Vào ngày lễ Thánh Âu Cơ Tinh, các công nhân được nghỉ việc từ giữa trưa. Hầu hết thợ xây nghe tiếng chuông báo hiệu giờ trưa với sự thở phào nhẹ nhõm. Bình thường họ làm việc từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời xuống, sáu ngày một tuần, vì thế những ngày nghỉ vào dịp lễ các Thánh là những ngày họ mong muốn. Tuy nhiên, Jack mải mê với công việc nên không nghe thấy tiếng chuông.
Cậu bị thu hút bởi sự thách đố muốn tạo ra những hình dạng mềm mại, tròn trịa từ đá cứng. Phiến đá cứng có ý muốn riêng của nó, và nếu cậu cố ý muốn tạo nó thành một cái gì đó mà nó không muốn, nó sẽ kháng cự lại. Lưỡi đục của cậu có thể bị trượt hoặc đâm xuống quá sâu làm sai lạc đi hình dạng. Nhưng một khi cậu đã quen thuộc với phiến đá trước mặt, cậu có thể biến đổi hình dạng của nó. Công việc càng khó khăn, cậu càng bị hấp dẫn. Bắt đầu cậu cảm thấy rằng những trạm khắc theo yêu cầu của Tom quá dễ dàng. Cậu chán nản với hình chữ chi, hình thoi, hình chóp, xoắn ốc và cuộn tròn, và ngay cả các hình lá cũng cứng đơ và đơn điệu. Cậu muốn khắc chiếc lá tự nhiên, mềm dẻo và không đều đặn, và muốn sao chép hình dạng khác nhau của những chiếc lá thật, của sồi, của tần bì và bạch dương, nhưng Tom không cho phép cậu. Trên hết cậu muốn khắc cảnh từ những câu truyện về Adam và Eva, về David và Goliath, về ngày phán xét sau cùng, về quỷ và con người trần truồng, nhưng cậu không dám hỏi.
Sau cùng Tom bắt cậu ngừng tay. “Hôm nay là ngày lễ nghỉ, chàng trai ạ,” ông nói. “Ngoài ra, con vẫn là người giúp việc của dượng, và dượng muốn con giúp dượng dọn dẹp. Tất cả công cụ phải cất vào kho trước giờ cơm.”
Jack cất búa và đục, rồi cẩn thận đem phiến đá mà cậu đang đục dở vào nhà kho của Tom; rồi cậu đi quanh công trường xây dựng với Tom. Các người học việc khác đã thu dọn và quét sạch đá vụn, cát, vữa khô và vỏ bào nằm rải rác trên công trường. Tom nhặt la bàn và thước nước trong khi Jack thu dọn thước đo và dây rọi, rồi cất tất cả vào kho.
Trong nhà kho Tom giữ những cây sào (1). Đây là một thanh sắt dài, vuông ở mặt ngang và thẳng đứng, tất cả có cùng chiều dài. Chúng được giữ trong một hộp gỗ đặc biệt được khóa và chỉ dùng để đo đạc.
Khi họ tiếp tục đi quanh công trường, nhặt tấm vữa và xẻng, Jack luôn nghĩ về cây sào. “Cây sào dài bao nhiêu?” cậu hỏi.
Một vài thợ xây nghe thấy và cười to. Họ luôn thấy câu hỏi của cậu tức cười. Erward thấp, một thợ già nhỏ con có mũi quặp nói: “Một sào là một sào,” và họ bắt đầu cười.
Họ thích trêu chọc người học nghề, nhất là khi họ có cơ hội tỏ ra sự hiểu biết hơn của họ. Jack rất ghét bị nhạo cười vì sự thiếu hiểu biết, nhưng cậu chấp nhận nó vì cậu tò mò. “Tôi không hiểu,” cậu kiên nhẫn nói.
“Một inch (2) là một inch, và một sào là một sào,” Erward nói.
Một sào là một đơn vị để đo lường. “Vì thế một sào là bao nhiêu feet (3)?”
“À! Tùy theo. Mười tám ở Lincoln. Mười sáu ở Đông Anglia.”
Tom cắt ngang để cho một câu trả lời hợp lý. “Trên công trường của chúng ta, một sào là mười lăm feet.”
Một thợ nề trung niên nói: “Ở Paris họ không dùng sào, nhưng một thước đo.”
Tom nói với Jack: “Toàn bộ nhà thờ đặt căn bản trên sào. Mang đến một cây sào cho dượng và dượng sẽ chỉ cho ccon. Đây là lúc con nên hiểu điều này.” Ông đưa cho Jack chìa khóa.
Jack đi đến nhà kho và lấy ra một cây sào. Nó rất nặng. Tom thích cắt nghĩa mọi chuyện và Jack thích lắng nghe. Cách tổ chức của công trường xây dựng là một mô hình bí hiểm, như dệt kim tuyến trên áo, và càng hiểu nhiều, cậu càng bị hấp dẫn.
Tom đang đứng trong gian phụ, ở phần cuối của gian cung thánh đã xây dựng được một nửa, nơi sẽ là khu trung tâm. Ông lấy cây sào và đặt nó xuống nền theo chiều ngang gian phụ. “Từ bức tường ngoài tới giữa viên đá của đường mái vòm là một sào.” Ông quay đầu cây sào. “từ đây tới giữa của gian giữa là một sào.” Ông quay đầu một lần nữa, và nó đến giữa viên đá đối diện. “Gian chính rộng hai sào.” Ông quay đầu cây sào lại, và nó chạm vào bức tường của gian phụ. “Toàn bộ nhà thờ rộng bốn sào.”
“Vâng,” Jack nói. “Và mỗi một khoang phải cách nhau một sào.”
Tom khó chịu. “Ai nói với con điều đó?”
“Không ai cả. Một khoang của gian phụ hình vuông, vì thế khi nó rộng một sào nó cũng phải dài một sào. Và những khoang của gian gữa cũng có cùng chiều dài như khoang của gian phụ, như chúng ta thấy.”
“Như chúng ta thấy,” Tom lập lại. “Con nên là một nhà triết học.” Giọng nói của ông pha lẫn tự hào và thán phục. Ông hài lòng vì Jack hiểu nhanh chóng, và cũng khó chịu vì bí mật của việc xây dựng bị một cậu bé dễ dàng nắm bắt được.
Jack quá cứng nhắc với sự hợp lý nên không để ý đến sự nhạy cảm của Tom. “Vì thế gian cung thánh phải dài bốn sào,” cậu nói. “Và toàn thể nhà thờ sẽ dài mười hai sào khi nó xây xong.” Cậu chợt có một ý tưởng khác. “Nó sẽ cao bao nhiêu?”
“Cao sáu sào. Đường mái vòm cao ba sào, hành lang trên cao một sào và khung cửa sổ cao hai sào.”
“Nhưng tại sao phải đo mọi thứ bằng sào? Tại sao không xây viên đá này lên viên đá khác như xây nhà vậy?”
“Trước hết bởi vì cách này rẻ hơn. Tất cả mái vòm của đường đi đều giống nhau, vì thế chúng ta có thể sử dụng lại các khuôn đã có sẵn. Chúng ta sử dụng phiến đá càng ít kích thước và ít hình dáng khác nhau, dượng càng phải ít làm các mẫu hơn. Và cứ như vậy. Thứ hai, nó đơn giản hóa công việc chúng ta đang làm, từ việc đặt nền móng – mọi thứ đặt căn bản trên một sào vuông – tới việc sơn tường – nó dễ dàng tính ra số lượng sơn chúng ta cần. Và khi mọi thứ đơn giản, chúng ta sẽ ít làm sai. Phần mắc nhất trong việc xây dựng là lỗi lầm. Thứ ba, Khi mọi thứ đặt căn bản trên cách tính của sào, nhà thờ trông sẽ đẹp hơn. Tỷ lệ là trọng tâm của vẻ đẹp.”
Jack gật đầu, mê mẩn. Sự cố gắng điều hành một công trình xây dựng đầy tham vọng và phức tạp như của nhà thờ chính tòa là một sự hấp dẫn không ngừng. Sự nhận biết rằng nguyên tắc của cân đối và lập đi lập lại không những đơn giản hóa việc xây dựng mà còn tạo nên sự hài hòa cho kiến trúc là một ý tưởng quyến rũ. Nhưng cậu không chắc tỷ lệ có thật sự là trọng tâm của vẻ đẹp không. Cậu thích những gì hoang dã, rải rác, vô trật tự: ngọn núi cao, cây sồi già và mái tóc của Aliena.
Jack ăn bữa tối nhanh chóng, rồi cậu rời làng đi về hướng bắc. Trời thu sớm ấm áp, và cậu đi chân đất. Từ khi cậu và mẹ cậu chuyển vào sống ở Kingsbridge và cậu trở thành một công nhân, cậu vẫn thích trở lại rừng theo định kỳ. Trước tiên cậu đã dùng thời gian này để tiêu hao đi năng lượng dư thừa trong người: chạy nhẩy, trèo cây và bắn vịt bằng ná. Lúc đó cậu phải làm quen với thân xác đang phát triển, cao và mạnh mẽ của cậu. Những mới lạ đó đã qua đi. Bây giờ khi cậu đi vào rừng, cậu nghĩ về những chuyện khác: tại sao tỷ lệ lại tạo nên nét đẹp, tại sao tòa nhà có thể đứng vững và cảm giác sẽ như thế nào nếu được sờ vào ngực Aliena.
Từ nhiều năm nay cậu đã ngưỡng mộ cô. Hình ảnh không phai mờ được khi cậu nhìn thấy cô từ cầu thang lâu đài đi xuống và cậu đã nghĩ cô phải là một công chúa trong truyện cổ tích. Cô vẫn còn là một khuôn mặt xa cách. Cô nói chuyện với Tu viện trưởng Philip, với thợ xây Tom, với người Do Thái Malachi, và với những người giầu có, quyền lực ở Kingsbridge; và Jack chẳng bao giờ có lý do để nói chuyện với cô. Cậu chỉ có thể nhìn thấy cô khi cô cầu nguyện trong nhà thờ hay cưỡi con ngựa nhỏ đi qua cầu và ngồi trước cửa nhà dưới ánh sáng mặt trời. Cậu thấy cô mặc áo lông thú mắc tiền trong mùa đông và lụa đẹp trong mùa hè, mái tóc tự nhiên ôm lấy khuôn mặt xinh xắn. Trước khi cậu đi ngủ, cậu tưởng tượng nó sẽ đẹp làm sao khi cởi quần áo cô ra, nhìn ngắm cô trần truồng và nhẹ nhàng hôn lên đôi môi mềm mại của cô.
Từ vài tuần nay cậu đã chán nản và thất vọng với những giấc mơ vô vọng ban ngày này. Tưởng tượng được ngắm nhìn cô từ xa, được nghe cô nói chuyện với người khác và được làm tình với cô bây giờ không còn đủ. Cậu cần những điều thực tế hơn.
Nhiều cô gái cùng lứa tuổi có thể cho cậu những điều thực tế. Trong số những người học nghề đã thường có những cuộc nói chuyện về những cô gái nào ở Kingsbridge dâm đãng và cô nào cho phép các cậu trẻ làm gì. Hầu hết đều quyết định giữ trinh tiết cho đến khi cưới hỏi, theo luật của giáo hội, nhưng có những việc bạn có thể làm mà vẫn giữ được trinh tiết, các cậu học nghề thường nói với nhau như vậy. Các cô gái cho rằng Jack khác người – có thể họ đúng, Jack nghĩ thế - nhưng một hai người trong số họ lại bị sự xa lạ của cậu hấp dẫn. Vào một ngày chủ nhật cậu đã nói chuyện với Edith, người em của một thợ học việc; nhưng khi cậu nói cậu yêu thích khắc đá, cô đã khúc khích cười. Vào chủ nhật sau cậu đã đi dạo trên những cánh đồng với Ann, người con gái tóc bạch kim của thợ may. Cậu không nói nhiều với cô, nhưng đã hôn cô, và rồi đề nghị nằm xuống trong cánh đồng lúa mạch xanh. Cậu lại hôn cô và sờ vào ngực cô, và cô đã hôn lại cậu, một cách say đắm; nhưng sau một lúc cô buông cậu ra và nói: “Cô ta là ai?” Jack như bị sét đánh, vì khi đó cậu đang nghĩ về Aliena. Cậu cố gắng lảng tránh và hôn cô ấy nhưng cô ấy quay mặt đi và nói: “Dù cô ta là ai, cô ta là một cô gái may mắn.” Họ cùng nhau đi về lại Kingsbridge và khi chia tay Ann đã nói: “Đừng mất giờ để cố quên cô ta. Anh sẽ không quên được cô ta đâu. Cô ta là người mà anh muốn, vì thế tốt hơn nên tìm cách chiếm được cô ta.” Cô mỉm cười trìu mến và nói thêm: “Anh có khuôn mặt đẹp trai. Nó không khó như anh nghĩ đâu.”
Sự tử tế của cô ấy làm cậu cảm thấy hổ thẹn, đặc biệt trong đám thợ học nghề cô ấy được coi là một trong đám phụ nữ dâm đãng, và cậu đã nói với mọi người là cậu sẽ thử cô ấy. Bây giờ cậu cho những cuộc tán gẫu như vậy là trẻ con, đến nỗi cậu muốn chui xuống đất vì xấu hổ. Nhưng nếu cậu nói với Ann tên của người phụ nữ đang theo đuổi cậu ngày đêm, Ann có lẽ đã không thất vọng như vậy. Một quan hệ giữa Aliena và Jack là chuyện khó tưởng tượng được. Aliena hai mươi hai tuổi, trong khi Jack mới mười bẩy tuổi; cô là con của một bá tước và cậu là con hoang; cô là một thương gia len giầu có và cậu là một thợ học nghề không một xu dính túi. Tệ hơn nữa, cô được biết đến là người đã từ chối nhiều người đến cầu hôn. Mỗi một bá tước trẻ coi được trong miền, và mỗi người con trai của các thương gia giầu có đã đến Kingsbridge xin cầu hôn, nhưng đều thất vọng ra về. Cơ hội nào dành cho Jack, người không có gì để cầu hôn, ngoại trừ “một khuôn mặt đẹp”?
Cậu và Aliena có một điểm chung: họ đều thích rừng. Đặc biệt trong việc này: hầu hết mọi người thích sự an toàn của cánh đồng và làng mạc, và ở xa cánh rừng. Nhưng Aliena thường đi dạo trong rừng gần Kingsbridge, và có một nơi hẻo lánh cô thích dừng lại và ngồi nghỉ. Cậu đã nhìn thấy cô một hai lần ở đó. Cô không nhìn thấy cậu: cậu đi nhẹ nhàng, như cậu đã học lúc còn nhỏ khi cậu phải đi tìm thức ăn trong rừng.
Cậu hướng về cánh rừng thưa mà không biết phải làm gì nếu cậu gặp cô ở đó. Cậu biết điều cậu muốn: nằm bên cạnh cô và vuốt ve thân thể cô. Cậu có thể nói với cô, nhưng cậu sẽ nói gì? Nó dễ dàng hơn khi nói chuyên với các cô gái cùng tuổi với cậu. Cậu đã trêu tức Edith khi nói: “Anh không tin bất cứ điều gì mà anh em đã nói xấu về em,” và dĩ nhiên cô tò mò muốn biết anh cô đã nói xấu về cô điều gì. Với Ann cậu có thể nói thẳng: “Em có muốn đi dạo qua cánh đồng với anh chiều nay không?” Nhưng khi cậu cố tìm một lời mở đầu với Aliena, đầu óc cậu rỗng tuếch. Trong mắt cậu, cô thuộc thế hệ cũ. Cô rất nghiêm trang và có tinh thần trách nhiệm. Không phải cô luôn luôn thích điều đó, cậu biết: vào lứa tuổi mười bẩy cô hoàn toàn thích vui đùa. Từ đó cô đã chịu bao rắc rối khủng khiếp, nhưng đứa bé gái thích vui chơi ngày trước phải còn lại đâu đó bên trong người phụ nữ trang nghiêm này. Đối với Jack, điều đó lại làm cô hấp dẫn hơn.
Cậu đến gần vị trí của cô. Khu rừng yên tĩnh trong cơn nóng ban ngày. Cậu di chuyển lặng lẽ qua những bụi cây. Cậu muốn nhìn thấy cô trước khi cô thấy cậu. Cậu chưa chắc chắn có dám đến gần cô không. Cậu sợ nhất là không gây được cảm tình nơi cô. Cậu đã nói với cô ngay khi cậu vừa trở lại Kingsbridge, vào ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, vào ngày các thiện nguyện viên đã đến làm việc trong công trường nhà thờ, và cậu đã nói sai đề tài đến nỗi bốn năm qua cậu khó có thể nói chuyện lại với cô. Bây giờ cậu không muốn làm một lỗi lầm như vậy nữa.
Một vài phút sau cậu nhìn trộm qua thân cây sồi và thấy cô.
Cô đã chọn một nơi thật đẹp. Có một thác nước nhỏ chảy vào hồ sâu được bao xung quang bởi đá rêu phong. Mặt trời chiếu trên bờ hồ, nhưng một hai dặm phía sau lại có bóng mát dưới tàn cây sồi. Aliena ngồi đọc sách dưới ánh sáng lốm đốm của mặt trời.
Jack rất ngạc nhiên. Một phụ nữ đọc sách? Giữa bầu trời? Chỉ có các tu sĩ mới đọc sách, và không có nhiều tu sĩ đọc mọi thứ sách ngoài các giờ kinh. Nó còn là một cuốn sách không bình thường- nhỏ hơn nhiều so với các cuốn sách trong thư viện tu viện, như thể nó đặc biệt làm cho phụ nữ, hay cho người muốn đem nó đi khắp nơi. Cậu ngạc nhiên là cậu không còn nhút nhát. Cậu vội vàng xuyên qua bụi cây và đi ra chỗ cô. Cậu nói: “Cô đang đọc gì đấy?”
Cô giật mình và nhìn cậu với nỗi kinh hoàng trong ánh mắt. Cậu nhận ra cậu đã làm cô hoảng sợ. Cậu cảm thấy bối rối và sợ một lần nữa lại vấp phải lỗi lầm. Bàn tay phải của cô thọc nhanh vào trong tay áo phía trái. Cậu nhớ lại một lần cô đã mang một con dao trong tay áo – có lẽ bây giờ vẫn vậy. Một lúc sau cô nhận ra cậu, và sự sợ hãi của cô biến nhanh như khi nó đến. Cô dễ chịu ra, tuy nhiên vẫn còn bực tức. Cậu cảm thấy như không được chào đón, và cậu muốn quay lại ngay và biến mất trong rừng. Nhưng như thế cậu sẽ khó nói chuyện với cô một lần nữa, vì thế cậu ở lại, đối diện với nét mặt không thân thiện của cô và nói: “Xin lỗi, tôi đã làm cô sợ.”
“Anh không làm tôi sợ,” cô vội vàng nói.
Cậu biết nó không đúng sự thật, nhưng cậu không muốn tranh luận với cô. Cậu lập lại câu hỏi ban đầu của cậu: “Cô đang đọc gì đấy?”
Cô nhìn xuống cuốn sách trên đùi cô, và nét mặt cô lại thay đổi: bây giờ cô có vẻ đăm chiêu. “Trong chuyến đi cuối cùng đến Normandy bố tôi đã mang cuốn sách này về. Ông đem về cho tôi. Một vài ngày sau ông bị bắt đi tù.”
Jack nhích gần hơn và nhìn vào trang sách mở. “Nó bằng tiếng Pháp!” cậu nói.
“Tại sao anh biết?” cô ngạc nhiên nói. “Anh biết đọc?”
“Vâng – nhưng tôi nghĩ mọi cuốn sách đều viết bằng tiếng Latin.”
“Hầu hết. Nhưng cuốn này khác. Nó là cuốn thơ được gọi là “Truyện của Alexander.”
Jack nghĩ ngợi: Tôi đang nói chuyện với cô ấy! Thật tuyệt diệu! Nhưng bây giờ tôi phải nói gì đây? Làm sao tôi có thể tiếp tục câu chuyện? Cậu nói: “Um… Cuốn sách viết về cái gì?”
“Nó là câu truyện của một vị vua được gọi là Alexander Đại đế, và cách ông đã chinh phục những mảnh đất tuyệt vời ở miền đông, nơi đá quý mọc trên cây nho và những bông hoa có thể nói.”
Jack bị thu hút và quên đi sự lo lắng của cậu. “Làm sao những bông hoa có thể nói? Chúng có miệng không?”
“Nó không nói.”
“Cô có cho rằng câu truyện này có thật không?”
Cô thích thú nhìn cậu, và cậu nhìn chằm chằm vào đôi mắt đen đẹp của cô. “Tôi không biết,” cô nói. “Tôi luôn thắc mắc không biết câu truyện có thật không. Hầu hết mọi người không quan tâm đến – miễn là câu truyện làm họ thích.”
“Ngoại trừ đối với các linh mục. Họ luôn luôn nghĩ các câu truyện thiêng liêng là thật.”
“Dĩ nhiên chúng là thật.”
Jack hoài nghi về các câu truyện thiêng liêng cũng như cậu hoài nghi về các truyện khác; nhưng mẹ cậu, người đã dạy cậu đặt nghi vấn, cũng dạy cậu phải biết cẩn thận, vì thế cậu không tranh luận. Cậu cố gắng không nhìn vào ngực Aliena đang nằm ngay trong khóe mặt cậu: cậu biết khi cậu nhìn xuống cô ấy sẽ biết cậu đang nhìn gì. Cậu cố nghĩ chuyện gì đó để nói. “Tôi biết một số câu truyện,” cậu nói. “Tôi biết ‘Bài ca của Roland’ và ‘cuộc hành hương của William thành Orange’ –“
“Anh muốn nói gì? Anh biết họ?”
“Tôi có thể kể lại chúng.“
„Giống như một người hát rong?“
„Người hát rong là gì?”
“Một người đi khắp nơi, làm trò và kể truyện.”
Đối với Jack, đó là một khái niệm mới. “Tôi chưa bao giờ nghe nói về những người đó.”
“Có rất nhiều người hát rong ở nước Pháp. Khi tôi còn nhỏ, tôi thường ra ngoại quốc với bố tôi. Tôi thích những người hát rong.”
“Nhưng họ làm gì? Chỉ đứng ngoài đường và kể tuyện thôi sao?”
“Tùy theo. Họ vào hội trường của các lãnh chúa vào dịp lễ. Họ trình diễn ở chợ và hội chợ. Họ tiêu khiển khách hành hương bên ngoài nhà thờ. Một vài bá tước lớn có người hát rong riêng.”
Jack nhận ra rằng không những cậu đang nói chuyện với cô, cậu còn có cuộc trò chuyện mà cậu không có được với bất cứ cô gái nào ở Kingsbridge. Cậu và Aliena là những người trong thị trấn, ngoại trừ mẹ cậu, biết về những bài thơ lãng mạng bằng tiếng Pháp, cậu chắc như thế. Họ có cùng sở thích và họ đang thảo luận về nó. Ý tưởng này quá thú vị đến nỗi cậu không còn nhớ họ đang nói chuyện gì và cậu cảm thấy bối rối và ngu dại.
May mắn, cô tiếp tục: “Thông thường người hát rong chơi đàn vĩ cầm khi ông ta kể truyện. Ông ta chơi nhanh và cao khi kể về trận chiến, chậm rãi và ngọt ngào khi kể về hai người yêu nhau, dằn mạnh từng tiếng khi kể về phần hài hước.”
Jack thích ý tưởng đó: Nhạc nền để làm tăng các điểm của câu truyện. “Tôi ước mơ có thể chơi đàn vĩ cầm.”
“Anh thực sự có thể kể truyện không?” cô nói.
Cậu không thể tin được là cô lại thực sự để ý đến cậu, hỏi cậu về bản thân cậu. Và khuôn mặt cô dễ thương hơn khi cô phấn khởi vì tò mò. “Mẹ tôi dạy tôi,” cậu nói. “Chúng tôi đã sống trong rừng, chỉ có hai chúng tôi. Bà kể cho tôi những câu truyện, rồi lại kể lại.”
“Nhưng làm sao anh nhớ được chúng? Một số câu truyện phải cần nhiều ngày để kể.”
“Tôi không biết. Nó giống như cô biết đường đi trong rừng. Cô không giữ cả khu rừng trong đầu, nhưng khi cô ở đâu, cô biết sẽ đi tiếp như thế nào.” Nhìn vào nội dung cuốn sách cô đang đọc, cậu khám phá ra một điều gì đó. Cậu ngồi xuống cỏ bên cạnh cô để nhìn rõ hơn. “Vần điệu khác,” cậu nói.
Cô không biết rõ cậu muốn nói gì. “Trong cách nào?”
“Chúng hay hơn. Trong ‘Bài ca của Roland’, chữ ‘sword’ vần với ‘horse’, hay ‘lost’, hay với ‘ball’. Trong sách của cô, ‘sword; vần với ‘horde’ nhưng không vần với ‘horse’; ‘lord’ nhưng không với ‘loss’; ‘board’ nhưng không vần với ‘ball’. Nó hoàn toàn là một âm điệu khác. Nhưng nó hay hơn, hoàn toàn hay hơn. Tôi thích vần điệu này.”
“Anh có thể…” Cô trông khác thường. “Anh có thể kể cho tôi một vài câu trong ‘Bài ca của Roland’ không?”
Jack thay đổi vị trí của mình để cậu có thể nhìn cô. Cái nhìn chăm chú, sự náo nức lấp lánh trong đôi mắt mê hồn của cô cho cậu cảm giác nghẹt thở. Cậu nuốt nước bọt xuống và bắt đầu.
Vua toàn nước Pháp,
A-lịch-sơn Đại Đế
đã chiến đấu bẩy năm trên đất Tây Ban Nha.
Ông đã chinh phục cao nguyên và đồng bằng.
Không còn pháo đài nào xót lại,
không còn thành phố hay tường thành nào cho ông đột phá.
Ngay cả Saragossa trên ngọn núi cao
do vua Marsilly Saracen cai trị.
Ngay cả ông thờ phượng Mahomed,
cầu nguyện với Apollo,
nhưng ngay cả thế, ông vẫn không an toàn.
Jack ngưng lại và Aliena nói: “Anh có thể! Anh thực sự có thể kể truyện! Giống như một người hát rong!”
“Cô có thấy ý tôi nói vần điệu là làm sao không?”
“Vâng, dù sao tôi vẫn thích câu truyện,” cô nói. Mắt cô lấp lánh niềm vui. “Anh hãy kể tiếp cho tôi nghe.”
Jack cảm thấy như ngất đi trong hạnh phúc. “Nếu cô thích,” cậu nói yếu ớt. Cậu nhìn vào mắt cô và bắt đầu đoạn thứ hai.
II
Một trò chơi trong mùa hè được gọi là bánh-bao-nhiêu. Giống như nhiều trò chơi khác, nó có hơi hướng một chút mê tín dị đoan nên làm Philip khó chịu. Nhưng nếu ông cố loại trừ tất cả các nghi thức liên quan đến các tôn giáo thời xưa, một nửa truyền thống của người dân sẽ bị cấm, và một cách nào đó người dân sẽ chống lại ông; vì thế ông kín đáo khoan dung mọi thứ và chỉ ngăn cấm một hai thứ thái quá.
Các tu sĩ kê bàn trên bãi cỏ ở cuối phía tây gần tu viện. Người phụ việc trong nhà bếp khênh qua sân một nồi lớn bốc khói. Tu viện là chủ của những khu nhà trọ, vì thế tu viện có nhiệm vụ cung cấp bữa tiệc cho người thuê nhà vào những dịp lễ lớn. Chính sách của Philip là rộng rãi về lương thực và chặt chẽ về nước uống, vì thế nó chỉ có bia nhẹ và không có rượu. Tuy nhiên mỗi ngày lễ vẫn có năm sáu người uống say mềm.
Các cư dân hàng đầu của Kingsbridge ngồi cùng bàn với Philip: Thợ xây Tom và gia đình ông; thợ thủ công chính lão thành, cộng với người con trai cả của Tom, Alfred; và các thương gia, có cả Aliena nhưng không có người Do Thái Malachi, người sẽ tham gia sau nghi thức cầu nguyện.
Philip xin mọi người yên lặng và cầu nguyện trước bữa ăn; rồi ông trao ổ bánh-bao-nhiêu cho Tom. Thời gian càng trôi qua, Philip càng quý mến Tom hơn. Không có nhiều người nói điều họ nghĩ và làm điều họ nói. Khi gặp bất ngờ, khủng hoảng và thảm họa, Tom bình tĩnh cân nhắc hậu quả, đánh giá thiệt hại và đưa ra kế hoạch đáp ứng tốt nhất. Tom ngày nay không còn giống như năm năm trước đây khi ông bước chân vào tu viện xin việc. Khi đó ông kiệt sức, hốc hác và gầy gò như thể các đốt xương đang chực chọc thủng lớp da rám nắng của ông. Trong những năm qua ông đã lấy lại sức, nhất là từ khi người đàn bà của ông trở về. Ông không mập, nhưng có da có thịt và mắt ông không còn nỗi tuyệt vọng. Ông ăn mặc sang trọng, trong bộ áo dài của Lincoln màu xanh, giày da mềm và một thắt lưng với khóa bạc.
Philip phải đặt một câu hỏi và người nhận ổ bánh-bao-nhiêu phải trả lời. Ông hỏi: “Bao nhiêu năm nữa nhà thờ chính tòa sẽ xong?”
Tom cắn một miếng bánh. Bánh được làm bằng những hạt cứng nhỏ, và khi Tom nhả những hạt ra bàn tay, mọi người cùng đếm to. Một đôi khi có người cắn miếng to đầy miệng và không một người nào ở bàn xung quanh có khả năng đếm được, nhưng hôm nay không đáng lo vì có các thương gia và thợ thủ công có mặt. Câu trả lời là ba mươi. Philip giả vờ như mất tinh thần. Tom nói: “Tôi còn sống lâu thế sao?” và mọi người cười to.
Tom đưa bánh cho vợ ông, Ellen. Philip rất cảnh giác người phụ nữ này. Giống như nữ hoàng Maud, bà có uy quyền trên người khác, một loại uy quyền mà Philip không cạnh tranh nổi. Ngày bà ấy bị đuổi ra khỏi tu viện, bà đã làm một điều kinh khủng mà Philip không dám nghĩ tới. Ông đã nghĩ bà sẽ đi biệt tăm, nhưng ông kinh hoàng vì bà trở về và Tom đã xin Philip tha lỗi cho bà. Một cách khôn ngoan, Tom đã lý luận rằng Thiên Chúa có thể tha tội cho bà, vì vậy Philip không có quyền từ chối. Philip cho rằng bà ấy không thật lòng ăn năn. Nhưng Tom đã hỏi ông trong ngày các thiện nguyện viên đến cứu nhà thờ và Philip đã đáp ứng ước muốn của Tom. Họ đã làm lễ cưới trong nhà thờ xứ, một nhà thờ bằng gỗ nhỏ trong làng đã có trước tu viện. Từ đó Ellen đã thay đổi cách sống và không tạo nên lý do để ông phải hối hận về quyết định của mình. Tuy nhiên bà làm ông khó chịu.
Tom hỏi bà: “Có bao nhiêu người đàn ông yêu bà?”
Bà cắn một miếng bánh nhỏ làm mọi người cười ồ. Trong trò chơi này, tất cả những câu hỏi này đều có hai ý. Philip biết rằng nếu ông không hiện diện, trò chơi có thể trở thành thô tục.
Ellen đếm ba hột. Tom giả vờ bị xúc phạm. “Tôi sẽ nói cho ông ba gười yêu tôi là ai,” Ellen nói. Philip hy vọng bà sẽ không nói điều gì gây khó chịu. “Người đầu tiên là Tom. Người thứ hai là Jack. Và người thứ ba là Alfred.”
Một tràng pháo tay tán thưởng cho sự hóm hỉnh của bà, và ổ bánh lại được chuyển đi quanh bàn. Người kế tiếp là con gái của Tom, Martha. Cô mười hai tuổi và nhút nhát. Bánh dự đoán là cô sẽ có ba đời chồng, một điều khó có thể xẩy ra.
Martha đưa bánh cho Jack, và khi cô đưa cho cậu ấy, Philip nhìn thấy sự thán phục trong mắt cô, và ông nhận ra rằng cô ngưỡng mộ người anh ghẻ của cô.
Jack hấp dẫn Philip. Trước đây cậu là một đứa trẻ xấu xí, có mái tóc màu cà rốt, làn da nhợt nhạt và đôi mắt lồi màu xanh; nhưng bây giờ cậu là một thanh niên, các đặc nét đã hài hòa và khuôn mặt cậu trở thành hấp dẫn khiến người lạ phải quay lại nhìn. Nhưng trong cá tính, cậu buông thả như mẹ cậu. Cậu có ít nguyên tắc và không biết vâng lời. Cậu không thích hợp là một người giúp việc, vì thay vì chuẩn bị vữa và đá ổn định, cậu cố gắng xếp đầy vật dụng cho một ngày rồi đi làm việc khác. Cậu luôn luôn vắng mặt. Một ngày kia khi thấy không có phiến đá nào trên công trường thích hợp cho công việc cậu đang làm, vì thế, không nói với ai, cậu đi tới mỏ đá và chọn ra phiến đá cậu thích. Hai ngày sau cậu đem phiến đá về trên lưng một con ngựa con đi mượn. Nhưng mọi người đã tha thứ cho tính ương ngạnh của cậu, một phần cậu là một thợ khắc đá thật sự đặc biệt, và phần khác vì cậu đáng yêu – một đặc điểm chắc chắn cậu không thừa kế từ mẹ cậu, theo quan điểm của Philip. Philip đã có vài ý nghĩ về tương lai của Jack. Nếu cậu theo cuộc sống tu trong giáo hội, cậu dễ dàng lên chức giám mục.
Martha hỏi Jack: “Còn bao lâu nữa anh sẽ lập gia đình?”
Jack cắn một miếng bánh nhỏ: rõ ràng cậu muốn lập gia đình sớm. Philip tự hỏi không biết cậu đã để ý đến ai. Jack hoảng hốt khi trong miệng cậu đầy hạt cứng, và khi chúng được đếm, mặt cậu lộ vẻ khó chịu. Tất cả là ba mươi mốt. “Khi đó tôi sẽ bốn mươi tám tuổi!” cậu phản đối. Mọi người cười vui nhộn, chỉ trừ Philip, người đã nhẩm tính lại và thấy đúng, và ngạc nhiên vì Jack có thể tính nhanh như thế. Ngay cả Milius, người thủ quỹ, cũng không tính nhanh được như vậy.
Jack ngồi gần Aliena. Philip đã thấy họ ở chung với nhau nhiều lần trong mùa hè này. Có thể bởi vì chúng đều nhanh trí. Không có nhiều người ở Kingsbridge có thể nói chuyện cùng trình độ với Aliena; và Jack, qua cách bất trị của cậu, đã trưởng thành hơn các thợ học nghề khác. Philip vẫn còn ngạc nhiên vì tình bạn của họ, bởi vì ở lứa tuổi của họ, hơn nhau năm tuổi là một chênh lệch lớn.
Jack đưa bánh cho Aliena và hỏi cùng câu mà Martha đã hỏi cậu: “Bao nhiêu năm nữa cô sẽ lấy chồng?”
Mọi người lẩm bẩm phản đối, bởi vì nó quá dễ để hỏi lại cùng câu hỏi. Mục đích của trò chơi là khôi hài và đùa cợt. Nhưng Aliena, một người nổi tiếng là đã từ chối nhiều lời cầu hôn, làm mọi người cười khi cắn một miếng lớn, tỏ ra rằng cô chưa muốn lấy chồng sớm. Nhưng mưu đồ của cô không thành công: cô nhả ra chỉ có một hạt.
Nếu năm tới cô kết hôn, Philip nghĩ, chú rể vẫn chưa xuất hiện. Tất nhiên ông không tin vào chuyện tiên đoán của bánh mì. Khả năng là cô sẽ chết như một gái già – ngoại trừ cô không phải là một gái già, vì theo tin đồn, cô đã bị William Hamleigh quyến rũ hay cưỡng hiếp.
Aliena đưa bánh cho em cô, Richard, nhưng Philip không nghe cô hỏi gì. Ông vẫn đang nghĩ về Aliena. Không may mắn, cả Aliena và ông đều thất bại trong việc bán len năm nay. Số len thặng dư không lớn – ít hơn một phần mười số lượng của ông và tỷ lệ còn nhỏ hơn đối với Aliena – nhưng nó cũng làm thất vọng. Sau đó, Philip đã lo lắng cô từ chối sự thỏa thuận về số len trong năm tới, nhưng cô giữ lời và trả cho Philip một trăm lẻ bẩy bảng Anh.
Tin tức gây xôn xao tại hội chợ len ở Shiring là sự loan báo của Philip về hội chợ len năm tới ở Kingsbridge. Hầu hết mọi người hoan nghinh ý tưởng đó, vì tiền thuê và thuế má tại Shiring quá mắc và Philip dự định quy định mức giá thấp hơn. Cho đến nay, bá tước William vẫn chưa có phản ứng gì.
Nhìn chung, Philip cảm thấy tu viện có triển vọng hơn nhiều so với sáu tháng trước. Ông đã vượt qua được trở ngại gây ra do mỏ đá bị đóng cửa và chống lại ý định muốn đóng cửa chợ của William. Bây giờ chợ chủ nhật của ông phát triển mạnh và đủ thu nhập để trả tiền mua đá từ quặng mỏ gần Marlborough. Mặc dù những khủng hoảng, việc xây dựng nhà thờ chính tòa vẫn không bị đình trệ. Điều lo lắng duy nhất của Philip là Maud vẫn chưa được đăng quang. Mặc dù bà đã được các giám mục chấp thuận, nhưng quyền chỉ huy của bà dựa trên sức mạnh quân sự cho đến khi bà được đăng quang. Vợ của Stephen vẫn còn trấn giữ Kent, và các quận của London còn chia rẽ. Một tình cờ không may mắn hay một quyết định xấu có thể lật đổ bà như cuộc chiến ở Lincoln đã tiêu diệt Stephen và rồi tất cả sẽ lại hỗn loạn.
Philip tự nhủ lòng không nên bi quan. Ông nhìn những người chung quanh bàn. Trò chơi đã chấm dứt và mọi người đã lui vào phòng ăn. Họ là những người trung thực, tốt bụng, làm việc chăm chỉ và đến nhà thờ thường xuyên. Thiên Chúa sẽ chăm sóc họ.
Họ ăn súp rau, cá nướng với gia vị tiêu và gừng, nhiều thứ vịt và tráng miệng bằng chè được điểm tô bằng sọc xanh sọc đỏ. Sau bữa ăn tất cả đem ghế vào trong nhà thờ còn đang xây dở để xem kịch.
Các thợ mộc đã làm hai màn đặt ở hai gian bên cạnh, ở đầu phía đông, che khuất khoảng không gian giữa tường hai gian cạnh và viên đá đầu tiên của đường mái vòm. Các tu sĩ sẽ diễn kịch đã có mặt sau tấm màn, chờ đi ra diễn ở gian giữa. Người đóng vai Thánh Adolphus, một tập sinh không có râu và có bộ mặt thiên thần, đang nằm trên bàn ở phía xa của gian giữa, được bọc trong vải niệm, giả vờ chết và cố nín cười.
Philip có cảm xúc lẫn lộn về vở kịch cũng như về trò chơi bao-nhiêu-bánh. Vở kịch này cũng dễ rơi vào bất kính và thô tục. Nhưng dân chúng quá thích nó nên nếu ông không cho phép họ sẽ tự diễn vở kịch này bên ngoài nhà thờ, và khi nó không còn dưới sự kiểm soát của ông, nó có thể trở nên phàm tục. Ngoài ra, những người thích nó lại là các tu sĩ diễn kịch. Mặc quần áo khác, đóng vai trò của người khác, hành động kỳ quặc - ngay cả phạm thượng - dường như tạo nên sự thoải mái trong một đời sống nghiêm trang.
Trước khi vở kịch bắt đầu, thông thường vẫn có giờ kinh ngắn do cha phụ trách phụng vụ chủ sự. Sau đó Philip kể ngắn gọn về tiểu sử và công trình kỳ diệu của Thánh Adolphus. Rồi ông ngồi xuống ghế giữa đám khán giả và chăm chú theo dõi vở kịch.
Từ phía sau bức màn bên trái xuất hiện một hình dáng lớn mà thoạt nhìn giống như người vô hình được trùm trong quần áo lòe loẹt, và khi nhìn kỹ hơn thì đó là những mảnh quần áo nhiều màu được gắn lại với nhau bằng kim. Mặt ông được sơn vẽ và mang một bị tiền. Đây là người man rợ giầu có. Có tiếng thì thầm tán phục cách diễn của ông, rồi trở thành tiếng cười ồ khi họ nhận ra diễn viên bên dưới bộ trang phục: đó là thầy Bernard, thầy phụ trách nhà bếp, người mà mọi người biết và yêu thích.
Ông nhìn lên và nhìn xuống nhiều lần để mọi người thán phục ông, và trượt vào hàng ghế đầu của các trẻ em nhỏ, gây cho chúng hoảng sợ; sau đó ông lên đến bàn thờ, nhìn quanh như để chắc chắn xem có phải ở đó chỉ có một mình ông không, và ông đặt bị tiền đàng sau bàn thờ. Ông quay về phía khán giả, liếc đểu và nói bằng giọng to: “Các Ki Tô hữu ngu ngốc sợ không dám ăn cắp tiền của tôi đâu, bởi vì họ nghĩ nó được Thánh Adolphus bảo vệ. Ha ha ha!” Rồi ông đi ra sau bức màn.
Từ phía đối diện xuất hiện một nhóm người sống ngoài vòng pháp luật, ăn mặc rách rưới, mang gươm gỗ và rìu, mặt mũi bôi phấn và nhọ nồi. Họ rình rập chung quanh gian giữa, trông sợ hãi, cho đến khi một người trong họ nhìn thấy túi tiền đàng sau bàn thờ. Sau đó là cuộc tranh luận: Có nên ăn cắp hay không? Người trộm cướp tốt cho rằng như vậy chắc chắn sẽ mang lại sự bất hạnh cho họ; người trộm cướp xấu cho rằng một vị thánh chết không thể làm hại họ. Sau cùng họ lấy bị tiền và lui vào một góc để đếm.
Người man rợ vào lại, nhìn khắp nơi tìm bị tiền và nổi cơn thịnh nộ. Ông đến bên mộ Thánh Adolphus và nguyền rủa vị thánh vì đã không bảo vệ bị tiền của ông.
Vào lúc đó, vị thánh trỗi dậy khỏi mộ.
Người man rợ giật mình kinh hoàng. Vị thánh lờ ông đi và đến bên đám người trộm cướp. Đột ngột ông đánh ngã từng người một bằng cách dùng ngón tay chỉ vào họ. Họ giả vờ chết đau đớn khổ sở, lăn lộn trên mặt đất, cuộn người theo các hình dạng kỳ cục và tạo ra những khuôn mặt ghê tởm.
Vị thánh chỉ tha mỗi người trộm tốt, người bây giờ đem bị tiền lên cất sau bàn thờ. Vị thánh quay lại phía khán giả và nói: “Tất cả những ai coi thường sức mạnh của Thánh Adolphus, hãy coi chừng!”
Khán giả hào hứng vỗ tay hoan hô. Các diễn viên đứng ở gian giữa, cười bẽn lẽn. Mục đích của vở kịch, dĩ nhiên, là tính luân lý của câu truyện, nhưng Philip biết rằng người dân thích nhất là sự lố bịch, sự nổi giận của người man rợ và cái chết đau đớn của những người trộm cướp.
Khi tiếng vỗ tay đã ngưng Philip đứng dậy, cám ơn các diễn viên và thông báo cuộc đua sẽ bắt đầu trên đồng cỏ bên bờ suối.
Đây là lần đầu tiên bé Jonathan năm tuổi khám phá ra cậu không phải là người chạy nhanh nhất ở Kingsbridge. Cậu tham dự cuộc đua của trẻ em, mặc tu phục đặc biệt được may cho cậu và gây ra tiếng cười vang khi cậu vén áo lên tới hông và chạy phơi chiếc mông bé tí ra trước mặt mọi người. Tuy nhiên cậu chạy đua với những trẻ lớn hơn và cậu về gần chót. Khi nhận ra cậu thua cuộc, cậu bị sốc và thất vọng đến nỗi Tom cảm thấy đau khổ thay cậu và bế cậu lên để an ủi cậu.
Mối quan hệ đặc biệt giữa Tom và đứa trẻ mồ côi trong tu viện đã phát triển dần dần, và không ai trong làng thắc mắc tự hỏi xem có một nguyên do bí mật trong đó không. Tom dành cả ngày ở trong khuôn viên tu viện, nơi Jonathan tự do chạy nhẩy, vì thế mà không có gì ngạc nhiên khi họ thường xuyên gặp nhau; ngoài ra Tom ở trong lứa tuổi mà những đứa con của ông đã lớn không còn dễ thương, và ông cũng chưa già đủ để có cháu, vì thế mà chuyện ông quan tâm đến trẻ con của người khác là chuyện tự nhiên. Như Tom được biết, chưa ai nghi ngờ ông là bố của Jonathan. Nếu có, dân chúng cho rằng Philip là bố thật của đứa bé. Đó là một giả thuyết tự nhiên – dĩ nhiên Philip sẽ kinh hoàng khi nghe nó.
Jonathan phát hiện Aaron, người con trai cả của Malachi, và lách ra khỏi vòng tay của Tom để đi chơi với bạn cậu, quên đi sự thất vọng.
Khi cuộc đua của các thợ học nghề tiếp diễn, Philip đến và ngồi trên cỏ bên cạnh Tom. Nó là một ngày mùa hè nóng lực, và đầu hói của Philip lấm tấm mồ hôi. Sự thán phục Tom dành cho Philip lớn lên theo thời gian. Nhìn quanh, nhìn vào những người trẻ chạy trên cỏ, những cụ già ngủ gật trong bóng râm, và những đứa trẻ té nước trên sông, ông nhận ra rằng chính Philip là người đã gắn bó tất cả lại với nhau. Ông điều hành ngôi làng, thi hành công lý, quyết định căn nhà mới nên xây ở đâu, giải quyết tranh chấp; ông thuê hầu hết đàn ông và nhiều đàn bà nữa làm nhân công hoặc người phục vụ trong tu viện; và ông quản lý tu viện, trung tâm điều hành mọi việc. Ông chống lại các bá tước rình rập xâm chiếm, đàm phán với hoàng gia và giữ giám mục trong vị trí. Tất cả những người khỏe mạnh đang thi đua dưới ánh mặt trời này nhiều hay ít đều mang ơn Philip. Chính Tom là một thí dụ điển hình.
Tom rất ý thức về sự khoan hồng của Philip đã ân xá cho Ellen. Đối với một tu sĩ, nó không dễ để có thể tha thứ những gì bà ấy đã làm. Và điều đó có ý nghĩa lớn đối với Tom. Khi bà ấy đi xa, niềm vui xây dựng nhà thờ của ông bị nhạt vì cô đơn. Bây giờ, bà ấy đã trở về, ông cảm thấy thỏa mãn. Mặc dù bà ấy vẫn cứng đầu, hay gây gỗ và không muốn thua ai, nhưng một cách nào đó nó trở thành không quan trọng: một niềm đam mê trong bà cháy như một ngọn nến trong đèn lồng, và nó thắp sáng cuộc đời ông.
Tom và Philip quan sát cuộc đua, trong đó các chàng trai phải đi bằng tay: Jack thắng cuộc. “Cậu trai đó đặc biệt,” Philip nói.
“Không có nhiều người có thể đi nhanh bằng tay,” Tom nói.
Philip cười. “Thật vậy – nhưng tôi không nói về kỹ năng nhào lộn của cậu ấy.”
“Tôi biết.” Sự thông minh của Jack từ lâu đã là niềm vui và nỗi đau của Tom. Jack có một sự tò mò sáng tạo về việc xây dựng – một cái gì đó mà Alfred thiếu – và Tom thích dạy cậu những mánh lới của thương mại. Nhưng Jack thiếu sự khéo léo trong xử thế và hay cãi lại người lớn tuổi hơn mình. Tốt hơn nên che giấu ưu thế của mình, nhưng Jack chưa học được điều đó, ngay cả sau nhiều năm bị Alfred bắt nạt.
“Chàng trai cần được giáo dục,” Philip tiếp tục.
Tom cau mày. Jack đã được học. Cậu ấy là thợ học nghề. “Ý ông muốn nói gì?”
“Cậu ấy nên học thêm viết, học văn phạm Latin, và đọc những triết gia cổ đại.”
Tom càng bối rối hơn. “Để làm gì? Cậu ấy sẽ là một thợ xây.”
Philip nhìn vào mắt ông. “Ông có chắc chắn không?” ông hỏi. “Cậu ấy là một chàng trai không làm những gì ông chờ đợi.”
Tom đã chẳng bao giờ nghĩ về điều này. Có những người trẻ không theo kỳ vọng của người khác: con của lãnh chúa từ chối chiến đấu, con cái vua chúa gia nhập tu viện, con ghẻ của nông dân thành giám mục. Thật vậy, Jack thuộc mẫu người này. “Vâng, ông nghĩ cậu sẽ làm gì?” ông hỏi.
“Nó tùy thuộc vào việc cậu ấy học gì,” Philip nói. “Nhưng tôi muốn cậu ấy làm việc cho giáo hội.”
Tom rất ngạc nhiên: Jack dường như không thích giới giáo sĩ. Tom bị một chút thương tổn. Ông ước mong Jack trở thành thợ xây dựng tổng thể chính, và ông sẽ thật sự thất vọng nếu cậu chọn con đường khác trong đời sống.
Philip không chú ý đến nét không vui của Tom. Ông tiếp tục: “Thiên Chúa cần những người trẻ tốt nhất và thông minh nhất để làm việc cho Ngài. Hãy nhìn vào những người học nghề đang cạnh tranh xem ai có thể nhẩy cao nhất. Tất cả họ có khả năng để trở thành thợ mộc, thợ xây hay thợ cắt đá. Nhưng bao nhiêu người trong số họ có thể trở thành giám mục? Chỉ có một - Jack.”
Điều đó đúng, Tom nghĩ. Nếu Jack có cơ hội tiến thân trong giáo hội, với người bảo trợ mạnh mẽ như Philip, cậu nên lợi dụng cơ hội đó, bởi vì nó sẽ đem đến sự giầu sang và quyền lực hơn một thợ xây. Tom nói miễn cưỡng: “Ông đã có dự tính gì rõ ràng với cậu ấy chưa?”
“Tôi muốn Jack trở thành một tập sinh trong tu viện.”
“Một tu sĩ?” Đời sống tu sĩ còn khó thích hợp với Jack hơn là đời sống linh mục. Cậu chống lại ngay cả luật lệ trong công trường xây dựng – làm sao cậu có thể hòa nhập trong luật lệ của tu viện?
“Cậu ấy sẽ dùng hầu hết thời giờ để học hỏi,” Philip nói. “Cậu ấy sẽ học mọi thứ mà cha giáo tập có thể dạy cậu, và chính tôi sẽ dạy thêm cho cậu ấy.”
Khi một cậu bé gia nhập tu viện, thông thường bố mẹ em dâng cúng rộng rãi cho tu viện. Tom tự hỏi không biết một đề nghị như thế sẽ phải trả bao nhiêu.
Philip đoán được điều ông nghĩ. “Tôi không chờ đợi ông tặng cho tu viện điều gì,” ông nói. “Nó đủ rồi, khi ông trao con ông cho Chúa.”
Điều mà Philip không biết là Tom đã cho tu viện một người con: bé Jonathan, người đang chèo thuyền ở bờ sông với chiếc áo choàng kéo lên tới ngang hông. Tuy nhiên, Tom biết mình nên kìm hãm cảm xúc trong việc này. Đề nghị của Philip rất rộng lượng, rõ ràng ông rất để ý đến Jack. Đề nghị này cho Jack một cơ hội lớn. Một người bố sẽ sẵn sàng cho con mình có một cơ hội tiến thân như thế. Tom giận vì con ghẻ của ông chứ không phải con ruột Alfred của ông là người được cho cơ hội tuyệt vời này. Cảm xúc này không xứng đáng và ông vội nén xuống. Ông nên vui mừng, khuyến khích Jack và hy vọng chàng trai sẽ học cách hòa mình với đời sống tu viện.
“Chuyện này phải làm ngay,” Philip thêm vào. “Trước khi cậu ấy phải lòng cô gái nào.”
Tom gật đầu. Nhìn qua đồng cỏ, cuộc thi của phụ nữ sắp đến đích. Tom quan sát. Sau một lúc ông nhận ra Ellen đang dẫn trước. Aliena theo sát bà, nhưng khi họ về đích Ellen vẫn đến trước hơn một chút. Bà giơ tay ra dấu hiệu chiến thắng.
Tom chỉ vào bà và nói với Philip. “Không phải tôi mà bà ấy mới là người cần thuyết phục.”
Aliena ngạc nhiên vì bị Ellen đánh bại. Ellen là mẹ của một cậu bé mười bẩy tuổi, nhưng ít nhất cô vẫn hơn Aliena mười tuổi. Họ cười với nhau khi họ thở hổn hển và toát mồ hôi trên vạch đến. Aliena quan sát thấy Ellen có đôi chân rắn chắc và hình dáng gọn gàng. Những năm tháng trong rừng làm bà dẻo dai.
Jack đến chúc mừng mẹ chiến thắng. Họ rất thương nhau, Aliena có thể nói như thế. Họ hoàn toàn khác nhau: Ellen có làn da ngâm đen và đôi mắt sâu màu vàng nâu, trong khi Jack có mái tóc đỏ và mắt xanh. Cậu phải giống bố cậu, Aliena nghĩ. Không ai biết gì về bố của Jack, chồng trước của Ellen. Có lẽ họ mắc cở về ông.
Khi cô nhìn hai người bên nhau, Aliena chợt nghĩ rằng Jack phải gợi Ellen nhớ về người chồng bà đã mất. Đó là lý do tại sao bà thương cậu. Có lẽ người con trai là những gì còn lại của người đàn ông mà bà ngưỡng mộ. Sự giống nhau về hình dáng có thể có một sức mạnh ghê gớm. Em của Aliena, Richard, một đôi khi làm cô nhớ về bố cô, qua một cái nhìn hay một cử chỉ, và đó là lúc cô cảm thấy một cảm xúc dâng tràn; mặc dù nó không ngăn cản cô ước muốn Richard có cá tính giống bố cô hơn.
Cô biết cô không nên không hài lòng với Richard. Cậu đã ra chiến trường và chiến đấu dũng cảm, và đó là những gì có thể đòi hỏi nơi cậu. Nhưng những ngày này cô có nhiều điều không hài lòng. Cô có sự giầu sang và ổn định, một căn nhà và người phục vụ, quần áo đẹp, đồ trang sức sang trọng và một vị trí được tôn trọng trong thị trấn. Nếu có người nào hỏi, cô sẽ trả lời là cô hạnh phúc. Nhưng bên dưới vỏ bên ngoài là một dòng sóng ngầm của thao thức. Cô chẳng bao giờ mất hứng thú làm việc, nhưng vào một số buổi sáng cô băn khoăn tự hỏi việc cô mặc áo gì có quan trọng không, việc cô đeo nữ trang có cần thiết không. Không ai để ý đến việc cô ăn mặc ra sao, vì thế tại sao cô phải mặc đẹp? Nghịch lý thay, cô dần dần ý thức hơn về thân thể của mình. Khi cô đi loanh quanh, cô cảm thấy ngực mình chuyển động. Khi cô xuống tắm ở khu vực dành cho phụ nữ bên bờ sông, cô xấu hổ vì cô có quá nhiều lông. Ngồi trên lưng ngựa cô nhận thức được phần thân thể cô chạm vào yên ngựa. Cảm giác thật lạ. Nó giống như có một kẻ rình trộm theo dõi cô mọi lúc, cố nhìn cô trần truồng qua quần áo cô đang mặc, và kẻ rình trộm đó chính là cô. Cô đang xâm phạm chính bầu khí riêng tư của cô.
Cô nằm xuống trên cỏ, thở hổn hển. Mồ hôi chẩy xuống giữa ngực và bên trong đùi cô. Sốt ruột cô nghĩ về vấn đề cụ thể trước mắt. Cô đã không bán hết được số len trong năm nay. Nó không phải là do lỗi của cô: hầu hết các thương gia vẫn còn dư lại số len không bán được, và ngay cả Tu viện trưởng Philip cũng vậy. Philip vẫn bình tĩnh, nhưng Aliena lo lắng. Cô sẽ làm gì với số len còn lại này? Dĩ nhiên cô có thể giữ nó lại cho năm tới. Nhưng chuyện gì sẽ xẩy ra khi năm tới cô lại không bán được? Cô không biết len thô giữ được bao lâu. Cô có cảm giác nó sẽ bị khô, trở nên giòn và khó có thể biến chế.
Nếu mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn, cô sẽ không có khả năng hỗ trợ cho Richard. Nó rất tốn kém để là một hiệp sĩ. Con ngựa chiến giá hai mươi bảng Anh đã bị mất tính khí trong cuộc chiến ở Lincoln và bây giờ nó dường như vô dụng; chẳng bao lâu nữa cậu sẽ cần con khác. Aliena có khả năng chi cho việc đó nhưng nó sẽ thâm vào nguồn vốn của cô. Richard mắc cở vì phải phụ thuộc tài chính vào cô – nó không phải là trường hợp thông thường đối với một hiệp sĩ – và cậu đã hy vọng có thể tự nuôi sống mình qua việc cướp bóc, nhưng gần đây cậu lại ở bên phía thua trận. Nếu cậu muốn lấy lại lãnh địa, Aliena sẽ phải tiếp tục có được kinh tế ổn định.
Trong cơn ác mộng cô đã mơ thấy mình mất hết tiền bạc và họ lại trắng tay, lại trở thành nạn nhân của vị linh mục không trung thực, của hàng quý tộc phóng đãng và của những người trộm cướp khát máu; và họ kết thúc trong ngục tối hôi hám, nơi họ đã gặp bố họ bị xích vào tường và chết.
Tương phản với cơn ác mộng, cô đã có một giấc mơ hạnh phúc. Trong đó cô và Richard sống chung với nhau trong lâu đài, trong tòa nhà cũ của họ. Richard cai trị khôn ngoan như bố cô, và Aliena giúp cậu như đã giúp bố cô, chào đón những khách quan trọng, phân phát nơi ăn chốn ở cho người cần đến và ngồi bên tay trái cậu trong bữa ăn. Nhưng sau này, ngay cả những giấc mơ đó vẫn để lại trong cô sự trống rỗng.
Cô lắc đầu, xua tan tâm trạng u sầu này và lại nghĩ về len. Cách đơn giản nhất để giải quyết vấn đề là không làm gì cả. Cô có thể lưu trữ các len thặng dư cho đến năm sau, và rồi, nếu không thể bán được, cô sẽ chấp nhận thiệt thòi. Cô có thể chịu đựng được. Tuy nhiên, nó sẽ nguy hiểm khi chuyện này lại tiếp tục xẩy ra, và nó sẽ là khởi đầu của con đường thất bại. Cô phải tìm kiếm một giải pháp khác. Cô đã cố bán len cho một người thợ dệt ở Kingsbridge, nhưng ông ấy đã có tất cả những gì ông cần.
Nhìn các phụ nữ Kingsbridge đang lấy lại sức trên bãi cỏ sau cuộc đua, Aliena thấy hầu hết họ đều biết cách làm vải từ len thô. Nó là một công việc buồn tẻ nhưng đơn giản: các nông dân đã biết làm nó từ thời sơ khai. Lông cừu được rửa sạch, sau đó chải cho nó không vướng vào nhau, rồi xe thành sợi. Sợi được dệt thành vải, rồi được hồ để sẵn sàng làm thành quần áo. Các phụ nữ có lẽ sẽ làm việc đó với giá một xu một ngày. Nhưng cô sẽ cần bao lâu? Và giá sản phẩm sẽ là bao nhiêu?
Cô sẽ phải thử dự án này với số lượng nhỏ. Rồi, nếu có kết quả, cô sẽ nhận thêm nhân công làm việc trong suốt buổi tối dài mùa đông.
Cô ngồi dậy, hoàn toàn phấn khởi với ý tưởng mới này. Ellen nằm bên cạnh cô. Jack ngồi phía bên kia Ellen. Cậu bắt gặp ánh mắt Aliena, mỉm cười rồi quay đi như thể cậu xấu hổ vì bị bắt gặp đang nhìn cô. Cậu là một chàng trai vui vẻ, có đầy ý tưởng trong đầu. Aliena vẫn còn nhớ khi cậu còn là một đứa bé ngộ nghĩnh chưa biết trẻ con được thụ thai ra sao. Nhưng cô đã chú ý đến cậu khi cậu chuyển vào sống ở Kingsbridge. Và bây giờ cậu đã khác xưa, hoàn toàn là một con người mới, như thể cậu đến từ hư không, như một cây hoa xuất hiện vào một buổi sáng mai mà ngày hôm trước chỗ đó vẫn không có gì, ngoài mặt đất trần trụi. Trước hết cậu không còn trông kỳ cục. Trong thực tế, cô nghĩ, nhiều cô gái nghĩ cậu đẹp trai kinh khủng. Chắc chắn cậu có nụ cười duyên dáng. Cô không quan tâm đến diện mạo của cậu, nhưng cô bị thu hút bởi trí tưởng tượng đáng ngạc nhiên của cậu. Cô phát hiện ra rằng cậu không những biết nhiều câu truyện kể bằng thơ – một số có hàng ngàn và hàng ngàn câu – nhưng cậu còn ứng khẩu được, vì thế cô không chắc chắn cậu nhớ được hay cậu tự chế thêm. Và cậu không chỉ hấp dẫn vì những câu truyện. Cậu tò mò về nhiều chuyện và băn khoăn về những chuyện mà người khác cho là tự nhiên. Có một ngày cậu đã hỏi nước từ dòng sông ở đâu mà có. “Mỗi giờ, hàng ngàn và hàng ngàn thùng nước chảy qua Kingsbridge, ngày và đêm, trong cả năm trời. Nó đã chảy từ trước khi chúng ta sinh ra, từ trước khi cha mẹ chúng ta sinh ra, từ trước khi cha mẹ của cha mẹ chúng ta sinh ra. Nó đến từ đâu? Có một hồ nước lớn ở đâu đó nuôi dưỡng nó không? Như thế cái hồ đó phải lớn hơn toàn nước Anh! Chuyện gì xẩy ra nếu chiếc hồ đó khô đi?” Cậu luôn luôn nói về những chuyện như thế hoặc ít tưởng tượng hơn, và nó làm Aliena nhận ra rằng cô thèm khát những cuộc chuyện trò thông minh. Hầu hết cư dân Kingsbridge chỉ có thể nói về nông nghiệp và ngoại tình, những chuyện không làm cô thích thú. Dĩ nhiên Tu viện trưởng Philip khác thế, nhưng ông không tham gia các cuộc nói chuyện nhàn rỗi; ông luôn bận rộn, đối phó với công việc xây dựng, với các tu sĩ hay thành phố. Aliena cho rằng thợ xây Tom cũng rất thông minh, nhưng ông là người nghĩ nhiều hơn nói. Jack là người bạn thực sự đầu tiên của cô. Cậu là một khám phá tuyệt vời, mặc dù cậu còn trẻ. Thực vậy, khi cô đi xa Kingsbridge, cô đã mong ước được trở về để có thể nói chuyện với cậu.
Cô tự hỏi cậu đã có những ý tưởng đó từ đâu. Ý nghĩ đó làm cô chú ý đến Ellen. Bà phải là người như thế nào để có thể nuôi con trong rừng! Aliena đã nói chuyện với Ellen và khám phá ra nơi bà một tinh thần giống như nơi cô, một phụ nữ độc lập và tự lập, và một cách nào đó tức giận với cách mà đời sống xã hội đã đối xử với bà. Bây giờ, trong cơn bất đồng, Aliena nói: “Ellen, bà đã học những câu truyện ở đâu?”
“Từ bố của Jack,” Ellen nói không cần suy nghĩ, nhưng rồi khuôn mặt bà thận trọng hơn, và Aliena biết không nên hỏi thêm nữa.
Một tư tưởng khác xuất hiện. “Bà có biết dệt không?”
“Dĩ nhiên,” Ellen nói. “Ai mà không biết?“
„Bà có muốn dệt để kiếm tiền không?“
„Có thể. Cô có ý gì trong đầu?”
Aliena giải thích. Ellen không thiếu tiền, dĩ nhiên, nhưng Tom là người kiếm ra tiền, và Aliena nghi ngờ bà cũng muốn tự kiếm một số tiền.
Những dự đoán thành đúng. „Vâng, tôi sẽ cố thử,“ Ellen nói.
Vào lúc đó con ghẻ của Ellen, Alfred, đi ngang. Giống bố, Alfred là người to lớn. Hầu hết mặt cậu được dấu đàng sau bộ râu rậm rạp, nhưng cặp mắt bên trên nhỏ, nên cậu nhìn có vẻ xảo quyệt. Cậu có thể đọc, viết là làm toán, nhưng mặc dù vậy cậu vẫn ngu ngốc. Tuy nhiên cậu có cuộc sống sung túc và có băng làm việc riêng, gồm các thợ xây, thợ học nghề và lao công. Aliena thấy rằng những người to lớn thường chiếm được vị trí quyền lực, không tùy thuộc vào trí thông minh của họ. Alfred còn có một lợi thế khác, dĩ nhiên: vì bố cậu là thợ xây dựng chính của nhà thờ chính tòa, nên cậu chắc chắn luôn tìm được việc làm cho nhóm của cậu.
Cậu ngồi trên cỏ bên cạnh cô. Bàn chân to lớn của cậu xỏ trong đôi giày da đầy bụi đá. Cô ít khi nói chuyện với cậu. Chính ra họ có nhiều điểm chung, bởi vì họ là những người trẻ duy nhất thuộc tầng lớp giầu sang ở Kingsbridge, tầng lớp sống trong những căn nhà gần bức tường tu viện; nhưng Alfred luôn tỏ ra đần độn. Một lúc sau cậu đột ngột nói: “Đó phải là nhà thờ bằng đá.”
Hiển nhiên cậu chờ đợi mọi người tìm ra điều cậu muốn nói. Aliena nghĩ một lúc rồi nói: “Anh muốn nói về nhà thờ giáo xứ trong làng phải không?”
“Đúng,” cậu nói như đó là chuyện đương nhiên.
Nhà thờ xứ hiện nay được sử dụng nhiều vì nhà nguyện dưới tầng hầm của nhà thờ chính tòa, nơi các tu sĩ thường dùng, chật hẹp và thiếu không khí, và dân số của Kingsbridge đã gia tăng. Tuy nhiên nhà thờ xứ vẫn là một kiến trúc bằng gỗ với mái tranh và nền đất.
“Anh có lý,” Aliena nói. “Chúng ta nên có nhà thờ đá.”
Alfred nhìn cô chờ đợi. Cô tự hỏi không biết cậu ấy chờ đợi cô điều gì.
Ellen có lẽ đã quen đọc ý cậu, cô nói: “Cháu có ý gì trong đầu, Alfred?”
“Nhà thờ được bắt đầu như thế nào?” cậu hỏi. “Ý tôi muốn nói, nếu chúng ta muốn một nhà thờ đá, chúng ta phải làm gì?”
Ellen nhún vai. “Không biết.“
Aliena cau mày. „Anh có thể thành lập một hiệp hội giáo xứ,“ cô đề nghị. Một hiệp hội giáo xứ là một hội của những người lâu lâu tổ chức các bữa tiệc gây quỹ, hoặc đóng góp với nhau, thường để mua nến cho nhà thờ của họ, hay để giúp đỡ những góa phụ và trẻ mồ côi trong khu phố. Những ngôi làng nhỏ chẳng bao giờ có hiệp hội, nhưng Kingsbridge không còn là một làng nữa.
„Làm sao để có thể trả tiền xây nhà thờ?“ Alfred hỏi.
„Các thành viên của hiệp hội sẽ trả cho việc xây nhà thờ mới,“ Aliena nói.
„Vậy chúng ta nên bắt đầu một hiệp hội,“ Alfred nói.
Aliena tự hỏi không biết cô có đánh giá cậu sai không. Cậu chẳng bao giờ tỏ ra là đạo đức, nhưng bây giờ cậu đang cố gắng quyên tiền để xây một nhà thờ mới. Có lẽ cậu đã dấu chiều sâu của cậu. Rồi cô nhận ra cậu là nhà thầu xây dựng duy nhất ở Kingsbridge, vì thế cậu chắc chắn sẽ nhận công việc xây dựng nhà thờ mới. Cậu không thông minh, nhưng cậu đủ khôn ngoan.
Tuy nhiên cô vẫn thích ý tưởng của cậu. Kingsbridge là một thị trấn, và thị trấn luôn luôn có nhiều nhà thờ. Nếu có một nhà thờ khác bên cạnh nhà thờ chính tòa, thị trấn không hoàn toàn bị chi phối bởi tu viện. Hiện nay, không cần chối cãi, Philip là chủ và là người lãnh đạo ở đây. Và mặc dù ông là một nhà lãnh đạo nhân từ, nhưng cô có thể nhìn thấy trước một lúc nào đó các thương gia có thể muốn có một nhà thờ riêng.
Alfred nói: „Cô có thể cắt nghĩa cho một số người khác về hiệp hội được không?“
Aliena đã hồi sức sau cuộc đua. Mặc dù cô không thích bỏ cuộc nói chuyện với Ellen và Jack để đi theo Alfred, nhưng cô hoàn toàn phấn khích về ý tưởng của cậu, ngoài ra nó cũng bủn xỉn khi từ chối. „Tôi rất sẵn lòng,“ cô nói, và cô đứng lên đi với cậu ấy.
Mặt trời xuống dần. Các tu sĩ thắp lửa trại và phân phát bia truyền thống với hương vị gừng. Jack muốn hỏi mẹ một câu, bây giờ họ ở một mình nhưng cậu lo lắng. Rồi một người nào đó cất lên tiếng hát, và cậu biết mẹ cậu sẽ nhập cuộc ngay, vì thế cậu buột miệng: „Có phải bố con là một người hát rong không?“
Bà nhìn cậu. Bà ngạc nhiên nhưng không tức giận. „Ai đã dạy con chữ đó?“ bà nói. „Con chưa bao giờ gặp một người hát rong.“
„Aliena. Cô ấy thường đi Pháp với bố cô.“
Bà mẹ nhìn lướt qua đồng cỏ tối mò đến khu lửa trại.
„Đúng, bố con là người hát rong. Bố con đã kể cho mẹ những vần thơ này, như mẹ đã kể nó cho con. Và bây giờ con kể cho Aliena nghe phải không?“
„Vâng.“ Jack cảm thấy bẽn lẽn.
„Con thật sự yêu cô ấy, phải không?”
„Điều đó hiển nhiên lắm sao?“
Bà cười trìu mến. „Chỉ có mẹ mới biết, mẹ nghĩ như vậy. Cô ta hơn tuổi con.”
“Năm tuổi.”
“Con sẽ có được cô ấy. Con giống bố con. Ông có thể có bất cứ người đàn bà nào ông muốn.”
Jack bối rối khi nói về Aliena, nhưng thích thú nghe về bố cậu, và cậu muốn biết thêm; nhưng cậu khó chịu vì vừa vào lúc đó Tom đến và ngồi xuống bên cạnh họ. Ông bắt đầu nói ngay. “Tôi đã nói chuyện với Tu viện trưởng Philip về Jack,” ông nói. Giọng ông nhẹ nhàng nhưng Jack cảm thấy có một chút căng thẳng và nhìn thấy những trục trặc đang đến. “Philip nói cậu bé cần được học hành.”
Bà mẹ phẫn nộ. “Cậu ấy đã được học hành,” bà nói. “Cậu ấy có thể đọc và viết tiếng Anh và tiếng Pháp. Cậu ấy biết làm tính và có thể học thuộc lòng cả một tập thơ –“
“Thôi, đừng hiểu lầm ý tôi,” Tom nói rõ ràng. “Philip không nói rằng Jack ngu dốt. Hoàn toàn ngược lại. Ông nói rằng Jack quá thông minh, nên cậu ấy cần học thêm.”
Jack không hài lòng vì những lời khen ngợi này. Cậu có cùng quan điểm ngờ vực về những người của giáo hội như mẹ cậu. Chắc chắn có một điều gì trong chuyện này.
“Hơn?” Ellen nói một cách khinh bỉ. „Tu sĩ đó muốn cậu ấy học thêm cái gì? Tôi nói cho anh. Thần học. Latin. Hùng biện. Siêu hình học. Cứt bò!“
„Đừng vội vàng bỏ qua,“ Tom nói mềm mại. „Nếu Jack nhận lời đề nghị của Philip, và đến trường, học viết nơi một thư ký tốt, nghiên cứu Latin và thần học và tất cả các môn mà em gọi là cứt bò, cậu ấy có thể trở thành thư ký của một lãnh chúa hay của một giám mục và cậu ấy có thể trở thành người giầu sang và quyền thế. Không phải tất cả bá tước là con của bá tước, như người ta thường nói.“
Mắt Ellen nheo lại một cách đáng sợ. „Vậy đề nghị của Philip là gì?“
„Jack trở thành một tập sinh của tu viện –„
„Trèo qua xác của em!“ Ellen hét lên, đứng bật lên. „Giáo hội đáng nguyền rủa này không thể có được con tôi! Những linh mục nói dối nguy hiểm này đã lấy bố của cậu ấy, nhưng họ không lấy được cậu ấy. Em sẽ đâm dao vào bụng Philip, em thề trước các thần thánh.“
Tom đã nhìn thấy bà trong lúc giận trước đây và ông không bị chi phối lắm. Ông bình tĩnh nói: „Cái gì đã xẩy ra cho em? Cậu bé được cho một cơ hội tuyệt vời.“
Jack bị tò mò bởi câu ‚những linh mục nói dối nguy hiểm này đã lấy bố của cậu.‘ Bà muốn nói gì qua câu đó? Cậu muốn hỏi bà nhưng cậu không có cơ hội.
„Cậu ấy sẽ không trở thành tập sinh!“ bà la lên.
„Nếu cậu ấy không muốn thành tu sĩ, cậu ấy không phải theo những gì Philip đề nghị.“
Bà mẹ nhìn hờn dỗi. „Vị tu viện trưởng ranh mãnh này có tài đạt được những gì mình muốn,“ bà ta nói.
Tom quay sang Jack. „Đây là lúc con nên nói điều gì. Con muốn gì cho cuộc đời con?“
Jack chưa bao giờ nghĩ về câu hỏi cụ thể như thế, nhưng câu trả lời phát ra không do dự, như thể cậu đã quyết tâm từ lâu. „Con muốn trở thành thợ xây dựng chính, giống dượng,“ cậu nói. „Con sẽ xây một nhà thờ chính tòa đẹp nhất mà thế giới chưa từng thấy.“
Màu đỏ của mặt trời lặn dưới chân trời và màn đêm buông xuống. Nó là thời điểm cho nghi thức kết thúc của lễ hội đêm hè: những ước mơ nổi trên mặt nước. Jack đã chuẩn bị một khúc nến và một mảnh gỗ. Cậu nhìn Ellen và Tom. Cả hai nhìn chằm chằm vào cậu, một chút bối rối: sự chắc chắn của cậu về tương lai của cậu đã làm họ ngạc nhiên. Vâng, không có gì lạ vì nó cũng làm cho chính cậu ngạc nhiên.
Thấy rằng không còn gì để nói, cậu đứng bật dậy và chạy băng qua bãi cỏ đến bên đống lửa. Cậu châm một cành khô vào lửa, hơ ngọn nến vào lửa cho tan chẩy và gắn lên tấm gỗ; sau đó cậu thắp nến. Hầu hết dân làng cũng làm như thế. Những người không thể mua nổi ngọn nến, họ làm một con thuyền bằng cỏ khô và dầu hắc ín, và xoắn cỏ với nhau thành một ngọn bấc ở giữa.
Jack nhìn thấy Aliena đứng gần cậu. Khuôn mặt cô sáng lên trong ánh lửa hồng, và cô chìm trong suy tư. Bốc đồng cậu nói: „Cô ước muốn điều gì, Aliena?“
Cô trả lời không cần suy nghĩ. „Hòa bình,“ cô nói. Sau đó cô quay đi.
Jack tự hỏi cậu có điên không khi yêu cô. Cô thích cậu – họ đã thành bạn với nhau – nhưng ý tưởng được nằm trần truồng với nhau và hôn làn da nồng cháy của nhau thì nó xa lạ với cô như nó gần gũi với cậu.
Khi ai đó đã sẵn sàng, họ quỳ gối xuống bên bờ sông hoặc bước xuống chỗ nước nông. Giữ chặt đèn bập bùng trong tay, họ ước muốn điều gì đó. Jack nhắm mắt lại và hình dung Aliena, nằm trên giường, bộ ngực trần, vươn bàn tay tới cậu và nói: „Chồng ơi, hãy đến và yêu em.“ Sau đó tất cả họ để đèn cẩn thận trên mặt nước. Nếu chiếc thuyền chìm hay ngọn nến tắt, nó có nghĩa là ước mơ của họ không bao giờ thành sự thật. Chẳng bao lâu sau, khi Jack đặt chiếc đèn trên mặt nước, nó chẩy đi xa, mảnh gỗ mất hút và chỉ có ánh lửa còn nhìn thấy được. Cậu chăm chú nhìn nó một lúc, cho đến khi cậu mất nó giữa hàng trăm ngọn nến khác đang nhẩy múa, bập bồng trên mặt nước. Những ước muốn chập chờn trôi nổi theo dòng nước cho đến khi nó mất hút sau khúc quanh của dòng sông và xa khỏi tầm mắt.
III
Cả mùa hè năm đó, Jack kể cho Aliena nghe những câu truyện.
Họ gặp nhau vào ngày chủ nhật nơi đồng cỏ bên thác nước nhỏ, lúc đầu thỉnh thoảng và càng về sau càng nhiều hơn. Cậu kể cho cô nghe về Charl Đại Đế và hiệp sĩ của ông, về William thành Orange và những người Saracens. Cậu chìm đắm trong câu truyện khi cậu kể. Aliena thích nhìn những biểu lộ thay đổi trên khuôn mặt trẻ của cậu. Cậu bất bình với sự bất công, ghê tởm sự phản bội, phấn khởi với sự dũng cảm của một hiệp sĩ và cảm động đến rơi lệ về những cái chết anh hùng; và cảm xúc dễ lây, vì thế cô cũng cảm động theo. Một vài bài thơ quá dài để có thể kể trong một buổi chiều, và khi cậu phải ngưng kể, cậu luôn luôn chấm dứt ở chỗ hồi hộp nhất, vì thế mà suốt cả tuần lễ Aliena tự hỏi điều gì sẽ xẩy ra tiếp.
Cô chẳng bao giờ kể cho ai biết về những buổi gặp gỡ này. Cô không biết chắc chắn tại sao. Có lẽ bởi vì họ không hiểu được sự hấp dẫn của câu truyện. Cho dù vì lý do nào, cô làm cho mọi người tin rằng đó chỉ là một cuộc đi dạo bình thường vào ngày chủ nhật của cô; và mặc dù không xếp đặt với cô, Jack cũng làm như vậy; và nó đi quá xa đến nỗi họ không thể kể cho ai nghe được mà không cảm thấy tội lỗi; và vì thế, do tình cờ, cuộc gặp gỡ trở thành bí mật.
Vào một ngày chủ nhật, để thay đổi, Aliena đọc cho cậu nghe “Câu truyện của Alexander”. Khác với những bài thơ của Jack về mưu đồ trong hoàng cung, chính trị thế giới và những cái chết bất ngờ trên chiến trường, câu truyện của Aliena nghiêng về tình yêu và ma thuật. Jack bị thu hút bởi yếu tố mới mẻ trong lối kể truyện này, và vào chủ nhật sau đó cậu bắt đầu kể một câu chuyện mới do cậu sáng tác.
Nó là một ngày nóng vào cuối tháng tám. Aliena mang dép và mặc áo lụa nhẹ. Khu rừng lặng im, không có tiếng động nào ngoài tiếng thác nước chẩy và giọng kể chuyện lên xuống của Jack. Như thông thường, câu truyện bắt đầu bằng sự miêu tả về một hiệp sĩ dũng cảm, to lớn và mạnh khỏe, hùng mạnh nơi chiến trường và được trang bị một gươm thần. Ông ta được giao cho một nhiệm vụ: đến một vùng đất Viễn Đông và mang về một cây nho trổ sinh hồng ngọc. Nhưng rồi câu truyện xẩy ra khác với mô hình thông thường. Chàng hiệp sĩ bị giết chết và câu truyện tập trung vào người cận thần, một thanh niên mười bẩy tuổi can đảm nhưng nghèo. Cậu ấy ước mơ được yêu con gái vua, một công chúa xinh đẹp. Khi chủ cậu chết, người cận thần chu toàn trách nhiệm đã được giao cho chủ cậu, ngay cả mặc dù cậu còn trẻ và thiếu kinh nghiệm và chỉ có một con ngựa và một cây cung.
Thay vì tiêu diệt kẻ thù với một nhát kiếm thần, như các chuyện tương tự thường kể về các anh hùng, người cận thần chiến đấu tuyệt vọng, thoát chết qua kẽ tóc và chỉ chiến thắng do may mắn và khéo léo. Cậu luôn sợ hãi trước kẻ thù mà cậu phải đối mặt – khác với chàng hiệp sĩ gan dạ của Charles Đại Đế - nhưng cậu không bao giờ từ bỏ sứ mạng của cậu. Tất cả, nhiệm vụ cũng như tình yêu, dường như đều vô vọng.
Aliena bị quyến rũ nhiều hơn bởi sự chân thành của người cận thần hơn là bởi quyền năng của chàng hiệp sĩ. Cô cắn đốt ngón tay sợ hãi khi cậu đi vào lãnh thổ quân thù, há hốc miệng khi thanh kiếm khổng lồ chém hụt cậu, và thở dài khi cậu đặt chiếc đầu cô đơn của mình xuống ngủ và mơ về nàng công chúa xa xôi. Tình yêu cậu dành cho nàng công chúa dường như không thể tách rời khỏi tính bất khuất của cậu.
Cuối cùng, cậu mang về cây nho trổ hồng ngọc trong sự ngạc nhiên của cả triều đình. “Nhưng người cận thần không quan tâm nhiều,” Jack nói với một cái búng tay khinh thường, “đến các bá tước và lãnh chúa. Cậu ấy chỉ quan tâm đến một người duy nhất. Buổi tối đó, cậu ấy lẻn vào phòng nàng công chúa, trốn tránh các vệ sĩ bằng xảo quyệt cậu đã học được trong cuộc hành trình về phương đông. Sau cùng, cậu đứng bên cạnh giường cô công chúa và nhìn vào khuôn mặt cô.” Jack nhìn vào mắt Aliena khi cậu nói. “Cô bất ngờ thức dậy, nhưng cô không sợ hãi. Người cận vệ đưa tay ra và nhẹ nhàng nắm lấy tay cô.” Jack đóng vai trong câu truyện, cậu đưa tay ra cho Aliena và nắm lấy cả hai tay cô trong tay cậu. Cô bị mê hoặc bởi ánh mắt mãnh liệt của cậu và sức mạnh tình yêu của người cận vệ, và cô hầu như không nhận ra rằng Jack đang nắm tay cô. “Người hầu cận nói với nàng công chúa: ‘Anh yêu em tha thiết’, rồi hôn lên môi cô.” Jack cúi xuống và hôn Aliena. Môi cậu đụng vào môi cô quá nhẹ nhàng đến nỗi cô khó cảm thấy được. Nó xẩy ra quá nhanh chóng, và cậu lại tiếp tục câu chuyện ngay. “Nàng công chúa dường như đang ngủ,” cậu tiếp tục. Aliena nghĩ: Có phải chuyện ấy xẩy ra thật không? Có phải Jack đã hôn tôi? Cô không thể tin chuyện đó, nhưng cô vẫn có thể cảm nhận sự đụng chạm của môi cậu trên môi cô. “Ngày hôm sau, người cận vệ xin vua cho cưới nàng công chúa như phần thưởng cho việc cậu đã mang cây nho trổ hồng ngọc về.” Jack hôn tôi mà không nghĩ ngợi, Aliena đi đến kết luận. Nó dường như là một phần của câu truyện. Cậu ấy ngay cả không nhận ra cậu ấy làm gì. Tôi sẽ quên nó đi. “Nhà vua từ chối người cận vệ. Cậu ấy rất đau lòng. Cả triều thần cười to. Ngày hôm đó người cận vệ rời quê hương trên con ngựa hoang; nhưng cậu thề rằng một ngày nào đó cậu sẽ trở về, và ngày đó cậu sẽ cưới nàng công chúa xinh đẹp.” Jack ngưng kể và buông tay Aliena ra.
“Rồi chuyện gì xẩy ra?” cô hỏi.
“Tôi không biết,” Jack trả lời. “Tôi chưa nghĩ thêm về nó.”
Tất cả những người quan trọng ở Kingsbridge đều gia nhập hiệp hội giáo xứ. Nó là một ý tưởng mới đối với hầu hết mọi người, nhưng họ nghĩ Kingsbridge bây giờ không còn là ngôi làng nữa mà là một thị trấn, và lời kêu gọi họ, những cư dân hàng đầu, giúp việc xây nhà thờ đá đã động chạm tới lòng tự cao tự đại của họ.
Aliena và Alfred chọn lựa các thành viên và tổ chức bữa ăn đầu tiên vào giữa tháng chín. Những người vắng mặt chính là Tu viện trưởng Philip, người không hài lòng với việc làm này, mặc dù ông không có đủ lý do để cấm nó; thợ xây Tom, người từ chối vì sợ mất lòng Philip; và Malachi, người không được mời vì khác biệt tôn giáo.
Trong khi đó Ellen đã dệt được một kiện vải từ len thặng dư của Aliena. Nó còn thô và không màu, nhưng cũng đủ tốt cho áo của các tu sĩ, và thầy quản lý tu viện, Cuthbert Whitehead, đã mua nó. Giá rẻ, nhưng nó vẫn còn mắc gấp đôi giá len nguyên chất, và ngay cả sau khi trả cho Ellen một xu một ngày, Aliena vẫn lời hơn nửa bảng Anh. Cuthbert còn muốn mua thêm nhiều vải với giá đó, vì thế Aliena mua len thặng dư của Philip thêm vào số len cô có trong kho, và thuê thêm cả chục người dệt vải, đa số là đàn bà. Ellen đồng ý dệt kiện khác nữa, nhưng từ chối không thôi vải, vì cô cho rằng công việc đó quá vất vả; và hầu hết công nhân khác cũng nói như vậy.
Aliena thông cảm họ. Hồ hay dậm là công việc khó nhọc. Cô nhớ lại khi cô cùng đi với Richard đến xin việc với thợ hồ vải chính ở Winchester. Người hồ vải có hai người đàn ông đập vải bằng gậy trong máng nước, trong khi một người đàn bà đổ thêm nước vào. Người đàn bà đã cho Aliena coi bàn ta thô và đỏ, và khi những người đàn ông đặt một kiện vải ướt lên vai Richard, cậu đã khụy xuống gối. Hầu hết mọi người có thể hồ một số lượng nhỏ đủ để may quần áo cho mình và gia đình, nhưng chỉ có những người đàn ông khỏe mạnh mới có thể làm việc đó suốt ngày. Aliena nói với những người dệt vải cứ tiếp tục dệt, và cô sẽ thuê các người đàn ông hồ nó hay bán nó cho thợ hồ vải ở Winchester.
Bữa ăn của hiệp hội giáo xứ được tổ chức trong nhà thờ gỗ. Aliena lo ẩm thực. Cô chia việc nấu ăn cho các thành viên, hầu hết họ có ít nhất một người giúp việc. Alfred và công nhân của cậu thiết kế một bàn dài. Họ mang đến bia mạnh và một thùng rượu nho.
Họ ngồi hai bên bàn, không có ai ngồi ở đầu hoặc cuối bàn, bởi vì trong hiệp hội mọi người đều bình đẳng. Aliena mặc một áo dài lụa màu đỏ đậm có gắn một chiếc trâm vàng cẩn hồng ngọc, và khoác một áo choàng viền lông màu xám đậm với tay áo thời trang rộng. Linh mục quản xứ đọc lời cầu nguyện: dĩ nhiên ông rất vui vì về ý tưởng thành lập hiệp hội này, bởi vì một nhà thờ mới sẽ tăng thêm uy tín của ông và gia tăng thu nhập.
Alfred trình bầy một dự thảo ngân sách và kế hoạch thời gian xây dựng nhà thờ mới. Cậu nói như thể cậu tự soạn ra, nhưng Aliena biết Tom đã chuẩn bị hầu hết. Tòa nhà sẽ xây dựng trong hai năm và tốn chín mươi bảng Anh, và Alfred đề nghị bốn mươi thành viên mỗi người sẽ đóng sáu xu hàng tuần. Số tiền đóng góp đó nhiều hơn dự tính của nhiều người, Aliena có thể đọc được điều đó trên nét mặt họ. Tất cả mọi người đồng ý trả, nhưng Aliena nghĩ một hai người sẽ từ chối.
Bản thân cô có thể trả nó dễ dàng. Nhìn quanh bàn, cô nhận ra có lẽ cô là người giàu nhất ở đây. Cô là một trong số ít phụ nữ hiện diện: ngoài cô ra chỉ còn một bà chủ hãng bia, người nổi tiếng về bia mạnh ngon, một bà thợ may có hai nhân viên và một số người học việc, và một góa phụ của thợ đóng giày, người tiếp tục công việc chồng bà để lại. Aliena là phụ nữ trẻ nhất, và trẻ hơn mọi người đàn ông có mặt, ngoại trừ Alfred, người trẻ hơn cô một hai tuổi.
Aliena nhớ Jack. Cô chưa nghe phần thứ hai của câu truyện về người hầu cận trẻ. Hôm nay là ngày lễ nghỉ, và cô thích gặp cậu ở khu rừng vắng. Có lẽ trễ hơn, cô vẫn có thể đi.
Cậu chuyện quanh bàn xoay quanh cuộc nội chiến. Vợ của Stephen, hoàng hậu Matilda đã chiến đấu mạnh hơn mọi người tưởng: thời gian gần đây bà đã chiếm lại Winchester và bắt giữ Robert thành Gloucester. Robert là anh của nữ hoàng Maud và là tổng tư lệnh quân đội của bà. Một vài người nói Maud chỉ là bù nhìn, còn Robert mới thực sự là người chỉ huy cuộc khởi nghĩa. Trong mọi trường hợp, sự bắt giữ Robert mang lại bất lợi cho Maud như cuộc bắt giữ Stephen mang lại bất lợi cho nhóm trung thành, và mọi người có ý kiến khác nhau về cuộc chiến sẽ đi theo hướng nào.
Thức uống trong buổi tiệc là rượu mạnh hơn thứ mà Tu viện trưởng Philip thường cung cấp, và bữa ăn càng kéo dài, người tham dự càng trở nên lè nhè. Linh mục chánh xứ không còn nhiều ảnh hưởng, có lẽ bởi vì ông cũng uống nhiều như những người khác. Alfred, người ngồi gần Aliena, dường như đắn đo, nhưng ngay cả cậu cũng đỏ ửng. Aliena không thích rượu mạnh và cô đã dùng một ly nước táo trong bữa ăn.
Khi đồ ăn đã cạn, một số người đề nghị nâng ly rượu chúc mừng Alfred và Aliena. Alfred cười rạng rỡ. Sau đó đến phần văn nghệ và Aliena băn khoăn làm sao cô có thể thoát ra ngoài nhanh được.
Alfred nói với cô: “Chúng ta đã thành công.”
Aliena mỉm cười. “Hãy chờ xem năm sau còn bao nhiêu người đóng sáu xu hàng tuần.”
Alfred không muốn nghe về chuyện thất bại hay sự dè dặt hôm nay. “Chúng ta đã làm tốt,” cậu lập lại. “Chúng ta là một nhóm làm việc tốt.” Cậu nâng chén về phía cô rồi uống. “Cô có nghĩ chúng ta là một nhóm làm việc tốt không?”
“Chắc chắn rồi,” cô nói cho cậu vui.
“Tôi thích nó,” cậu tiếp tục. “Làm việc này với cô – hiệp hội, tôi muốn nói.”
“Tôi cũng thích nữa,” cô lịch sự trả lời.
“Thật không? Nó làm tôi hạnh phúc.”
Cô nhìn cậu kỹ hơn. Tại sao cậu ấy lại nhấn mạnh đến chuyện này? Câu nói của cậu ấy rõ ràng và minh bạch, và cậu ấy không có vẻ gì là say rượu. “Nó thật đẹp,” cô nói chung chung.
Cậu đặt một tay lên vai cô. Cô ghét bị đụng vào nhưng cố giữ bình tĩnh, bởi vì đàn ông dễ bị xúc phạm. “Hãy nói điều gì đó với tôi,” cậu nói, hạ thấp giọng như thật gần gũi. “Cô chờ đợi gì nơi người chồng?”
Mong rằng cậu ấy không ngỏ lời kết hôn với tôi, cô u sầu nghĩ. Cô đưa ra câu trả lời như mọi khi: “Tôi không cần chồng – em trai tôi đã đủ phức tạp rồi.”
“Nhưng cô cần tình yêu,” cậu nói.
Cô thầm rên rỉ.
Cô đang định trả lời thì cậu giơ tay ngăn cô lại – một thái độ của đàn ông mà cô cho là điên rồ. “Đừng nói với tôi là cô không cần tình yêu,” cậu nói. “Mọi người đều cần tình yêu.”
Cô nhìn thẳng vào cậu. Cô biết cô là thành phần đặc biệt: hầu hết phụ nữ đều ham thích kết hôn; và nếu họ vẫn còn độc thân, như cô chẳng hạn, ở lứa tuổi hai mươi hai, họ còn ham muốn hơn, họ tuyệt vọng. Điều gì khác nơi tôi? Cô nghĩ. Alfred còn trẻ, khỏe mạnh và thành công: một nửa phụ nữ ở Kingsbridge muốn lấy cậu. Trong một khoảnh khắc cô định đùa giỡn nói có. Nhưng khi nghĩ về đời sống thực tế với Alfred, cùng ăn với cậu mỗi tối và đi nhà thờ với cậu và sinh con với cậu, cô thấy kinh khủng. Thà rằng cô cô đơn. Cô lắc đầu. “Hãy quên đi, Alfred,” cô nói dứt khoát. “Tôi không cần một người chồng, vì tình yêu hay vì chuyện gì khác.”
Cậu không chùn bước. “Anh yêu em, Aliena,” cậu nói. “Làm việc với em, anh thật sự hạnh phúc. Anh cần em. Em có muốn làm vợ anh không?”
Cậu ấy đã nói ra. Cô rất tiếc, bởi vì cô sẽ phải từ chối cậu ấy một cách chính thức. Cô đã học rằng trong vấn đề này không nên cố gắng dịu dàng, bởi vì họ nghĩ một lời từ chối tử tế là dấu hiệu của do dự, và họ sẽ ép thêm. “Không, tôi không muốn,” cô nói. “Tôi không yêu anh và không thích làm việc với anh, và ngay cả nếu anh là người đàn ông duy nhất trên cõi đời này, tôi cũng không lấy anh.”
Cậu bị tổn thương. Có lẽ cậu nghĩ cơ hội của cậu rất lớn. Aliena nghĩ cô đã không làm điều gì đó để khuyến khích cậu. Cô đã đối xử với cậu như một đối tác bình đẳng, lắng nghe cậu khi cậu nói, nói với cậu thẳng thắn và trực tiếp, làm tròn trách nhiệm của mình và chờ đợi cậu hoàn thành trách nhiệm của cậu. Nhưng một số người cho rằng đó là sự khuyến khích để tiến tới. “Làm sao em có thể nói những lời đó?” Cậu lắp bắp.
Cô thở dài. Cậu bị tổn thương và cô cảm thấy tiếc cho cậu; nhưng vào lúc nào đó cậu sẽ nổi giận và hành động như thể cô đã sỉ nhục cậu; rồi sau đó cậu sẽ tự thuyết phục mình rằng cô đã vô cớ xúc phạm cậu, và cậu sẽ trở thành hiếu chiến. Không phải tất cả những người cầu hôn bị từ chối đều hành xử như thế, nhưng một mẫu người nào đó, và Alfred thuộc mẫu người đó. Cô phải đi ra ngay.
Cô đứng lên. “Tôi tôn trọng lời cầu hôn của anh, và tôi cám ơn anh vì niềm vinh dự anh đã dành cho tôi,” cô nói. “Làm ơn tôn trọng lời từ chối của tôi, và đừng bao giờ hỏi tôi nữa.”
“Tôi cho rằng cô chạy đi gặp thằng ranh con, em ghẻ của tôi,” cậu thô bỉ nói. “Tôi không tưởng tượng được cậu ấy cho cô đi chơi nhiều.”
Aliena đỏ mặt bối rối. Thế là dân chúng đã bắt đầu để ý đến tình bạn của cô với Jack. Họ đã nói cho Alfred để đưa ra một giải thích thô tục về nó. Vâng, cô phải đi ra gặp Jack, và cô không để Alfred ngăn cô lại. Cô cúi xuống và đẩy mặt cô vào mặt cậu. Cậu giật mình. Bình tĩnh và thận trọng cô nói: “Xuống - hỏa - ngục.” Rồi cô quay lại và đi ra.
Tu viện trưởng Philip thiết lập tòa án mỗi tháng một lần trong nhà nguyện dưới hầm. Ngày trước chỉ có mỗi năm một lần. Nhưng khi dân số tăng lên gấp ba, phạm pháp đã tăng lên gấp mười.
Bản chất tội phạm cũng đã thay đổi. Trước đây, hầu hết các tội phạm liên quan đến đất đai, hợp đồng canh tác hay gia cầm: một nông dân tham lam lén lút di chuyển các cột mốc ở cánh đồng để lấn chiếm thêm đất của hàng xóm; một lao công ăn cắp bao ngô của một góa phụ mà ông làm công cho; một phụ nữ nghèo đông con vắt trộm sữa bò của hàng xóm. Ngày nay các tội phậm liên quan đến tiền bạc, Philip nghĩ, khi ông ngồi trong tòa án vào ngày đầu tháng mười hai: người học nghề ăn cắp tiền của chủ, ông chồng lấy tiền tiết kiệm của mẹ vợ, thương gia đúc tiền giả, phụ nữ giầu có ăn quỵt tiền lương của người phục vụ chất phác, những người không biết đếm tiền lương hàng tuần của họ. Năm năm trước đây không có những tội phạm này ở Kingsbridge, vì khi đó không có nhiều tiền mặt.
Philip giải quyết hầu hết các hành vi tội phạm bằng cách phạt tiền. Ông cũng có quyền cho tra tấn, nhốt trong cùm hay bỏ tù trong hầm dưới nhà ngủ của các tu sĩ, nhưng những hình phạt này rất hiếm, chỉ dành cho tội phạm về bạo lực. Ông có quyền cho treo cổ kẻ trộm cướp, và tu viện có một giá treo cổ bằng gỗ chắc; nhưng ông chẳng bao giờ sử dụng nó, chưa bao giờ, và ông ấp ủ một niềm hy vọng bí ẩn là sẽ không bao giờ dùng đến. Hầu hết những tội phạm nghiêm trọng – giết người, giết thú vật trong rừng của vua và cướp đường – được xử ở tòa án của nhà vua ở Shiring, do cảnh sát trưởng chủ trì và cảnh sát trưởng Eustace đã treo cổ đủ rồi.
Hôm nay Philip phải xử lý bẩy vụ xay lúa không có phép. Ông để đến lúc cuối và xử họ chung với nhau. Bởi vì Kingsbridge cần hai nhà máy xay, nên tu viện mới xây một nhà máy xay bằng nước mới, làm việc xong xong với chiếc cũ. Nhưng nhà máy mới phải cần thu nhập để chi phí, có nghĩa là mọi người phải đem hạt đến tu viện. Nói một cách nghiêm chỉnh, luật này đã có từ lâu, giống như mọi vùng trong nước: các nông dân không được phép xay hạt ở nhà; họ phải trả tiền cho chủ để chủ xay cho họ. Trong thời gian gần đây, khi thị trấn phát triển và nhà máy xay cũ bị hỏng thường xuyên, Philip đã làm ngơ trước một số máy xay bất hợp pháp, nhưng bây giờ ông phải kiểm soát nó.
Ông có tên của người phạm luật trên một bảng đá, và ông đọc tên họ lên, từng người một, bắt đầu với người giầu có nhất. “Richard Longacre, thầy Francis nói ông có một máy đá xay lớn do hai nhân viên phụ trách.” Francis chịu trách nhiệm về nhà máy xay của tu viện.
Một tiểu điền chủ trông giầu có bước ra phía trước. “Vâng, thưa tu viện trưởng, nhưng tôi sẽ phá bỏ nó bây giờ.”
“Trả sáu mươi xu. Enid Brewster, bà có một máy xay tay ở nhà máy bia của bà. Eric Enidson đã bị bắt gặp trong lúc đang xay nó, nên ông ấy cũng bị buộc tội.”
“Vâng, thưa ngài,” Enid, một phụ nữ mặt đỏ với đôi vai mạnh mẽ, nói.
“Và bây giờ bà để máy xay ở đâu?” Philip hỏi.
“Tôi đã ném nó xuống sông, thưa ngài.”
Philip không tin bà, nhưng ông không thể làm gì được. “Trả hai mươi bốn xu, và mười hai xu cho con bà. Walter Tanner?”
Philip đi hết danh sách, phạt tiền họ tùy theo mức độ hoạt động phạm pháp của họ, cho đến người cuối cùng và nghèo nhất. “Widow Goda?”
Một bà già, da mặt nhăn nhúm, trong bộ quần áo màu đen đã bạc mầu bước ra phía trước.
“Thầy Francis thấy bà nghiền hạt bằng một viên đá.”
“Tôi không có xu nào để trả cho nhà máy xay, thưa ngài,” bà bực dọc nói.
“Nhưng bà đã có một xu để mua hạt,” Philip nói. “Bà sẽ bị phạt giống như những người khác.”
“Ông muốn để tôi chết đói sao?” bà ngang ngược nói. Philip thở dài. Ông ước muốn thầy Francis đã làm ngơ không để ý đến bà ta phạm luật. “Người sau cùng chết đói ở Kingsbridge là khi nào?” ông nói. Ông nhìn vòng quanh những người đang hiện diện. “Có ai nhớ người chết đói sau cùng ở thị trấn chúng ta là khi nào không?” Ông ngừng lại, như chờ đợi một câu trả lời, rồi nói: “Tôi nghĩ nó phải xảy ra trước khi tôi có mặt.”
Goda nói: “Dick Shorthouse chết mùa đông năm trước.”
Philip nhớ người đàn ông đó, một người ăn xin ngủ trong chuồng ngựa. “Dick ngã xuống đường vì say rượu giữa đêm và chết cóng vì trời tuyết,” ông nói. “Ông ta không chết đói, và nếu ông ta đủ tỉnh táo đi đến tu viện, ông ta cũng không phải chết lạnh. Đừng lừa tôi, nếu bà đói hãy đến với tôi để nhận sự giúp đỡ. Và nếu bà quá kiêu căng, thay vì làm chuyện đó bà lại phạm luật thì bà sẽ bị phạt giống như những người khác. Bà có nghe không?”
“Vâng, thưa ngài,” người đàn bà hờn dỗi nói.
“Hãy trả một phần bốn xu,” Philip nói. “Tòa án kết thúc.”
Ông đứng dậy, đi ra, và lên cầu thang dẫn từ nhà nguyện hầm lên mặt đất.
Công việc xây dừng nhà thờ chính tòa đã chậm lại đáng kể, như luôn luôn xẩy ra trước lễ Giáng Sinh. Các góc cạnh và đỉnh các công trình đá được bao phủ bằng rơm và phân – phân từ chuồng ngựa của tu viện – để tránh cho phần mới xây bị đóng băng. Công việc xây dựng không thể tiếp tục trong mùa đông, vì đóng băng, họ nói như vậy. Philip đã hỏi tại sao họ không rỡ sự bao phủ vào buổi sáng và đóng lại vào buổi tối, vì nó ít khi bị đóng băng vào ban ngày. Tom nói rằng bức tường xây vào mùa đông sẽ vị đổ. Philip tin điều đó nhưng ông không nghĩ vì bị đóng băng. Ông nghĩ lý do chính là vì vữa cần nhiều tháng để khô lại, vì thế thời gian nghỉ mùa đông cho phép nó thật sự cứng lại để năm sau các thợ xây có thể tiếp tục xây lên trên nó. Điều đó cũng giải thích sự mê tín dị đoan của các thợ xây, những người cho rằng nó sẽ không may mắn nếu xây cao hơn hai mươi dặm trong một năm: khi xây cao hơn vào lúc vữa chưa cứng đủ, những hàng bên dưới sẽ bị chuyển dịch vì sức nặng trên nó.
Philip ngạc nhiên vì các thợ xây tụ tập ngoài trời, chính nơi gian cung thánh của nhà thờ tương lai. Ông đến xem họ làm gì.
Họ đã làm một mái vòm bằng gỗ hình bán nguyệt, đặt thẳng đứng, hai bên dựa trên các cây cột. Philip biết mái vòm bằng gỗ là một cái mà họ gọi là khung: mục đích của nó là để đỡ mái gỗ trong khi nó được xây. Tuy nhiên, bây giờ, các thợ xây lắp ráp mái đá trên mặt đất, không có vữa, để bảo đảm các viên đá sẽ phù hợp với nhau một cách hoàn hảo. Người học nghề và lao công nâng đá lên khung, trong khi các thợ xây nhìn chăm chú.
Philip bắt gặp ánh mắt của Tom và nói: “Cái này dùng cho việc gì?”
“Nó là mái vòm cho hành lang phía trên.”
Theo phản xạ, Philip trầm ngâm nhìn lên. Đường mái vòm đã xong vào năm trước và đường hành lang phía trên sẽ hoàn thành vào năm sau. Như vậy chỉ còn tầng có cửa sổ phía trên nơi gian giữa, trước khi mái được lợp. Bây giờ các bức tường đã được che đậy trong mùa đông, các thợ xây cắt đá sẵn cho công việc vào năm sau. Nếu mái vòm này đúng, các viên đá khác sẽ được cắt theo cùng khuôn mẫu này.
Người học nghề, trong đó có Jack, con ghẻ của Tom, chèn dưới mái vòm bằng những viên đá nêm ở các phía. Mặc dù sau này nó sẽ được xây cao trong nhà thờ, các đường gờ của nó được trang trí công phu; vì thế mỗi viên đá được khắc đường hình chóp rộng, đường vòng tròn nhỏ hơn và ở đầu hàng trang trí bằng đường tròn cuộn. Khi các viên đá được xếp vào với nhau, các đường khắc thẳng hàng với nhau, tạo thành ba vòng cung liên tục, một hình chóp, một đường tròn và một vòng tròn cuộn. Nó cho ấn tượng rằng mái vòm được kiến trúc bằng nhiều mái hình bán nguyệt chồng lên nhau, nhưng trong thực tế nó được làm từ những cái nêm được đặt bên cạnh nhau. Tuy nhiên các viên đá phải phù hợp với nhau một cách chính xác, nếu không các đường khắc sẽ không thẳng hàng và không tạo nên được ảo ảnh.
Philip chăm chú quan sát Jack đặt viên đá chính vào giữa. Bây giờ mái vòm đã hoàn thành. Bốn thợ xây cầm búa tạ đập các nêm chống đỡ khung gỗ đi. Thật căng thẳng, khung gỗ rơi xuống. Nhưng mặc dù không có vữa ở giữa các viên đá, mái vòm vẫn đứng nguyên. Thợ xây Tom lẩm bẩm hài lòng.
Một người kéo tay áo Phlip. Ông quay lại và thấy một tu sĩ trẻ. “Cha có khách, thưa cha. Ông ấy đang đợi trong nhà cha.”
“Cảm ơn con.” Philip rời các thợ xây. Khi các tu sĩ để cho khách đợi trong nhà của tu viện trưởng, nó có nghĩa là người khách đó phải quan trọng lắm. Ông đi qua sân về nhà.
Người khách là em ông, Francis. Philip nồng nhiệt ôm em. Francis có vẻ lo lắng. “Có ai cho em ăn gì chưa?” Philip nói. “Em trông có vẻ mệt mỏi.”
“Họ đã cho em bánh mì và thịt, cảm ơn anh. Cả mùa thu vừa qua em đã đi đi lại lại giữa Bistrol và Rochester. Vua Stephen đã bị giam giữ ở Bristol và lãnh chúa Robert ở Rochester.”
“Em nói là đã bị giam giữ.”
Francis gật đầu. “Em đã đàm phán một cuộc trao đổi giữa Stephen và Robert. Nó đã được thực hiện vào ngày lễ các Thánh. Vua Stephen bây giờ về lại Winchester.”
Philip ngạc nhiên. “Đối với anh, dường như nữ hoàng Maud đã có một cuộc trao đổi thua thiệt - đổi một vị vua để lấy một lãnh chúa.”
Francis lắc đầu. “Bà ấy vô dụng nếu không có Robert. Không ai ưa bà, không ai tin tưởng bà. Không còn ai ủng hộ bà. Hoàng hậu Matilda quá thông minh. Bà ấy chỉ trao đổi Robert với Stephen. Bà ta đã cương quyết và đã đạt được điều bà ấy muốn.”
Philip đi đến cửa sổ và nhìn ra ngoài. Trời bắt đầu mưa, một cơn mưa lạnh thổi qua công trường xây dựng, làm mờ bức tường cao của nhà thờ và rơi xuống mái nhà tranh của các thợ thủ công. “Điều đó có ý nghĩa gì?” ông nói.
“Nó có nghĩa là Maud một lần nữa chỉ là người muốn lên ngôi. Sau cùng, Stephen đã thực sự được tấn phong, trong khi Maud sẽ chẳng bao giờ được, hoàn toàn không.”
“Nhưng Maud là người cho anh giấy phép mở chợ.”
“Vâng, đó có thể là vấn đề.”
“Giấy phép của anh không hợp lệ sao?”
“Không phải vậy. Nó được cấp bởi một người cai trị hợp pháp, người đã được giáo hội công nhận. Sự kiện bà không được phong vương không gây ảnh hưởng gì. Nhưng Stephen có thể rút lại giấy phép.”
“Ngôi chợ chi phí cho việc mua đá,” Philip lo lắng nói. “Anh không thể xây dựng nếu không có chợ. Thực sự nó là một tin xấu.”
“Em xin lỗi.”
“Thế còn một trăm bảng Anh của anh?”
Francis nhún vai. “Stephen sẽ bảo anh lấy lại từ Maud.”
Philip đau khổ. “Tất cả số tiền đó,” ông nói. “Đó là tiền của Thiên Chúa, và anh mất nó.”
“Anh chưa mất nó,” Francis nói. “Stephen không thu hồi giấy phép của anh. Ông ấy chẳng bao giờ quan tâm đến chợ búa.”
“Bá tước William có thể gây áp lực trên ông ấy.”
“William đã thay đổi đồng minh, anh nhớ không? Cậu ấy đã gắn liền với Maud. Cậu ấy không còn ảnh hưởng nhiều trên Stephen nữa.”
“Anh hy vọng em đúng,” Philip hăng hái nói. “Thật sự anh hy vọng em đúng.”
Khi trời quá lạnh để còn có thể ngồi trong rừng, Aliena thường đến nhà thợ xây Tom vào buổi tối. Alfred thường ở quán bia, vì thế gia đình chỉ còn có Tom, Ellen, Jack và Martha. Bây giờ công việc của Tom trôi chẩy, nên Tom có một bộ ghế ngồi thoải mái, một lò sưởi cháy đỏ và rất nhiều nến. Ellen và Aliena sẽ dệt vải. Tom vẽ dự án và sơ đồ, khắc bản vẽ bằng một hòn đá nhọn trên phiến đá đánh bóng. Jack làm ra vẻ như cậu đang làm cho cậu một thắt lưng, hay mài dao, hay đan giỏ, mặc dù cả thời gian cậu lén lút nhìn khuôn mặt Aliena trong ánh nến, ngắm đôi môi cô chuyển động khi cô nói, hay nghiên cứu chiếc cổ trắng khi cô uống một ly bia. Họ cười nhiều trong mùa đông năm ấy. Jack thích làm Aliena cười. Một cách chung chung, cô rất kiềm chế và dè dặt, vì thế cậu vui khi thấy cô thoải mái, giống như là thoáng thấy sự trần truồng của cô. Cậu luôn nghĩ về những gì có thể nói để làm cho cô vui. Cậu nhại lại các thợ thủ công trên công trường xây dựng, bắt chước giọng của một thợ xây người Paris hay cách đi vòng kiềng của thợ rèn. Một lần cậu miêu tả hài hước về đời sống các tu sĩ, cho mỗi người một tội tương xứng – sự kiêu hãnh cho Remigius, sự ham mê ăn uống cho Benard Kitchener, rượu chè cho thầy phụ trách nhà khách, và ham muốn cho Piere Circuitor. Martha cười không ngừng và ngay cả Tom lầm lì cũng bật cười.
Vào một buổi tối như thế, Aliena nói: “Tôi không biết tôi có thể bán tất cả vải này không.”
Họ hơi sửng sốt. Ellen nói: “Vậy tại sao chúng ta dệt nó?”
“Tôi không bỏ hy vọng,” Aliena nói. “Tôi vừa có một vấn đề.”
Tom nhìn lên từ phiến đá. “Tôi nghĩ tu viện sẽ mua tất cả.”
“Đó không phải là vấn đề. Tôi không tìm được người hồ vải, và tu viện không muốn mua vải chưa hồ - những người khác cũng vậy.”
Ellen nói: “Hồ vải là công việc khó nhọc. Tôi không ngạc nhiên là không ai muốn làm nó.”
“Cô không tìm được các đàn ông làm việc đó sao?” Tom đề nghị.
“Không tìm được ở Kingsbridge thịnh vượng này. Tất cả đàn ông có đủ việc để làm. Trong thành phố lớn có những thợ hồ chuyên nghiệp, nhưng hầu hết họ làm việc cho thợ dệt, và họ bị cấm không được làm việc cho người cạnh tranh với chủ họ. Ngoài ra sự chuyên chở đến Winchester và trở về cũng quá mắc.”
“Nó thật sự là một vấn đề,” Tom nhận ra, và ông lại tập trung vào việc vẽ của ông.
Jack có một ý tưởng. “Đáng tiếc, chúng ta không thể dùng bò để làm chuyện đó.”
Những người khác cười. Tom nói: “Cũng giống như con cố gắng dạy bò xây nhà thờ.”
“Hay một máy xay,” Jack cứng đầu. “Đó thường là cách dễ dàng để làm những việc nặng nhọc.”
“Cô ấy muốn hồ vải, không phải nghiền vải,” Tom nói.
Jack không lắng nghe. “Chúng ta dùng thiết bị nâng và bánh xe cuốn để nâng phiến đá lên giàn giáo cao.”
Aliena nói: “Ô, nếu có một vài máy móc khéo léo để hồ vải, nó sẽ thật tuyệt vời.”
Jack nghĩ chắc cô sẽ hài lòng lắm nếu cậu có thể giải quyết được vấn đề này cho cô. Cậu quyết định sẽ tìm một giải pháp.
Tom trầm tư nói: “Tôi đã nghe nói về một máy xay bằng nước dùng để làm việc trong một ống thổi của lò rèn – nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy nó.”
“Thật ư?” Jack nói. “Đó sẽ là một chứng minh.”
Tom nói: “Một bánh xe máy xay đi vòng vòng, và hòn đá mài đi vòng vòng, vì thế cái này có thể kéo theo cái khác; nhưng một cây gậy của thợ hồ đi lên và đi xuống. Con không thể làm một bánh xe tròn kéo một cây gậy đi lên đi xuống.”
“Nhưng một ống thổi đi lên đi xuống.”
“Đúng, đúng; nhưng dượng chưa bao giờ nhìn thấy lò rèn, dượng chỉ nghe nói về nó.”
Jack cố gắng hình dung ra thiết bị máy móc của nhà máy xay. Sức mạnh của nước đẩy bánh xe đi vòng vòng. Các trục của bánh xe nối với bánh xe khác trong nhà máy xay. Bánh xe đứng thẳng bên trong có răng và các răng này phối hợp với các răng của bánh xe nằm ngang phía dưới. Bánh xe nằm ngang quay hòn đá mài. “Một bánh xe đứng thẳng có thể đẩy một bánh xe nằm ngang,” Jack lẩm bẩm, suy nghĩ thành lời.
Martha cười. “Jack, ngưng lại! Nếu máy xay có thể hồ vải, những người thông minh đã nghĩ về nó lâu rồi.”
Jack làm ngơ cô. “Cây gậy của thợ hồ có thể cố định với trục của bánh xe máy xay,” cậu nói. “Vải có thể được đặt phẳng, nơi cây gậy đập xuống.”
Tom nói: “Nhưng cây gậy sẽ đập một lần, rồi sẽ đứng lại; và bánh xe sẽ ngưng. Dượng đã nói với con – bánh xe đi vòng vòng, nhưng cây gậy đi lên đi xuống.”
“Phải có cách,” Jack cứng đầu nói.
“Không có cách nào,” Tom dứt khoát nói, bằng giọng ông thường dùng để chấm dứt một câu chuyện.
“Con chắc là có,” Jack lẩm bẩm chống đối; và Tom giả vờ như không nghe thấy.
Vào ngày chủ nhật sau đó, Jack biến mất.
Buổi sáng hôm đó cậu đi nhà thờ, và ăn trưa ở nhà như thường, nhưng cậu không có mặt trong bữa ăn tối. Khi Ellen đến tìm Jack, Aliena đang ở trong bếp và nấu nồi súp với bắp cải, thịt hun khói và hạt tiêu.
“Tôi không thấy cậu ấy từ sau thánh lễ,” Aliena nói.
“Cậu ấy biến mất sau bữa ăn trưa,” Ellen nói. “Tôi tưởng cậu ấy đi với cô.”
Aliena cảm thấy một chút xấu hổ vì Ellen giả định chuyện này như là chuyện đương nhiên. “Bà có lo không?”
Ellen nhún vai. “Một người mẹ luôn luôn lo lắng.”
“Cậu ấy có cãi nhau với Alfred không?” Aliena lo lắng hỏi.
“Tôi hỏi Alfred như thế và cậu ấy nói không.” Ellen thở dài. “Tôi không nghĩ cậu ấy gặp sự gì nguy hiểm. Trước đây cậu ấy đã biến mất như thế và tôi dám khẳng định rằng cậu ấy sẽ lập lại điều đó. Tôi chẳng bao giờ dạy cậu phải giữ giờ.”
Sau đó, vào buổi tối trước khi đi ngủ, Aliena đến nhà Tom để xem Jack đã về chưa. Cậu chưa về. Cô đi ngủ trong lo lắng. Richard ở Winchester, vì thế cô ở nhà một mình. Cô cứ nghĩ Jack có thể rơi xuống sông và chết đuối hoặc gặp một tai nạn nào đó. Nó sẽ khủng khiếp làm sao đối với Ellen: bà chỉ có cậu là con duy nhất. Nước mắt cô chẩy ra khi cô tưởng tượng nỗi đau của Ellen vì mất Jack. Thật ngu ngốc, cô nghĩ: tôi khóc cho nỗi đau của một người khác về một chuyện mà nó không xẩy ra. Cô cố bình tĩnh và nghĩ về chuyện khác. Vải thặng dư là vấn đề lớn của cô. Thông thường cô có thể lo nghĩ về chuyện làm ăn cả nửa đêm, nhưng tối nay tâm trí cô lại nghĩ về Jack. Và nếu cậu bị gẫy chân và nằm trong rừng, không có thể di chuyển được thì sao?
Cuối cùng cô đi vào giấc ngủ bồn chồn. Cô thức dậy khi trời vừa sáng và vẫn cảm thấy mệt. Cô mặc thêm áo khoác nặng bên ngoài áo ngủ, xỏ giày lông rồi đi ra ngoài tìm Jack.
Cậu không ở trong vườn sau quán bia, nơi các người đàn ông say rượu hay ngủ thiếp đi và được thoát khỏi chết lạnh nhờ đống phân hôi thúi. Cô đi về hướng cây cầu và lo âu đi dọc theo bờ sông đến một khúc quanh, nơi rác rưởi tụ lại. Một gia đình vịt tìm thức ăn giữa đám mảnh gỗ vụn, giày cũ, dao rỉ sét và xương thịt thối rữa bên bờ sông. Jack không có ở đó, thật may mắn!
Cô đi ngược lại lên đồi, vào trong khu tu viện, nơi các thợ xây nhà thờ đã bắt đầu ngày làm việc của họ. Cô gặp Tom trong nhà kho. “Jack đã về chưa?” cô hỏi trong hy vọng.
Tom lắc đầu. “Chưa.”
Khi cô đi ra ngoài, người thợ mộc chính đến gần, mặt đầy lo lắng. “Tất cả búa của chúng tôi đã bị mất,” ông nói với Tom.
“Thật kỳ lạ,” Tom nói. “Tôi cũng đi tìm búa và không tìm thấy cái nào.”
Rồi Alfred thò đầu vào cửa và nói: “Tất cả gối lót của thợ xây ở đâu?”
Tom gãi đầu. “Dường như mọi chiếc búa ở công tường xây dựng đã biến mất,” ông nói bằng giọng bối rối. Rồi nét mặt ông thay đổi, và ông nói: “Cậu Jack chắc chắn đứng sau chuyện này, tôi cam đoan như thế.”
Dĩ nhiên, Aliena nghĩ. Búa. Hồ vải. Nhà máy xay.
Không nói những gì cô đang nghĩ, cô rời nhà kho của Tom và vội vã đi qua sân tu viện, ngang qua nhà bếp, tới góc tây nam, nơi một con kênh tách khỏi dòng sông và đẩy hai máy xay, một cái cũ và một cái mới khác. Như cô dự đoán, bánh xe của nhà máy cũ đang quay. Cô đi vào trong.
Những gì cô nhìn thấy vừa làm cô bối rối, vừa làm cô sợ hãi: Một hàng búa được đính chặt vào một thanh ngang. Rõ ràng các búa tự nâng đầu lên - giống như con ngựa nhìn lên tìm máng cỏ. Rồi tất cả chúng cùng nhau đi xuống và đập cùng lúc tạo nên một tiếng ầm mạnh làm tim cô ngừng đập. Cô kêu lên vì kinh hoàng. Các búa lại nâng đầu lên, như thể nó đã nghe thấy tiếng cô kêu, rồi lại đập xuống. Chúng đang đập một dải vải len thô của cô nằm trong nước khoảng một hai phân, trong một cái máng dùng để trộn vữa trong công trình xây dựng. Những cây búa đang đập vải, cô nhận ra, và cô bớt sợ, mặc dù mặt cô vẫn còn kinh hoàng. Nhưng làm sao nó có thể hoạt động được? Cô nhìn thấy thanh ngang nơi các búa được đính chặt chạy xong xong với trục của bánh xe máy xay. Một thanh gỗ được cột vào với trục chạy vòng vòng giống như trục quay. Qua mỗi vòng quay, thanh gỗ đụng vào cán búa và đẩy nó xuống vì thế mà đầu búa đi lên. Khi thanh gỗ tiếp tục quay, cán búa được nhả ra. Rồi chiếc búa rơi xuống và đập lên vải trong máng. Nó chính xác với điều mà Jack đã nói trong buổi tối hôm đó: một máy xay có thể hồ vải.
Aliena nghe giọng cậu. “Đầu búa phải nặng để nó đập mạnh hơn.” Khi cô quay lại, cậu đứng trước mặt cô mệt mỏi, nhưng đắc thắng. “Tôi nghĩ tôi đã giải quyết được vấn đề của cô,” cậu nói và mỉm cười bẽn lẽn.
“Tôi rất vui vì anh bình an – tất cả chúng tôi đều lo cho anh!” cô nói. Không suy nghĩ, cô vòng tay ôm cậu và hôn cậu. Nó là một nụ hôn rất ngắn; nhưng rồi khi đôi môi tách ra, đôi tay cậu vòng qua eo cô, ôm cô nhẹ nhàng nhưng sát chặt vào cậu. Cô nhìn vào mắt cậu. Tất cả những gì cô có thể nghĩ là cô thật hạnh phúc vì cậu vẫn sống và không bị thương tích. Một cách trìu mến cô siết chặt cậu. Bất ngờ cô ý thức về làn da của cô: cô có thể cảm nhận độ nhám áo lót bằng lụa của cô và sự mềm mại của lông trong đôi giày da, và núm vú của cô bị kích thích khi đụng vào ngực cậu.
“Cô lo lắng cho tôi?” cậu ngạc nhiên hỏi.
“Dĩ nhiên! Tôi không thể ngủ.”
Cô mỉm cười hạnh phúc. Nhưng cậu trông rất nghiêm trang, và sau một lúc tâm trạng của cậu thắng cô, và cô cảm thấy rung chuyển lạ kỳ. Cô có thể nghe tiếng trái tim cậu đập, và tim cô đập nhanh hơn. Đàng sau cô, tiếng búa vang dội, và mỗi lần búa đập xuống, chúng lại làm cấu trúc bằng gỗ rung chuyển, và cô dường như cảm thấy sự rung động sâu thẩm trong người cô.
“Tôi không sao,” cậu nói. “Mọi chuyện ổn cả.”
“Tôi rất vui,” cô lập lại, và nó phát ra như một lời thì thầm.
Cô thấy cậu nhắm mắt lại và cúi xuống mặt cô, và rồi cô cảm thấy môi cậu trên môi cô. Nụ hôn của cậu nhẹ nhàng. Cậu có đôi môi đầy đặn và bộ râu của lứa tuổi vị thành niên mềm mại. Cô nhắm mắt lại thụ hưởng cảm xúc. Môi cậu di chuyển trên môi cô, và tự nhiên môi cô mở ra. Miệng cô bất ngờ trở nên thật nhậy cảm để có thể cảm nhận ngay cả những đụng chạm nhỏ nhất, những chuyển động nhỏ nhất. Đầu lưỡi cậu mơn trớn bên trong môi trên của cô. Cô choáng ngợp trong hạnh phúc đến nỗi cô muốn khóc. Cô ép mình vào cậu, ghì ngực mềm mại của cô vào bộ ngực rắn chắc của cậu, cảm thấy xương hông của cậu cắm vào bụng cô. Cô không những chỉ nhẹ nhõm vì cậu được an toàn, và vui mừng vì có cậu ở đây. Bây giờ, cô có một cảm giác mới. Sự hiện diện thể chất của cậu cho cô cảm giác ngây ngất khiến cô choáng váng. Giữ cậu trong vòng tay, cô muốn chạm vào cậu hơn, muốn cảm thấy cậu hơn, muốn gần gũi hơn. Cô xoa lưng cậu. Cô muốn cảm nhận làn da cậu, nhưng quần áo cậu ngăn cản cô. Không suy nghĩ, cô mở miệng và cho lưỡi cô vào giữa đôi môi cậu. Cậu kêu lên một tiếng nhỏ trong cổ họng, giống như tiếng rên của khoái cảm bị bóp nghẹt.
Cánh cửa nhà máy xay bung ra. Aliena rời khỏi Jack. Bất ngờ cô cảm thấy bị sốc như thể cô ngủ say và một ai đó đã đánh thức cô dậy. Cô kinh hoàng về những gì họ đã làm – hôn và cọ xát nhau như một con điếm và một chàng say rượu trong quán bia. Cô lui lại và nhìn quanh, xấu hổ và ngượng nghịu. Hơn tất cả, kẻ đột nhập lại là Alfred. Điều đó làm cô cảm thấy tồi tệ hơn. Alfred đã ngỏ lời cầu hôn với cô cách đây ba tháng, và cô đã ngạo mạn từ chối cậu ấy. Bây giờ cậu đã nhìn thấy hành động của cô giống như con chó cái động dục. Nó giống như sự đạo đức giả. Cô đỏ mặt xấu hổ. Alfred nhìn cô chằm chằm, vẻ mặt cậu pha lẫn ham muốn và khinh bỉ, gợi cô nhớ đến William Hamleigh. Cô tức giận với chính mình vì đã cho Alfred lý do để khinh thường cô, và tức giận Jack vì cũng góp phần trong việc này.
Cô quay đi và nhìn Jack. Khi cô bắt gặp ánh mặt cậu, cậu đang bị sốc. Cô nhận ra sự tức giận của cô đang biểu hiện trong nét mặt cô, nhưng cô không làm gì khác hơn được. Biểu lộ hạnh phúc choáng váng trên mặt cậu trở thành bối rối và tổn tương. Bình thường chuyện đó đã làm nao núng cô, nhưng bây giờ cô quá thất vọng. Cô ghét cậu vì những gì cậu đã bắt cô làm. Nhanh như chớp, cô tát vào mặt cậu. Cậu không tránh, nhưng trong mắt cậu biểu lộ sự đau đớn cùng cực. Má cậu đỏ lên vì cái tát của cô. Cô không chịu nổi khi nhìn thấy nỗi đau trong mắt cậu. Cô tránh ánh mắt cậu và nhìn đi chỗ khác.
Cô không thể ở lại đây. Cô chạy ra cửa với tiếng búa đập không ngừng bên tai cô. Alfred nhanh chóng tránh sang bên, nhìn sợ hãi. Cô lao qua cậu và đi ra khỏi cửa. Thợ xây Tom cùng với nhóm thợ cũng vừa đến nơi. Mọi người đổ dồn về nhà máy xay xem chuyện gì xẩy ra. Aliena vội vã đi qua họ, không nói lời nào. Một hai người tò mò nhìn theo cô, làm cô nóng lên vì xấu hổ; nhưng họ để ý đến tiếng búa đập trong nhà máy hơn. Phần lý trí cứng rắn của Aliena nhắc nhở cô rằng Jack đã giải quyết vấn đề hồ vải của cô; nhưng ý nghĩ rằng cậu đã làm cả đêm vì cô chỉ làm cho cô cảm thấy tồi tệ hơn. Cô chạy qua chuồng ngựa, qua cổng tu viện và dọc theo các con đường; giầy cô trơn trượt trên đất bùn cho đến khi cô về đến nhà.
Khi cô bước vào trong, cô gặp Richard ở đó. Cậu ngồi bên bàn trong nhà bếp với một ổ bánh và một ly bia. “Vua Stephen đang chuẩn bị tiến quân,” cậu nói. “Cuộc chiến lại bắt đầu. Em cần một con ngựa mới.”