốn mươi tu sĩ và hàng ngàn người dự lễ. Vì thế cậu quay lên, đầy chán nản. Cậu đã mất cơ hội tìm xem cô sống ở đâu.
Mặc dù cô đã đi, cô vẫn còn trong tâm trí cậu. Cậu tự hỏi nó có tội không khi có một tư tưởng dâm đãng trong nhà thờ.
Cậu nhận ra ông bố đang háo hức nhìn. “Hãy xem!” ông nói với bà mẹ. “Nhìn xem người đàn bà kia!”
Lúc đầu William nghĩ ông bố muốn ám chỉ về Aliena. Nhưng cô vẫn biệt tăm, và khi cậu nhìn theo ánh mắt của bố, cậu thấy một phụ nữ gần ba mươi, không gợi cảm như Aliena nhưng vẻ nhanh nhẹn và hoang dã khiến cô trở nên hấp dẫn. Cô đứng không xa Tom, thợ xây dựng chính, và William nghĩ có lẽ đó là vợ của thợ xây, người đàn bà mà cậu đã thử mua trong rừng vào một năm trước đây. Nhưng tại sao bố cậu biết bà ấy?
“Có phải bà ấy không?” ông bố hỏi.
Người phụ nữ quay đầu, như thể bà đã nghe thấy họ nói và nhìn thẳng vào họ, và William một lần nữa nhìn thấy đôi mắt nhạt màu vàng, nhìn xuyên thấu của bà.
“Đó chính là bà ấy, tôi thề,” bà mẹ rít lên.
Ánh mắt người phụ nữ lay động ông bố. Mặt ông tái đi, hai bàn tay run rẩy. “Xin Chúa bảo vệ con,” ông nói. “Tôi nghĩ bà ấy đã chết.”
Và William nghĩ: Chuyện ma quỷ gì nữa đây?
Đó là điều Jack luôn khiếp sợ.
Cả năm qua cậu đã cảm thấy mẹ cậu nhớ Tom. Bà không còn bình thản như xưa, bà hay mơ màng, nhìn về xa xôi; và một đôi khi vào ban đêm bà có tiếng thở hổn hển, như thể bà mơ hay tưởng tượng đang làm tình với Tom. Cả thời gian qua Jack biết là bà sẽ trở về. Và bây giờ bà đã đồng ý ở lại.
Cậu ghét ý định này.
Cả hai người họ đã hạnh phúc bên nhau. Cậu yêu mẹ và mẹ cậu yêu cậu, và không ai xen vào giữa họ.
Đời sống trong rừng một cách nào đó không thú vị, điều đó đúng. Cậu nhớ sự thu hút của đám đông người và thành phố mà cậu đã nhìn thấy trong thời gian ngắn ngủi ở với gia đình Tom. Cậu nhớ Martha. Cậu quên đi sự nhàm chán của cuộc sống trong rừng bằng cách mơ mộng về nàng công chúa, mặc dù cậu biết tên của nàng là Aliena. Và cậu thích làm việc với Tom, tìm hiểu xem tòa nhà được xây dựng ra sao. Nhưng cậu sẽ không còn tự do. Người ta sẽ ra lệnh cho cậu phải làm gì. Cậu sẽ phải làm việc dù cậu có muốn hay không. Và cậu phải chia sẻ mẹ cậu cho phần còn lại của thế giới.
Khi cậu ngồi trên bức tường gần cổng tu viện, đầy chán nản, cậu ngạc nhiên khi thấy nàng công chúa.
Cậu chớp mắt. Cô lách người qua đám đông, tiến về phía cổng, trông thất vọng. Cô đẹp hơn cậu nghĩ. Ngày xưa cô có một thân thể đẫy đà, gợi cảm đầy nữ tính trong bộ quần áo sang trọng. Bây giờ cô mảnh mai hơn và giống một phụ nữ hơn là một cô gái. Chiếc áo bằng lụa ướt đẫm mồ hôi bám chặt vào thân thể cô, lộ ra bộ ngực căng phồng, chiếc bụng phẳng, hông hẹp và chân dài. Mặt cô dính đầy bùn và tóc cô rối tung. Cô bị xúc động về điều gì đó, sợ hãi và đau khổ, nhưng cảm xúc này chỉ làm cho khuôn mặt cô rạng rỡ hơn. Jack bị lôi cuốn khi nhìn thấy cô. Cậu cảm thấy một rung động đặc biệt ở dưới thắt lưng mà trước đó cậu chưa cảm nhận bao giờ.
Cậu theo cô. Đó không phải là một quyết định có ý thức. Mới đó cậu ngồi trên bức tường chăm chú nhìn cô, rồi ngay sau đó lại vội vã theo cô qua cổng. Bên ngoài đường cậu bắt kịp cô. Cô có mùi giống như những người làm việc chân tay vất vả khác. Cậu nhớ lại cô đã từng có mùi thơm của hoa. “Có chuyện gì vậy?” cậu hỏi.
“Không, không có chuyện gì cả,” cô nói cụt ngủn và bước nhanh hơn.
Jack cố theo kịp cô. “Cô không nhớ tôi. Lần trước khi chúng ta gặp nhau, cô đã giải thích cho tôi làm sao đứa nhỏ được thụ thai.”
“Ồ, im đi và đi ra chỗ khác!” cô la lên.
Cậu dừng lại và để cô tiếp tục đi. Cậu thất vọng. Rõ ràng là cậu đã nói những điều không đúng lúc.
Cô đã đối xử với cậu như một đứa trẻ khó chịu. Cậu đã mười ba tuổi, nhưng có lẽ lứa tuổi đó đối với cô, từ cái nhìn của người hơn mười tám tuổi, dường như vẫn còn là trẻ con.
Cậu nhìn cô đi đến một ngôi nhà, lấy chìa khóa từ sợi dây da treo ở cổ, và mở cửa.
Cô sống ở ngay đây!
Điều đó dĩ nhiên thay đổi mọi chuyện!
Bất ngờ viễn tượng bỏ rừng về sống ở Kingsbridge dường như không quá xấu. Cậu có thể nhìn thấy nàng công chúa mỗi ngày. Điều đó sẽ bù đắp lại rất nhiều.
Cậu đứng lại nơi cậu đang đứng, nhìn vào cánh cửa, nhưng cô không xuất hiện.