Bình minh vừa thức dậy, hầu hết các tu sĩ đang còn ở trong nhà nguyện dưới hầm hát giờ kinh sáng, chỉ còn hai người trong nhà ăn: Johnny Eightpence đang lau sàn nhà ở phía đầu của căn phòng rộng, và Jonathan đang giả chơi trường học ở một đầu khác.
Tu viện trưởng ngừng lại ở ngưỡng cửa và chăm chú nhìn Jonathan. Nó hầu như đã năm tuổi, một đứa bé nhậy cảm, tự tin và với sự hấp dẫn thơ ngây được lòng mọi người. Johnny vẫn cho nó mặc bộ tu phục nhỏ. Hôm nay Jonathan giả làm cha giáo tập, ra bài cho một hàng các học sinh. “Sai rồi, Godfrey!” nó nói nghiêm khắc với một hàng ghế trống. “Không có bữa ăn tối cho bạn, nếu bạn không học berves!” Nó muốn nói verbs – động từ. Philip trìu mến mỉm cười. Ông không thể yêu một người con trai nào sâu sắc hơn. Duy nhất chỉ có Jonanthan trong đời này cho ông niềm vui không giả tạo.
Đứa bé chạy quanh trong tu viện giống như con chó nhỏ và được các tu sĩ vuốt ve chiều chuộng. Đối với hầu hết các tu sĩ, nó giống như một con vật cưng, một món đồ chơi thích thú; nhưng đối với Philip và Johnny nó còn hơn thế nữa. Johnny yêu nó giống như một người mẹ; và Philip, mặc dù ông cố gắng che dấu, cảm thấy mình như bố của cậu bé. Chính ông đã được nuôi nấng từ khi còn nhỏ bởi một viện phụ tốt lành, và đối với ông dường như nó tự nhiên trong thế giới này khi ông đóng cùng vai trò đó với Jonathan. Ông không cù nó hay đuổi theo nó như các tu sĩ hay làm, nhưng ông kể cho nó những câu chuyện trong Kinh Thánh, chơi đếm với nó, và để ý đến Johnny.
Ông đi vào trong phòng, mỉm cười với Johnny, và ngồi trên băng ghế giả như một học sinh.
“Chào cha,” Jonathan nói long trọng. Johnny đã dậy nó phải luôn luôn lịch sự.
Philip nói: “Con có muốn đến trường không?”
“Con đã biết tiếng Latin,” Jonathan tự hào.
“Thật ư?
“Vâng, cha nghe đây. Omnius pluvius buvius nomine patri amen.”
Philip cố gắng nín cười. “Nó nghe như tiếng Latin, nhưng nó không hoàn toàn đúng. Thầy Osmund, giáo tập, sẽ dạy con nói đúng cách.”
Jonathan hơi buồn vì biết rằng cậu thực sự không biết tiếng Latin. Nó nói: “Tuy vậy, con có thể chạy nhanh và nhanh, cha hãy nhìn!” Nó chạy với tốc độ cao nhất từ phía này đến phía kia căn phòng.
“Tuyệt vời!” Philip nói. “Thật sự là nhanh.”
“Vâng – và con có thể chạy nhanh hơn –“
“Không chạy bây giờ,” Philip nói. “Hãy nghe cha đây. Cha sẽ đi xa một thời gian.”
“Cha sẽ về vào ngày mai?”
“Không, không về ngay được.”
“Tuần tới?”
“Sau đó cũng không.”
Jonathan nhìn ngơ ngác. Cậu không thể hiểu được thời gian xa hơn tuần sau. Rồi cậu tìm hiểu một bí mật khác. “Nhưng tại sao?”
“Cha phải đi gặp nhà vua.”
“Ồ.” Điều đó cũng không có ý nghĩa gì nhiều với nó.
“Và cha muốn con đi học trong lúc cha đi vắng. Con có thích không?”
“Vâng!”
“Con đã gần năm tuổi. Tuần sau con sẽ có sinh nhật. Con đến với nhà dòng vào ngày đầu năm.”
“Con đến từ đâu?”
“Từ Thiên Chúa. Mọi sự đến từ Thiên Chúa.”
Jonathan biết đó không phải là câu trả lời. “Nhưng trước đó con ở đâu?” nó cứng đầu hỏi.
“Cha không biết.”
Jonathan cau mày. Một cái cau mày trông tức cười trên khuôn mặt trẻ vô tư. “Nhưng trước đó con phải ở một nơi nào đó.”
Một ngày nào đó, Philip nhận ra, một gười sẽ phải kể cho Jonathan biết đứa trẻ được sinh ra làm sao. Ông nhăn nhó khi nghĩ đến. May quá, bây giờ không phải là lúc. Ông đổi chủ đề. “Trong khi cha đi vắng, cha muốn con học đếm đến một trăm.”
“Con có thể đếm,” Jonathan nói. “Một, hai, ba, bốn, năm, sáu, bẩy, tám, chín, mười, mười một, mười hai, mười ba, mười bốn, mười gốm, mười tốm, mười sốm –“
“Không tệ lắm,” Philip nói, “nhưng thầy Osmund sẽ dạy con nhiều hơn. Con phải ngồi yên trong lớp học và làm mọi thứ thầy ấy bảo con làm.”
“Con sẽ cố gắng là học sinh ngoan nhất trong lớp!” Jonathan nói.
“Để xem.” Philip nhìn nó một lúc lâu. Philip bị thu hút bởi sự phát triển của trẻ, cách chúng học mọi thứ và những giai đoạn mà chúng trải qua. Hiện tại ông rất ngạc nhiên về việc đứa bé nhấn mạnh biết tiếng Latin, hay biết đếm, hay chạy nhanh: đó có phải là bước đầu cần thiết cho việc học thực sự không? Nó phải phục vụ mục đích nào đó trong chương trình của Thiên Chúa. Và sẽ đến một ngày Jonathan trưởng thành. Nó sẽ như thế nào? Ý tưởng đó làm Philip thiếu kiên nhẫn, ông muốn Jonathan lớn nhanh. Nhưng nó cũng cần thời gian như việc xây nhà thờ chính tòa.
“Vậy hãy hôn cha và nói tạm biệt,” Philip nói.
Jonathan nâng mặt lên và Philip hôn lên đôi má mềm mại. “Tạm biệt cha,” Jonathan nói.
“Tạm biệt con,” Philip nói.
Ông siết chặt tay Johnny Eightpence một cách tình cảm và đi ra.
Các tu sĩ ra khỏi nhà nguyện dưới hầm và hướng về nhà ăn. Philip đi hướng ngược lại, đi vào nhà nguyện để cầu xin cho chuyến đi được thành công.
Ông đã đau khổ khi nghe về những gì xẩy ra ở mỏ đá. Năm người bị giết, trong đó có một bé gái! Ông đã ẩn mình trong nhà và khóc như một đứa trẻ. Năm người trong đàn chiên của ông bị William Hamleigh và nhóm vũ phu của cậu ấy đánh gục. Philip biết tất cả họ: Harry thành Shiring, người trước đó là thợ mỏ của Bá tước Percy; Otto Blackface, người có nước da sậm đã được thuê làm trong mỏ đá từ lúc bắt đầu; Mark, người đẹp trai, con của Otto; vợ của Mark, Alwen, người chơi giai điệu tiếng chuông cừu vào buổi tối; và Norma bé nhỏ, đứa cháu nội bẩy tuổi yêu quý nhất của Otto. Họ là những người tốt, kính sợ Thiên Chúa và chịu khó, những người có quyền chờ đợi hòa bình và công bằng từ lãnh chúa của họ. William đã tàn sát họ như con cáo giết con gà. Điều đó đủ làm cho các thiên thần khóc.
Philip đau buồn vì họ, rồi ông đi đến Shiring đòi hỏi công lý. Cảnh sát trưởng đã từ chối thẳng, không tiến hành bất cứ hành động nào. “Bá tước William có một đoàn quân nhỏ - làm sao tôi nên bắt ông ấy?” cảnh sát trưởng Eustace đã nói. “Nhà vua cần hiệp sĩ để chống lại Maud – nhà vua sẽ nói gì khi tôi giam một trong những người lính tốt nhất của ông ấy? Nếu tôi kiện William về tội giết người, một là tôi sẽ bị giết ngay bởi những hiệp sĩ của ông ấy, hay là sau đó tôi sẽ bị vua Stephen treo cổ vì tội phản bội.”
Philip nhận ra nạn nhân đầu tiên của cuộc nội chiến là sự công bằng.
Rồi cảnh sát trưởng cho Philip biết William đã làm đơn khiếu nại về khu chợ Kingsbridge không có giấy phép hoạt động.
Dĩ nhiên nó thật lố bịch khi William giết người mà không bị phạt, rồi lại còn tố cáo Philip; nhưng Philip cảm thấy bất lực. Đúng là ông không có giấy phép hoạt động chợ, nhưng nói cho cùng ông cũng bị bất công. Nhưng ông không thể chấp nhận bất công. Ông là tu viện trưởng Kingsbridge. Tất cả những gì ông có là uy quyền luân lý. William có thể thành lập một đội quân các hiệp sĩ; giám mục Waleran có thể dùng quan hệ của ông với những người có quyền thế; cảnh sát trưởng có thể khiếu nại với quan chức hoàng gia; nhưng tất cả những gì Philip có thể làm là nói cái này đúng và cái đó sai; và nếu ông để mất vị trí này, ông sẽ thực sự mất hết uy quyền. Vì thế ông ra lệnh chấm dứt họp chợ.
Điều đó đặt ông trong một tình trạng thực sự tuyệt vọng.
Kinh tế tu viện đã phát triển đáng kể, một phần nhờ sự kiểm soát chặt chẽ, một phần khác nhờ thu nhập từ khu chợ và từ trang trại cừu; nhưng Philip đã chi tiêu từng xu cho việc xây dựng, và ông đã mượn một khoản nợ lớn của những người Do Thái ở Winchester. Bây giờ, đùng một lúc, ông mất nguồn cung cấp đá miễn phí, không còn thu nhập từ khu chợ, và những người làm việc thiện nguyện – nhiều người trong số họ chủ yếu là đi chợ - có thể sẽ ít đi. Ông sẽ phải sa thải nửa số thợ xây dựng, và từ bỏ ý định hoàn thành nhà thờ chính tòa trong thời gian ông còn sống. Ông không chuẩn bị để là những việc đó.
Ông tự hỏi cuộc khủng hoảng này có phải là lỗi của ông không. Có phải ông đã quá tự tin, quá tham vọng không? Cảnh sát trưởng đã nói tương tự như thế. “Ông quá to đối với đôi giày của ông,” ông ta giận dữ nói. “Ông điều hành một tu viện nhỏ, và ông là tu viện trưởng không quan trọng, nhưng ông muốn lãnh đạo giám mục, lãnh chúa và cảnh sát trưởng. Nhưng ông không có thể! Chúng tôi quá mạnh đối với ông. Tất cả những gì ông có thể làm là gây ra rắc rối.” Eustace là một người đàn ông xấu, có hàm răng không đều, mắt lác và mặc áo vàng bẩn thỉu; nhưng mặc dù ông ấy không mấy ấn tượng, lời của ông ấy đã đâm vào tim Philip. Ông đau đớn nhận ra rằng các thợ mỏ đã không phải chết nếu ông không biến William Hamleigh thành kẻ thù. Nhưng ông không thể làm gì khác hơn là chống lại William. Nếu ông buông trôi, nhiều người sẽ phải đau khổ hơn, những người như người thợ ở nhà máy xay mà William đã giết và con gái của nông nô mà cậu ta cùng với hiệp sĩ đã hãm hiếp. Philip phải tiếp tục chiến đấu.
Và điều đó có nghĩa là ông phải đi gặp vua.
Ông ghét ý định này. Lần trước ông đã gặp vua, bốn năm trước ở Winchester, và mặc dù ông đã đạt được những gì ông muốn, nhưng ông cảm thấy không thoải mái ở hoàng cung. Nhà vua được bao vây bởi đám người quỷ quyệt và vô lương tâm, những người tranh dành sự chú ý và tranh cãi nhau để tìm ân huệ, và Philip thấy những người như vậy đáng khinh. Họ cố gắng tranh dành sự giầu có và địa vị mà họ không xứng đáng có. Ông thực sự không hiểu trò chơi mà họ đang đeo đuổi: trong thế giới của ông, cách tốt nhất để đạt được cái gì đó là xứng đáng với nó, không xu nịnh người cho. Nhưng bây giờ ông không có chọn lựa nào khác, ngoài việc vào trong thế giới của họ và chơi trò chơi của họ. Chỉ có nhà vua mới có thể cho phép Philip họp chợ. Chỉ có nhà vua bây giờ mới có thể giải cứu được nhà thờ chính tòa.
Ông cầu nguyện xong và rời nhà nguyện. Mặt trời đang lên và nhuộm hồng bức tường đá xám của ngôi nhà thờ đang mọc lên. Các thợ xây, những người làm việc từ lúc mặt trời mọc đến lúc mặt trời lặn, vừa bắt đầu mở nhà xưởng và mài các công cụ và trộn đống vữa đầu tiên trong ngày. Sự mất mỏ đá vẫn chưa ảnh hưởng đến việc xây dựng: từ khi bắt đầu họ đã luôn đào đá nhanh hơn là họ cần, vì thế bây giờ họ có một kho dự trữ đá đủ dùng cho nhiều tháng.
Đã đến lúc Philip phải đi. Tất cả đã được sắp đặt. Nhà vua ở Lincoln. Philip có một người đồng hành: Richard, em của Aliena. Sau một năm phục vụ như người cận vệ, Richard đã được vua ban tước hiệp sĩ. Cậu đã về nhà để tái trang bị và bây giờ chuẩn bị gia nhập quân đội hoàng gia.
Một cách kinh ngạc Aliena đã là một thương gia len khá. Từ lâu cô không còn bán len cho Philip, nhưng buôn bán trực tiếp với người mua từ Bỉ. Thực vậy, năm nay cô đã muốn mua toàn bộ sản phẩm len của tu viện. Cô trả ít hơn người Bỉ, nhưng Philip muốn có tiền sớm hơn. Ông đã từ chối không bán cho cô. Tuy vậy, việc cô đề nghị sự mua bán này chứng tỏ sự thành công của cô.
Cô ở chuồng ngựa với em trai cô, Phlip nhìn thấy khi ông đi qua sân. Một đám đông đã tụ họp để chia tay với những người đi xa. Richard ngồi trên lưng con ngựa chiến màu hạt dẻ mà có lẽ Aliena phải trả tới hai mươi bảng Anh. Cậu đã trở thành một thanh niên đẹp trai, vai rộng, nét mặt bình thường chỉ bị vết sẹo bên tai phải. Cậu mặc áo đỏ và xanh lộng lẫy, trang bị một thanh kiếm mới, một ngọn giáo, chiếc rìu và dao găm. Hành lý của cậu được xếp trên lưng con ngựa thứ hai mà cậu đang giữ dây cương. Cùng đi với cậu có hai người lính trên lưng con ngựa đua và một người hộ vệ trên lưng con ngựa khỏe.
Aliena khóc, mặc dù Philip không biết cô buồn vì em cô đi, vì hãnh diện về vẻ đẹp đẽ của cậu, hay vì sợ hãi rằng cậu sẽ chẳng bao giờ trở về. Có lẽ cả ba. Một vài dân làng đến chào từ giã, và hầu hết thanh niên và con trai trong làng. Không nghi ngờ gì, Richard là thần tượng của chúng. Tất cả các tu sĩ cũng có mặt nữa, để chúc tu viện trưởng của họ đi bình an.
Người giữ ngựa dẫn ra hai con ngựa, một con ngựa nhỏ đã thắt yên cho Philip và một ngựa khỏe chở hành lý khiêm tốn nhất của ông – hầu hết là đồ ăn đi đường. Các thợ xây bỏ công cụ và đến gần, hướng dẫn bởi người có râu, Tom, và người con riêng tóc đỏ của vợ, Jack.
Philip lịch sự ôm Remigius, tu viện phó của ông, và ôm nồng hậu Milius và Cuthbert, rồi lên ngựa. Ông sẽ ngồi trên yên ngựa cứng này một thời gian dài, ông nhận ra. Từ vị trí của ông, ông dơ tay ban phúc lành cho mọi người. Các tu sĩ, thợ xây và dân làng vẫy tay và gọi to lời từ biệt khi ông và Richard cưỡi ngựa bên nhau vượt qua cổng tu viện.
Họ đi xuống con đường hẹp qua làng, vẫy tay chào những người nhìn ra từ cửa nhà, rồi qua cây cầu gỗ vào con đường xuyên qua cánh đồng. Một lúc sau Philip quay nhìn trở lại và thấy ánh sáng mặt trời chiếu soi qua khung cửa sổ của gian phía đông đang xây dở của nhà thờ. Nếu sứ mạng của ông thất bại, nó sẽ chẳng bao giờ xây xong. Sau tất cả những gì ông đã trải qua để có được ngày hôm nay, bây giờ ông không thể chịu đựng được sự thất bại. Ông quay lại và tập trung vào con đường trước mắt.
Lincoln là một thành phố nằm trên đồi. Philip và Richard vào thành phố từ hướn nam, trên một con đường cổ và đông người được gọi là đường Ermine. Ngay cả từ xa họ có thể nhìn thấy trên đỉnh đồi những ngọn tháp của nhà thờ chính tòa và thành lũy của tòa lâu đài. Nhưng khi họ vẫn còn cách đó ba bốn dặm, Philip ngạc nhiên vì họ gặp một cổng thành. Vùng ngoại ô chắc phải lớn lắm, ông nghĩ; dân cư phải đến hàng ngàn.
Vào dịp lễ Giáng sinh thành phố đã bị tịch thu bởi Ranunf thành Chester, người quyền lực nhất ở miền bắc nước Anh và là họ hàng với nữ hoàng Maud. Vua Stephen đã chiếm lại nhưng quân của Ranunf vẫn giữ lâu đài. Bây giờ, Philip và Richard, khi đến gần đã được biết Lincoln có một vị trí kỳ lạ vì có hai đội quân thù nghịch cùng cắm trại trong tường thành.
Trong bốn tuần lễ đi với nhau Philip đã không làm Richard ấm lên được. Em trai của Aliena là một chàng trai giận dữ, người ghét gia đình Hamleigh và chỉ muốn trả thù; và cậu nói như thể Philip cũng cảm thấy như thế. Nhưng có một sự khác biệt. Philip ghét gia đình Hamleigh vì những gì họ đã làm cho dân của họ: không có họ thế giới sẽ tốt hơn. Còn Richard không có sự thoải mái bao lâu cậu chưa tiêu diệt được gia đình Hamleigh: động lực của cậu hoàn toàn ích kỷ.
Về thể lý, Richard dũng cảm, luôn sẵn sàng chiến đấu; nhưng trong khía cạnh khác cậu yếu thế. Cậu bối rối trong xử thế với những người lính của cậu, một đôi khi bình đẳng và một đôi khi ra lệnh cho họ lăng xăng như người phục vụ. Trong quán rượu cậu muốn gây ấn tượng bằng cách mua bia cho người lạ. Cậu thường làm ra vẻ cậu biết đường ngay cả khi cậu không rõ, và một đôi khi họ phải đi vòng xa vì cậu không chịu nhận sai lầm của mình. Khi họ đến Lincoln, Philip biết Aliena mười lần giá trị hơn Richard.
Họ đi qua một hồ nước lớn đầy thuyền bè; rồi ở dưới chân đồi họ qua sông, nơi ranh giới vùng phía nam với trung tâm thành phố. Lincoln rõ ràng sống bằng nghề biển. Bên cạnh cây cầu là một chợ cá. Họ đi qua một đồn lính gác khác. Bây giờ họ bỏ lại sau lưng sự thênh thang của vùng ngoại ô và bước vào thành phố đông đúc. Ngay trước mặt họ là một con đường hẹp, đông người không tưởng tượng nổi, chạy thẳng lên đồi. Các căn nhà vai chen vai hai bên đường, một phần hoặc hoàn toàn được xây bằng đá, là dấu hiệu của sự giầu có. Ngọn đồi quá dốc nên một số nhà có đầu nền này cao vài mét so với mặt đường và đầu kia ở dưới mặt đường. Tầng dưới thường là xưởng của thợ thủ công hoặc cửa hàng. Chỉ có khoảng đất trống là khu nghĩa địa bên cạnh các nhà thờ, mà trên đó luôn họp chợ: ngũ cốc, gia cầm, len, da và các thứ khác. Philip và Richard, cùng với đoàn tùy tùng nhỏ của cậu, chen lấn qua đám đông dân chúng, binh lính, thú vật và xe cộ. Philip ngạc nhiên là đường dưới chân ông lát đá. Toàn đường phố được lót đá. Ở đây chắc phải giầu có lắm, ông nghĩ, bởi vì đá được lót khắp đường phố như trong một dinh thự hay một nhà thờ chính tòa. Đường vẫn còn trơn vì rác và phân thú vật, nhưng nó tốt hơn nhiều so với các dòng bùn lầy của hầu hết các đường phố khác trong mùa đông.
Họ đến đỉnh đồi và đi qua một cổng khác. Bây giờ họ vào nội thành, và bầu khí đột nhiên thay đổi: yên tĩnh hơn, nhưng rất căng thẳng. Ngay bên trái họ là lối vào lâu đài. Chiếc cổng lớn bằng sắt trong đường đi có mái che bị đóng chặt. Đàng sau cửa sổ đồn gác có bóng dáng lính canh di chuyển, và lính gác trên tường lũy với mũ sắt phản chiếu ánh mặt trời. Philip quan sát họ đi lại. Không có cuộc chuyện trò, không có đùa cợt và cười đùa, không dựa vào lan can huýt sáo khi các cô gái đi ngang qua: họ đứng thẳng, mắt chăm chú và sợ hãi.
Phía bên phải Philip, không cách cổng lâu đài quá một phần tư dặm, là mặt tiền phía tây của nhà thờ chính tòa, và Philip nhận ra ngay là mặc dù gần tòa lâu đài, nhà thờ được dùng như tổng hành dinh của nhà vua. Con đường nhỏ dẫn từ văn phòng đến nhà thờ bị một hàng lính gác chặn lại. Khu nghĩa địa trở thành trại lính, với lều và bếp lửa nấu ăn và những con ngựa được thả rông ăn cỏ. Không có tu viện: Nhà thờ chính tòa Lincoln không do các tu sĩ coi sóc, mà do các linh mục được gọi là các linh mục quản xứ nhà thờ chính tòa, những người sống trong các căn nhà bình thường trong phố gần nhà thờ.
Khoảng cách giữa nhà thờ chính tòa và lâu đài trống trơn không một ai, ngoại trừ Philip và những người cùng đi. Bất chợt Philip nhận ra rằng họ bị quan sát bởi các vệ sĩ về phía nhà vua, cũng như lính gác trên thành lũy của phe đối lập. Họ ở trong vùng đất trung lập, giữa hai trại lính, có lẽ là vị rí nguy hiểm nhất ở Lincoln. Nhìn quanh ông thấy Richard và những người khác đã tiếp tục di chuyển, và ông vội vã theo sau.
Lính gác của nhà vua cho họ qua dễ dàng: Richard được nhiều người biết. Philip chiêm ngắm mặt tiền phía tây nhà thờ. Cửa chính có hình vòng cung cao, hai bên có hai mái vòm chỉ bằng nửa cửa chính nhưng trông vẫn tuyệt vời. Nó trông giống như cửa vào thiên đàng – một cách nào đó nó cũng đúng như vậy. Ngay lập tức Philip quyết định cũng muốn có một mái vòm cao ở mặt tiền phía tây nhà thờ chính tòa Kingsbridge.
Trao ngựa cho người giữ, Philip và Richard đi qua trại lính vào nhà thờ. Bên trong còn đông hơn bên ngoài. Lối đi hai bên đã biến thành chuồng ngựa, và hàng trăm con ngựa được cột vào các cột của mái vòm. Các binh sĩ chen chúc trong gian giữa, ở đây cũng có bếp lửa nấu ăn và giường ngủ. Một vài người nói tiếng Anh, người khác nói tiếng Pháp và một vài người nói tiếng Bỉ, ngôn ngữ của các thương gia len người Bỉ. Nhìn chung các hiệp sĩ cắm trại trong nhà thờ và các binh lính ngoài nhà thờ. Philip buồn bã thấy một số người chơi cờ bạc với tiền, và ông càng khó chịu hơn khi thấy có cả phụ nữ, những người ăn mặc quá hở hang trong mùa đông và dường như đang tán tỉnh đàn ông – hầu như, ông nghĩ, họ là những đàn bà tội lỗi, hay hơn thế nữa, bị Thiên Chúa cấm, là những gái điếm.
Để tránh nhìn vào họ, ông ngước mắt lên trần nhà. Nó làm bằng gỗ, được vẽ bằng màu sắc đẹp đẽ, nhưng nó thật nguy hiểm vì người taa nấu ăn ngay ở gian giữa. Ông theo Richard xuyên qua đám đông. Richard dường như thoải mái ở đây, yên tâm và tự tin, chào lớn tiếng các lãnh chúa và bá tước, và vỗ đít các hiệp sĩ.
Khu trung tâm và gian phía đông bị ngăn lại. Gian phía đông dường như dành cho các linh mục – tôi mong như vậy, Philip nghĩ – và khu trung tâm trở thành doanh trại của nhà vua.
Phía sau sợi dây thừng có một hàng lính bảo vệ, sau đó là nhóm cận thần, rồi một vòng các lãnh chúa và vua Stephen ở giữa trên ngai bằng gỗ. Nhà vua đã già đi so với lần Philip gặp ông cách đây năm năm ở Winchester. Khuôn mặt đẹp trai của ông có nét lo âu và mái tóc hung đã điểm hoa râm và một năm chiến đấu làm ông gầy đi. Ông đang thảo luận thân tình với các lãnh chúa. Richard đi đến rìa vòng bên trong và cúi mình chào một cách long trọng. Nhà vua nhìn sang, nhận ra cậu và nói bằng giọng lớn: “Richard thành Kingsbridge! Rất vui vì ông đã trở lại!”
“Cám ơn ngài, thưa vua!” Richard nói.
Philip bước lên bên cạnh cậu và cũng cúi chào như vậy.
Stephen nói: “Ông mang theo một tu sĩ như người hộ vệ cho ông phải không?” Cả triều thần cười vang.
“Thưa vua, đây là tu viện trưởng của Kingsbridge,” Richard nói.
Stephen nhìn ông một lần nữa, và Philip nhìn thấy ánh mắt của vua có nét như vua đã nhận ra ông. “Dĩ nhiên, tôi biết Tu viện trưởng… Philip,” ông nói, nhưng giọng ông không ấm áp như khi ông chào Richard. “Ông đến đây để chiến đấu cho tôi phải không?” Các triều thần lại bật lên cười.
Philip hài lòng vì nhà vua còn nhớ tên ông. “Tôi đến đây vì công việc của Thiên Chúa, vì công việc xây dựng lại nhà thờ chính tòa cần sự giúp đỡ khẩn cấp của nhà vua.”
“Tôi phải nghe toàn bộ về nó,” nhà vua vội vàng cắt ngang. “Hãy đến gặp tôi ngày mai, khi tôi có nhiều giờ hơn.” Ông quay lại phía các lãnh chúa, và tiếp tục cuộc trò chuyện bằng giọng nhỏ hơn.
Richard chào rồi rút lui, và Philip cũng làm theo.
Philip không nói chuyện với vua Stephen vào ngày hôm sau, cũng không phải ngày hôm sau nữa, hay một ngày nào sau đó.
Đêm đầu tiên ông trú tại một quán bia, nhưng ông cảm thấy khó chịu vì mùi thịt nướng và tiếng cười nói của phụ nữ phóng đãng. Thật không may, không có tu viện nào ở trong thành phố. Thông thường giám mục sẽ cho ông chỗ ăn ở, nhưng nhà vua đang sống trong dinh thự giám mục và các nhà xung quanh nhà thờ chính tòa đầy các thành viên trong đoàn tùy tùng của vua Stephen. Vào đêm thứ hai Philip đi ngay ra ngoại ô, thuộc vùng Wigford, nơi một tu viện đang điều hành một nhà dành cho người phong hủi. Ở đó ông nhận được bánh mì lúa mạch và bia pha nước cho bữa ăn tối, một tấm nệm cứng trên nền nhà, sự yên lặng từ lúc mặt trời lặn đến giờ kinh vào ban sáng và một bữa sáng với cháo lỏng không muối; và ông hạnh phúc.
Ông đến nhà thờ chính tòa rất sớm, mang theo văn bản cho phép tu viện quyền lấy đá từ mỏ. Ngày qua ngày, nhà vua không để ý đến ông. Khi những người khiếu kiện nói chuyện với nhau, thảo luận xem ai là người được ân huệ của vua, ai bị loại ra ngoài, Philip đứng ngoài cuộc thảo luận.
Ông biết tại sao ông vẫn phải đợi. Toàn thể giáo hội đã mâu thuẫn với nhà vua. Stephen đã không giữ lời hứa mà ông đã nói khi mới lên ngôi. Ông cũng gây nên mối bất hòa với em trai của ông, giám mục khôn ngoan Henry của Winchester, vì ông đã hỗ trợ người khác trở thành tổng giám mục của Canterbury; qua đó ông cũng làm mất lòng Waleran, người muốn lên thay vị trí của Henry. Nhưng tội lớn nhất của Stephen trong mắt giáo hội là tội đã bắt giữ giám mục Roger của Salisbury và hai người cháu của ông, là giám mục của Lincoln và Ely, tất cả trong một ngày vì không có giấy phép xây dựng lâu đài. Một cao trào phẫn nộ đã dấy lên từ các nhà thờ chính tòa và các tu viện trên cả nước vì sự phạm thánh này. Stephen bị thương tổn. Như người của Thiên Chúa, các giám mục không cần lâu đài, ông nói; và nếu họ xây lâu đài họ không thể chờ mong sẽ được đối xử hoàn toàn như người của Thiên Chúa. Ông chân thành, nhưng ngây thơ.
Sự rạn nứt này đã được hàn gắn, nhưng vua Stephen không còn sẵn sàng nghe lời khiếu nại của những người con Thiên Chúa, vì thế Philip phải đợi. Ông dùng thời gian để chiêm niệm. Nó là một việc mà ông ít có giờ cho nó trong chức vụ tu viện trưởng, và ông nhớ nó. Bây giờ, bất ngờ, ông không có gì làm, và ông dành thời gian cho suy tư.
Ngoài ra các triều thần khác tạo ra một không gian xung quanh Philip làm nhà vua càng dễ quên ông. Vào ngày thứ bẩy ở Lincoln, ông đang chìm sâu trong chiêm niệm về mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, ông chợt nhận ra có người đứng trước mặt ông, và người đó chính là nhà vua.
“Ông đang ngủ với đôi mắt mở phải không?” Stephen nói trong giọng nửa đùa nửa ngạc nhiên.
“Xin lỗi, thưa vua, tôi đang suy tư,” Philip nói, và cúi mình chào.
“Không sao. Tôi muốn mượn tu phục của ông.”
“Cái gì?” Philip quá bất ngờ để giữ tư cách.
“Tôi muốn có một cái nhìn xung quanh lâu đài, và nếu tôi ăn mặc như một tu sĩ, họ sẽ không bắn tên vào tôi. Thôi nào – đi vào một nhà nguyện và cởi tu phục ông ra.”
Philip chỉ có một áo lót dưới bộ quần áo tu sĩ. “Nhưng, thưa ngài, tôi mặc gì bây giờ?”
“Tôi quên tu sĩ các ông thường giản dị.” Stephen đưa ngón tay ra hiệu cho một hiệp sĩ trẻ. “Robert, cho tôi mượn áo ngoài của ông, nhanh lên.”
Chàng hiệp sĩ đang nói chuyện với một cô gái, cởi ngay áo choàng và đưa cho nhà vua với một cái cúi mình, rồi làm một cử chỉ thô tục với cô gái. Bạn bè của cậu cười to và reo hò.
Vua Stephen đưa áo ngoài cho Philip.
Philip đi vào nhà nguyện nhỏ Thánh Dunstan. Ông cầu nguyện nhanh xin thánh tha thứ, rồi cởi tu phục và mặc áo dài đỏ của hiệp sĩ vào. Nó rất lạ lẫm: ông đã mặc áo tu sĩ từ năm lên sáu, và ông cảm thấy kỳ lạ hơn khi ông ăn mặc giống như một phụ nữ. Ông đi ra và trao tu phục cho Stephen. Nhà vua chùm bộ tu phục qua đầu một cách nhanh chóng.
Rồi nhà vua làm ông ngạc nhiên khi ông nói: “Đi với tôi, nếu ông muốn. Ông có thể kể cho tôi về nhà thờ chính tòa Kingsbridge.”
Philip sửng sốt. Bản năng tự vệ đầu tiên của ông là từ chối. Một người lính gác trên tường thành có thể bắn vào ông, và ông không được bảo vệ bởi quần áo tu sĩ. Nhưng ông cũng có một cơ hội hoàn toàn một mình với nhà vua, với rất nhiều thời gian để giải thích về mỏ đá và khu chợ. Ông sẽ chẳng bao giờ có cơ hội khác như thế này nữa.
Stephen nhấc áo choàng của ông ra, chiếc áo màu tím với lông trắng ở cổ và viền áo. “Hãy mặc nó,” ông nói với Philip. “Ông sẽ làm người ta không còn chú ý đến tôi.”
Các cận thần khác đi im lặng, quan sát, tự hỏi điều gì xẩy ra.
Nhà vua làm một điều sâu sắc, Philip nhận ra. Ông ấy muốn nói rằng Philip không có gì để tìm kiếm trong trại lính này, và không thể chờ đợi đặc quyền trên xương máu của người khác, những người mạo hiểm mạng sống mình cho nhà vua. Điều này không phải là bất công. Nhưng Philip biết rằng nếu ông không chấp nhận quan điểm này của nhà vua, ông có thể lên đường về nhà và quên đi hy vọng khai thác mỏ đá và mở lại khu chợ. Ông không còn chọn lựa nào khác hơn là chấp nhận thách thức. Ông hít một hơi sâu và nói: “Có lẽ đó là ý Chúa muốn tôi sẽ chết để cứu nhà vua.” Rồi ông cầm áo choàng màu tím và mặc vào.
Có tiếng thầm thì từ đám đông; và ngay cả vua Stephen cũng giật mình. Tất cả mọi người chờ đợi Philip sẽ từ chối. Ngay lập tức Philip cũng đã ước gì mình đã từ chối. Nhưng bây giờ ông đã cam kết với lòng mình.
Stephen quay lại và đi về hướng cửa bắc. Philip theo sau ông. Nhiều cận thần muốn đi với ông, nhưng Stephen vẫy họ lại và nói: “Ngay cả một tu sĩ cũng có thể bị chú ý nếu ông ta được tháp tùng bởi cả triều đình.” Ông kéo chiếc mũ trong áo choàng của Philip lên đầu và họ đi vào khu nghĩa trang.
Chiếc áo choàng quý giá mà Philip mặc đã thu hút ánh mắt tò mò khi họ đi qua khu trại lính: người ta cho rằng ông là một nam tước và bối rối không nhận ra ông. Những ánh mắt làm ông cảm thấy tội lỗi, như thể ông là kẻ mạo danh. Không ai nhìn vào Stephen.
Họ không đi trực tiếp vào cổng chính lâu đài, nhưng xuyên qua mê lộ của các con hẻm hẹp và đi ra phía nhà thờ Thánh Paul-in-the-Bail, đối diện với hướng đông bắc của lâu đài. Tường tòa lâu đài được xây trên đỉnh thành lũy đất vững chắc và được bao bọc bởi con hào khô. Giữa bờ hào và các tòa nhà gần nhất cũng có một khoảng cách năm mươi thước. Stephen bước lên cỏ và đi về hướng tây, nghiên cứu tường phía bắc của lâu đài, và dừng lại đàng sau các ngôi nhà ở vành ngoài khu vực trống. Philip đi với ông. Stephan để Philip đi bên trái ông, giữa ông và lâu đài. Khu đất trống dĩ nhiên để cho người bắn cung có thể dễ dàng bắn vào những ai muốn đến gần bức tường. Philip không sợ chết nhưng ông sợ đau đớn, và tư tưởng quan trọng nhất trong tâm trí của ông là khi bị trúng một mũi tên sẽ đau như thế nào.
“Ông có sợ không, Philip?” Stephen hỏi.
“Kinh hoàng,” Philip thẳng thắn đáp lại; và rồi sợ hãi làm ông quên thận trọng, ông hỏi xấc xược: “Còn vua thì sao?”
Nhà vua cười. “Một chút,” ông thừa nhận.
Philip nhớ ra đây là lúc thuận tiện để nói về nhà thờ chính tòa. Tuy nhiên ông không thể tập trung khi mạng sống của ông đang ở gần nguy hiểm như thế này. Mắt ông luôn hướng về lâu đài, và ông nhìn bao quát thành lũy, quan sát xem có người nào đang nhắm cung.
Tòa lâu đài chiếm toàn bộ góc tây nam của nội thành, bức tường phía tây là một phần của bức tường thành phố, vì thế để đi quanh nó người ta phải đi ra ngoài thành phố. Stephen dẫn Philip qua cổng Tây và họ đi ra ngoài vào khu ngoại ô gọi là Newland. Ở đây những căn nhà giống như túp lều của nông dân, làm bằng phên và đất sét, có vườn rộng như các nhà ở làng thường có. Một chút gió lạnh thổi qua cánh đồng thoáng bên kia khu nhà. Stephen đi về hướng nam, vẫn đi theo chân tường lâu đài. Ông chỉ một cửa nhỏ trên tường lâu đài. “Đó là nơi Ranulf thành Chester lẩn trốn ra khi tôi chiếm thành, tôi nghĩ như vậy,” ông nói.
Ở đây Philip ít sợ hơn. Có nhiều người khác cũng đi trên đường, ngoài ra thành lũy ở phía này ít được bảo vệ nghiêm ngặt, bởi vì kẻ chiếm đóng trên lâu đài sợ cuộc tấn công từ thành phố chứ không phải từ nông thôn. Philip hít một hơi dài và thốt ra: “Nếu tôi chết, nhà vua có cho Kingsbridge mở lại khu chợ và bắt William Hamleigh trả lại mỏ đá không?”
Stephen không trả lời ngay. Họ đi xuống đồi tới góc tây nam của lâu đài và nhìn lên nhà tháp. Từ vị trí của họ, tòa lâu đài xuất hiện sừng sững như bất khả xâm phạm. Ngay dưới góc đó họ quay vào cổng khác và đi vào thành phố thấp hơn, rồi đi bộ dọc theo bức tường phía nam của lâu đài. Philip lại cảm thấy nguy hiểm. Một người nào đó bên trong lâu đài, khi quan sát hai người đàn ông vừa làm một vòng chung quanh lâu đài, phải suy luận rằng họ đang trên đường trinh sát và họ là những con mồi ngon, đặc biệt là người ặc áo khoác tím. Để làm cho mình bớt sợ hãi, Philip nghiên cứu nhà tháp. Có nhiều lỗ nhỏ trên tường, đó là đường thoát từ nhà vệ sinh, và rác rưởi được rơi ra trên tường và chẩy xuống gò đất bên dưới và tụ lại đó cho đến khi mục nát đi. Không ngạc nhiên gì khi nó bốc mùi hôi thối. Philip cố không thở sâu và họ vội vã đi qua.
Có một tháp nhỏ khác nằm ở góc đông nam. Bây giờ Philip và Stephen đã đi được ba mặt của quảng trường. Philip tự hỏi không biết Stephen có quên câu hỏi của ông không. Ông không dám hỏi vua lần nữa. Nhà vua có thể cảm thấy bị dồn ép và tự ái.
Họ đến đường chính, đi qua giữa phố và quay lại, nhưng trước khi Philip có thời gian để cảm thấy nhẹ nhõm, họ lại đi qua cổng khác vào trong nội thành, và vài phút sau họ lại ở khu trung lập giữa nhà thờ chính tòa và lâu đài. Philip kinh hoàng khi nhà vua dừng lại ở đó.
Ông quay sang nói với Philip, định vị mình để ông có thể quan sát lâu đài qua vai Philip. Lưng của Philip, phủ trong áo màu đỏ của vua chúa, phơi ra cho lính canh và lính bắn cung tên trong các đồn gác. Philip đứng chết cứng như một bức tượng, chờ đợi một mũi tên hay một mũi giáo cắm vào lưng mình bất cứ lúc nào. Ông toát mồ hôi mặc dù trời gió lạnh.
“Tôi đã cho ông mỏ đá đó nhiều năm trước, phải không?” vua Stephen nói.
“Không hẳn vậy,” Philip nghiến răng trả lời. “Ngài cho chúng tôi quyền lấy đá để xây nhà thờ chính tòa. Nhưng ngài cho Percy Hamleigh quyền sở hữu mỏ đá. Bây giờ con trai của Percy, William, đã đuổi thợ đá của tôi, giết năm người – trong đó có một phụ nữ và một em bé – và từ chối không cho chúng tôi đến gần.”
“Ông ấy không nên làm những việc như thế, đặc biệt nếu ông ấy muốn tôi phong ông ấy làm bá tước của Shiring,” Stephen suy nghĩ nói. Philip được khích lệ. Nhưng một lúc sau nhà vua nói: “Chết thật, nếu tôi không tìm được đường vào trong lâu đài này.”
“Làm ơn ra lệnh cho William mở lại các mỏ đá,” Philip nói. “Ông ấy coi thường nhà vua và ăn cắp của Thiên Chúa.”
Dường như Stephen không nghe thấy. “Tôi không nghĩ có nhiều người trong đó,” ông nói trong giọng mơ màng. “Tôi cho rằng tất cả họ ở trên thành lũy, để tỏ ra rằng lực lượng của họ mạnh mẽ. Thế còn khu chợ thì sao?”
Philip đi đến quyết định, có lẽ việc ông phải đứng dơ lưng vào đồn canh cho các lính gác dễ dàng bắn là một phần trong thử thách ông phải trải qua. Ông lau trán với rèm lông của áo choàng nhà vua. “Thưa ngài, mỗi chủ nhật dân chúng từ các vùng đến dự lễ ở Kingsbridge và làm việc thiện nguyện trên công trường xây dựng. Khi mới bắt đầu, một vài người đem đến và bán thịt, rượu, mũ, dao cho các thợ thiện nguyện. Rồi dần dần khu chợ được mọc lên. Và bây giờ tôi xin ngài cho phép nó hoạt động.”
“Ông có sẵn sàng trả tiền cho giấy phép không?”
Phí tổn là bình thường, Philip biết, nhưng ông cũng biết rằng nó có thể được miễn cho cơ quan tôn giáo. “Vâng, thưa ngài, tôi sẽ trả - trừ khi ngài muốn cho chúng tôi giấy phép miễn phí để làm vinh danh Chúa hơn.”
Lần đầu tiên Stephen nhìn thẳng vào mắt Philip. “Ông là một người can đảm, dám đứng đây với quân thù sau lưng, và mặc cả với tôi.”
Philip nhìn thẳng lại. “Nếu Chúa muốn đời sống tôi chấm dứt, không gì có thể cứu được tôi,” ông nói, nghe có vẻ can đảm hơn ông cảm thấy. “Nhưng nếu Chúa muốn tôi tiếp tục sống và xây nhà thờ Kingsbridge, hàng ngàn cung thủ cũng không hạ gục được tôi.”
“Nói rất hay!” Stephen nhận xét, và vỗ tay lên vai Philip, rồi ông quay về hướng nhà thờ chính tòa. Philip nhẹ hẳn người, đi bên cạnh vua, mỗi bước chân rời xa lâu đài cho ông cảm thấy an tâm hơn. Ông cảm thấy như đã qua được cuộc thử thách. Nhưng quan trọng là ông có được sự cam kết rõ ràng của nhà vua không. Chỉ còn vài phút nữa ông lại bị bao quanh bởi các cận thần. Khi họ đi qua hàng lính gác, Philip lấy hết can đảm trong cả hai tay và nói: “Thưa nhà vua, nếu ngài muốn viết một lá thư cho cảnh sát trưởng Shiring –“
Ông bị cắt ngang. Một trong các lãnh chúa vội vã đến gần, trông rất bối rối, và nói: “Robert thành Gloucester đang trên đường đến đây, thưa ngài.”
“Cái gì? Còn bao xa?”
“Rất gần. Chừng một ngày –“
“Tại sao tôi không được thông tin? Tôi đặt người khắp nơi!”
“Họ đến qua đường hào, sau đó ra khỏi đường và băng ngang cánh đồng trống.”
“Ông ấy đi với ai?”
“Tất cả lãnh chúa và hiệp sĩ thuộc phía ông, những người hai năm về trước đã bị mất hết đất đai. Ranunf thành Chester cũng đi với ông ấy –“
“Dĩ nhiên, kẻ phản bội này.”
“Ông ấy mang theo toàn bộ hiệp sĩ từ Chester, cộng thêm nhóm người Welsh hoang dã, trộm cướp.”
“Bao nhiêu người tất cả?”
“Khoảng một ngàn.”
“Chết tiệt! Chúng có hơn chúng ta một trăm người.”
Vào lúc này nhiều bá tước đã tụ họp xung quanh, và bây giờ một người nữa nói. “Thưa ngài, nếu chúng đi qua cánh đồng trống, chúng sẽ phải vượt qua sông ở chỗ cạn -“
“Suy nghĩ tốt, Erward!” Stephen nói. “Đem quân ông xuống chỗ cạn đó và xem ông có thể giữ chúng lại không. Ông cũng cần thêm cung thủ nữa.”
“Họ ở cách đây bao xa, có ai biết không?” Erward hỏi.
Vị lãnh chúa lúc đầu nói: “Rất gần, các trinh sát cho biết. Họ có thể đến bãi cạn trước ông.”
“Tôi phải đi ngay,” Erward nói.
“Tốt lắm!” Vua Stephen nói. Ông đấm tay phải vào lòng bàn tay trái của ông. “Vậy là sau cùng tôi sẽ gặp Robert thành Gloucester ngoài mặt trận. Tôi ước gì có thêm quân. Tuy nhiên – hơn một trăm quân không có gì nhiều.”
Philip lắng nghe mọi chuyện trong thinh lặng ảm đạm. Ông đã chắc chắn sẽ nhận được sự chấp thuận của Stephen. Bây giờ tâm trí nhà vua ở chỗ khác. Nhưng Philip chưa sẵn sàng bỏ cuộc. Ông vẫn còn đang mặc áo đỏ của vua. Ông cởi nó ra khỏi vai, đưa nó ra và nói: “Có lẽ tốt hơn chúng ta nên trở lại với vai trò của chúng ta, thưa ngài.”
Stephen gật đầu lơ đãng. Một cận thần bước đến sau vua và giúp ông cởi bộ tu phục. Philip đưa lại chiếc áo choàng của vua và nói: “Thưa ngài, dường như ngài đã sẵn sàng với lời yêu cầu của tôi.” Stephen bực tức vì bị nhắc nhở. Ông nhún vai định lên tiếng thì một giọng nói cất lên.
“Thưa vua!”
Philip nhận ra giọng nói. Tim ông thắt lại. Ông quay sang và thấy William Hamleigh.
“William!” nhà vua nói, bằng giọng nói nồng nhiệt ông thường dùng cho người chiến đấu. “Ông đến thật đúng lúc!”
William cúi đầu và nói: “Thưa ngài, tôi mang theo năm mươi hiệp sĩ và hai trăm người từ lãnh địa của tôi.”
Hy vọng của Philip thành mây khói.
Stephen vui mừng. “Ông là người tốt!” ông nói nồng nhiệt. “Điều đó cho chúng ta có lợi thế hơn kẻ thù!” Ông ôm vai William và cùng đi với cậu vào nhà thờ chính tòa.
Philip đứng lại nhìn theo họ đi. Ông đã gần đến thành công, nhưng sau cùng quân của William đã được coi trọng hơn công lý, ông cay đắng nghĩ. Người cận thần đã giúp nhà vua cởi bộ tu phục, bây giờ mang lại cho Philip. Philip cầm lấy nó. Người cận thần theo nhà vua và đoàn tùy tùng vào nhà thờ. Philip mặc lại bộ áo dòng. Ông thực sự thất vọng. Ông nhìn vào ba cửa ra vào hình vòng cung khổng lồ của nhà thờ. Ông đã hy vọng sẽ xây đường mái vòm giống như thế ở Kingsbridge. Nhưng vua Stephen đã chọn đứng về phía William Hamleigh. Nhà vua đã phải đối diện với một chọn lựa thẳng thắn: sự công bằng trong trường hợp của Philip hay lợi thế quân đội của William. Nhà vua đã không vượt qua được sự thử thách.
Bây giờ Philip chỉ còn lại một niềm hy vọng: nhà vua sẽ bị đánh bại trong cuộc chiến sắp tới.
II
Giám mục cử hành thánh lễ trong nhà thờ chính tòa khi bầu trời ngả từ đen sang xám. Đến lúc đó các con ngựa đã được đóng yên, các hiệp sĩ đã mặc áo giáp, các binh lính đã được ăn uống, và một bình rượu mạnh đã được phục vụ để sưởi ấm tim họ.
Trong khi con ngựa chiến dậm chân và khịt mũi trong gian bên cạnh, William Hamleigh quỳ ở gian giữa cùng với các hiệp sĩ và bá tước, chờ xin tha trước tội giết người mà hôm nay ông sẽ phạm.
Sợ hãi và phấn khích làm cho William choáng váng. Nếu hôm nay nhà vua chiến thắng, tên William sẽ luôn gắn liền với nó, bởi vì người ta sẽ nói rằng cậu đã đưa quân tiếp viện và tạo nên sự quân bình lực lượng. Nếu nhà vua thua … mọi chuyện đều có thể xẩy ra. Cậu rùng mình trên nền đất lạnh.
Nhà vua ở phía trước, trong bộ áo trắng mới tinh, với một cây nến trên tay. Khi Mình Thánh Chúa được nâng lên, cây nến gẫy và ngọn lửa tắt. William run lên vì sợ hãi: đó là điềm xấu. Một linh mục đem đến một cây nến mới và lấy cây nến gẫy đi, và Stephen mỉm cười lãnh đạm, nhưng cảm giác sợ hãi siêu nhiên vẫn còn lại với William, và khi cậu nhìn quanh, cậu có thể nói rằng những người khác cũng cảm thấy như vậy.
Sau thánh lễ một người hầu giúp vua mặc áo giáp. Ông có một áo dài đến đầu gối làm bằng da với những vòng sắt khâu trên đó. Chiếc áo được cắt phía trước và phía sau lên đến thắt lưng, vì thế mà ông có thể cưỡi ngựa được. Người hầu cột chặt nó ở cổ. Rồi ông ấy đội lên đầu vua chiếc mũ hẹp có hai tai dài che phủ mái tóc hung và bảo vệ chiếc cổ. Bên trên chiếc mũ ông đội một mũ sắt có phần bảo vệ mũi. Đôi giầy da của ông có móc xích và cựa sắt.
Khi ông mặc áo giáp, các bá tước đứng quanh ông. William theo lời khuyên của mẹ và hành động như thể ông là một trong số các bá tước, ông lách qua đám đông và tham gia vào nhóm tụ họp xung quanh vua. Sau khi lắng nghe một lúc cậu nhận ra họ đang thuyết phục Stephen rút quân và nhường Lincoln cho quân khởi nghĩa.
“Ngài có nhiều lãnh thổ hơn Maud – ngài có thể thành lập một đội quân hùng mạnh,” một người già nói, một người mà William nhận ra đó là Bá tước Hugh. “Hãy lui về miền Nam, đợi quân tiếp viện và trở lại với đội quân mạnh hơn.”
Sau điềm báo của cây nến gẫy, William cũng ước muốn lui binh; nhưng nhà vua không có giờ nghe những chuyện như vậy. “Chúng ta mạnh đủ để đẩy lui họ,” ông vui vẻ nói. “Tinh thần chiến đấu của các ông ở đâu?” Ông đeo trên thắt lưng một thanh kiếm và phía bên kia một con dao găm, cả hai ở trong vỏ bằng gỗ và da.
“Cả hai đội quân đều tương đương nhau,” Bá tước của Surrey, một người cao to, có tóc hoa râm ngắn và bộ râu tỉa nói. “Nó rất mạo hiểm.”
Đó là một lý lẽ quá bình thường đối với Stephen, William biết nhà vua có tinh thần thượng võ. “Quá tương đương?” ông lập lại một cách khinh bỉ. “Tôi chỉ thích một cuộc chiến công bằng.” Ông đeo bao tay da, phía lưng các ngón tay có bọc sắt. Người hầu đưa cho ông một cái khiên bằng gỗ bọc da. Ông nối dây đeo quanh cổ và cầm khiên bằng tay trái.
“Chúng ta chỉ mất một ít nếu rút quân vào thời điểm này,” Hugh tiếp tục. “Ngay cả lâu đài chúng ta cũng không sở hữu.”
“Tôi sẽ bỏ lỡ cơ hội gặp Robert thành Gloucester trên trận chiến.” Stephen nói. “Hai năm qua ông ấy đã trốn tôi. Bây giờ tôi có cơ hội để giải quyết kẻ phản bội này một lần cho xong, tôi sẽ không lui quân chỉ vì quân đội hai bên bằng nhau.”
Một người giữ ngựa mang đến con ngựa đã đóng yên sẵn. Khi Stephen chuẩn bị lên ngựa, tiếng ồn ào vang lên ở cửa ra vào gian phía tây nhà thờ, và một hiệp sĩ chạy lên theo gian giữa, người đầy bùn và máu. William linh cảm có điều chẳng lành. Khi ông ta cúi chào nhà vua, William nhận ra ông thuộc quân của Erward, người đã được gửi ra gác ở chỗ cạn. “Thưa ngài, chúng ta đã quá trễ,” ông ta nói giọng khàn, thở dốc. “Quân thù đã qua sông.”
Nó là một dấu hiệu xấu nữa. William bất ngờ cảm thấy lạnh hơn. Bây giờ giữa quân thù và thành phố Lincol chỉ còn cách nhau một cánh đồng thoáng.
Trong một khoảnh khắc chính Stephen cũng kinh hoàng, nhưng ông bình tĩnh lại ngay. “Không có vấn đề gì!” ông nói. “Như vậy chúng ta sẽ gặp họ sớm hơn!” Ông trèo lên lưng con ngựa chiến.
Ông có một chiếc rìu đeo ở yên ngựa. Người hầu đưa cho ông cây giáo bằng gỗ đầu bọc sắt, như vậy là đầy đủ vũ khí cho nhà vua. Stephen tặc lưỡi, và con ngựa ngoan ngoãn di chuyển về phía trước.
Khi ông cưỡi ngựa xuống giữa gian chính nhà thờ, các bá tước và hiệp sĩ lên ngựa và theo sau ông, và họ rời nhà thờ như một cuộc rước. Bên ngoài sân, các binh lính nhập đoàn với họ. Đây là thời điểm cho những ai sợ hãi có thể tìm cơ hội trốn đi; nhưng bầu khí trang nghiêm và long trọng, cùng với dân thành phố đứng nhìn, nên cũng rất khó cho người hèn nhát trốn thoát.
Số lượng đoàn quân của nhà vua được bổ sung thêm hơn một trăm dân thành phố, những thợ bánh béo phì, những thợ dệt cận thị và thợ làm bia đỏ mặt. Họ trang bị đơn sơ và cưỡi trên những con ngựa nhỏ, mập mạp. Sự hiện diện của họ là một dấu hiệu họ không ưa Ranulf.
Đoàn quân không được đi ngang lâu đài, vì họ sẽ trở thành mục tiêu cho các cung thủ từ trên thành lũy, nên họ rời thành phố bằng cửa phía bắc được gọi là Newport Arch, rồi quẹo về phía tây. Đây là nơi cuộc chiến được diễn ra.
William quan tâm nghiên cứu địa hình. Mặc dù ngọn đồi phía nam của thành phố dốc xuống sông, ở đây bên phía tây có một sườn đồi dài đổ nhẹ xuống đồng bằng. William nhận ra ngay nhà vua đã chọn đúng chỗ để bảo vệ thành phố. Bất kỳ quân thù đến từ hướng nào, họ cũng phải vượt qua sườn đồi để chiến đấu với đoàn quân của vua.
Khi Stephen đi được một phần tư dặm khỏi thành phố, hai trinh sát cưỡi ngựa nhanh lên dốc. Họ nhìn thấy nhà vua và đi thẳng đến ông. William đến gần và nghe họ tường thuật.
“Quân thù tiến đến nhanh, thưa ngài,” một trong hai người trinh sát nói.
William nhìn qua cánh đồng. Cậu nhìn thấy từ xa một đám đông đen đang di chuyển chậm rãi về phía cậu: quân thù. Cậu rùng mình vì sợ. Cậu lắc mình, nhưng cơn sợ vẫn còn. Nó sẽ hết khi cuộc chiến bắt đầu.
Vua Stephen hỏi: “Cách dàn quân của họ ra sao?”
“Ranulf và các hiệp sĩ thành Chester tạo thành cánh quân chính giữa, thưa ngài,” người lính trinh sát nói. “Họ đang đi bộ.”
William tự hỏi tại sao người trinh sát biết tin này. Ông ta phải trà trộn trong trại lính và nghe được cách tiến quân như thế nào. Điều đó cần một thần kinh tốt.
“Ranulf ở khu giữa? Stephen nói. “Như vậy ông ấy là người chỉ huy chứ không phải Robert!”
“Robert thành Gloucester ở bên cánh trái, với một đoàn người tự gọi là ‘người hưởng gia tài’”, người trinh sát nói tiếp. William biết tại sao họ dùng tên gọi đó – họ đã mất hết đất đai từ khi cuộc nội chiến bắt đầu.
“Như vậy Robert đã giao cho Ranulf quyền chỉ huy quân đội,” Stephen trầm tư nói. “Thật đáng tiếc. Tôi biết rõ Robert – tôi lớn lên cùng với ông ấy – và tôi có thể đoán được chiến thuật của ông ấy. Nhưng Ranulf là một người lạ đối với tôi. Không vấn đề gì. Ai là người ở bên phải?”
“Người vùng Welsh, thưa ngài.”
“Những cung thủ, tôi đoán như vậy.” Người vùng phía nam của Wales nổi tiếng về bắn cung.
“Không phải những người này,” người trinh sát nói. “Họ là một nhóm hoang dã, mặt mày sơn phết, hát những bài hát man rợ và trang bị với búa và gậy. Rất ít người đi ngựa.”
“Như vậy có thể là người bắc Wales,” Stephen trầm ngâm. “Ranulf đã hứa cho họ được cướp bóc, tôi đoán thế. Xin Chúa bảo vệ Lincoln nếu họ vào được trong thành. Nhưng họ không có thể! Tên ông là gì?”
“Roger, được gọi là ‘không ruộng đất’,” người trinh sát nói.
“Không ruộng đất? Ông sẽ được thưởng bốn hecta đất cho công việc này.”
Người trinh sát hớn hở. “Cảm ơn ngài!”
“Bây giờ.” Stephen quay nhìn các bá tước. Ông dự định dàn trận. William căng thẳng, tự hỏi không biết nhà vua sẽ trao cho cậu nhiệm vụ nào. “Bá tước Alan thành Brittany đâu?”
Alan thúc ngựa lên. Ông là chỉ huy trưởng của đoàn quân đánh thuê Breton, không có nguồn gốc, những người chiến đấu vì lương và chỉ trung thành với chính họ.
Stephen nói với Alan: “Tôi muốn có ông và đoàn quân dũng cảm Breton ở phía trước, bên trái tôi.”
William nhìn thấy sự khôn ngoan trong đó: lính đánh thuê Breton sẽ chống lại người táo bạo Welsh, những người không đáng tin cậy chống lại những người vô kỷ luật.
“William thành Ypres!” Stephen gọi.
“Thưa ngài.” Một người đàn ông da màu trên lưng con ngựa đen giơ cây thương của mình lên cao. William này là vị chỉ huy của một đoàn lính đánh thuê khác, người Bỉ. Người ta nói những người này đáng tin tưởng hơn người Breton.
Stephen nói: “Các ông cũng ở bên trái tôi, nhưng sau đoàn quân Breton của Alan.”
Hai vị chỉ huy đội lính đánh thuê quay về phía đoàn quân của mình và xếp đặt người của họ. William tự hỏi ông sẽ được xếp ở đâu. Cậu không muốn ở tiền tuyến. Cậu đã làm nhiều hơn người khác vì cậu đã đem quân của cậu theo. Một vị trí hậu cần, an toàn sẽ phù hợp với cậu hôm nay.
Vua Stephen nói: “Các bá tước thành Worcester, Surey, Northampton, York và Hertford, với các hiệp sĩ của các ông tạo thành cánh phải của tôi.”
Một lần nữa William nhìn thấy ý nghĩa cách dàn trận của Stephen. Các bá tước và hiệp sĩ của họ, hầu hết đi ngựa, sẽ trực diện với Robert thành Gloucester và giới quý tộc ‘vô sản’, người ủng hộ ông, hầu hết họ cũng đi ngựa. Nhưng William thất vọng vì không được gọi chung với các bá tước. Chắc chắn nhà vua sẽ không quên cậu.
“Tôi sẽ giữ mặt giữa, xuống ngựa đi bộ với các binh lính,” Stephen nói.
Lần đầu tiên William không đồng ý với quyết định của nhà vua. Nó luôn luôn tốt khi bạn có thể ở trên lưng ngựa bao lâu có thể. Nhưng Ranulf, dẫn đầu đoàn quân đối lập, đi bộ, và ý định muốn chơi đẹp của Stephen buộc ông phải đối diện với kẻ thù một cách bình đẳng.
“Cùng ở giữa với tôi có William thành Shiring và người của ông ấy,” nhà vua nói.
William không biết vui mừng hay sợ hãi. Đó là một vinh dự được chọn đứng chung với nhà vua – Mẹ cậu chắc sẽ hài lòng – nhưng nó đặt cậu vào một vị trí rất nguy hiểm. Tệ hơn nữa, cậu phải đi bộ. Nó cũng có nghĩa là nhà vua sẽ có thể thấy cậu và đánh giá khả năng của cậu. Cậu sẽ phải tỏ ra không sợ hãi và tiến vào quân thù, ngược lại với chiến thuật cậu ưa thích là tránh xa rắc rối và chỉ chiến đấu khi bị bắt buộc.
“Các dân cư trung thành của Lincoln sẽ đi phía sau,” Stephen nói. Đây là một tổng hợp của sự thông cảm và kỹ thuật quân sự. Cư dân không được sử dụng nhiều ở bất cứ chỗ nào, nhưng ở phía sau họ ít bị thiệt hại và thương vong.
William giơ cờ của lãnh địa Shiring. Đây là ý tưởng khác của mẹ cậu. Nói một cách nghiêm khắc, cậu không có quyền cầm cờ vì cậu không phải là bá tước; nhưng quân của cậu đã quen theo cờ Shiring – hay là ông sẽ lý luân như thế nếu bị tra hỏi. Và vào cuối ngày, nếu cuộc chiến kết thúc tốt, có thể cậu sẽ là bá tước.
Quân cậu tập trung quanh cậu. Walter bên cạnh cậu, như mọi khi, một sự hiện diện chắc chắn và bảo đảm. Ugly Gervase, Hugh Axe và Miles Dice cũng vậy. Gilbert, người đã chết ở mỏ đá, được thay thế bởi Guillaume de St. Clair, một khuôn mặt trẻ mới có tính nết tàn bạo.
Nhìn quanh, William tức điên khi thấy Richard thành Kingsbridge mặc áo giáp mới và cưỡi một con ngựa chiến lộng lẫy. Cậu cùng đi với bá tước thành Surrey. Cậu đã không mang đến nhà vua một đội quân như William đã làm, nhưng cậu trông ấn tượng – khuôn mặt mới, mạnh mẽ và dũng cảm – và nếu hôm nay cậu làm được điều vĩ đại, cậu sẽ chiếm được sự ủng hộ của hoàng gia. Cuộc chiến không thể đoán trước, và nhà vua cũng vậy.
Mặt khác có thể Richard sẽ bị giết hôm nay. Đó sẽ là một may mắn tình cờ. William thèm khát điều đó hơn là cậu thèm khát một phụ nữ.
Cậu nhìn về hướng tây. Quân thù đã đến gần.
Philip ở trên mái nhà thờ chính tòa, và ông có thể nhìn thành phố Lincoln như trên một bản đồ. Thành phố cổ bao quanh nhà thờ chính tòa trên đỉnh đồi. Có những con đường thẳng, những khu vườn gọn gàng và lâu đài trong góc tây nam. Khu mới hơn, ồn ào và đông đúc, chiếm sườn đồi dốc phía nam, giữa thành phố cổ và sông Witham. Vùng này thường nhộn nhịp với các hoạt động thương mại, nhưng hôm nay nó bị bao trùm bởi sự yên tĩnh sợ hãi giống như một tấm khăn niệm che phủ thành phố, và dân chúng đứng trên mái nhà theo dõi trận chiến. Dòng sông đến từ hướng đông, chạy dọc theo chân ngọn đồi, sau đó mở rộng thành một hải cảng tự nhiên lớn được gọi là Brayfield Pool, được bao quanh bởi cầu cảng và thuyền bè. Một kênh đào được gọi là Fosdyke chạy từ Brayfield Pool về phía tây – tất cả con đường dẫn tới sông Trent, Philip đã được nghe nói. Nhìn nó từ trên cao, Philip ngạc nhiên làm sao nó có thể chạy thẳng hàng dặm. Người ta nói rằng nó đã được xây từ thời thượng cổ.
Kênh đào tạo thành ranh giới của bãi chiến trường. Philip quan sát đoàn quân của vua Stephen ra khỏi thành phố trong một đám đông hỗn loạn và từ từ hình thành ba cột trật tự trên sườn đồi. Philip biết Stephen đã đặt các bá tước bên tay phải ông bởi vì họ có nhiều màu sắc, với áo dài đỏ và vàng của họ, và với cờ lộng lẫy. Họ cũng tích cực nhất, đi lên đi xuống, ra lệnh, tổ chức tham vấn và lên kế hoạch. Nhóm bên tay trái vua, trên sườn đồi dẫn xuống kênh đào, ăn mặc màu xám nhạt và nâu, chỉ có vài con ngựa, và ít bận rộn, giữ gìn năng lực cho cuộc chiến: có lẽ họ là lính đánh thuê.
Đối diện với quân đội Stephen, nơi các đường kênh đào trở thành mờ ảo và trộn lẫn với hàng rào cây, đoàn quân kháng chiến bao trùm cánh đồng giống như một đàn ong. Lúc đầu họ dường như đứng nguyên một chỗ, nhưng rồi một lúc sau khi ông nhìn kỹ, họ đã gần hơn; và bây giờ, nếu ông nhìn kỹ ông có thể nhận ra sự chuyển động của họ. Ông ngạc nhiên về lực lượng của họ. Dường như hai lực lượng cân bằng nhau.
Philip không có thể làm gì khác hơn là đứng nhìn – một tình trạng mà ông rất ghét. Ông cố giữ cho tâm trí mình bình yên và tin vào định mệnh. Nếu Chúa muốn một nhà thờ chính tòa mới ở Kingsbridge, Ngài có thể làm cho Robert thành Gloucester đánh bại vua Stephen ngày hôm nay, vì thế mà ông có thể yêu cầu nữ hoàng chiến thắng Maud cho phép ông lấy lại mỏ đá và mở lại khu chợ. Và nếu Stephen chiến thắng Robert, Philip sẽ phải chấp nhận ý Chúa, từ bỏ kế hoạch đầy tham vọng của mình, và để Kingsbridge một lần nữa rơi vào quên lãng.
Cố gắng như ông có thể, Philip không thể nghĩ khác. Ông muốn Robert chiến thắng.
Một cơn gió mạnh thổi qua tháp nhà thờ và đe dọa thổi bay những người đứng xem yếu bóng vía xuống khu nghĩa địa bên dưới. Gió lạnh buốt. Philip rùng mình và kéo áo choàng chặt hơn xung quanh ông.
Hai đội quân bây giờ chỉ còn cách nhau một dặm.
Đoàn quân khởi nghĩa dừng lại một dặm trước tiền tuyến của nhà vua. Nó thật đau đớn khi nhìn thấy số người của họ nhưng không biết gì nhiều về họ. William muốn biết họ được trang bị vũ khí như thế nào, họ háo hức và hung hăng hay mệt mỏi và miễn cưỡng, ngay cả họ cao bao nhiêu. Họ tiếp tục chậm rãi tiến về phía trước, bởi vì những người ở phía sau cũng bị thúc đẩy như William, họ ép về phía trước để nhìn xem quân thù.
Trong quân đội của Stephen các bá tước và hiệp sĩ ngồi trên lưng ngựa theo hàng, với giáo sẵn sàng, như thể họ ở trong một giải đấu và sẵn sàng cuộc đua. William miễn cưỡng gửi tất cả ngựa của họ lại phía sau. Cậu nói với người giữ ngựa không đưa ngựa của cậu về thành phố nhưng giữ ngựa ở đó trong trường hợp cậu cần – để trốn chạy, ý cậu như thế, mặc dù cậu không nói rõ ra. Nếu cuộc chiến thất bại thì chạy trốn tốt hơn là chết.
Có những lúc vắng lặng, dường như cuộc chiến sẽ chẳng bao giờ bắt đầu. Gió ngưng lại và ngựa cũng trở lại bình tĩnh, nhưng con người thì không. Vua Stephen cởi mũ sắt và gãi đầu. William bồn chồn. Đánh nhau là chuyện bình thường, nhưng nghĩ về nó làm cậu buồn nôn.
Sau đó, không biết vì lý do gì, bầu khí trở nên căng thẳng. Một tiếng hô xuất trận vang lên từ đâu đó. Tất cả ngựa lồng lên. Sự cổ vũ bắt đầu nhưng ngay lập tức bị át đi bởi tiếng sấm của vó ngựa. Cuộc chiến đã bắt đầu. William ngửi thấy mùi mồ hôi chua của sợ hãi.
Cậu nhìn quanh cố gắng xem những gì đang xẩy ra, nhưng hoàn toàn thất vọng, và vì đi bộ, cậu chỉ có thể nhìn thấy những gì ngay bên cạnh cậu. Các bá tước bên cánh phải dường như đã bắt đầu chiến đấu. Có lẽ đoàn quân qúy tộc mất đất của bá tước Robert đã đánh trả lại. Ngay lập tức một tiếng kêu từ bên trái, và William quay lại nhìn thấy những người lính đánh thuê Breton đang phi ngựa về phía trước. Đáp lại, một tiếng hú kinh hoàng phát ra từ phía quân thù – có lẽ đám dân Welsh. Cậu không thể nhìn thấy ai có lợi thế hơn.
Cậu không thấy Richard.
Hàng chục mũi tên bay như một đàn chim từ hàng phía sau quân thù và bắt đầu rơi xuống chung quanh. William dùng khiên che đầu. Cậu ghét những mũi tên – chúng có thể giết người một cách ngẫu nhiên.
Vua Stephen hô tiến quân và chiến đấu. William rút kiếm, lao về phía trước và gọi quân cậu đi theo. Nhưng những người cưỡi ngựa hai bên cánh phải và trái rẽ ra khi họ đánh nhau phía trước và chặn đường ông.
Bên tay phải có tiếng sắt chạm vào nhau, và cậu ngửi thấy mùi kim khí quen thuộc. Các bá tước và người hưởng di sản đã tham gia cuộc chiến. Những gì cậu có thể nhìn thấy là người và ngựa va chạm nhau, xoay quanh, đánh nhau và ngã xuống. Không thể phân biệt được tiếng ngựa hí và tiếng hò hét của quân sĩ, và đâu đó William có thể nghe thấy tiếng la hét khủng khiếp của người bị thương đau đớn. Cậu hy vọng Richard là một trong những người này.
William nhìn sang trái và kinh hoàng nhìn thấy những người Breton bị lui lại vì gậy và rìu của những thổ dân hoang dã Welsh. Người Welsh cáu tiết, la hét, quát tháo và chà đạp nhau vì hăng hái muốn đánh vào quân thù. Có lẽ họ nóng lòng muốn cướp phá thành phố giầu có. Những người Breton không có kỳ vọng gì nhiều hơn là một tuần lương, nên đã chiến đấu phòng thủ và sẵn sàng lui chiến. William chán ghét quay đi.
Cậu thất vọng vì chưa được đánh đòn nào. Cậu bị bao vây bởi các hiệp sĩ của cậu, trước mặt là ngựa của bá tước và người Breton. Cậu chen lên phía trước, lên hàng đầu bên cạnh nhà vua. Cuộc chiến diễn ra xung quanh: ngựa chết, binh lính đánh nhau tay đôi, tiếng kêu inh ỏi của các thanh kiếm chạm nhau, và mùi ghê tởm của máu; nhưng William và vua Stephen, trong lúc này, bị mắc kẹt trong một vùng chết.
Philip có thể nhìn thấy mọi sự, nhưng ông không hiểu gì. Ông không biết những gì đang xẩy ra. Tất cả hỗn loạn: lưỡi kiếm nhấp nháy, cờ bay và rớt xuống, và âm thanh của chiến trận được gió mang theo qua không gian lặng thinh. Nó là một bực bội khó chịu. Vài người ngã xuống và chết, người khác vượt qua và chiến đấu, nhưng ông không thể nói ai thắng ai thua.
Một linh mục nhà thờ chính tòa trong áo khoác lông thú đứng gần, nhìn Philip rồi nói: “Ra sao rồi?”
Philip lắc đầu và nói: “Tôi không biết.”
Nhưng ngay khi ông đang nói, ông thấy một chuyển động. Phía bên trái của chiến trường, một vài người chạy từ đồi xuống kênh đào. Họ là lính đánh thuê mặc quần áo nâu, và như Philip có thể nói, họ là lính của nhà vua đang chạy trốn, và những người thuộc bộ lạc của quân đội tấn công đuổi theo. Tiếng reo chiến thắng của người Welsh có thể nghe thấy ở đây. Niềm hy vọng của Philip trào lên: quân khởi nghĩa đang chiến thắng!
Sau đó có một thay đổi lớn ở phía bên kia. Bên cánh phải, nơi kỵ binh chiến đấu, quân đội của nhà vua dường như bị đẩy lui. Chuyển động lúc đầu nhẹ, rồi ổn định, rồi lại nhanh chóng; và theo như Philip quan sát, cuộc rút quân thành cuộc thảm bại, và hàng trăm người của nhà vua quay ngựa và bắt đầu chạy.
Philip phấn khởi: đó phải là ý Chúa!
Cuộc chiến có thể qua đi nhanh chóng như vậy không? Quân khởi nghĩa đã tiến vào cả hai cánh, nhưng phía giữa vẫn ổn định. Những người chung quanh vua Stephen chiến đấu quyết liệt hơn so với hai bên cánh. Họ có thể ngăn lại dòng chẩy không? Có lẽ Stephen và Robert thành Gloucester sẽ trực tiếp chiến đấu với nhau: cuộc chiến cá nhân giữa hai nhà chỉ huy đôi khi có thể giải quyết vấn đề bất kể những gì xẩy ra trên chiến trường. Cuộc chiến chưa kết thúc.
Chiều hướng thay đổi với tốc độ kinh hoàng. Có lúc cả hai đoàn quân chiến đấu quyết liệt; và sau đó quân của vua lui về nhanh chóng. William vô cùng chán nản. Bên cánh trái, lính đánh thuê Breton đang chạy xuống đồi và bị người Welsh truy đuổi xuống tới kênh đào. Bên cánh phải, các bá tước với các ngựa chiến và cờ quạt đang quay lưng khỏi trận chiến và tìm đường trốn về Lincoln. Chỉ có tuyến giữa vẫn cầm cự: Vua Stephen, giữa trận địa, vung thanh kiếm khổng lồ quanh mình, và đoàn quân Shiring chiến đấu như đàn chó sói quanh ông. Nhưng tình hình bất ổn. Nếu hai cánh tiếp tục rút lui, sau cùng nhà vua sẽ bị bao vây. William muốn Stephen lui quân. Nhưng nhà vua thì can đản hơn là khôn ngoan, và ông tiếp tục chiến đấu.
William thấy toàn bộ cuộc chiến đổ về bên trái. Nhìn quanh, lính đánh thuê người Bỉ đến từ đàng sau và đột kích người Welsh, họ bỏ không đuổi theo người Breton xuống đồi nữa và quay lại bảo vệ chính mình. Hai bên đánh cận chiến. Rồi quân của Ranulf thành Chester, ở giữa đạo quân khởi nghĩa, tấn công người Bỉ, những người bây giờ ở giữa đám quân từ Chester và Welsh.
Nhìn thấy sự tập hợp lại, vua Stephen thúc dục quân ông tiến lên. William nghĩ Ranulf có thể đã lầm lẫn. Nếu quân nhà vua có thể đến gần quân Ranulf bây giờ, Ranulf sẽ là người bị hai phía ép vào.
Một người hiệp sĩ của William ngã gục ngay trước mặt cậu và bất ngờ cậu ở ngay giữa cuộc chiến.
Một người miền Bắc lực lưỡng với máu trên ngọn kiếm lao vào cậu. William né tránh dễ dàng: cậu còn khỏe và người kia đã mệt. William đâm vào khuôn mặt ông, bị lỡ, và cậu né tránh nhát kiếm khác. Cậu giơ cao lưỡi kiếm, và cố ý không bảo vệ; rồi, khi người đàn ông kia bước về phía trước và đâm nhát khác, William né nó và với hết sức mình, cậu đâm lưỡi kiếm bằng cả hai tay lên vai người đàn ông. Lưỡi kiếm đâm qua áo giáp, làm gẫy xương và ông ta gục xuống.
William đã có một giây phút hứng khởi. Nỗi sợ hãi biến mất. Ông gầm lên: “Đứng lên, con chó!”
Hai người thay chỗ của người hiệp sĩ bị ngã xuống và tấn công William cùng một lúc. Cậu có thể cầm cự với họ, nhưng cậu bị bắt buộc phải rời vị trí.
Có một biến động bên cánh phải, và một đối thủ của cậu quay sang một bên để chống lại một người lính mặt đỏ có một con dao, trông như người bán thịt điên cuồng. Vì thế chỉ còn một người đối phó với William. Cậu cười dã man và bước về phía trước. Đối thủ của cậu hoảng sợ và chém dữ dội vào đầu William. William cúi xuống và đâm người đàn ông vào đùi, ngay dưới áo giáp ngắn. Chân ông bị gẫy và ông ngã xuống.
Một lần nữa William không có ai để đánh nhau. Cậu đứng yên, thở mạnh. Có lúc cậu đã nghĩ quân đội của nhà vua đang bị tan rã, nhưng bây giờ họ tập trung lại, và không thể nói được bên nào đang có lợi thế. Cậu nhìn sang bên phải, tự hỏi chuyện gì đã gây ra sự biến động làm phân tâm đối thủ, người đang đánh nhau với cậu. Trước sự ngạc nhiên cậu nhìn thấy cư dân Lincoln đang đánh nhau dữ dội với quân thù. Có lẽ bởi vì họ muốn bảo vệ gia đình họ. Nhưng ai là người đã tụ hợp họ, khi các bá tước ở hai cánh đã chạy trốn? Câu hỏi của cậu được trả lời ngay: cậu kinh ngạc nhìn thấy Richard thành Kingsbridge trên lưng con ngựa chiến, đôn đốc cư dân. William đau lòng. Nếu nhà vua nhìn thấy Richard can đảm, có thể mọi nỗ lực của William thành vô nghĩa. William nhìn sang nhà vua. Vào lúc đó nhà vua gặp ánh mắt Richard và vẫy tay khích lệ. William thốt ra lời nguyền rủa bực bội.
Sự tấn công của cư dân làm giảm áp lực lên nhà vua, nhưng chỉ được chốc lát. Về phía trái, quân của Ranulf đã đẩy lui lính đánh thuê người Bỉ, và bây giờ ông quay vào cánh giữa của lực lượng bảo vệ. Vào lúc đó nhóm người được gọi là người hưởng di sản chống lại Richard và cư dân, và cuộc chiến trở nên khốc liệt.
William bị một người đàn ông to lớn tấn công bằng rìu. Cậu tuyệt vọng né tránh, bất ngờ cậu sợ mất mạng. Mỗi một nhát rìu bổ xuống, cậu lại nhẩy lùi lại, và cậu sợ hãi nhận ra rằng quân đội nhà vua cũng lùi lại cùng tốc độ. Phía bên trái cậu, người Welsh đã lên lại đồi và, một cách dữ dội, bắt đầu ném đá. Nó thật vô lý nhưng hiệu quả, bởi vì bây giờ William vừa phải chiến đấu với người có chiếc rìu nhưng một mắt vẫn phải chú ý đến những hòn đá bay. Dường như quân thù đông hơn trước, và William cảm thấy, với một cảm giác thất vọng, rằng quân nhà vua bị áp đảo. Nỗi sợ hãi tăng lên khi cậu nhận ra cuộc chiến đã sắp tàn và cậu có thể bị nguy hiểm đến tính mạng. Nhà vua nên trốn chạy ngay. Tại sao ông lại tiếp tục chiến đấu? Thật là điên dại – ông sẽ bị giết – tất cả họ sẽ bị giết! Địch thủ của William dơ chiếc rìu. Bản năng chiến đấu của ông trở lại, và thay vì lùi lại như những lần trước, cậu nhẩy tới và đâm vào mặt người đàn ông to lớn. Lưỡi kiếm của cậu đâm vào cổ địch thủ, ngay dưới cằm. Cậu đẩy mạnh thanh kiếm. Mắt người đàn ông đóng lại. William thở phào nhẹ nhõm. Cậu rút kiếm về và lùi lại tránh chiếc rìu rơi xuống từ bàn tay người chết.
Cậu nhìn trộm sang nhà vua đanh chiến đấu chỉ cách cậu vài bước phía tay trái. Khi cậu nhìn, nhà vua giáng thanh kiếm xuống trên mũ sắt của một người, và thanh kiếm gẫy làm hai như một khúc củi. Thế là chấm dứt, William thở phào; cuộc chiến đã tan. Nhà vua sẽ phải trốn chạy mà cứu mình và chiến đấu lại vào ngày khác. Nhưng cậu hy vọng quá sớm. William đang quay lại để chạy đi, thì một cư dân trao cho nhà vua một cây rìu có cán dài bằng gỗ. William thất vọng, vì nhà vua cầm lấy và tiếp tục chiến đấu.
William bị cám dỗ trốn đi. Nhìn qua tay phải, cậu thấy Richard đi bộ, chiến đấu giống như một người điên, ép về phía trước, vung kiếm quanh người, hạ gục hết người này đến người kia. William không thể trốn chạy khi người kình địch của cậu vẫn còn đang chiến đấu.
William lại bị tấn công, lần này bởi một người nhỏ con trang bị nhẹ, người di chuyển rất nhanh, thanh kiếm của ông lấp lánh trong ánh mặt trời. Khi hai lưỡi kiếm chạm nhau, William nhận ra ông đang đụng độ một đối thủ đáng gờm. Một lần nữa cậu phải tự vệ và lo mất mạng; ngoài ra ý thức rằng cuộc chiến đã sắp kết thúc làm cậu mất tinh thần chiến đấu. Cậu né tránh những đường đâm, những nhát cắt nhanh chóng và ước muốn có thể đánh một cú mạnh xuyên qua áo giáp của người đàn ông. Cậu thấy một cơ hội và vội vung thanh gươm. Người đàn ông né tránh và đâm lại, và William thấy cánh tay trái của cậu tê cứng. Cậu bị thương. Cậu hoảng lên vì sợ. Cậu tiếp tục lùi lại sau mỗi đợt tấn công, cảm thấy mất thăng bằng như mặt đất đang di chuyển dưới chân cậu. Chiếc khiên treo lủng lẳng nơi cổ cậu: cậu không có thể giữ nó ổn định với cánh tay trái bị thương. Người đàn ông cảm nhận được sự chiến thắng đã gần kề nên ông tấn công mạnh hơn. William thấy sự chết trước mặt và kinh hoàng sợ hãi.
Bất ngờ Walter xuất hiện bên cạnh cậu.
William lùi lại. Walter vung kiếm bằng cả hai tay. Người đàn ông nhỏ ngỡ ngàng, không kịp phản ứng và ngã xuống như một cây nhỏ đổ. William thở phào, đặt một tay lên vai Walter.
“Chúng ta đã thất bại,” Walter nói với cậu. “Chúng ta đi thôi.”
William co mình lại. Nhà vua vẫn còn chiến đấu, ngay cả ông biết cuộc chiến đã qua. Nếu bây giờ ông bỏ cuộc và cố gắng tìm cách chạy, ông có thể về miền Nam và tập hợp một đội quân khác. Nhưng ông càng chiến đấu lâu dài hơn, khả năng ông bị bắt và bị giết càng cao hơn, và điều đó có nghĩa là: Mauld sẽ lên làm nữ hoàng.
William và Walter quay lưng lại với nhau. Tại sao nhà vua lại quá ngu ngốc? Ông đã chứng tỏ sự dũng cảm của ông. Dũng cảm đồng nghĩa với việc ông phải chết. Một lần nữa William bị cám dỗ bỏ rơi nhà vua. Nhưng Richard thành Kingsbridge vẫn còn đó, giữ cánh phải chắc chắn như một tảng đá, đong đưa thanh kiếm và chặt người như máy gặt. “Chưa trốn chạy bây giờ,” William nói với Walter. “Hãy theo dõi nhà vua!”
Họ lui từng bước một. Cuộc chiến không còn khốc liệt khi người ta nhận ra rằng nó đã được định đoạt và mạo hiểm không còn ý nghĩa gì. William và Walter đụng hai thanh kiếm của hai hiệp sĩ, nhưng hai hiệp sĩ chỉ muốn đánh họ lui về, và William cùng Walter chỉ chiến đấu phòng thủ. Những cú đánh mạnh, nhưng không ai liều mình.
William lui lại hai bước và nhìn sang nhà vua. Vào lúc đó một hòn đá từ cánh đồng trúng vào mũ sắt của nhà vua. Nhà vua choáng váng và quỵ xuống đầu gối. Người đang chiến đấu với William dừng lại, nhìn xem William đang nhìn gì. Vua Stephen buông cây rìu. Một hiệp sĩ của quân đối phương chạy đến và kéo chiếc mũ sắt ra. “Nhà vua,” ông ấy kêu lên đắc thắng. “Tôi đã bắt được vua!”
William, Walter và toàn bộ quân của nhà vua quay lại và chạy trốn.
III
Phòng tiếp tân của hoàng gia ở lâu đài Winchester đã thay đổi nhiều. Không những chỉ không còn những con chó, mà ngai của vua Stephen bằng gỗ, cũng như các ghế băng, và da thú trang trí trên tường cũng đã biến mất. Thay vào đó có tranh thêu, thảm màu, dĩa bánh kẹo và ghế được sơn phết. Căn phòng phảng phất mùi hoa.
Philip không bao giờ cảm thấy thoải mái ở hoàng cung, và một hoàng cung của nữ hoàng đủ làm ông run rẩy, lo lắng. Nữ hoàng Mauld là niềm hy vọng duy nhất cho phép ông nhận lại mỏ đá và mở lại ngôi chợ, nhưng ông chưa tin rằng người đàn bà kiêu ngạo và bướng bỉnh này sẽ đưa ra một quyết định chính đáng.
Nữ hoàng ngồi trên một ngai trạm khắc mạ vàng, mặc áo màu xanh của hoa chuông. Bà cao và gầy, đôi mắt màu đậm tự hào và mái tóc đen bóng. Bên ngoài bà mặc áo khoác dài tới đầu gối, eo ở hông và loe xuống phía dưới; một kiểu áo bà đã tạo ra cho nước Anh và bây giờ nhiều người bắt chước. Bà đã sống với người chồng thứ nhất mười một năm và người thứ hai mười bốn năm, nhưng bây giờ trông bà chưa đến bốn mươi tuổi. Dân chúng ca ngợi sắc đẹp của bà. Đối với Philip bà có vẻ cộc lốc và không thân thiện; nhưng ông thuộc thành phần đặc biệt, không quan tâm đến vẻ hấp dẫn của phụ nữ.
Philip, Francis, William Hamleigh và Giám mục Waleran cúi chào bà và đứng đợi. Bà không để ý đến họ và tiếp tục nói chuyện với một phụ nữ trong hoàng gia. Cuộc trò chuyện có vẻ không nghiêm trọng, vì họ cười nắc nẻ; nhưng Mauld không ngưng lại để chào các vị khách.
Francis làm việc chặt chẽ với bà và hầu như gặp bà mỗi ngày, nhưng họ không thân nhau. Anh trai Robert của bà, chủ cũ của Francis, đã giới thiệu ông với bà khi bà vừa đến nước Anh, vì bà cần một thư ký tốt nhất. Tuy nhiên, đây không phải là lý do duy nhất. Francis giữ vai trò liên kết giữa hai anh em và để ý đến nữ hoàng có tính khí bốc đồng này. Chuyện anh em phản bội nhau trong hoàng cung nhiều xảo trá là chuyện có thể xẩy ra; vì thế nhiệm vụ thật sự của Francis là kiểm soát những ám muội của Maud. Bà biết điều đó và chấp nhận nó, nhưng qua hệ giữa hai người không thoải mái.
Từ trận chiến ở Lincoln đến nay đã được hai tháng, và trong khoảng thời gian đó mọi chuyện tiến triển tốt đẹp cho Maud. Giám mục Henry đã chào đón bà ở Winchester (qua đó ông đã phản bội vua Stephen, anh trai của ông) và đã triệu tập một công nghị vĩ đại gồm các giám mục và tu viện trưởng để bầu nữ hoàng; và bây giờ bà đang đàm phán với các quận của London để tổ chức lễ đăng quang tại Wesminster. Vua David của Tô Cách Lan, tình cờ cũng là chú của bà, đang chuẩn bị đến thăm bà chính thức trong tư cách một quốc vương thăm một quốc vương.
Giám mục Henry được Giám mục Waleran thành Kingsbridge hỗ trợ mạnh mẽ; và, theo lời của Francis, Waleran đã thuyết phục William Hamleigh quy hàng và trung thành với Maud. Bây giờ William đến nhận phần thưởng của mình.
Bốn người đứng chờ đợi: William với người đứng sau lưng là giám mục Waleran, và Philip với người bảo trợ là Francis. Đây là lần đầu Philip gặp Maud. Dáng điệu của bà không làm ông an tâm: mặc dù vẻ vương giả của bà, ông nghĩ bà có tính khí bất thường.
Khi Maud chấm dứt cuộc trò chuyện, bà quay lại với cái nhìn đắc thắng như muốn nói: hãy nhìn xem các ông không quan trọng như thế nào, ngay cả nhân viên trong hoàng cung còn được ưu tiên hơn các ông. Bà nhìn chằm chằm vào Philip một lúc lâu, cho đến khi ông trở thành xấu hổ, rồi bà nói: “Francis, ông đưa anh sinh đôi của ông đến với tôi à?”
Francis nói: “Thưa bà, anh tôi, Philip, tu viện trưởng ở Kingsbridge.”
Philip cúi chào lần nữa và nói: “Một chút quá già và đầu quá bạc để có thể là anh em sinh đôi, thưa bà.” Những việc pha trò như thế thường được yêu chuộng trong hoàn cung, nhưng bà lờ đi và nhìn ông lạnh lẽo. Ông quyết định không làm duyên dáng nữa.
Bà quay sang William. “Và ngài William Hamleigh đã chiến đấu dũng cảm chống lại quân của tôi ở Lincoln, nhưng bây giờ đã hối lỗi.”
William cúi chào và khôn ngoan giữ kín miệng.
Bà quay lại Philip. “Ông yêu cầu tôi cho phép ông mở chợ.”
“Vâng, thưa bà.”
Francis nói: “Mọi thu nhập từ chợ sẽ được dùng để xây nhà thờ chính tòa, thưa bà.”
“Ông muốn mở chợ vào ngày nào trong tuần?” bà ta hỏi.
“Vào chủ nhật.”
Bà nhướng mày lên. “Các ông, những người của Thiên Chúa, thường chống lại chợ búa vào ngày chủ nhật. Nó không ngăn người ta đến nhà thờ sao?”
“Trong trường hợp của chúng tôi, không,” Philip nói. “Dân chúng đến làm việc trong công trường xây dựng của nhà thờ và tham dự thánh lễ, sau đó họ mua bán ngoài chợ.”
“Vậy là ông đã mở chợ này à?“ bà sắc sảo hỏi.
Philip nhận ra ông đã sai lầm. Ông thấy mình tự hại mình.
Francis cứu ông. “Không, thưa bà, hiện nay không có chợ,” ông nói. “Nó đã bắt đầu không chính thức, và Tu viện trưởng Philip đã ra lệnh ngưng lại cho đến khi được cấp giấy phép hoạt động.”
Đó là thật, nhưng không hoàn toàn là sự thật. Tuy nhiên, dường như Maud chấp nhận lý luận đó. Philip thầm cầu nguyện xin Chúa tha thứ cho Francis.
Maud nói: “Gần đó có chợ nào không?”
William lên tiếng. “Thưa có, ở Shiring; và chợ ở Kingsbridge đã thu hút khách hàng đi.”
Philip nói: “Nhưng Shiring cách Kingsbridge hai mươi dặm!”
Francis nói: “Thưa bà, theo luật các chợ phải cách nhau ít nhất mười bốn dặm. Theo tiêu chuẩn đó thì Kingsbridge và Shiring không hề cạnh tranh nhau.”
Bà gật đầu, ra vẻ chấp nhận quan điểm luật pháp này của Francis. Cho đến bây giờ, Philip nghĩ, nó đang thuận lợi cho ông.
Maud nói: “Ông cũng yêu cầu quyền lấy đá từ mỏ đá thuộc lãnh địa Shiring.”
“Chúng tôi đã có quyền đó từ nhiều năm nay, nhưng gần đây William đã đuổi thợ đá của chúng tôi, giết năm người –“
“Ai cho ông quyền khai thác đá?” bà ngắt ngang.
“Vua Stephen –“
“Kẻ cướp ngôi!”
Francis vội vàng nói: “Thưa bà, dĩ nhiên tu viện trưởng chấp nhận mọi sắc lệnh của vua giả Stephen là không hợp lệ, cho đến khi được bà phê duyệt.”
Philip không chấp nhận những việc như vậy, nhưng ông thấy rằng tốt hơn không nên nói ra.
William thốt lên: “Tôi đóng cửa mỏ đá để trả thù cho ngôi chợ bất hợp pháp của ông ấy.”
Thật không tin nổi, Philip nghĩ, làm sao lại có thể đem một trường hợp bất công rõ ràng như thế để biện hộ cho mình trước tòa án.
Maud nói: “Tất cả chuyện tranh cãi này xẩy ra là vì quyết định ban đầu của Stephen là ngu ngốc.”
Giám mục Waleran lần đầu lên tiếng. “Vâng, thưa bà, tôi hoàn toàn đồng ý với bà,” ông nịnh bợ nói.
“Cho phép một người sở hữu mỏ đá, rồi lại cho người khác khai thác đá thì tự nó đã gây ra rắc rối,” Bà nói. “Mỏ đá phải thuộc về người này hay người kia.”
Thật đúng như vậy, Philip nghĩ. Và nếu bà theo đúng tinh thần của Stephen thì nó phải thuộc về Kingsbridge.
Bà tiếp tục: “Tôi quyết định mỏ đá thuộc về đồng minh cao quý của tôi, ngài William.”
Tâm hồn Philip trĩu nặng. Việc xây dựng nhà thờ chính tòa không thể tiến hành nhanh được nếu không có đá miễn phí. Nó sẽ chậm lại trong khi Philip phải tìm tiền mua đá. Và tất cả xẩy ra là vì người đàn bà thất thường này! Điều đó làm ông tức giận.
William nói: “Thưa bà, cảm ơn bà.”
Maud nói: “Tuy nhiên, Kingsbridge sẽ có cùng quyền hoạt động chợ như Shiring.”
Philip lên tinh thần. Ngôi chợ không đủ trả chi phí cho đá nhưng nó là một hỗ trợ lớn. Điều này có nghĩa là ông lại phải góp nhặt từng đồng, như lúc đầu ông đã làm, nhưng ông có thể tiếp tục xây dựng.
Maud đã cho mỗi người cái mà họ muốn. Có lẽ bà ta không hoàn toàn quá ngu dốt.
Francis nói: “Thưa bà, quyền hoạt động chợ giống như ở Shiring?”
“Đó là điều tôi đã nói.”
Philip không biết chắc chắn tại sao Francis lại lập lại điều đó. Thông thường việc cấp phép cho thành phố này dựa theo giấy phép của thành phố khác: nó vô tư và tiết kiệm được nhiều văn bản. Philip sẽ phải xem xét chính xác những điều lệ của Shiring. Có thể có những hạn chế hoặc đặc quyền riêng.
Maud nói: “Vì vậy mỗi người có một chút. William nhận mỏ đá và Tu viện trưởng Philip nhận ngôi chợ. Và đối lại, mỗi người trả cho tôi một trăm bảng Anh. Đó là tất cả.” Bà quay đi.
Philip sửng sốt. Một trăm bảng Anh! Hiện nay tu viện không có nổi một trăm xu. Làm sao ông tìm được số tiền này? Ngôi chợ cần nhiều năm mới thu được một trăm bảng Anh. Đó là một đòn nặng có thể ngăn trở chương trình xây dựng lại vĩnh viễn. Ông nhìn chằm chằm vào Maud, nhưng một lần nữa bà lại đắm chìm trong cuộc nói chuyện với người phụ nữ trong hoàng cung. Francis húc vào ông. Philip mở miệng nói. Francis dơ ngón tay lên môi. Philip nói: “Nhưng …” Francis vội vã lắc đầu.
Philip biết Francis đúng. Vai ông rủ xuống vì thất bại. Bất lực, ông quay đi và ra khỏi hoàng gia.
Francis rất ấn tượng khi Philip chỉ cho ông coi tu viện Kingsbridge. “Mười năm trước em đã ở đây, và nó là một đống rác,” ông nói với vẻ không tôn trọng. “Anh đã thật sự đem sự sống đến cho nó.”
Đặc biệt ông hài lòng với phòng viết mà Tom đã hoàn thành trong thời gian Philip ở Lincoln. Một tòa nhà nhỏ bên cạnh nhà họp, nó có cửa sổ rộng, một lò sưởi có ống khói, một hàng bàn và tủ gỗ sồi lớn cho sách báo. Bốn tu sĩ đang làm việc tại đó, đứng ở bàn cao, viết trên giấy da bằng bút lông. Ba bản đang được sao chép lại: một gồm các thánh vịnh của David, một phúc âm của Thánh Mát Thêu, và một tu luật của Thánh Biển Đức. Ngoài ra thầy Timothy đang viết lịch sử nước Anh, và ông đã bắt đầu với việc tạo dựng thế giới, vì thế Philip sợ cậu bé già này sẽ chẳng bao giờ hoàn thành nó. Phòng viết nhỏ - vì Philip không muốn sử dụng nhiều đá của nhà thờ - nhưng nó ấm cúng, khô ráo, sáng sủa, và nó đáp ứng được nhu cầu. “Thật là hổ thẹn, tu viện chỉ có vài cuốn sách và mua thêm thì quá mắc, vì thế đây là cách duy nhất để gầy dựng thêm kho sách,” Philip giải thích.
Tầng hầm có một xưởng nghề, nơi một vị tu sĩ già truyền lại cho hai tu sĩ trẻ cách căng da cừu để làm thành giấy da, cách pha mực và cách buộc các tờ riêng lẻ thành một cuốn sách. Francis nói: “Anh cũng có thể bán sách nữa.”
“Ồ, đúng – phòng viết có đủ khả năng làm ra hơn số tiền đã được dùng để xây dựng nó.”
Họ rời tòa nhà và đi qua sân tu viện. Lúc đó vào giờ nghiên cứu. Hầu hết các tu sĩ đang học. Một vài người ngồi chiêm niệm, một tư thế mà Francis nhận xét giống như ngồi ngủ gật. Trong góc tây nam hai mươi học sinh đang đọc động từ Latin. Philip dừng lại và chỉ. “Em có thấy cậu bé ngồi ở cuối ghế băng không?”
Francis nói: “Đang viết trên một phiến đá và thè lưỡi ra?”
“Đó là đứa bé mà em đã tìm thấy trong rừng.”
“Nhưng cậu quá lớn!”
“Năm tuổi rưỡi, và cậu phát triển sớm.”
Francis lắc đầu kinh ngạc. “Thời gian trôi qua nhanh quá. Cậu bé ra sao?”
“Cậu ấy được các tu sĩ chiều chuộng, nhưng cậu ấy sẽ qua khỏi. Cũng như em và anh đã trải qua.”
“Còn các học sinh khác là ai?”
“Hoặc là các tập sinh của dòng, hay là con của các thương gia và quý tộc địa phương đang học viết và học toán.”
Họ rời sân tu viện và đi qua công trường xây dựng. Gian phía đông của nhà thờ chính tòa bây giờ đã xây được hơn nửa. Hàng cột đôi to lớn, hùng vĩ cao đến bốn mươi bộ, và tất cả các mái vòm ở giữa đã hoàn thành. Phía trên đường mái vòm đã có thể nhận ra khu hành lang. Hai bên đường mái vòm, bức tường thấp của gian phụ đã được xây, từ đó trổ ra những cột chống. Khi họ đi xung quanh, Philip nhìn thấy thợ xây thiết kế nửa mái vòm, nối đỉnh đầu trụ tường với đỉnh của khu hành lang để chống đỡ mái nhà.
Francis hầu như kinh ngạc. “Anh đã làm mọi chuyện này, Philip,” ông nói. “Phòng viết, trường học, nhà thờ mới, và ngay cả những căn nhà mới trong phố - không có anh chắc chúng không được mọc lên.”
Philip cảm động. Chưa một người nào nói với ông điều đó. Nếu được hỏi, ông sẽ nói rằng Chúa đã chúc phúc cho nỗ lực của ông. Nhưng trong sâu thẳm nhất của trái tim, ông biết những gì Francis nói là thật: thị trấn phát triển và sầm uất này là công sức của ông. Sự công nhận này cho ông sự ấm áp, đặc biệt sự công nhận đó đến từ người em hay chỉ trích và thạo đời này.
Thợ xây Tom thấy họ và đi đến. “Ông đã làm những tiến bộ tuyệt vời,” Philip nói.
“Vâng, nhưng hãy nhìn kìa.” Tom chỉ tay về góc đông bắc của sân tu viện, nơi dự trữ đá từ mỏ đem về. Nơi đó thông thường có hàng trăm phiến đá xếp chồng lên nhau theo hàng, nhưng bây giờ chỉ còn hai mươi lăm phiến lưa thưa trên mặt đất. “Thật không may, sự tiến triển tuyệt vời của chúng ta cũng đồng nghĩa là chúng ta đã sử dụng hết số đá.”
Niềm hứng khởi của Philip vội tan nhanh. Mọi sự ông đã đạt được ở đây bây giờ gặp khó khăn, chỉ vì sự phán quyết khắc nghiệt của Maud.
Họ đi dọc theo phía bắc của công trường, nơi các thợ thủ công rành nghề nhất đang làm việc trên băng ghế của họ, dùng búa và đục tạo thành những hình dáng. Philip dừng lại đàng sau một người thợ và quan sát công việc của ông ta. Nó là một phiến đá lớn được đặt trên đầu cột. Dùng một búa nhẹ và một chiếc đục nhỏ, người thợ đang khắc mô hình của một chiếc lá trên phiến đá. Các lá được khắc sâu và công việc thật tinh tế. Philip ngạc nhiên khi thấy người thợ thủ công chính là Jack trẻ, con trai riêng của vợ Tom. “Tôi nghĩ Jak vẫn còn là một thợ học ngề,” ông nói.
“Cậu ấy vẫn là người học việc.” Tom tiếp tục đi, và khi họ đã xa khỏi tầm nghe ông nói: “Cậu bé rất đáng quan tâm. Có những người ở đây đã khắc đá từ khi cậu ấy chưa sinh ra, và không ai trong số họ có thể phù hợp với công việc.” Ông cười bẽn lẽn. “Và ngay cả cậu ấy không phải là con tôi.”
Con thật của Tom, Alfred, là một thợ xây cả và điều hành một nhóm người lao động và học nghề, nhưng Philip biết Alfred và nhóm thợ của ông không làm những công việc tinh tế. Philip tự hỏi không biết Tom cảm thấy điều đó như thế nào trong trái tim của ông.
Tâm trí Tom lại băn khoăn với chuyện trả tiền phí cho giấy phép hoạt động chợ. “Chắc chắn ngôi chợ sẽ mang đến một số tiền lớn,” ông nói.
“Đúng, nhưng không đủ. Khi mới bắt đầu nó sẽ mang lại chừng năm mươi bảng Anh một năm.”
Tom thiểu não gật đầu: “Chỉ đủ trả tiền đá.”
“Chúng ta có thể tiếp tục công việc nếu chúng ta không phải trả một trăm bảng Anh cho Maud.”
“Thế còn len cừu thì sao?”
Len đã được xếp đống trong kho của Philip và sẽ được bán ở hội chợ len Shiring trong vài tuần nữa, và sẽ thu được chừng trăm bảng Anh. “Đó là khoản tiền tôi dự định trả cho Maud. Nhưng sau đó tôi không còn gì để trả lương thợ trong mười hai tháng sắp tới.”
“Ông có thể mượn không?”
“Tôi đã mượn rồi. Người Do Thái không cho tôi vay nữa. Tôi đã hỏi khi tôi ở Winchester. Họ không cho ông vay vì họ nghĩ ông không có thể trả.”
“Thế còn Aliena?”
Philip giật mình. Ông chưa bao giờ nghĩ về chuyện mượn tiền cô. Cô có nhiều len trong kho. Sau hội chợ len chắc cô phải có hai trăm bảng Anh. “Nhưng cô cần tiền để sống. Và Ki Tô hữu không được phép lấy lãi. Nếu cô ấy cho tôi mượn tiền, cô sẽ không còn tiền để kinh doanh. Mặc dù…” Ngay cả khi ông nói, ông chợt có một ý tưởng. Ông nhớ lại Aliena đã muốn mua toàn bộ len của ông trong năm. Có thể họ sẽ tìm ra cách giải quyết… “Tôi nghĩ tôi nên nói chuyện với cô ấy,” ông nói. “Lúc này cô ấy có nhà không?”
“Tôi nghĩ có – Tôi vừa nhìn thấy cô sáng nay.”
“Chúng ta đi, Francis – em sẽ gặp một thiếu nữ trẻ đáng chú ý.” Họ rời Tom và vội vã vào phố. Aliena có hai nhà gần bên nhau đối diện với bức tường phía tây tu viện. Cô sống trong một căn và căn kia dùng làm nhà kho. Cô rất giầu. Cô có thể là một giải pháp giúp tu viện trả tiền phí cắt cổ cho giấy phép chợ do Maud đòi hỏi. Một ý tưởng mơ hồ dần dần thành hình trong đầu Philip.
Aliena ở trong nhà kho, giám sát việc chất các bao len xuống khỏi xe bò. Cô mặc một áo dài thêu kim tuyến, giống như chiếc áo nữ hoàng Maud đã mặc và tóc cô dấu dưới chiếc mũ lụa trắng. Cô luôn trông rất có thẩm quyền, và hai người rỡ hàng theo lời chỉ đạo của cô không thắc mắc. Mọi người tôn trọng cô, mặc dù – một cách lạ lùng – cô không có bạn thân. Cô chào Philip một cách thân thiện. “Khi chúng tôi nghe nói về cuộc chiến tại Lincoln, chúng tôi sợ ông đã bị giết!” cô nói. Trong mắt cô có sự lo lắng thực sự, và Philip cảm động khi biết rằng dân chúng đã lo lắng vì ông. Ông giới thiệu cô với Francis.
“Ông có được pháp luật bênh vực ở Winchester không?” Aliena hỏi.
“Không hẳn như vậy,” Philip đáp lại. “Nữ hoàng Maud cho phép chúng ta mở chợ nhưng lại từ chối cho chúng ta mỏ đá. Cái này bù qua cái kia. Nhưng bà ấy đòi tôi một trăm bảng Anh cho giấy phép chợ.”
Aliena hoảng hốt. “Thật kinh khủng! Ông có nói với bà ấy là thu nhập từ ngôi chợ dùng để xây dựng nhà thờ chính tòa không?”
“Dĩ nhiên có.”
“Nhưng làm sao ông tìm được một trăm bảng Anh?”
“Tôi nghĩ cô có thể giúp.”
“Tôi ư?” Aliena sửng sốt.
“Trong vài tuần nữa, sau khi cô bán len cho người Bỉ, cô sẽ có hai trăm bảng Anh hay hơn nữa.”
Aliena bối rối. “Tôi sẵn lòng đưa cho ông, nhưng tôi cần tiền mua thêm len cho năm tới.”
“Cô có nhớ là đã có lần cô muốn mua len của tôi không?”
“Vâng, nhưng bây giờ đã quá trễ. Tôi muốn mua nó vào đầu mùa. Ngoài ra chẳng bao lâu nữa ông có thể tự bán nó.”
“Tôi đang nghĩ,” Philip nói. “Tôi có thể bán cho cô len của năm sau không?”
Cô cau mày. “Nhưng ông chưa có nó.”
“Tôi có thể bán cho cô trước khi tôi có nó không?”
“Tôi không biết bằng cách nào.”
“Đơn giản thôi. Cô đưa tiền cho tôi bây giờ. Tôi sẽ đưa len cho cô vào năm tới.”
Aliena rõ ràng không biết phải xử lý đề nghị này như thế nào, vì nó không giống như cách làm kinh doanh thông thường khác. Nó cũng mới mẻ với Philip nữa, vì ông vừa nghĩ ra.
Aliena nói chậm rãi và trầm tư. “Tôi sẽ phải đưa ra một giá thấp hơn giá mà nếu ông có thể chờ đến năm tới mới bán. Hơn nữa, giá len từ bây giờ đến mùa hè năm sau có thể cao hơn – từ khi tôi làm kinh doanh, năm nào cũng xẩy ra như vậy.”
“Vì thế mà tôi mất một ít và cô thêm một ít,” Philip nói. “Nhưng tôi có thể tiếp tục xây dựng thêm một năm nữa.”
“Và ông sẽ làm gì vào năm tới?”
“Tôi chưa biết. Có thể tôi sẽ bán cho cô số len vào năm tới nữa.”
Aliena gật đầu. “Nó cũng có lý.”
Philip nắm tay cô và nhìn vào mắt cô. “Nếu cô đồng ý chuyện này, Aliena, cô sẽ cứu nhà thờ chính tòa,” ông tha thiết nói.
Aliena nói rất nghiêm trang. “Một lần ông đã cứu tôi, phải vậy không?“
„Vâng.“
„Vì thế tôi cũng làm như vậy cho ông.“
„Xin Chúa chúc lành cho cô!” Trong tâm trạng đầy tràn biết ơn ông ôm cô, rồi ông chợt nhớ ra cô là một phụ nữ và vội vàng buông cô ra. “Tôi không biết phải cảm ơn cô như thế nào,” ông nói. “Tôi đã hết lời rồi.”
Aliena cười. “Tôi không xứng đáng nhận sự tri ân như thế. Có thể tôi sẽ lời nhiều trong việc này.”
“Tôi hy vọng như vậy.”
“Chúng ta hãy uống với nhau một ly rượu để đóng ấn cho việc mặc cả này,” cô nói. “Tôi chỉ cần phải trả tiền cho người phu xe trước.”
Xe bò đã trống và len đã xếp chồng lên nhau gọn gàng. Philip và Francis bước ra trong khi Aliena trả tiền người phu xe. Mặt trời vừa xuống và thợ xây trên đường về nhà. Tinh thần Philip lại lên cao. Mặc dù những thất bại, ông đã tìm ra cách để tiếp tục. “Tạ ơn Chúa vì Aliena!” ông nói.
“Tại sao anh không nói với em là cô ta đẹp?” Francis nói.
“Đẹp? Em nghĩ cô ta đẹp?”
Francis cười. “Philip, anh mù thật rồi! Cô là một trong những phụ nữ đẹp nhất mà em đã gặp. Cô ấy đủ làm cho một người bỏ chức linh mục.”
Philip nhìn Francis một cách nghiêm túc. “Em không được nói như thế.”
“Em xin lỗi.”
Aliena đi ra và chốt cửa nhà kho lại; rồi họ đi vào nhà. Nó là một căn nhà rộng có một phòng chính và một phòng ngủ. Có một thùng bia trong góc, cả một đùi thịt nguội treo từ trần nhà và một miếng vải lụa trắng trên bàn. Một phụ nữ phục dịch trung niên rót rượu vang từ một chiếc bình vào ly bạc cho khách. Aliena sống sung túc. Nếu cô ta quá đẹp, Philip thắc mắc, tại sao cô ta không tìm được chồng? Không thiếu gì những lời cầu hôn: nhiều thanh niên đủ điều kiện trong quận đã phải lòng cô, nhưng cô đều từ chối. Ông cảm thấy quá biết ơn cô, nên chỉ muốn cô hạnh phúc.
Aliena vẫn nghĩ về chuyện làm ăn. “Tôi chỉ có tiền sau hội chợ len ở Shiring,” cô nói sau khi họ cụng ly mừng cho sự thỏa thuận.
Philip quay sang Francis. “Maud có chờ được không?”
“Bao lâu?”
“Hội chợ bắt đầu từ thứ năm trong ba tuần nữa.”
Francis gật đầu. “Tôi sẽ nói với bà ấy. Bà ấy sẽ đợi.”
Aliena bỏ mũ và xõa mái tóc đen xoăn. Cô thở dài mệt mỏi. “Ngày quá ngắn,” cô nói. “Tôi không thể làm mọi chuyện. Tôi muốn mua thêm len nhưng tôi không có đủ phu xe để mang nó tới Shiring.”
Philip nói: “Và năm tới cô sẽ có nhiều hơn nữa.”
“Tôi ước muốn người Bỉ sẽ đến đây mua. Nó sẽ dễ dàng cho chúng ta hơn là mang tất cả len đến Shiring.”
Francis cắt ngang: “Tại sao cô không làm như thế?”
Cả hai đều nhìn về phía ông. Philip hỏi: “Bằng cách nào?”
“Hãy mở một hội chợ bán len riêng.”
Philipp dần hiểu những gì Francis muốn nói. “Chúng tôi có được phép làm không?”
“Maud cho anh chính xác mọi quyền như ở Shiring. Em đã tự viết sắc lệnh. Nếu Shiring có thể mở hội chợ, anh cũng có thể mở.”
Aliena nói: “Ồ! Thật tuyệt vời – chúng ta không cần chở tất cả các bao len này tới Shiring. Chúng ta có thể kinh doanh ở đây, và tàu có thể chở len trực tiếp về Bỉ.”
“Đó chỉ là cái tối thiểu,” Philip hào hứng nói. “Một hội chợ len trong một tuần bằng cả một năm chợ vào ngày chủ nhật. Dĩ nhiên chúng ta chưa có thể làm trong năm nay, vì không ai biết tới. Nhưng trong hội chợ len năm nay ở Shiring, chúng ta có thể tung tin rằng chúng ta sẽ tổ chức hội chợ len vào năm tới và cho những khách hàng biết chính xác ngày giờ…”
Aliena nói: “Nó sẽ ảnh hưởng mạnh đến Shiring. Ông và tôi là những người bán len lớn nhất trong vùng, và nếu chúng ta rút lui, hội chợ len ở Shiring sẽ mất đi một nửa.”
Francis nói: “William Hamleigh sẽ có ít thu nhập. Cậu ấy sẽ nổi điên như con bò đực.”
Philip không thể không rùng mình. William đúng là một con bò điên.
“Vậy thì,” Aliena nói, “nếu Maud đã cho phép chúng ta, chúng ta có thể bắt đầu. William không thể làm gì chống lại việc đó, có phải vậy không?”
“Tôi hy vọng như vậy,” Philip nhiệt thành nói. “Tôi hy vọng chắc chắn như vậy.”