IV - Trong ba tháng sau đó, Aliena không nói với Jack một câu nào.
Cậu đau khổ trong tâm hồn. Cô đã hôn cậu như thể cô yêu cậu, không gì có thể nhầm lẫn về điều đó. Khi cô rời nhà máy xay cậu cảm thấy chắc chắn chẳng bao lâu sau họ sẽ hôn nhau một lần nữa. Cậu luẩn quẩn trong sự mơ hồ tình ái: Aliena yêu tôi! Aliena yêu tôi! Cô đã vuốt ve lưng cậu và đưa lưỡi vào miệng cậu và ghì chặt ngực cô vào cậu. Khi cô tránh cậu, lúc đầu cậu nghĩ là vì cô xấu hổ. Cô không thể giả vờ là không yêu cậu, sau khi đã hôn cậu. Cậu đợi cho cô vượt qua được sự nhút nhát. Với sự giúp đỡ của người thợ mộc trong tu viện, cậu làm một bộ máy hồ vải chắc chắn và mạnh mẽ hơn cho nhà máy cũ, và Aliena có thể hồ vải. Cô cám ơn cậu chân thành, nhưng giọng nói của cô lạnh lùng và mắt cô trốn mắt cậu.
Khi không phải một vài ngày mà cả nhiều tuần đã trôi qua, cậu phải thừa nhận rằng có một điều gì đó sai lầm trầm trọng. Một làn sóng thủy triều của sự tan vỡ ảo tưởng nhận chìm cậu, và cậu cảm thấy như cậu sẽ chết đuối trong sự tiếc nuối. Cậu bối rối. Trong sự khốn cùng cậu ước muốn được già hơn và có nhiều kinh nghiệm với đàn bà hơn để cậu có thể nhận định cô bình thường hay khác thường, điều này chỉ tạm thời hay kéo dài vĩnh viễn, và cậu nên làm ngơ hay nên đối đầu với cô. Vì không chắc chắn và sợ nói ra điều gì sai làm vấn đề trầm trọng hơn, cậu không làm gì cả; và rồi cảm giác bị từ chối bắt đầu ám ảnh cậu, và cậu cảm thấy mình không có giá trị, ngu si và bất lực. Cậu nghĩ mình thật ngu ngốc khi tưởng tượng rằng một phụ nữ không với tới được, hấp dẫn nhất trong cả vùng lại có thể rơi vào tay cậu, một cậu bé. Cậu đã làm cho cô vui qua những câu truyện và tính hài hước của cậu, nhưng khi cậu hôn cô như một người đàn ông, cô đã chạy trốn. Cậu đúng là ngu khi dám hy vọng những điều xa hơn nữa!
Sau một hai tuần than thân vì sự ngu dại của mình, cậu trở nên tức giận. Cậu bực bội khi làm việc và mọi người bắt đầu đối xử với cậu thận trọng. Cậu tàn nhẫn với em gái ghẻ của cậu, Martha, người luôn bị đau khổ vì cậu cũng như cậu bị đau khổ vì Aliena. Vào các chiều chủ nhật, cậu lãng phí tiền lương của cậu vào việc cá cược đá gà. Tất cả niềm đam mê cậu bỏ vào trong công việc. Cậu khắc những tay đỡ, đòn chìa ra từ bức tường, những cột hỗ trợ mái vòm từ giữa tường. Các đòn chìa thường được trang trí bằng hình lá, nhưng theo vài truyền thống khác nó cũng được khắc hình một người đàn ông đang nâng mái vòm bằng hai tay hay đỡ nó trên lưng. Jack chỉ thay đổi một chút hình dáng quen thuộc, nhưng hiệu quả cho thấy hình dáng một người quằn quại vì đau khổ, bị ép buộc phải chịu đựng một trọng lượng đá kinh khủng đến muôn đời. Jack biết đó là tuyệt vời: không ai có thể khắc một nhân vật trông đau đớn hơn. Khi Tom nhìn thấy nó, ông lắc đầu, không dám quyết định liệu ông nên trầm trồ về biểu cảm của nó hay từ chối sự dán đoạn với truyền thống cũ. Philip rất phấn khởi về nó. Jack không cần quan tâm những gì họ nghĩ: Cậu cảm thấy rằng ai không thích nó, người đó bị mù.
Vào một ngày thứ hai trong mùa chay, khi mọi người cáu gắt vì họ đã không ăn thịt ba tuần rồi, Alfred đi làm với bộ mặt đắc thắng. Ngày hôm trước cậu đã đến Shiring. Jack không biết cậu làm gì ở đó, nhưng cậu ấy tỏ vẻ hài lòng về nó. Trong giờ nghỉ giải lao giữa buổi sáng, khi Enid Brewster đem một thùng bia vào giữa gian cung thánh và bán cho các thợ xây, Alfred đưa ra một xu và gọi: “Ê, Jack Tomson, lấy cho tôi một số bia.”
Cậu ta bắt đầu nói về bố tôi, Jack nghĩ. Cậu làm ngơ.
Một người thợ mộc già được gọi là Peter nói: “Mày nên làm những gì được sai, thằng bé chưa thạo nghề này.” Một người học nghề luôn phải vâng lời người thợ thủ công chính.
“Tôi không phải là con của Tom,” Jack nói. “Tom là bố dượng của tôi và Alfred biết điều đó.”
“Hãy làm những gì cậu ấy nói,” Peter nói bằng giọng chấp nhận được.
Bất đắc dĩ Jack lấy tiền của Alfred và đứng xếp hàng. “Tên bố tôi là Jack Shareburg,” cậu nói to. “Các ông có thể kêu tôi là Jack Jackson để phân biệt với Jack Blacksmith, nếu các ông muốn.”
Alfred nói: “Đúng hơn nên gọi Jack con hoang.”
Jack nói chung chung cho mọi người nghe: “Các bạn có bao giờ thắc mắc tại sao Alfred chẳng bao giờ cột dây giày không?” Tất cả mọi người nhìn vào chân Alfred. Thật vậy, đôi giày nặng, đầy bùn của cậu không cột dây. “Đó là để cậu ấy có thể dùng ngón chân của mình một cách nhanh chóng – trong trường hợp cậu ta phải đếm trên mười.” Các thợ thủ công mỉm cười và các người học nghề cười như nắc nẻ. Jack đưa đồng xu của Alfred cho Enid và lấy một bình bia. Cậu đem đến cho Alfred và đưa nó cho cậu ấy với một cái cúi mình diễu cợt. Alfred khó chịu, nhưng không tức lắm; cậu ấy vẫn còn một cái gì đó trong tay áo. Jack đi khỏi và uống bia với những người học nghề khác, hy vọng Alfred sẽ buông tha cậu.
Nhưng không phải vậy. Một lát sau Alfred theo cậu và nói: “Nếu Jack Shreburg là bố tôi, tôi sẽ không nói cho ai biết ông ấy là bố tôi. Mày không biết ông ấy là ai sao?”
“Ông ấy là người hát rong,” Jack nói. Cậu cố ra vẻ tự tin nhưng cậu sợ những gì Alfred đang định nói. “Tôi không cho rằng anh biết người hát rong là gì?”
“Ông ấy là một kẻ ăn cắp,” Alfred nói.
“Ồ, im đi, tên đần độn.” Jack quay đi và uống bia, nhưng cậu không thể nuốt được. Alfred có lý do để nói như thế.
„Mày có biết ông ấy chết như thế nào không?“ Alfred cứng đầu tiếp tục.
Jack nghĩ, đó là điều mà cậu ấy đã biết được ngày hôm qua ở Shiring, đó là tại sao hôm nay cậu ấy có một nụ cười ngu ngốc. Cậu quay lại và bất đắc dĩ phải đối mặt với Alfred. „Không, tôi không biết bố tôi chết ra sao, Alfred, nhưng tôi nghĩ anh định nói với tôi chuyện đó.“
„Ông bị treo cổ, như nó dành cho những tên trộm ghê gớm.”
Không kiềm chế nổi, cậu phát ra một tiếng kêu đau đớn. Bằng trực giác cậu biết điều đó đúng. Alfred tỏ ra hoàn toàn chắc chắn nên cậu ấy không bịa đặt chuyện này. Và trong nháy mắt Jack hiểu tại sao mẹ cậu lại yên lặng. Trong nhiều năm qua cậu đã sợ một cái gì đó giống như thế. Cả thời gian qua cậu đã giả vờ là mọi chuyện đều tốt đẹp, rằng cậu không phải là một đứa con hoang, rằng cậu thực sự có bố với một tên gọi. Nhưng thực tế cậu luôn luôn lo sợ có một điều gì đó ô nhục về bố cậu, về những lời chế nhạo là đúng, về một điều gì đó đáng xấu hổ mà ông đã làm. Cậu mất tinh thần: sự từ chối của Aliena đã để lại cho cậu cảm xúc cậu không có giá trị và nhỏ bé. Bây giờ sự thật về bố như tát vào mặt cậu.
Alfred đứng mỉm cười, hài lòng với chính mình vì kết quả của điều cậu tiết lộ ra. Biểu lộ của cậu làm Jack điên tiết. Đối với Jack việc bố cậu bị treo cổ đã là quá xấu. Alfred lại còn cười vui vẻ về nó làm cậu không thể chịu đựng được. Không suy nghĩ, Jack hất ly bia vào khuôn mặt cười toe toét của Alfred.
Những người học nghề khác, những người đang theo dõi hai anh em ghẻ và khoái trá về cuộc cãi lộn, vội vã lùi lại một hai bước. Alfred lau bia khỏi mắt cậu, gầm lên vì giận dữ, và đấm mạnh, một phản ứng quá nhanh đối với một người to lớn như cậu. Cú đấm đâm thẳng vào má Jack, quá mạnh đến nỗi cậu không cảm thấy đau nhưng thấy tê tái. Trước khi cậu có thể phản ứng, một cú đấm khác của Alfred trúng bụng cậu. Cú đấm này gây ra sự đau đớn kinh khủng. Jack có cảm tưởng cậu không thể thở được nữa. Cậu khom người lại và gục xuống đất. Khi cậu ngã xuống, Alfred đá vào đầu cậu bằng mũi giày nặng, và trong khoảnh khắc cậu không thấy gì khác ngoài những vì sao.
Cậu lăn người một cách mù quáng, cố gắng đứng lên. Nhưng Alfred chưa hài lòng. Jack chưa kịp đứng lên, cậu đã bị tóm lấy. Cậu cố luồn ra. Bây giờ cậu sợ. Alfred không có lòng thương xót. Jack sẽ bị đánh nhừ tử nếu cậu không chạy trốn. Lúc đó Alfred giữ quá chặt và Jack không thể thoát ra được, nhưng rồi Alfred lùi lại dơ tay định đánh cú nữa, Jack lợi dụng cơ hội và thoát ra được.
Cậu phóng đi và Alfred lao theo cậu. Jack chạy tránh thùng vôi rồi kéo đổ nó xuống đường chặn đường đi của Alfred. Alfred nhẩy qua chiếc thùng nhưng lại đâm đầu vào thùng nước. Khi thùng nước đổ vào đống vôi, nó nổi bọt và rít lên. Một vài thợ xây thấy vật liệu tốn kém bị phung phí vội vã kêu lên phản đối, nhưng Alfred làm ngơ, còn Jack không thể nghĩ gì khác ngoài việc cố trốn khỏi Alfred. Cậu chạy, sự đau đớn tăng lên gấp đôi và mắt như mù vì cú đá vào đầu.
Alfred theo sát chân cậu, dơ một chân ra ngáng cậu. Jack ngã chúi xuống. Tôi sẽ chết, cậu nghĩ khi cậu lộn người; Alfred sẽ giết tôi. Cậu đến bên chiếc thang dựa vào giàn giáo của tòa nhà. Alfred nhào đến cậu. Jack cảm thấy giống như một con thỏ bị dồn vào chân tường. Cầu thang đã cứu cậu. Khi Alfred cúi mình đàng sau cầu thang, Jack chạy vòng đến phía trước và phóng mình lên thang. Cậu trèo lên các bậc thang như con chuột trèo lên máng xối.
Cậu cảm thấy cầu thang rung lên khi Alfred theo sau cậu. Thông thường cậu có thể chạy nhanh hơn Alfred, nhưng bây giờ cậu vẫn còn bàng hoàng và hụt hơi. Cậu lên đến đỉnh và lảo đảo vào giàn giáo. Cậu vấp ngã vào tường. Bức tường đá mới được xây buổi sáng hôm đó và vữa vẫn còn ướt. Khi Jack lao nhanh vào nó, toàn bộ một góc tường lệch đi và ba bốn hòn đá trượt ra rơi xuống công trường. Jack nghĩ cậu sẽ cùng rơi xuống với chúng. Cậu đứng bấp bênh trên cạnh tường, và khi cậu nhìn xuống cậu thấy những tảng đá lớn lộn vòng khi nó rơi xuống tám mươi bộ và rớt vào mái lều nghỉ nằm sát chân tường. Cậu giữ thăng bằng và hy vọng không ai ở trong lều nghỉ. Alfred đã lên đến đầu cầu thang và tiến về phía cậu trên giàn giáo mỏng manh.
Alfred thở hổn hển và mặt đỏ bừng, và mắt cậu đầy thù hận. Jack không nghi ngờ gì Alfred có thể giết người trong trạng thái này. Nếu cậu ấy bắt được tôi, Jack nghĩ, cậu ấy sẽ ném tôi xuống công trường. Khi Alfred tiến lên, Jack lùi lại. Cậu bước vào cái gì đó mềm mại và nhận ra nó là một đống vữa. Cậu chợt có một ý tưởng, cậu nhanh nhẹn cúi xuống, lấy một nắm đầy tay và ném chính xác vào mắt Alfred.
Bị mù, Alfred ngừng lại và lắc đầu, cố gắng rũ vữa đi. Sau cùng Jack đã có cơ hội để trốn chạy. Cậu chạy tới cuối giàn giáo, dự định đi xuống, chạy ra khỏi khu tu viện, vào trốn trong rừng cho đến hết ngày. Nhưng cậu kinh hoàng, vì đầu này không có cầu thang. Cậu không thể leo xuống giàn giáo vì nó không chạm đất – nó được dựng trên các đà bắt ra từ lỗ trong tường. Cậu bị mắc kẹt.
Cậu nhìn lại. Alfred lại có thể nhìn thấy và đang tiến về phía cậu.
Còn một cách xuống khác nữa.
Ở phía đầu bức tường còn đang xây dở, nơi gian cung thánh được tiếp nối với các gian ngang, mỗi hàng đá ngắn hơn hàng dưới nửa viên đá, tạo thành một cầu thang hẹp đôi khi được các nhân công mạo hiểm dùng để đi lên giàn giáo. Sợ hãi, Jack đi dọc theo đỉnh bức tường, cẩn thận nhưng nhanh chóng, cố không nhìn xem nếu trượt chân cậu sẽ rơi xuống bao xa. Cậu đến chỗ xuống, ngừng lại trên cạnh tường và nhìn xuống. Cậu thấy chóng mặt. Cậu nhìn lại: Alfred trên bức tường đàng sau cậu. Cậu ấy trèo xuống.
Jack không hiểu tại sao Alfred lại không sợ: Cậu ta chẳng bao giờ can đảm. Sự thù hận dường như đã làm cậu ấy không còn cảm thấy nguy hiểm. Khi họ bước xuống những bậc thang chóng mặt, Alfred đã gần đuổi kịp Jack. Họ vẫn còn cách mặt đất mười hai bộ khi Jack nhận ra Alfred đã rất gần cậu. Trong tuyệt vọng cậu nhẩy xuống mái tranh nhà nghỉ của thợ mộc, rồi nhẩy xuống đất, nhưng cậu xui xẻo, khi ngã xuống mắt cá chân cậu bị trệch.
Cậu loạng choạng đứng lên. Trong thời gian cậu ngã xuống, Alfred đã có thể xuống tới đất và chạy lại phía lều. Trong một thoáng Jack đứng dựa lưng vào tường, và Alfred ngưng lại, chờ đợi xem Jack sẽ chạy đường nào. Jack đau khổ một lúc vì không quyết định được; rồi cậu bước sang một bên và đi ngược vào lều nghỉ.
Không có người thợ nào, vì họ còn tập trung ở thùng bia của Enid. Trên một ghế băng có nhiều búa, cưa và đục của thợ mộc, và các mảnh gỗ họ đang làm dở. Ở giữa nền nhà là một phần giàn khung mới dùng để xây mái vòm; và phía sau, bên cạnh bức tường nhà thờ là một đống lửa lớn được đốt bằng vỏ bào và những miếng gỗ dư thừa.
Không còn cách nào ra.
Jack quay lại nhìn Alfred. Cậu bị dồn vào chân tường. Trong khoảnh khắc cậu bị tê liệt vì sợ. Sau đó nỗi sợ hãi nhường chỗ cho sự tức giận. Không sao cả, nếu tôi bị giết, cậu nghĩ, nếu tôi có thể làm Alfred đổ máu trước khi tôi chết. Cậu không chờ cho đến khi Alfred đánh cậu. Cậu cúi đầu xuống và lao nhanh. Cậu quá điên không cần sử dụng đến cú đấm. Đơn giản cậu đâm thẳng đầu vào Alfred.
Đó là điều Alfred không chờ đợi. Trán của Jack đập vào miệng cậu. Jack nhỏ hơn hai hay ba inch và nhẹ hơn nhiều, nhưng tất cả sức mạnh của cậu đẩy lui Alfred. Khi Jack giữ lại được thăng bằng, cậu nhìn thấy máu trên môi Alfred, và cậu hài lòng.
Lúc đó Alfred quá bất ngờ để phản ứng. Đôi mắt Jack nhìn vào chiếc búa tạ bằng gỗ dựa vào ghế băng. Khi Alfred hồi phục lại sau cú sốc và tiến về phía Jack, Jack nâng búa tạ lên và vung nó dữ dội. Alfred né tránh. Bất ngờ Jack chiếm ưu thế. Thêm can đảm, cậu đuổi theo Alfred. Lần này cậu đặt tất cả sức lực vào cú đánh. Một lần nữa cậu lại đánh hụt; nhưng nó lại trúng cây cột đỡ mái lều của thợ mộc.
Lều nghỉ không được xây dựng kiên cố. Không ai ở đó. Chức năng duy nhất của nó là để các thợ mộc có thể làm việc khi trời mưa. Khi Jack đánh búa trúng cây cột, nó chuyển động. Các bức tường là những cành cây đan xéo không còn chỗ dựa. Mái lều cong xuống. Alfred nhìn lên sợ hãi. Jack lại dơ búa lên. Alfred lùi qua cửa. Jack lại vung búa vào cậu ấy. Alfred lùi tránh, vấp phải chồng gỗ thấp, và ngồi xuống một cách nặng nề. Jack nâng búa lên cho một đòn quyết định. Cánh tay cậu bị giữ bằng một bàn tay chắc. Cậu nhìn quanh và thấy Tu viện trưởng Philip với nét mặt đằm đằm. Philip giật búa từ tay Jack.
Đàng sau tu viện trưởng, mái lều sụp xuống. Jack và Philip nhìn. Khi nó rơi xuống đống lửa, tranh khô bắt lửa ngay và một lúc sau lửa cháy dữ dội.
Tom xuất hiện và chỉ vào ba người thợ gần ông. “Anh, anh và anh – mang thùng nước từ bên ngoài lò rèn.” Ông quay sang ba người thợ khác. “Peter, Rolf và Daniel lấy xô. Các anh, thợ học nghề, xúc đất đổ vào lửa – tất cả mọi người, nhanh lên!”
Một vài phút sau mọi người tập trung vào ngọn lửa, bỏ quên Alfred và Jack. Jack tránh lối và đứng nhìn, cảm thấy choáng váng và bất lực. Alfed đứng xa đó. Có phải tôi thực sự muốn đập đầu Alfred bằng một cái búa? Jack ngờ vực tự hỏi. Mọi chuyện dường như không có thực. Cậu vẫn ở trong tình trạng kinh hoàng tê liệt khi đất và nước đã dập tắt ngọn lửa.
Tu viện trưởng đứng nhìn đống ngổn ngang, thở hổn hển sau những căng thẳng. “Hãy nhìn,” ông nói với Tom. ”Một lều nghỉ đổ nát. Công việc của thợ mộc bị thiêu hủy. Một thùng vôi bị đổ đi và một phần bức tường mới xây bị phá hủy.”
Jack nhận ra rằng Tom gặp khó khăn: nhiệm vụ của ông là giữ trật tự trên công trình xây dựng và Philip đổ lỗi cho ông vì những thiệt hại. Ngoài ra thủ phạm lại là chính con của Tom làm cho tình trạng tồi tệ hơn.
Tom đặt một tay lên cánh tay Philip và nói nhẹ nhàng. “Hiệp hội sẽ đối phó chuyện đó,” ông nói.
Philip không để xoa dịu dễ dàng. “Tôi sẽ đối phó với nó,” ông quát. “Tôi là tu viện trưởng và tất cả các anh làm việc cho tôi.”
“Vậy hãy cho phép các thợ xây được trao đổi trước khi ông có bất cứ quyết định nào,” Tom nói bằng giọng bình tĩnh và lý lẽ. “Chúng tôi có thể đưa ra một đề nghị mà ông có thể chấp thuận. Nếu không. Ông vẫn còn tự do để làm điều ông muốn.”
Philip hầu như không muốn để cho sự đề xướng rời khỏi tầm tay, nhưng truyền thống cho Tom quyền đó: Các thợ xây tự xét xử lẫn nhau. Sau một lúc Philip nói: “Được, nhưng bất cứ điều gì các anh quyết định, tôi không muốn cả hai người con của anh cùng làm việc trên công trường này. Một trong hai người phải đi.” Vẫn còn giận, ông bỏ đi.
Tom quay lại nhìn vào Jack và Alfred, rồi quay đi vào lều rộng nhất của thợ xây.
Khi Jack theo Tom vào lều, cậu nhận ra cậu ở trong một rắc rối nghiêm trọng. Khi các thợ xây kỷ luật một người nào đó trong nhóm thường là vì say rượu trong lúc làm việc và ăn cắp vật liệu xây dựng, và hình phạt thông thường là phạt tiền. Gây lộn giữa những người học việc thường được xử bằng cách cả hai bị nhốt một ngày trong nhà kho, nhưng dĩ nhiên Alfred không phải là người học nghề, và một cách nào đó, cuộc ẩu đả thông thường không gây những thiệt hại lớn lao như thế này. Hiệp hội công nhân có thể đuổi một thành viên, hoặc giảm lương. Hiệp hội cũng có thể trừng phạt một thành viên vì ngoại tình với vợ của một thợ xây khác, mặc dù Jack chưa bao giờ nghe thấy chuyện này xẩy ra. Theo lý thuyết, người học việc có thể bị đánh đập, nhưng mặc dù hình phạt này có tính cách đe dọa, Jack cũng chưa bao giờ thấy nó được áp dụng.
Các thợ xây chính đổ dồn vào căn lều gỗ, ngồi trên ghế băng và dựa lưng vào bức tường sau lưng, thực ra là tường nhà thờ. Khi mọi người đã vào trong, Tom nói: “Chủ nhân của chúng ta giận dữ và ông ta có lý. Sự việc này đã gây tổn hại lớn. Tệ hơn nữa nó còn làm mang tiếng thợ xây chúng ta. Chúng ta phải xử lý những người có lỗi một cách nghiêm trọng. Đó là cách duy nhất để lấy lại danh tiếng của chúng ta, những người thợ xây tự trọng và có tinhh thần kỷ luật, những người vừa là bậc thầy về chính mình cũng như về nghề nghiệp chuyên môn.”
“Nói rất đúng,” Jack Blacksmith phát ra, và có tiếng thì thầm tán thành.
“Tôi chỉ chứng kiến phần cuối của cuộc cãi lộn,” Tom tiếp tục. “Có ai biết nó bắt đầu như thế nào không?”
“Alfred đã gây chuyện với cậu bé,” Peter Carpenter nói. Ông là người đã khuyên Jack nên vâng lời và đi lấy bia cho Alfred.
Một thợ hồ trẻ tên là Dan, người làm việc trong tổ của Alfred, nói: “Jack đã hất bia vào mặt Alfred.”
“Tuy thế, cậu bé đã bị khiêu khích,” Peter nói. “Alfred đã xúc phạm đến bố ruột của Jack.”
Tom nhìn vào Alfred. “Anh đã làm như vậy phải không?”
“Tôi nói bố cậu ấy là tên ăn cắp,” Alfed lập lại. “Điều đó đúng. Ông ta bị treo cổ ở Shiring. Cảnh sát trưởng Eustace đã kể với tôi hôm qua.”
Jack Blacksmith nói: “Thật tồi tệ, thợ cả phải giữ miệng lưỡi khi người học việc không muốn nghe những lời đó.”
Có tiềng thì thầm đồng ý. Jack thất vọng nhận ra rằng bất cứ điều gì xảy ra, cậu sẽ không thoát khỏi dễ dàng. Có lẽ tôi sẽ bị lên án là một kẻ tội phạm, giống như bố tôi, cậu nghĩ; có lẽ cuộc đời tôi cũng bị kết thúc trên giá treo cổ.
Peter Carpenter, người bảo vệ cho Jack, nói: “Tôi cho rằng nó sẽ khác đi, nếu thợ cả không cố ý chọc tức người học ngề.”
“”Dầu sao người học nghề vẫn phải bị phạt,” Jack Blackxmith nói.
“Tôi không phủ nhận điều đó,” Peter nói, “tôi chỉ nói rằng người thợ cả cũng phải bị phạt nữa. Người thợ cả phải dùng sự khôn ngoan của tuổi tác để mang lại hòa bình và hòa khí nơi làm việc. Nếu họ gây chiến, họ không chu toàn được nhiệm vụ của họ.”
Dường như có vài người đồng ý với điều đó, nhưng Dan, người ủng hộ Alfred, nói: “Đấy là một nguyên tắc xấu khi tha cho người học nghề và kết án người thợ cả vì ông ấy không tốt. Như thế người học nghề sẽ không còn coi trọng người thợ cả của mình. Nếu bạn bắt đầu lập luận theo cách đó bạn sẽ kết thúc với việc thợ cả sẽ chẳng bao giờ dám nói với người học việc của mình nữa vì sợ người học việc sẽ tấn công mình một cách công khai.”
Lời phát biểu này được sự ủng hộ nồng nhiệt, làm Jack ghê tởm. Nó tỏ ra rằng uy quyền của thợ cả phải được ủng hộ, không cần để ý đến việc đúng hay sai của vấn đề. Cậu tự hỏi không biết hình phạt dành cho cậu sẽ ra sao? Cậu không có tiền để trả tiền phạt. Cậu ghét bị nhốt trong nhà kho: Aliena sẽ nghĩ gì về cậu? Nhưng nó sẽ tồi tệ hơn nếu bị đánh đập. Cậu nghĩ cậu sẽ đâm bất cứ ai đánh cậu.
Tom nói: “Chúng ta đừng quên rằng chủ của chúng ta có một lập trường mạnh mẽ về việc này. Ông nói rằng ông không muốn Alfred và Jack cùng làm việc trên công trường xây dựng. Một trong hai người phải ra đi.”
“Chúng ta có thể khuyên can ông ấy không?” Peter nói.
Tom trầm tư suy nghĩ, nhưng sau đó ông nói: “Không.”
Jack bị sốc. Cậu không coi lời cảnh cáo của Philip là quan trọng. Nhưng Tom coi trọng.
Dan nói: “Nếu một trong hai người phải ra đi, tôi nghĩ chúng ta không cần tranh luận ai phải đi.” Dan là một trong số thợ hồ làm việc cho Alfred, hơn là làm việc trực tiếp cho tu viện, và nếu Alfred phải đi Dan có lẽ cũng phải đi theo.
Một lần nữa Tom trông nghĩ ngợi, và một lần nữa ông nói: “Không, không cần tranh luận.” Ông nhìn vào Jack. “Jack phải đi.”
Jack nhận ra rằng cậu đã đánh giá thấp hậu quả của cuộc chiến. Nhưng cậu không thể tin rằng họ sẽ đuổi ông. Đời sống sẽ ra sao nếu cậu không làm việc cho nhà thờ chính tòa Kingsbridge? Kể từ khi Aliena rút lui vào vỏ ốc của mình, nhà thờ là tất cả những gì cậu quan tâm. Làm sao cậu có thể rời xa nơi ấy được?
Peter Carpenster nói: “Tu viện phải chấp nhận một thỏa hiệp. Jack có thể bị đình chỉ làm việc trong một tháng.”
Vâng, làm ơn, Jack nghĩ trong đầu.
“Quá nhẹ,” Tom nói. “Chúng ta phải tỏ thái độ dứt khoát. Tu viện trưởng Philip sẽ không chấp nhận điều gì khác.”
“Thế cũng được,” Peter thở dài nói. “Nhà thờ chính tòa này mất một thợ khắc đá trẻ tài năng mà hầu hết chúng ta đã nhìn thấy, tất cả chỉ vì Alfred không giữ được cái miệng chết tiệt của anh ấy.” Nhiều thợ hồ lên tiếng đồng ý. Được sự ủng hộ, Peter nói tiếp: “Tôi tôn trọng ông, thợ xây Tom ạ, nhiều hơn bất cứ thợ xây dựng cả nào mà tôi đã làm việc với, nhưng tôi phải nói rằng ông mù quáng khi liên quan đến đứa con bướng bỉnh Alfred của ông.”
“Xin đừng công kích cá nhân,” Tom nói. “Chúng ta nên trở lại với vấn đề.”
“Rất đúng,” Peter nói. “Tôi nói Alfred cũng phải bị phạt.”
“Tôi đồng ý,” Tom nói trước sự ngạc nhiên của mọi người. “Alfred phải bị xử lý kỷ luật.”
“Tại sao?” Alfred nói đầy phẫn nộ. “Vì đánh một người học việc?”
“Cậu ấy không phải là người học việc của anh, cậu ấy là của tôi,” Tom nói. “Và anh đã làm nhiều hơn là đánh cậu ấy. Anh đã đuổi theo cậu ấy trên công trường. Nếu anh để cậu ấy chạy đi, thùng vôi đã không đổ, bức tường đã không hư hại và lều của thợ mộc đã không bị cháy rụi; và anh có thể giải quyết với cậu ấy khi cậu ấy trở về. Không cần phải biện hộ cho những gì anh đã làm.”
Các thợ xây đồng ý.
Dan, người dường như trở thành phát ngôn viên của thợ xây Alfred, nói: “Tôi hy vọng ông không có ý định đuổi Alfred ra khỏi hiệp hội. Tôi sẽ là người chống lại điều đó.”
“Không,” Tom nói. “Mất một người học nghề tài năng đã quá xấu rồi. Tôi không muốn mất thêm một người thợ xây đang điều hành một nhóm thợ đáng tin cậy. Alfred phải ở lại – nhưng tôi nghĩ cậu nên bị phạt.”
Những người theo phe Alfred thở phào.
“Một hình phạt nặng,” Peter nói.
“Một tuần lương,” Dan đề nghị.
“Một tháng lương,” Tom nói. “Tôi nghĩ Tu viện trưởng Philip sẽ không hài lòng nếu ít hơn.”
Nhiều người nói: “Vâng.”
“Tất cả chúng ta cùng nhất trí trong quan điểm này chứ, các anh em thợ xây?” Tom nói, dùng hình thức xưng hô theo tục lệ.
“Vâng,” tất cả họ nói
“Vậy tôi sẽ nói với tu viện trưởng về quyết định của chúng ta. Tốt hơn các ông trở về làm việc lại.”
Jack nhìn một cách chán nản khi họ đi ra. Alfred nhìn cậu với cái nhìn tự mãn. Tom chờ cho mọi người đi hết, rồi nói với Jack: “Dượng đã làm điều tốt nhất cho con – dượng hy vọng mẹ con sẽ nhìn thấy điều đó.”
“Dượng đã chẳng bao giờ làm bất cứ chuyện gì cho con!” Jack bật ra. “Dượng không thể nuôi con ăn, cho con mặc hoặc cho con ở. Chúng con đã sống rất hạnh phúc cho đến khi dượng đến, và rồi chúng con sắp chết đói!”
“Nhưng sau cùng -“
“Ngay cả dượng đã không bảo vệ con trước thằng cục súc mà dượng gọi là con!”
“Dượng đã cố gắng –“
“Ngay cả dượng đã không có công việc này nếu con đã không đốt nhà thờ cũ cháy rụi!”
“Con nói gì?”
“Vâng, con đã đốt nhà thờ cũ.”
Tom tái nhợt. “Đó là chớp –“
“Không có chớp. Nó là một đêm đẹp trời. Ngoài ra cũng không có ai đốt lửa trong nhà thờ. Con đã đốt trên mái.”
“Nhưng tại sao?”
“Để dượng có việc làm. Và mẹ con không phải chết trong rừng.”
“Bà ấy sẽ không –“
“Vợ cả của dượng đã chết trong rừng, phải không?”
Tom trắng bệch. Bất ngờ ông trở nên già hơn. Jack nhận ra cậu đã làm ông tổn thương trầm trọng. Cậu đã thắng trong tranh luận, nhưng có thể cậu mất đi một người bạn. Cậu cảm thấy chua chát và buồn bã.
Tom thì thầm: “Hãy ra khỏi đây.”
Jack đi ra.
Gần khóc, cậu bước xa khỏi các bức tường cao chót vót của nhà thờ. Đời sống của cậu đã bị tàn phá trong vài khoảnh khắc. Thật khó tin rằng cậu sẽ xa nhà thờ này mãi mãi. Ở cổng tu viện cậu quay đầu nhìn lại. Có rất nhiều điều cậu đã dự định. Cậu muốn tự mình khắc cửa ra vào; cậu muốn thuyết phục Tom để làm các thiên thần bằng đá ở khu cửa sổ trên cao; cậu đã có một đồ án sáng tạo cho đường đi mái vòm ở gian phụ hai bên mà cậu chưa bao giờ cho ai xem. Bây giờ cậu sẽ chẳng bao giờ làm những công việc này nữa. Nó thật bất công. Mắt cậu đầy lệ.
Cậu đi về nhà, nhìn mọi vật mờ mờ. Mẹ và Martha ngồi ở bàn trong bếp. Mẹ đang dạy Martha viết bằng một viên đá nhọn trên phiến đá. Họ ngạc nhiên khi thấy cậu. Martha nói: “Chưa đến giờ ăn.”
Mẹ đọc nét mặt Jack. “Chuyện gì thế?” bà lo lắng.
“Con đã đánh nhau với Alfred và bị đuổi khỏi công trường xây dựng,” cậu nói dứt khoát.
“Alfred có bị đuổi không?” Martha hỏi.
Jack lắc đầu.
“Như vậy không công bằng,” Martha nói.
Mẹ nói mệt mỏi: “Con đánh nhau về chuyện gì vào giờ này?”
Jack nói: “Có phải bố con bị treo cổ ở Shiring vì tội ăn trộm không?”
Martha thở hổn hển.
Mẹ buồn rầu. “Bố con không phải là tên trộm,” bà nói. “Nhưng đúng, ông ấy bị treo cổ ở Shiring.”
Jack đã chán với những trình bày bí ẩn về bố cậu. Cậu tàn nhẫn nói: “Tại sao mẹ chẳng bao giờ nói cho con sự thật?”
“Vì nó làm mẹ đau lòng!” Mẹ bật ra và Jack hoảng sợ vì bà bật khóc.
Cậu chưa bao giờ thấy bà khóc. Bà luôn tỏ ra cứng rắn. Chính cậu cũng gần sụp đổ. Cậu nuốt nước bọt và tiếp tục: “Nếu bố con không là tên trộm, tại sao ông ấy bị treo cổ?”
“Mẹ không biết!” Mẹ khóc. “Mẹ chẳng bao giờ biết. Bố con cũng chẳng bao giờ biết nữa. Họ nói bố con đã ăn cắp một chén có cẩn đá quý.”
“Ăn cắp của ai?”
“Ở đây – của tu viện Kingsbridge.”
“Kingsbridge! Có phải Tu viện trưởng Philip đã cáo buộc ông?”
“Không, không, nó xẩy ra trước thời gian của Philip.” Bà nhìn Jack qua dòng nước mắt. “Đừng hỏi mẹ ai đã cáo buộc ông và tại sao. Đừng bị mắc kẹt trong cái bẫy đó. Nếu không con sẽ phí phạm cả cuộc đời để tìm cách trả thù cho một hành động sai lầm đã xẩy ra trước khi con sinh ra. Mẹ không nuôi con khôn lớn để con đi báo thù. Đừng làm như thế với cuộc đời con.”
Jack thề một lúc nào đó sẽ tìm hiểu thêm, mặc dù những gì bà đã nói; nhưng ngay bây giờ cậu muốn bà ngừng khóc. Cậu ngồi bên cạnh bà trên ghế băng và ôm bà. “Vâng, bây giờ có vẻ như nhà thờ chính tòa không còn là đời sống của con nữa.”
Martha nói: “Anh muốn làm gì, Jack?”
“Anh không biết. Anh không còn có thể sống ở Kingsbridge.”
Martha thất vọng. “Nhưng tại sao không?”
“Alfred đã muốn giết anh và Tom đã đuổi anh khỏi công trường. Anh không muốn sống với họ. Dù sao, anh là một người đàn ông. Anh sẽ xa mẹ anh.”
“Nhưng anh sẽ làm gì?”
Jack nhún vai. “Công việc duy nhất anh biết là xây dựng.”
“Anh có thể làm việc cho nhà thờ khác.”
“Có thể anh sẽ yêu nhà thờ chính tòa khác như anh đã yêu nhà thờ này, anh nghĩ như thế,” cậu chán nản nói. Cậu tiếp tục nghĩ: Nhưng tôi sẽ chẳng yêu người đàn bà nào khác như tôi đã yêu Aliena.
Mẹ nói: “Làm sao Tom có thể đối với con như vậy?”
Jack thở dài. “Con không nghĩ ông thực sự muốn như thế. Tu viện trưởng Philip nói ông không muốn con và Alfred cùng làm việc ở công trường.”
“Thì ra vị tu sĩ chết tiệt này đứng đàng sau vụ này!” Mẹ nói tức giận. “Tôi thề -„
„Ông ấy tức giận về những thiệt hại chúng con gây ra.“
„Mẹ tự hỏi người ta có thể làm cho ông ấy mở mắt ra không.“
„Mẹ muốn nói gì?“
„Thiên Chúa được cho là giầu lòng thương xót – có lẽ các tu sĩ cũng phải như vậy.“
„Ý mẹ muốn con nên xin xỏ Philip?“ Jack hỏi, một chút ngạc nhiên về hướng suy nghĩ của mẹ.
„Mẹ nghĩ mẹ nên nói chuyện với ông ấy,“ bà ấy nói.
„Mẹ!“ Điều đó lại càng khác với cá tính của bà. Jack hoàn toàn bị sốc. Bà phải xấu hổ lắm khi xin lòng thương xót của Philip.
“Con nghĩ sao?” bà hỏi cậu.
Jack nhớ lại, Tom dường như đã nghĩ Philip không sẵn sàng khoan nhượng. Nhưng rồi, Tom chỉ có một mục đích trong đầu rằng hiệp hội sẽ có quyết định. Ông đã hứa với Philip rằng quyết định sẽ mạnh mẽ, nên ông không thể van nài lòng thương xót. Mẹ không ở trong tình trạng giống như vậy. Jack bắt đầu cảm thấy nhiều hy vọng hơn. Có lẽ cậu sẽ không phải đi xa. Có lẽ cậu sẽ ở lại Kingsbridge, gần ngôi nhà thờ chính tòa và gần Aliena. Cậu không còn hy vọng cô sẽ yêu cậu, tuy vậy cậu ghét khi nghĩ rằng cậu sẽ phải đi xa và chẳng bao giờ nhìn thấy cô nữa.
“Được rồi,” cậu nói. “Chúng ta đi và xin lòng thương của Tu viện trưởng Philip. Chúng ta chẳng mất gì, ngoài niềm tự hào của chúng ta.”
Mẹ mặc áo choàng và họ cùng đi, để Martha ngồi lại một mình bên bàn, lòng đầy lo lắng.
Jack và mẹ cậu ít khi đi bên cạnh nhau, và bây giờ cậu nhận ra bà nhỏ con: cậu đã cao hơn bà. Cậu cảm thấy thích bà. Bà luôn sẵn sàng chiến đấu cho cậu giống như con mèo. Cậu đặt tay ngang hông bà và ôm bà. Bà mỉm cười như thể bà biết cậu đang nghĩ gì.
Họ bước vào khu tu viện và đến nhà tu viện trưởng. Bà mẹ đập cửa và bước vào. Tom đang ở đó với Tu viện trưởng Philip. Jack biết ngay rằng Tom đã không kể cho Philip về chuyện cậu đốt nhà thờ cũ. Đó là một điều may mắn. Bây giờ có lẽ cậu sẽ chẳng bao giờ kể. Bí mật đó không bị lộ.
Tom lo lắng, nếu không muốn nói là một chút sợ hãi khi ông thấy Ellen. Jack nhớ lại ông nói ông đã làm những gì tốt nhất cho cậu và hy vọng mẹ cậu sẽ nhìn thấy điều đó. Tom chắc nhớ lại lần trước khi Jack và Alfred có cuộc ẩu đả: một cách cương quyết mẹ đã bỏ Tom. Tom sợ bà sẽ đi bây giờ.
Philip không còn giận dữ, Jack nghĩ. Có lẽ quyết định của hiệp hội đã xoa dịu ông. Ngay cả có thể ông còn cảm thấy một chút tội lỗi về sự khắc nghiệt của ông.
Mẹ nói: “Tôi tới đây để xin ông tỏ lòng nhân hậu, thưa Tu viện trưởng Philip.”
Tom thấy nhẹ nhõm.
Philip nói: “Tôi đang lắng nghe.”
Mẹ nói: “Ông đang định đuổi con tôi xa mọi thứ cậu ấy yêu quý – nhà cậu, gia đình cậu và công việc của cậu.”
Và người phụ nữ cậu ấy ngưỡng mộ, Jack nghĩ.
Philip nói: “Thật thế sao? Tôi nghĩ đơn giản cậu ấy chỉ bị đuổi việc.”
“Cậu ấy chẳng học nghề gì ngoài việc xây dựng, và không còn công việc xây dựng nào khác cho cậu ở Kingsbridge. Và thách đố của nhà thờ lớn đã ngấm vào máu cậu. Cậu ấy sẽ đi bất cứ nơi nào có nhà thờ chính tòa đang xây dựng. Cậu ấy sẽ đến Jerusalem nếu ở đó có đá để khắc thành thiên thần và quỷ dữ.” Làm sao bà ấy có thể biết mọi chuyện đó, Jack tự hỏi. Cậu chưa nghĩ về chuyện đó – nhưng nó đúng là sự thật. Bà thêm: “Tôi sẽ chẳng bao giờ nhìn thấy cậu ấy nữa.” Giọng bà xúc động và cậu thấy bà thương cậu như thế nào. Bà đã chẳng bao giờ xin xỏ như thế cho chính bà, cậu biết.
Philip nhìn thông cảm, nhưng Tom lại là người lên tiếng. “Chúng ta không thể có Jack và Alfred cùng làm việc trên công trường được,” ông kiên trì nói. “Chúng nó sẽ lại đánh nhau. Em biết chuyện đó.”
“Alfred cũng có thể đi,” mẹ nói.
Tom buồn rầu. “Alfred là con tôi.”
“Nhưng cậu ấy đã hai mươi tuổi, và là một con gấu!” Mặc dù giọng bà cứng rắn, má bà đầy nước mắt. “Cậu ấy không quan tâm đến nhà thờ này bằng con tôi – cậu ấy hài lòng khi cậu ấy có thể xây nhà cho người bán thịt và thợ bánh mì ở Winchester hay Shiring.”
“Hiệp hội không thể đuổi Alfred và giữ Jack,” Tom nói. “Ngoài ra quyết định này đã được thông qua.”
“Nhưng đó là một quyết định sai lầm.”
Philip nói. “Có thể có một câu trả lời khác.”
Mọi người nhìn ông.
“Có một cách để Jack ở lại Kingsbridge, và ngay cả có thể cống hiến cho nhà thờ chính tòa mà Alfred không có thể làm hại cậu được.”
Jack tự hỏi việc gì sẽ xẩy ra. Nó nghe quá hay để có thể là sự thật.
“Tôi cần một người làm việc với tôi,” Philip tiếp tục. “Tôi mất quá nhiều giờ cho những quyết định chi tiết về việc xây dựng. Tôi cần người cộng tác, người giữ vai trò giám sát công việc. Người đó sẽ tự xử lý hầu hết vấn đề, chỉ trình cho tôi những vấn đề quan trọng. Người ấy sẽ theo dõi tiền bạc và vật liệu, xử lý thanh toán tiền cho nhà cung cấp và phu xe, và cả tiền lương nữa. Jack có thể đọc và viết, và cậu ấy có thể cộng những con số nhanh hơn bất cứ ai tôi đã gặp –“
“Và cậu ấy hiểu mọi khía cạnh của xây dựng,” Tom thêm vào. “Tôi đã nhìn thấy điều đó.”
Tâm trí Jack quay cuồng. Sau cùng cậu có thể ở lại đây! Cậu sẽ là người giám sát công việc. Cậu sẽ không khắc đá, nhưng sẽ đại diện cho Philip giám sát toàn bộ công trình. Đó là một đề nghị đáng kinh ngạc. Cậu sẽ được đối xử ngang hàng với Tom. Nhưng cậu biết cậu có khả năng cho việc đó. Và Tom cũng biết.
Có một trở ngại và Jack lên tiếng: “Tôi không thể sống với Alfred nữa.”
Ellen nói: “Đã đến lúc Alfred có một nhà riêng. Có lẽ khi cậu rời chúng ta, cậu ấy sẽ đứng đắn hơn trong việc tìm vợ.”
Tom giận dữ nói: “Em cứ tìm lý do để loại bỏ Alfred. Anh không muốn tống cổ con đẻ của anh ra khỏi nhà anh.”
“Cả hai ông bà đều không hiểu ý tôi,” Philip nói. “Ông bà không hiểu hoàn toàn đề nghị của tôi. Jack sẽ không còn sống chung với ông bà nữa.”
Ông dừng lại: “Jack sẽ phải sống ở đây, trong tu viện.” Ông nhìn họ với một cái cau mày, như thể ông không thể hiểu tại sao họ vẫn chưa nắm bắt được ý ông.
Jack đã hiểu ông. Cậu nhớ lại lời mẹ cậu nói vào lễ hội mùa hè năm trước: vị tu viện trưởng tinh quái này sau cùng sẽ đạt được điều ông ấy muốn. Bà ấy đúng. Philip lập lại lời đề nghị ông đã nói. Nhưng lần này nó có vẻ khác. Sự chọn lựa mà Jack đang đối mặt rất lớn. Cậu có thể rời Kingsbridge và từ bỏ mọi thứ cậu yêu. Hay cậu có thể ở lại và mất tự do của cậu.
“Người giám sát của tôi dĩ nhiên không thể là một người thường,” Philip chấm dứt bằng một âm giọng như thể đó là chuyện đương nhiên: “Jack sẽ phải trở thành tu sĩ.”
V
Trong đêm trước hội chợ ở Kingsbridge, Tu viện trưởng Philip thức sau giờ kinh đêm như mọi khi; nhưng thay vì đọc và suy niệm trong nhà, ông đi một vòng quanh khu tu viện. Đó là một đêm hè ấm áp, bầu trời trong và có trăng, và ông có thể nhìn thấy mà không cần đèn.
Toàn bộ khu tu viện được dùng cho hội chợ, ngoại trừ các tòa nhà của tu viện và khu hành lang tu viện đã được hiến thánh. Hố vệ sinh to được đào trong bốn góc của khu tu viện để phần còn lại của sân được sạch sẽ, và được rào che kỹ càng vì tôn trọng sự nhậy cảm của các tu sĩ. Hàng trăm gian hàng đã được dựng lên. Những gian đơn giản nhất là những tấm ván đặt trên chân bàn bằng gỗ thô. Nhưng hầu hết các gian hàng được trang bị nhiều hơn: chúng có bảng hiệu với tên của chủ và hình của những sản phẩm, một bàn riêng để cân, và một tủ hoặc túp lều có khóa để cất giữ đồ đạc. Một số quầy hàng kết hợp với lều để tránh mưa hoặc buôn bán với nhau một cách riêng tư. Những gian hàng tỉ mỉ nhất là những căn nhà nhỏ, với khu nhà kho rộng rãi, có nhiều quầy, và bàn ghế nơi thương gia có thể đón tiếp khách hàng sang trọng. Philip thật ngạc nhiên khi các thợ mộc của thương gia đã đến xây dựng gian hàng một tuần trước hội chợ, nhưng việc thiết kế gian hàng chỉ mất bốn ngày, còn hai ngày họ cần để xếp hàng vào kho.
Theo kế hoạch ban đầu Philip muốn cho dựng các quầy hàng dọc theo hai đường rộng về phía tây của khu tu viện, tương tự như các gian hàng của buổi chợ hàng tuần; nhưng ông sớm nhận ra rằng như vậy không đủ chỗ. Hai hàng quầy bây giờ chạy dọc theo toàn bộ phía bắc của nhà thờ, và rồi trở xuống phía đông của sân đến nhà của Philip; và còn nhiều quầy hàng bên trong nhà thờ chưa hoàn thành, trong các gian phụ giữa các cột. Chủ các cửa hàng không phải chỉ là các thương gia len: mọi thứ được bán ở hội chợ, từ bánh mì lúa mạch cho đến hồng ngọc.
Philip đi dọc theo hàng quầy dưới ánh trăng. Tất cả đã sẵn sàng, dĩ nhiên: hôm nay không còn quầy hàng nào được phép xây dựng thêm nữa. Hầu hết quầy hàng đã chất đầy hàng hóa. Tu viện đã thu được hơn mười bảng Anh cho tiền lệ phí và tiền thuế. Chỉ có một số hàng hóa được đem đến trong ngày hội chợ là đồ ăn mới nấu, bánh mì, bánh pa-tê nóng và táo nướng. Ngay cả những thùng bia cũng đã được đem đến ngày hôm qua.
Khi Philip đi vòng quanh, ông được hàng chục đôi mắt nửa mở nửa nhắm quan sát và được nhiều cửa miệng buồn ngủ chào hỏi. Chủ cửa hàng không để hàng hóa quý giá của mình mà không được bảo vệ: Hầu hết họ ngủ ở quầy của họ, và các thương gia giầu có cho các gia nhân canh giữ.
Ông chưa biết chắc chắn ông sẽ thu được bao nhiêu tiền từ hội chợ, nhưng rõ ràng là nó sẽ thành công, và ông tin tưởng sẽ đạt được dự toán ban đầu là năm mươi bảng Anh. Trong những tháng qua có nhiều lúc ông sợ rằng hội chợ sẽ không tổ chức được. Cuộc nội chiến tiếp tục, và không phải Stephen cũng không phải Maud có lợi thế hơn. Nhưng may mắn thay giấy phép của ông không bị thu hồi. William đã cố gắng phá hoại bằng nhiều cách. Cậu đã nói với cảnh sát trưởng cấm nó, và cảnh sát trưởng đã xin một trong hai vị vua cầm quyền nhưng không có trả lời. William đã cấm người thuê nhà của ông bán len ở Kingsbridge; nhưng hầu hết họ có thói quen bán len cho các thương gia như Aliena hơn là tự đứng ra bán hàng, vì thế mà kết quả sự cấm đoán lại làm lợi cho Aliena hơn. Sau cùng cậu đã tuyên bố giảm tiền thuê và lệ phí ở hội chợ Shiring giống như của Philip; nhưng lời tuyên bố của cậu đã quá trễ để thay đổi tình thế, vì những người buôn bán lớn đã có kế hoạch của họ.
Bây giờ, mặt trời đã ló rạng ở phía đông vào buổi sáng của ngày trọng đại, William không còn có thể làm gì được. Các thương gia đã có mặt ở đây với hàng hóa của họ, và một ít phút nữa những người mua sẽ tới. Philip hy vọng sau cùng William sẽ nhận ra rằng hội chợ len ở Kingsbridge ít làm thiệt hại hội chợ ở Shiring hơn cậu sợ. Số lượng len bán ra mỗi năm đều tăng mà không có thất bại, vì thế nó có đủ việc để kinh doanh ở cả hai hội chợ.
Ông đã đi tất cả các đường quanh sân đến góc tây nam, nơi có nhà máy xay và ao cá. Ông đứng đó một lúc, ngắm nhìn dòng nước chảy qua hai nhà máy xay yên tĩnh. Một cái dùng riêng cho việc hồ vải, và nó mang lại nhiều lợi nhuận. Jack trẻ chịu trách nhiệm về việc đó. Cậu có một đầu óc tinh tế. Cậu sẽ là một tiềm năng lớn cho tu viện. Cậu dường như đã ổn định tốt như một tập sinh, mặc dù trong giờ kinh nguyện cậu vẫn bị phân tâm về việc xây dựng nhà thờ. Tuy nhiên, cậu có thể học vì đời sống tu viện là một ảnh hưởng thánh thiện. Philip nghĩ Thiên Chúa có một mục đích cho Jack. Trong một góc phía sau đầu, ông có một niềm hy vọng lâu dài: một ngày nào đó Jack sẽ thay ông làm tu viện trưởng Kingsbridge.
Jack thức dậy vào lúc bình minh và ra khỏi nhà ngủ trước giờ kinh sáng để làm một cuộc kiểm tra cuối cùng về công trường xây dựng. Không khí buổi sáng lạnh và trong lành, giống như dòng nước tinh khiết từ nguồn. Nó sẽ là một ngày nắng ấm, tốt cho việc kinh doanh, tốt cho tu viện.
Cậu đi quanh bức tường nhà thờ chính tòa, bảo đảm rằng mọi công cụ và những công việc dang dở đã được cất an toàn vào nhà kho. Tom đã làm hàng rào nhẹ bằng gỗ quanh khu dự trữ đá và gỗ, để bảo vệ vật liệu khỏi những thiệt hại do những khách hàng vô ý hoặc say rượu. Họ không muốn cho bất cứ kẻ liều lĩnh nào trèo lên tường, vì thế tất cả các cầu thang đã được cất dấu an toàn, cầu thang xoắn trong các bức tường dầy đã được khóa bằng những cửa tạm thời, và đầu tường đang xây dở được che kín bằng các tấm gỗ. Một vài thợ thủ công chính sẽ đi tuần tra trong công trường để tránh những thiệt hại có thể xẩy ra.
Với lý do này hay lý do khác, Jack luôn bỏ qua nhiều giờ kinh nguyện. Luôn luôn cậu có nhiều việc phải làm trên công trường. Cậu không thù hận Ki Tô giáo như mẹ cậu, nhưng ít hay nhiều cậu gữ khoảng cách với nó. Cậu không nhiệt tình với nó, nhưng cậu sẵn sàng chấp nhận nếu nó thích hợp với mục đích của cậu. Cậu chú ý tham dự một giờ kinh mỗi ngày, thông thường trong giờ kinh có sự tham dự của Tu viện trưởng Philip hay cha giáo tập, vì hai tu sĩ cao cấp này dễ nhận ra cậu có hiện diện hay không. Cậu không thể chịu đựng được nếu cậu tham dự tất cả các giờ kinh. Trở thành một tu sĩ là một cách sống xa lạ và kỳ quặc nhất mà cậu có thể tưởng tượng được. Các tu sĩ trải qua nửa đời sống với những đau khổ do họ tự tạo ra, và nửa đời khác lẩm bẩm ngày và đêm trước tượng thần thánh trong một ngôi nhà thờ trống vắng. Họ cố tình lảng tránh những gì tốt đẹp – phụ nữ, thể thao, lễ hội và đời sống gia đình. Tuy nhiên, Jack để ý thấy một số người hạnh phúc và những công việc họ theo đuổi cho họ sự hài lòng sâu xa: minh họa những bản thảo, viết truyện, nấu ăn, nghiên cứu triết học, hay – giống như Philip – thay đổi Kingsbridge từ một ngôi làng ngủ quên thành một thành phố nhà thờ chính tòa thịnh vượng.
Jack không thích Philip nhưng cậu thích làm việc với ông. Jack giữ khoảng cách với những người tận hiến cho Thiên Chúa, như cậu đối với mẹ cậu. Cậu xấu hổ vì lòng đạo đức của Philip; cậu không thích sự vô tội của Philip; và cậu nghi ngờ khuynh hướng của ông khi tin rằng Thiên Chúa sẽ lo lắng những điều mà ông không thể đối đầu. Tuy nhiên, cậu thích làm việc cho ông. Mệnh lệnh của ông rõ ràng, ông cho Jack cơ hội tự quyết định, và ông chẳng bao giờ đổ lỗi cho nhân viên những sai lầm của ông.
Jack mới là tập sinh được ba tháng, và chỉ sau chín tháng cậu mới được yêu cầu có lời khấn tu. Ba lời khấn là khó nghèo, độc thân và vâng lời. Lời khấn khó nghèo chỉ là bên ngoài. Các tu sĩ không có của cải riêng tư và không có tiền, nhưng họ sống giống giai cấp giầu hơn là nông dân – họ có thực phẩm tốt, quần áo ấm và nhà đá đẹp để ở. Sống độc thân không phải là vấn đề, Jack cay đắng nghĩ. Cậu đã có một sự hài lòng lạnh lùng khi cậu nói trực tiếp với Aliena rằng cậu sẽ vào tu viện. Cô bị sốc và cảm thấy có lỗi. Bây giờ, khi cậu cảm thấy khó chịu và bất ổn vì thiếu sự đồng hành của phụ nữ, cậu sẽ nhớ tới việc Aliena đã đối xử với cậu thế nào – sự gặp gỡ bí mật trong rừng, những buổi tối mùa đông, hai lần cậu đã hôn cô – và rồi cậu nhớ lại cô đã bất ngờ trở thành lạnh lùng và cứng rắn như hòn đá; và sự nghĩ về chuyện đó làm cậu cảm thấy rằng cậu chẳng bao giờ muốn liên quan đến phụ nữ nữa. Tuy nhiên, lời khấn vâng lời khó khăn nhất, cậu có thể nói ngay điều đó. Cậu vui khi nhận mệnh lệnh từ Philip, một người thông minh và có tài tổ chức; nhưng nó rất khó để vâng lời vị tu viện phó ngu dốt, hay thầy phụ trách nhà khách say rượu, hoặc cha lo phụng vụ kiêu ngạo.
Tuy nhiên, cậu có ý định khấn dòng. Cậu không muốn giữ chúng, nhưng điều cậu quan tâm là xây nhà thờ chính tòa. Việc cung cấp vật liệu, xây dựng và điều hành là một công việc hấp dẫn không ngừng. Một ngày nọ cậu phải giúp Tom tìm ra một phương pháp để kiểm soát số lượng đá đến công trường cũng như số lượng đá xuất khỏi mỏ – một vấn đề phức tạp, bởi vì cuộc hành trình kéo dài hai đến bốn ngày, nên không thể có sự kiểm soát hàng ngày được. Một ngày khác thợ hồ phàn nàn rằng thợ mộc không làm giàn khung đúng cách. Thách đố lớn lao nhất là những vấn đề kỹ thuật, giả sử như làm thế nào để nâng hàng tấn đá lên đỉnh bức tường mà chỉ dùng những phương tiện tạm thời và giàn giáo mỏng manh. Thợ xây Tom thảo luận vấn đề này với Jack như một người đồng nghiệp. Dường như ông đã quên lời chỉ trích giận dữ của Jack khi cậu nói ông đã chẳng làm gì cho cậu. Và Tom làm như thể ông đã quên sự tiết lộ về việc Jack đã đốt nhà thờ cũ. Họ làm việc vui vẻ với nhau, và ngày tháng trôi qua nhanh. Ngay cả trong những giờ kinh buồn tẻ tâm trí Jack cũng xoay quanh những vấn nạn về kiến trúc hay lên kế hoạch cho công việc. Sự hiểu biết của cậu tăng lên nhanh chóng. Thay vì dùng năm tháng để khắc đá, cậu học vẽ dự án nhà thờ chính tòa. Khó có thể có một cuộc huấn luyện nào tốt hơn như thế này cho những người muốn trở thành thợ xây chính. Và vì những điều đó, Jack sẵn sàng ngáp trong những giờ kinh đêm.
Mặt trời đã lên trên bức tường phía đông của khu tu viện. Mọi thứ đã sẵn sàng trên công trường. Các chủ gian hàng sau một đêm canh giữ hàng hóa, bây giờ bắt đầu dọn dẹp giường chiếu và trưng bầy sản phẩm của họ. Những khách hàng đầu tiên chẳng bao lâu nữa sẽ có mặt. Một thợ bánh mì vừa đi ngang qua Jack, mang một khay bánh mới trên đầu. Mùi thơm của bánh mới làm Jack chẩy nước miếng. Cậu quay lại và đi về tu viện, hướng thẳng đến nhà ăn, nơi chẳng bao lâu nữa họ sẽ có đồ ăn sáng.
Những khách hàng đầu tiên là gia đình của chủ các gian hàng và người dân thị trấn, tất cả tò mò muốn biết về hội chợ len đầu tiên ở Kingsbridge, nhưng không có ý định đi mua. Những người tiết kiệm đã ăn no bụng với bánh mì và khoai tây trước khi họ rời nhà, vì thế họ sẽ không bị cám dỗ bởi kẹo bánh đầy gia vị và màu sắc sặc sỡ trên các quầy hàng thực phẩm. Trẻ em đi vòng vòng với đôi mắt mở rộng, lóe mắt trước những đồ hấp dẫn. Một cô gái điếm lạc quan thức dậy sớm, có làn môi đỏ và đôi giày đỏ thơ thẩn loanh quanh, mỉm cười hy vọng vào nhóm đàn ông trung niên, nhưng không có ai để ý đến cô vào giờ này.
Aliena quan sát tất cả từ cửa hàng của cô, một trong số các cửa hàng to nhất. Trong vài tuần qua cô đã lấy hết số len trong kho tu viện, số len mà cô đã trả một trăm bẩy bảng Anh vào mùa hè năm trước. Cô cũng đã mua từ các nông trại, như cô thường làm; và năm nay có nhiều người bán hơn thông thường vì William Hamleigh đã cấm người thuê nhà của cậu bán ở hội chợ Kingsbridge, vì thế họ đã bán cho các thương gia. Và trong số các thương gia, Aliena đã mua được nhiều len nhất vì cô ở tại Kingsbridge, nơi hội chợ được tổ chức. Cô đã dùng tất cả tiền để mua len, và cô phải mượn thêm của Malachie bốn mươi bảng Anh để tiếp tục buôn bán. Bây giờ, trong nhà kho nằm sau gian hàng của cô, cô có một trăm sáu mươi bao tải len thô, sản phẩm từ bốn ngàn con cừu, và cô đã tốn hơn hai trăm bảng Anh, nhưng cô sẽ bán nó được ba trăm, số tiền này đủ để trả tiền lương cho một thợ chuyên nghiệp trong hơn một thế kỷ. Khi cô nghĩ về các con số, cô ngạc nhiên về công việc kinh doanh lớn mạnh của cô.
Cô không chờ đợi khách hàng của cô sẽ đến sớm trước buổi trưa. Chỉ có năm sáu người sẽ đến sớm. Họ quen nhau và cô cũng biết họ từ năm trước. Cô sẽ mời họ một ly rượu nho, rồi ngồi nói chuyện với họ một lúc. Sau đó cô sẽ chỉ cho họ xem len của cô. Họ sẽ yêu cầu cô mở một hai bao – dĩ nhiên chẳng bao giờ mở bao nằm trên đầu. Họ sẽ thò tay sâu vào trong bao, và kéo ra một nắm len. Họ sẽ rút sợi để xem chiều dài, chà sát giữa ngón tay trỏ và ngón cái để thử sự mềm mại, và ngủi mùi của nó. Sau cùng họ sẽ đề nghị mua toàn bộ nhà kho với một giá bèo, và Aliena sẽ từ chối. Cô sẽ nói cho họ giá cô muốn bán, và họ sẽ lắc đầu. Họ uống thêm một ly rượu khác.
Aliena sẽ theo cùng cách thức ấy với người mua khác. Những khách hàng đến vào buổi trưa sẽ được mời ăn. Một người nào đó sẽ trả giá cho một số lượng lớn không cao hơn giá cô đã mua vào bao nhiêu. Cô sẽ đáp lại bằng cách hạ giá của mình xuống thêm một chút. Vào buổi chiều cô sẽ từ từ chấm dứt giao dịch. Sự giao dịch đầu tiên của cô sẽ ở mức giá thấp. Các thương gia khác yêu cầu cô phải giao dịch với họ cùng một giá, nhưng cô từ chối. Giá của cô sẽ tăng lên trong diễn biến vào buổi chiều. Nếu nó lên quá nhanh, việc bán ra sẽ chậm lại, trong khi các thương gia có thể tính toán họ có thể mua được ở đâu nữa cho đủ số lượng. Nếu họ hỏi mua với giá thấp hơn giá mà họ dự định mua, cô sẽ nhận ra được nó qua sự vội vàng mà họ muốn đạt được thỏa thuận. Cô sẽ buôn bán với từng người, và các nhân viên bắt đầu chất những bao len to lớn lên xe bò với những bánh xe lớn bằng gỗ, trong khi Aliena cân những xu bạc và tiền Gun-đơn (4) đựng trong túi nhỏ.
Không nghi ngờ gì rằng hôm nay cô sẽ thu về nhiều hơn mọi khi. Cô có gấp đôi số lượng len để bán và giá len đang lên. Cô dự định mua trước đầu ra của Philip một lần nữa, và cô có một kế hoạch bí mật muốn xây cho mình một căn nhà đá, với một tầng hầm làm kho dự trữ len, một sảnh đường thanh lịch và thoải mái, và một phòng ngủ trên lầu đẹp đẽ chỉ dành cho cô. Tương lai cô sẽ bảo đảm, và cô tin rằng cô có thể hỗ trợ Richard bao lâu cậu ấy còn cần đến cô. Mọi việc hoàn hảo.
Và điều đó không giải thích được tại sao cô lại cảm thấy mình vô cùng đáng thương.
Đã bốn năm kể từ khi Ellen trở lại Kingsbridge, và nó là những năm tháng đẹp nhất trong đời Tom.
Nỗi đau về cái chết của Agnes đã dần nguôi ngoai. Nó vẫn còn đó, nhưng ông không còn cảm giác ngượng nghịu muốn bật khóc bất cứ lúc nào mà không có lý do rõ ràng. Ông vẫn tưởng tượng nói chuyện với bà ấy, nói với bà về con cái, về Tu viện trưởng Philip và về nhà thờ chính tòa; nhưng cuộc nói chuyện như vậy thưa dần. Sự tưởng nhớ ngọt ngào mà cay đắng này không ảnh hưởng đến tình yêu ông dành cho Ellen. Ông có khả năng sống cho hiện tại. Nhìn thấy bà và chạm vào bà, nói với bà và ngủ với bà là những công việc thường ngày.
Vào ngày Jack và Alfred đánh nhau, ông bị thương tổn sâu xa vì Jack nói rằng Tom đã chẳng bao giờ để ý đến cậu; và lời buộc tội ấy đã bị lu mờ vì sự tiết lộ của Jack rằng chính cậu đã châm lửa đốt nhà thờ cũ. Ông bị dằn vặt trong nhiều tuần lễ, nhưng sau cùng ông cho rằng Jack đã nghĩ sai về ông. Tom đã làm những gì tốt nhất ông có thể, và không ai có thể làm hơn. Đi được đến kết luận này, ông cảm thấy an tâm.
Việc xây dựng nhà thờ chính tòa là công việc thỏa mãn nhất mà ông đã làm. Ông chịu trách nhiệm cho việc thiết kế và thực hiện. Không ai xen vào công việc của ông, và ông không có ai để đổ lỗi khi có sai lầm. Khi những bức tường hoành tráng vươn lên cao, với những mái vòm nhịp nhàng, hình dáng thanh nhã và những trạm trổ độc đáo, ông có thể nhìn lại và nghĩ: Tôi đã làm tất cả những việc này, và tôi đã hoàn thành nó.
Cơn án mộng rằng một ngày nào đó ông lại lang thang trên đường, không công ăn việc làm, không tiền bạc và không có gì cho con cái ăn, dường như đã xa; bây giờ ông đã có một hòm rương to đầy đồng xu bạc chôn dưới đống tro trong nhà bếp. Ông vẫn rùng mình nhớ lại cái đêm lạnh lẽo đó, khi Agnes sinh Jonathan rồi qua đời; nhưng ông cảm thấy chắc chắn rằng không gì tồi tệ có thể xẩy ra một lần nữa.
Một đôi khi ông tự hỏi tại sao Ellen và ông không có con. Cả hai họ đã có con riêng trong quá khứ, và có nhiều cơ hội cho cô có thai – họ vẫn làm tình mỗi đêm, dù sau bốn năm sống chung. Tuy nhiên, nó không làm ông hối tiếc sâu xa. Jonathan là niềm vui của ông.
Từ kinh nghiệm quá khứ ông biết rằng cách tốt nhất để tham dự hội chợ là đi với một đứa nhỏ, vì thế ông đã đi tìm Jonathan vào giữa buổi sáng, khi đám đông bắt đầu đến. Jonathan trong bộ tu phục nhỏ bé hầu như cũng chính là một sự thu hút. Thời gian sau này cậu ước muốn có được chiếc đầu trọc, và Phillip đã cho phép cậu – Giống như Tom, Philip cũng thích trẻ em – và bây giờ cậu càng trông giống một tu sĩ bé nhỏ hơn. Có nhiều người lùn thực sự giữa đám đông, trình diễn những thủ thuật và ăn xin và họ đã thu hút Jonathan. Tom vội vã kéo cậu đi khi một người thu hút đám đông bằng cách phơi bày ‘của quý’ của mình. Có những nghệ sĩ diễn trò, nhào lộn và trình diễn âm nhạc, rồi chuyển một chiếc mũ đi xung quanh; có các thầy bói, nhà phẫu thuật và gái điếm chào hàng; có tranh tài về sức mạnh, về đấu vật và cờ bạc. Mọi người mặc quần áo sặc sỡ, và ai có khả năng đã xức nước hoa lên khắp người và xức dầu lên tóc. Mọi người dường như có tiền để tiêu, và không khí đầy tiếng leng keng của đồng xu.
Trò trêu gấu bắt đầu. Jonathan chưa bao giờ nhìn thấy con gấu, và cậu bị lôi cuốn ngay. Bộ lông xám nâu của con gấu có nhiều vết xẹo chứng tỏ rằng nó đã sống sót qua nhiều cuộc thi đấu. Một sợi dây xích nặng cột quanh mình nó, rồi một đầu được đóng sâu xuống đất, vì thế nó chỉ có thể đi vòng quanh và nhìn đám đông giận dữ. Tom tưởng tượng ông đã nhìn thấy một ánh xảo quyệt trong mắt con gấu. Nếu ông là người mê cờ bạc, ông đã đặt cược trên con gấu.
Âm thanh của tiếng chó sủa điên cuồng phát ra từ chiếc lồng khóa bên cạnh. Những con chó đã ngửi thấy mùi quân thù. Con gấu dừng bước nhìn vào trong lồng, rồi gầm gừ; và tiếng sủa trở thành tiếng rống cuồng chiến.
Chủ các con thú, người coi gấu, vẫn tiếp tục nhận tiền cược. Jonathan mất kiên nhẫn và Tom định đi, nhưng sau cùng người giữ gấu di chuyển lồng. Con gấu đứng thẳng, bị giới hạn bởi sợi dây xích, và gầm gừ. Người giữ gấu la to rồi mở cửa lồng.
Năm con chó dại nhẩy ra. Chúng nhẹ nhàng và di chuyển nhanh, và chiếc miệng của nó há ra cho thấy hàm răng nhọn. Chúng tiến thẳng đến con gấu. Con gấu đánh chúng bằng bàn chân khổng lồ. Nó tấn công một con chó, đánh nó văng đi và những con khác lùi lại.
Đám đông tiến gần hơn. Tom tìm Jonathan: cậu đang ở hàng trước, nhưng vẫn xa ngoài tầm của con gấu. Con gấu đủ thông minh, nó lui lại gần chỗ cây cọc, để dây xích chùng xuống mặt đất, vì thế khi nó tấn công, nó không bị giật lại. Nhưng con chó cũng khôn ngoan. Sau cuộc tấn công rải rác ban đầu, chúng tụ họp lại và phân chia thành vòng tròn. Con gấu quay ngang quay dọc, muốn nhìn thấy mọi phía.
Một con chó lao vào, sủa vang quyết liệt. Con gấu đánh bật nó ra. Con chó lui lại, đứng xa; và bốn con chó khác từ mọi phía lao vào. Con gấu quay lại và tấn công lại. Đám đông cổ vũ khi ba con chó cắn hàm răng vào thịt con gấu. Nó đứng trên hai chân sau, và gầm lên đau đớn, lắc mình và bò ra xa.
Các con chó thử lại cùng chiến thuật một lần nữa. Tom nghĩ con gấu sẽ lại bị thất bại. Con chó đầu tiên lao vào tầm tay của nó, con gấu tiến lại và con chó lùi về; nhưng khi các con chó lao vào, con gấu đã sẵn sàng, nó quay lại nhanh chóng và lao vào con gần nhất và dùng chân quẹt vào con chó. Đám đông cổ vũ cho con gấu như họ đã cổ vũ cho các con chó. Móng chân sắc nhọn của con gấu rạch lên làn da mượt mà của con chó và để lại ba vết sâu đẫm máu. Con có kêu ẳng ẳng và lùi xa cuộc chiến để liếm vết thương. Đám đông la ó phản đối và chế nhạo.
Bốn con chó còn lại đi thận trọng vòng quanh con gấu, lao vào khi có cơ hội nhưng vội lùi ra trước khi gặp nguy hiểm. Một người nào đó bắt đầu vỗ tay chậm. Rồi một con chó tấn công trực diện. Nó xông vào như một vệt sét, trượt dưới cú đánh của con gấu và nhẩy lên cổ nó. Đám đông trở nên điên cuồng. Con chó cắn hàm răng nhọn trắng vào cổ con gấu. Những con chó khác tấn công. Con gấu đứng lên, gõ chân vào con chó đang ngặm cổ nó, ném nó xuống lăn lộn trên đất. Lúc đó Tom không thể nói chuyện gì sẽ xẩy ra: chỉ có một đám lông bay ra. Rồi ba con chó nhẩy ra bên cạnh, và con gấu đứng lên bằng cả bốn chân, để lại một con chó chết bẹp trên đất.
Đám đông hồi hộp hơn. Con gấu đã loại hai con chó, giờ chỉ còn lại ba; nhưng nó chẩy máu ở lưng, cổ và chân sau, và nó sợ hãi. Không khí tanh mùi máu và mùi mồ hôi của đám đông. Các con chó không còn sủa, mà di chuyển yên lặng quanh con gấu. Chúng cũng sợ hãi, nhưng chúng có mùi máu trong miệng và chúng hăng tiết.
Sự tấn công bắt đầu giống nhau: một con lao vào và lại lao ra. Con gấu chỉ quẹt nửa chừng vào nó, và quay ngay lại để đón con thứ hai. Nhưng bây giờ con này cũng lao nhanh vào, rồi lại lao nhanh ra khỏi tầm với; và con thứ ba cũng vậy. Các con chó thay nhau lao vào rồi lại lao ra, khiến con gấu luôn luôn phải thay đổi hướng và quay lại. Sau mỗi cái lao vào, các con chó gần hơn một ít, và chân móng của con gấu đến gần hơn để bắt chúng. Khán giả có thể nhìn thấy những gì đang xẩy ra và sự phấn khích tăng lên. Jonathan vẫn ở hàng đầu, cách chỗ Tom vài bước, có vẻ kinh hoàng và sợ hãi. Tom nhìn vào cuộc chiến đúng lúc móng vuốt con gấu cào con chó trong khi con khác chui vào giữa hai chân và cắn vào bụng mềm của nó. Con gấu kêu lên thất thanh. Con chó chạy ra khỏi bụng và trốn thoát. Con chó khác lại lao vào. Con gấu đánh nó, chỉ sai vài li; và con chó lại chui xuống dưới bụng con gấu. Lần này khi con chó trốn ra, con gấu có một vết thương chẩy máu lớn ở bụng. Con gấu vươn dậy và lại đứng trên bốn chân. Lúc đó Tom nghĩ nó đã kết thúc, nhưng ông đã lầm: con gấu vẫn còn sức mạnh chiến đấu. Khi con chó sau lao vào, con gấu giả bộ tấn công, rồi quay nhìn thấy con chó thứ hai đến, nó quay lại bất ngờ và đánh mạnh, làm con chó bay lên không. Khán giả vỡ tung reo hò. Con chó rớt xuống như một bao thịt. Tom nhìn nó một lúc. Nó vẫn sống, nhưng dường như nó không còn di chuyển được. Có lẽ xương sống lưng của nó đã gẫy. Con gấu bỏ qua nó vì nó ở ngoài tầm với và bị loại khỏi vòng chiến.
Bây giờ chỉ còn hai con chó. Cả hai lao vào rồi lại lao ra trong tầm tay của con gấu, cho đến khi đường tấn công của chúng chỉ còn là chiếu lệ; rồi chúng bắt đầu đi vòng quanh, di chuyển nhanh hơn rồi nhanh hơn. Con gấu quay chiều này rồi chiều kia, cố gắng giữ cả hai trong tầm mắt. Mệt mỏi và máu ra nhiều, nó khó có thể đứng vững. Các con chó kết chặt vòng vây hơn. Đất dưới chân nó đã trở thành bùn vì máu. Cách này hay cách khác, cuộc chiến sẽ kết thúc trong chốc lát. Sau cùng hai con chó cùng tấn công một lúc. Một con lao vào cổ và con kia vào bụng. Với một cú đánh tuyệt vọng cuối cùng, con gấu đập xuống con chó đang cắn cổ họng nó. Một dòng máu phun ra kinh khủng. Đám đông hét lên tán thưởng. Lúc đầu Tom nghĩ con chó đã giết chết con gấu, nhưng ngược lại: dòng máu chẩy ra từ con chó đang nằm trên mặt đất với vết thương nơi cổ. Máu nó bơm ra một lúc lâu rồi dừng hẳn. Nó đã chết. Nhưng trong lúc đó con chó còn lại đã cắn xé bụng con gấu và ruột của nó rơi ra ngoài. Con gấu cào con chó một cách yếu ớt. Con chó né tránh dễ dàng và tấn công lần nữa và lại cắn vào ruột nó. Con gấu lảo đảo và dường như sắp ngã quỵ. Đám đông hò hét vì hứng khởi. Từ đống ruột của con gấu bay ra một mùi hôi thối khủng khiếp. Nó thu thập sức lực còn lại và tấn công con chó một lần nữa. Các đòn giáng xuống liên tiếp tạo nên một vết thương dài vấy máu trên lưng con chó; nhưng vết thương chỉ bề ngoài và con chó biết con gấu đã kiệt sức, vì thế nó quay lại tấn công ngay, cắn vào đám lòng cho đến khi, sau cùng, con thú to lớn nhắm mắt lại và lăn xuống đất, chết.
Người giữ gấu bước ra phía trước và nắm con chó chiến thắng bằng chiếc vòng cổ. Người bán thịt ở Kingsbridge và người học việc của ông bước ra khỏi đám đông và bắt đầu cắt gấu lấy thịt: Tom cho rằng họ đã trả giá trước với người giữ gấu. Những người thắng cược đòi tiền thắng của mình. Mọi người đều muốn vỗ con chó còn sống. Tom tìm Jonathan. Ông không thấy cậu.
Trong suốt buổi đấu gấu, đứa bé chỉ đứng xa đó mấy dặm. Làm sao cậu có thể biến mất được? Phải có chuyện gì đó xảy ra vào lúc cao điểm của cuộc tranh tài và lúc Tom chăm chú vào trận đấu. Bây giờ ông tự trách mình. Ông tìm kiếm trong đám đông. Tom cao hơn người khác cả chiếc đầu, và Jonathan dễ nhận ra trong bộ tu phục và chiếc đầu trọc; nhưng ông không thấy cậu đâu.
Đứa trẻ không thể gặp nguy hiểm trong khu tu viện, nhưng cậu có thể đi qua những thứ mà Tu viện trưởng Philip không muốn cậu nhìn thấy, thí dụ như gái điếm phục vụ khách hàng của họ bên cạnh bức tường tu viện. Nhìn quanh, Tom ngước mắt lên giàn giáo cao, và trên đó, trong sự kinh hãi, ông nhìn thấy một hình dáng nhỏ trong tu phục.
Ông hoảng sợ. Ông muốn hét to lên: Đừng di chuyển, nếu không con sẽ ngã! Nhưng lời của ông sẽ bị mất hút trong tiếng ồn ào của hội chợ. Ông chen qua đám đông về hướng nhà thờ chính tòa. Jonathan chạy dọc theo giàn giáo, mải mê trong trò chơi tưởng tượng của cậu, không chú ý đến sự nguy hiểm rằng cậu có thể trượt chân ngã và rơi xuống tám mươi bộ. Sự kinh hoàng như mật đắng dâng lên trong cổ ông và ông nuốt nó xuống.
Giàn gáo không được dựng từ mặt đất, nhưng trên những thanh gỗ nặng được gắn chặt vào tường trên cao. Những thanh gỗ này chìa ra hơn sáu bộ. Những đà ngang được đặt dọc theo chúng và được cột lại bằng dây và những tấm đan bằng lau sậy và cây non được đặt trên chúng. Thông thường người ta đến giàn giáo bằng cầu thang xoắn được xây trong tường dầy. Nhưng những cầu thang này hôm nay đã bị khóa. Làm sao Jonathan có thể trèo lên đó? Và không có cầu thang nào – Tom đã thấy điều đó và Jack đã hai lần kiểm tra. Đứa trẻ phải trèo lên từ đầu bức tường còn đang xây dở. Phần cuối bức tường đã được đóng kín bằng gỗ, nhưng Jonathan có thể đã trèo lên chướng ngại vật. Cậu bé hoàn toàn tự tin – nhưng mỗi ngày cậu ấy ngã ít nhất một lần.
Tom đến dưới chân tường và nhìn lên lo sợ. Jonathan đang vui vẻ chơi ở độ cao tám mươi bộ. Sự sợ hãi như bàn tay lạnh nắm lấy tim ông. Ông hét to: “Jonathan!”
Những người chung quanh giật mình, nhìn lên xem ông đang hét chuyện gì. Khi phát hiện ra đứa nhỏ trên giàn giáo, họ chỉ cho bạn bè của họ. Một đám đông tụ tập lại.
Jonathan không nghe thấy gì. Tom khum tay quanh miệng và hét to lên lần nữa: “Jonathan! Jonathan!”
Lần này đứa nhỏ nghe thấy. Cậu nhìn xuống thấy Tom và giơ tay vẫy.
Tom hét lên: “Đi xuống!”
Jonathan dường như nghe lời, rồi cậu nhìn dọc bờ tường mà cậu phải đi, và độ dốc của cầu thang mà cậu phải xuống và cậu thay đổi ý định. “Cháu không thể!” cậu nói lại, và giọng thánh thót của cậu dội xuống những người trên mặt đất.
Tom nhận ra ông phải đi lên để đem cậu xuống. “Hãy đứng yên đó cho đến khi bác lên đến nơi!” ông la lên. Ông đẩy khối gỗ khỏi những bậc thấp và trèo lên tường.
Nó rộng bốn bộ dưới chân, nhưng nó hẹp hơn khi lên cao. Tom trèo lên đều đặn. Ông bị cám dỗ phải vội vàng, nhưng ông tự kiềm chế để giữ bình tĩnh. Khi ông ngước lên ông thấy Jonathan ngồi trên một cạnh của giàn giáo, đong đưa đôi chân ngắn của cậu giữa không trung.
Ở trên đỉnh, bức tường chỉ còn dầy hai bộ. Ngay cả như thế nó vẫn còn đủ rộng để đi, miễn là bạn có thần kinh tốt, và Tom đã vượt qua. Ông đi theo bức tường, nhẩy xuống giàn giáo và bế Jonathan trong tay. Một gợn sóng nhẹ nhõm bao trùm ông. “Cháu, một đứa bé ngu ngốc,” ông nói, nhưng giọng ông đầy yêu thương và Jonathan ôm ông.
Một lúc sau Tom nhìn xuống. Ông thấy biển người, hàng trăm khuôn mặt đang theo dõi. Có lẽ họ nghĩ nó là một màn trình diễn khác, giống như đấu gấu. Tom nói với Jonathan: “Được rồi, bây giờ chúng ta đi xuống.” Ông đặt đứa bé trên tường và nói: “Bác sẽ ở đàng sau cháu, vì thế đừng sợ.”
Jonathan chưa tin lắm. “Cháu sợ lắm,” cậu nói. Cậu giơ tay ra đòi bế, và khi Tom ngập ngừng cậu bật khóc.
“Không sao, bác sẽ bế cháu,” Tom nói. Ông không hài lòng về việc ấy, nhưng bây giờ Jonathan không còn tự tin ở độ cao này. Tom trèo lên tường, quỳ xuống bên cạnh Jonathan, bế cậu lên và đứng thẳng người lên.
Jonathan ôm chặt lấy ông.
Tom bước về phía trước. Vì ông có đứa bé trên tay nên ông không thể nhìn thấy những viên đá dưới chân ông. Không gì có thể giúp được ông. Với trái tim đập mạnh, ông đặt từng bước chân cẩn thận lên bức tường. Ông không sợ cho chính ông, nhưng với đứa nhỏ trên tay ông kinh hãi. Sau cùng ông đến chỗ bắt đầu có bậc thang đi xuống. Lúc đầu nó không rộng, nhưng dường như các bậc thang ít dựng đứng. Ông bước xuống với lòng biết ơn. Sau mỗi bước chân ông cảm thấy bình tĩnh hơn. Khi ông xuống đến hành lang bên trên, và bức tường rộng đến ba bộ, ông dừng lại thở.
Ông nhìn ra, qua khu tu viện, về phía bên kia Kingsbridge, tới các cánh đồng xa, và ở đó ông nhìn thấy một cái gì đó làm ông bồn chồn. Đó là một đám bụi trên đường dẫn đến Kingsbridge, cách xa khoảng nửa dặm. Một lúc sau ông nhận ra một đoàn người trên lưng ngựa đang tiến nhanh về phía thị trấn. Ông nhìn vào khoảng xa, cố gắng tìm xem họ là ai. Lúc đầu ông nghĩ đó phải là một thương gia giầu có, hay một nhóm thương gia với đoàn tùy tùng lớn, nhưng có quá nhiều người và họ không giống như những người thương gia. Ông cố gắng nghĩ cái gì đã làm họ trông không giống thương gia. Khi họ đến gần hơn ông thấy rằng một số người cưỡi ngựa chiến, hầu hết có mũ sắt và họ được trang bị vũ khí.
Bất ngờ ông cảm thấy sợ.
“Giêsu, những người này là ai?” ông nói lớn.
“Đừng kêu tên Giêsu,” Jonatha khiển trách ông.
Dù họ là ai, họ sẽ đem đến rắc rối.
Tom vội vã xuống cầu thang. Đám đông reo hò khi ông nhẩy xuống đất. Ông bỏ qua họ. Ellen và con cái ở đâu? Ông nhìn quanh, nhưng không thấy họ.
Jonathan cố gắng lách khỏi vòng tay ông. Tom giữ chặt cậu. Khi ông đã có đứa con út ở đây, việc đầu tiên phải làm là đem cậu đến một nơi an toàn. Rồi ông có thể tìm những đứa khác. Ông len qua đám đông tới cửa dẫn vào tu viện. Cửa khóa phía trong, để bảo vệ sự riêng tư của tu viện trong suốt buổi hội chợ. Tom đập cửa và hét lên: “Hãy mở ra!”
Không có động tĩnh.
Tom không chắc chắn có ai ở trong tu viện không. Không còn thời gian để suy đoán. Ông lui lại, đặt Jonathan xuống, dơ chân phải và đạp vào cửa. Gỗ xung quanh khóa bể ra. Ông đạp thêm cái nữa, mạnh hơn. Cánh cửa bật mở. Phía sau một tu sĩ già xuất hiện, nhìn kinh ngạc. Tom bế Jonathan và đặt cậu vào bên trong. “Hãy giữ cậu bé ở đây,” ông nói với vị tu sĩ già. “Có chuyện rắc rối xẩy ra.”
Vị tu sĩ yên lặng gật đầu và nắm tay Jonathan.
Tom đóng cửa lại.
Bây giờ ông phải tìm phần còn lại của gia đình giữa đám đông hơn ngàn người này.
Một nhiệm vụ gần như không thể thực hiện được làm ông sợ. Ông không thấy một khuôn mặt quen thuộc nào. Ông trèo lên một thùng bia trống để nhìn cho rõ hơn. Trời vào giữa trưa và hội chợ đang ở cao điểm. Đám đông di chuyển giống như một dòng sông chảy chậm dọc theo lối đi giữa các quầy hàng, và dân chúng xếp hàng chung quanh quầy đồ ăn và nước uống để mua đồ ăn trưa. Tom nhìn qua đám đông nhưng không thấy bất cứ ai trong gia đình ông. Ông tuyệt vọng. Ông nhìn qua mái nhà. Các người cưỡi ngựa đã đến gần chân cầu, và tăng tốc độ. Họ là binh lính, tất cả họ, và họ mang theo những ngọn đuốc cháy. Tom kinh hoàng. Nó sẽ là một thảm họa.
Bất ngờ ông thấy Jack bên cạnh ông, nhìn lên ông với một biểu hiện của thích thú. ”Tại sao dượng lại đứng trên thùng bia?” cậu nói.
“Có chuyện rắc rối xẩy ra!” Tom nói khẩn trương. “Mẹ con đâu?”
“Ở quầy Aliena. Chuyện gì rắc rối vậy?”
“Rất xấu. Alfred và Martha ở đâu?”
“Martha với mẹ. Alfred xem đá gà. Chuyện gì vậy?”
“Hãy lên mà xem.” Tom đưa tay kéo Jack lên. Jack đứng bấp bênh trên mặt thùng trước mặt Tom. Các kỵ binh đã chạy thình thịch trên chiếc cầu vào làng. Jack nói: “Chúa ơi, họ là ai vậy?”
Tom nhìn chăm chú vào người lãnh đạo, một người to lớn trên lưng con ngựa chiến. Ông nhận ra mái tóc vàng và hình dáng nặng nề. “Đó là William Hamleigh,” ông nói.
Khi các kỵ binh đến các nhà, họ châm lửa vào mái nhà, làm mái tranh bốc cháy. “Chúng đốt thị trấn!” Jack phát ra.
“Nó còn xấu hơn những gì bác tưởng,” Tom nói. “Hãy đi xuống.”
Cả hai nhẩy xuống đất.
“Con đi đón mẹ và Martha,” Jack nói.
“”Đem họ đến tu viện,” Tom khẩn trương nói. “Nó là nơi an toàn duy nhất.”
“Nếu họ khóa cửa?”
“Dượng đã phá ổ khóa. Đi nhanh lên! Dượng đi đón Alfred. Đi đi!”
Jack vội vã ra đi. Tom đến chỗ đá gà, đẩy mọi người dạt sang hai bên. Nhiều người phản đối, nhưng ông phớt lờ họ và họ im lặng khi nhìn thấy dáng to lớn của ông và nét quả quyết trên khuôn mặt ông. Chẳng bao lâu sau khói của các nhà cháy thổi vào khu tu viện. Tom ngửi thấy nó, và ông nhận thấy một hai người khác cũng cảm thấy không khí có một cái gì khác thường. Ông chỉ còn vài phút trước khi hoảng loạn xẩy ra.
Khu đá gà gần cổng vào tu viện. Một đám đông ồn ào tu tập quanh đấy. Tom len qua, tìm kiếm Alfred. Ở giữa đám đông là một chỗ trũng trong mặt đất khoảng hai bộ. Trong chỗ trũng hai con gà xé xác nhau bằng mỏ và móng vuốt. Khắp nơi có lông và máu. Alfred ở gần phía trước, chăm chú theo dõi và la hét, kích động con này hay con kia. Tom chen đến cậu và nắm vai cậu. “Đi!” ông hét to.
“Con đã đặt cược sáu xu ở con gà đen!” Alfred nói lại.
“Chúng ta phải ra khỏi đây!” Tom hét lên. Lúc đó một làn khói thổi qua khu đá gà. “Con có ngửi thấy mùi cháy không?”
Một hai người khán giả nghe thấy chữ cháy và tò mò nhìn vào Tom. Mùi khét lại thổi qua và tất cả họ đều ngửi thấy. Alfred cũng ngửi thấy nữa. “Cái gì thế?” cậu nói.
“Thị trấn đang cháy!” Tom nói.
Bất thình lình mọi người đều muốn rời khỏi đó. Mọi người phân tán khắp hướng, xô đẩy nhau. Trong chỗ đá gà, con gà đen đã thắng con gà nâu, nhưng không ai để ý đến nó nữa. Alfred đi sai hướng. Tom nắm lấy cậu. “Chúng ta đến tu viện,” ông nói. “Nó là nơi an toàn duy nhất.”
Từng cuộn khói to bay đến, và sự sợ hãi lan nhanh trong đám đông. Mọi người bối rối nhưng không ai biết phải làm gì. Nhìn qua đầu người, Tom có thể thấy dân chúng đổ ra ngoài cổng tu viện; nhưng chiếc cổng hẹp, và một cách nào đó ở bên ngoài cũng không an toàn hơn ở đây. Tuy nhiên, nhiều người đi theo hướng đó, và ông cùng Alfred chen lấn vật vã theo hướng ngược lại. Rồi, hoàn toàn bất ngờ, làn sóng quay ngược lại kéo mọi người theo. Tom nhìn quanh để tìm ra nguyên nhân của thay đổi, và ông nhìn thấy ky binh đầu tiên vào khu tu viện.
Lúc đó đám đông trở thành hỗn loạn.
Kỵ binh là hình ảnh kinh hãi. Con ngựa khổng lồ của họ, cũng sợ hãi như đám đông, lao vào, lồng lên và tấn công, giẫm đạp lên bất cứ ai trên đường. Các kỵ binh được trang bị vũ trang và nón sắt, gậy và đuốc. Họ đánh lên đàn ông, đàn bà và trẻ em, và châm lửa lên các quầy hàng, quần áo và tóc người. Mọi người la hét. Thêm nhiều kỵ binh vào qua cổng, và càng nhiều người biến mất dưới móng ngựa to lớn. Tom hét vào tai Alfred: “Con đi vào tu viện – Bố muốn xem những người khác đã được an toàn chưa. Chạy đi!” Ông đẩy cậu. Alfred đi khỏi đó.
Tom đi đến gian hàng của Aliena. Ngay lập tức ông vấp phải người nào đó và ngã xuống đất. Chưởi rủa, ông ngồi dậy; nhưng trước khi ông có thể đứng lên, ông nhìn thấy con ngựa chiến cúi xuống ông. Con thú vểnh tai, lỗ mũi nó hếch lên, và Tom có thể thấy màu trắng trong cặp mắt kinh hãi của nó. Bên trên đầu ngựa Tom nhìn thấy khuôn mặt lực lưỡng của William Hamleigh, cau lại vì hận thù và đắc thắng. Một tư tưởng lóe lên trong đầu ông, nó sẽ hạnh phúc biết bao nếu được ôm Ellen trong tay một lần nữa. Rồi một chiếc móng lớn đá chính xác vào trán ông, ông cảm thấy một sự đau đớn khủng khiếp, đáng sợ như thể đầu óc ông vỡ ra, và cả thế giới thành màu đen.
Lúc đầu, khi Aliena ngửi thấy mùi khói, cô nghĩ nó đến từ bếp mà cô đang dự định phục vụ cho khách hàng ăn.
Ba người mua người Bỉ ngồi ở bàn giữa trời, đàng trước cửa hàng của cô. Họ là những người đàn ông to con, râu đen, nói tiếng Anh với giọng Đức nặng và quần áo họ làm bằng thứ vải tốt, tinh xảo. Mọi thứ tiến triển tốt đẹp. Cô đã gần bắt đầu giao dịch, và đã quyết định mời họ ăn trưa trước để kéo dài thời gian cho họ lo lắng. Tuy nhiên, cô sẽ vui khi đống tài sản khổng lồ bằng len này được chuyển qua tay người khác. Cô đặt đĩa thịt heo nướng mật ong trước mặt họ và nhìn nó kiểm soát. Da thịt giòn và vàng nâu. Cô rót thêm rượu. Một người mua ngửi trong không khí, rồi tất cả nhìn quanh sợ hãi. Lửa đối với thương gia len luôn là ác mộng. Cô nhìn Ellen và Martha, người đang giúp cô phục vụ khách. “Bà có ngửi thấy mùi khói không?” cô hỏi.
Trước khi họ có thể trả lời, Jack xuất hiện. Aliena không quen nhìn cậu trong tu phục, với mái tóc màu cà rốt bị gọt trọc trên đỉnh đầu. Có một nét bối rối trên khuôn mặt đẹp của cậu. Cô cảm thấy một sự thôi thúc đột ngột, muốn ôm cậu trong vòng tay và hôn đi vết nhăn trên trán cậu. Nhưng cô vội quay đi, nhớ lại cô đã bỏ rơi cậu trong nhà máy xay cách đây sáu tháng. Cô vẫn còn đỏ mặt xấu hổ khi nhớ về chuyện đó.
“Có chuyện xẩy ra,” cậu khẩn trương hét lên. “Tất cả chúng ta phải lánh nạn vào tu viện.”
Cô nhìn cậu. “Cái gì xảy ra vậy? Có đám cháy phải không?”
“Đó là Bá tước William và các kỵ binh của ông,” cậu nói.
Bất ngờ Allien lạnh người giống như ngôi mộ. William. Lại cậu ấy.
Jack nói: “Họ đốt thị trấn. Tom và Alfred đang đi đến tu viện. Đi theo tôi nhanh lên.”
Ellen làm đổ dĩa rau trên bàn trước mặt các người mua người Bỉ. “Đúng,” cô nói. Cô nắm lấy cánh tay của Martha. “Đi thôi!”
Aliena nhìn hoảng hốt vào nhà kho của cô. Cô có số len thô trị giá hàng trăm bảng Anh trong đó, nên cô phải chống lại lửa – nhưng bằng cách nào? Cô bắt gặp ánh mắt Jack. Cậu nhìn cô chờ đợi. Các người mua vội vã rời khỏi bàn. Aliena nói với Jack: “Hãy đi đi. Tôi còn phải trông cửa hàng của tôi.”
Ellen nói: “Jack – đi thôi!”
“Đợi một chút,” cậu nói và quay lại Aliena.
Aliena nhìn Ellen ngần ngại. Bà bị giằng co giữa ước muốn cứu sống Martha và chờ Jack. Một lần nữa bà nói: „Jack! Jack!“
Cậu quay lại phía bà. „Mẹ! Mang theo Martha và đi đi!“
„Được rồi!“ Bà nói. „Nhưng mau lên!“ Bà và Martha rời khỏi.
Jack nói: „Thị trấn đang cháy. Tu viện là nơi an toàn nhất – chúng được làm bằng đá. Đi theo tôi, nhanh lên.“
Aliena có thể nghe thấy tiếng la hét từ hướng cổng tu viện. Bất ngờ khói ở khắp nơi. Cô nhìn quanh xem điều gì xẩy ra. Lòng cô đầy sợ hãi. Mọi thứ cô đã làm trong hơn sáu năm qua được chất đống trong kho.
Jack nói: „Aliena! Đến tu viện ngay – chúng ta sẽ được an toàn ở đó.“
„Tôi không thể!“ Cô la lên. „Còn len của tôi!“
„Bỏ nó đi!“
„Nó là tất cả những gì tôi có.“
„Nó không còn ý nghĩa gì nếu cô chết!“
„Nó dễ cho anh để nói như thế - nhưng tôi đã trải qua bao năm tháng để có được chỗ đứng này –„
„Aliena! Đi thôi!“
Đột nhiên dân chúng ngay trước cửa hàng la hét trong kinh hãi rợn người. Các kỵ binh đã vào trong khu tu viện và đột kích qua đám đông, giẫm đạp lên bất cứ ai, đốt cháy các cửa hàng. Những khách thăm viếng hội chợ hoảng sợ, giẫm lên nhau trong nỗ lực tuyệt vọng để tìm cách tránh vó ngựa và đám cháy. Đám đông chen lấn nhau ép đổ hàng rào bằng gỗ mỏng manh trước quầy hàng Aliena. Mọi người đổ vào khoảng trống trước nhà kho và làm đổ các dĩa thức ăn và ly rượu. Jack và Aliena buộc phải lùi lại. Hai kỵ binh đột kích vào gian hàng, một người vung gậy như điên cuồng, người kia vung cây đuốc cháy. Jack đứng ra trước Aliena che chắn cho cô. Một cây gậy đánh xuống đầu cô, nhưng Jack đưa một cánh tay bảo vệ cô và cây gậy trúng vào cổ tay cậu. Cô cảm thấy cú đánh nhưng cậu bị hậu quả. Khi cô nhìn lên, cô thấy khuôn mặt ngườ kỵ binh thứ hai.
Đó là William Hamleigh.
Aliena hét lên.
Cậu nhìn cô một lúc, với cây đuốc cháy trên tay và ánh chiến thắng lấp lánh trong mắt cậu. Rồi cậu thúc ngựa và ép nó vào trong nhà kho.
“Đừng!” Aliena hét lên.
Cô vùng vẫy để thoát khỏi đám đông đang chen lấn, xô đẩy và đấm vào những người chung quanh, kể cả Jack. Sau cùng cô được tự do và lao vào nhà kho. William nghiêng ra khỏi yên ngựa, đưa ngọn đuốc vào đống bao len. “Đừng!” cô hét lên lần nữa. Cô lao vào cậu và cố đẩy cậu ra khỏi con ngựa. Cậu gạt cô sang một bên và cô ngã xuống đất. Cậu dơ ngọn đuốc một lần nữa vào các bao len. Len bốc cháy với một tiếng nổ ầm ầm. Con ngựa lồng lên và hí vang vì sợ hãi ngọn lửa. Bất ngờ Jack có mặt ở đó, kéo Aliena ra khỏi đó. William quay ngựa và nhanh chóng ra khỏi nhà kho. Aliena đứng dậy. Cô nhặt một bao không và cố giập tắt ngọn lửa. Jack nói: “Aliena, cô sẽ chết!” Sức nóng không thể chịu đựng được. Cô nắm một bao len chưa bắt lửa và cố kéo nó ra ngoài. Bất ngờ cô nghe tiếng ầm ầm bên tai và cảm thấy nóng dữ dội trên mặt, và cô kinh hoàng nhận ra tóc cô đang bị cháy. Ngay sau đó Jack lao vào cô, vòng tay qua đầu cô và kéo cô sát vào người cậu. Cả hai ngã xuống đất. Cậu giữ chặt cô một lúc, sau đó bỏ cô ra. Cô có mùi tóc xém cháy, nhưng ngọn lửa đã tắt. Cô có thể nhìn thấy mặt Jack bị cháy nám và lông mày của cậu đã cháy rụi. Cậu nắm cổ chân và kéo cô ra ngoài cửa. Cậu tiếp tục kéo cô, mặc dù cô giẫy giụa, cho đến khi cả hai ra đến ngoài.
Khu vực gian hàng của cô trống rỗng. Jack thả cô ra. Cô cố gắng đứng lên, nhưng cậu nắm lấy cô và giữ cô lại. Cô tiếp tục chống cự, nhìn chằm chằm vào ngọn lửa điên cuồng đang thiêu hủy bao năm tháng vất vả và lo lắng của cô, tất cả sự giầu có và bảo đảm, cho đến khi cô không còn sức để chống lại cậu. Rồi cô nằm đó và hét lên.
Philip đang ở trong hầm dưới nhà bếp tu viện, đang đếm tiền với Cuthbert Whitehead, khi ông nghe tiếng ồn ào. Ông và Cuthbert nhìn nhau, cau mày, rồi đứng lên xem chuyện gì xẩy ra.
Họ bước ra cửa vào cuộc hỗn loạn.
Philip kinh hoàng. Dân chúng chạy về mọi phía, xô đẩy, ngã xuống và chà đạp lên nhau. Đàn ông, đàn bà la hét và trẻ em khóc lóc. Không khí đầy khói. Mọi người dường như cố gắng ra khỏi khu tu viện. Ngoài cửa chính, lối ra còn lại là xuyên qua khoảng cách giữa nhà bếp và nhà máy xay. Ở đó không có tường, nhưng có một con rạch sâu dẫn nước từ hồ nhà máy xay vào xưởng bia. Philip muốn cảnh cáo mọi người phải cẩn thận vì con rạch, nhưng không còn ai nghe ai.
Nguyên nhân của cuộc xô đẩy rõ ràng là do đám cháy, và là một đám cháy lớn. Không khí dầy với khói từ đám cháy. Philip đầy sợ hãi. Với một số đông người như thế này trong một khu vực chật hẹp có thể gây nên nhiều tử vong. Nhưng làm gì bây giờ?
Trước hết ông phải tìm ra chính xác chuyện gì xẩy ra. Ông chạy lên các bậc thang đến cửa nhà bếp để có một cái nhìn tốt hơn. Những gì ông thấy làm ông sợ hãi.
Cả thị trấn Kingsbridge ở trong biển lửa.
Một tiếng kêu kinh hoàng và tuyệt vọng thoát ra khỏi miệng ông.
Làm sao chuyện này có thể xẩy ra?
Rồi ông nhìn thấy những kỵ binh, xuyên qua đám đông với ngọn đuốc cháy, và ông nhận ra đó không phải là một tai nạn. Lúc đầu ông nghĩ nó là cuộc chiến giữa hai phía trong cuộc nội chiến, và do một cách nào đó đã xẩy ra ở Kingsbridge. Nhưng các kỵ binh lại tấn công cư dân, chứ không phải người khác. Nó không phải là cuộc chiến: nó là một cuộc thảm sát.
Ông nhìn thấy một người đàn ông to lớn tóc vàng trên con ngựa chiến xuyên qua đám đông. Đó là William Hamleigh.
Sự tức giận dâng lên trong lòng ông. Nghĩ đến sự tàn sát và phá hủy xẩy ra chỉ vì lòng tham và kiêu ngạo làm ông tức điên lên. Ông hét lớn: “Tôi thấy ông, William Hamleigh!”
William nghe thấy có ai gọi tên mình giữa tiếng la hét của đám đông. Cậu ghìm cương ngựa và bắt gặp đôi mắt của Philip.
Philip hét lên: ”Ông sẽ xuống hỏa ngục vì chuyện này!”
Nét mặt William đầy khát máu. Ngay cả những đe dọa làm cậu sợ nhất cũng không có tác dụng với cậu hôm nay. Cậu như một người điên. Cậu vẫy vẫy ngọn đuốc trong không như một ngọn cờ. “Đây là địa ngục, tu sĩ à!” cậu nói lại, và cậu quay ngựa đi khỏi.
Bất ngờ mọi người đã biến hết, kể cả các kỵ binh và đám đông. Jack buông tay ôm Aliena ra và đứng lên. Tay phải cậu như tê liệt. Cậu nhớ lại cậu đã đỡ một đòn trên đầu Aliena. Cậu vui vì tay cậu đau. Cậu hy vọng nó sẽ đau một thời gian dài để nhắc nhở cậu.
Nhà kho là một địa ngục, và những ngọn lửa nhỏ vẫn cháy xung quanh. Mặt đất rải rác người, một số còn cử động, một số chẩy máu, một số khác khập khễnh hoặc bất động. Ngoài tiếng lách tách của ngọn lửa, tất cả đều im lặng. Đám đông đã đi khỏi bằng cách này hay cách khác, bỏ lại những xác chết và những người bị thương. Jack cảm thấy choáng váng. Cậu chưa bao giờ nhìn thấy một bãi chiến trường, nhưng cậu tưởng tượng nó phải giống như thế này.
Aliena bắt đầu khóc. Jack đặt một tay lên vai an ủi cô. Cô đẩy nó đi. Cậu đã cứu sống cô, nhưng cô không quan tâm đến chuyện đó: cô chỉ quan tâm đến số len của cô mà bây giờ đã cháy thành tro. Cậu nhìn cô một lúc lâu, cảm thấy buồn. Hầu hết tóc cô đã bị cháy, và cô không còn xinh đẹp, nhưng cậu vẫn yêu cô như thường. Nó làm cậu đau khi thấy cô quẫn trí và cậu không thể an ủi cô.
Cậu cảm thấy chắc chắn cô sẽ không cố ý đi vào nhà kho nữa. Cậu lo lắng về phần còn lại của gia đình cậu, vì thế cậu bỏ Aliena và đi tìm họ.
Mặt cậu bị thương. Cậu đặt một tay lên má và nó đau nhói. Cậu cũng bị phỏng nữa. Cậu nhìn những người nằm trên mặt đất. Cậu muốn làm một cái gì đó cho những người bị thương, nhưng cậu không biết bắt đầu từ đâu. Cậu tìm kiếm những khuôn mặt quen thuộc trong đám người xa lạ, hy vọng không nhìn thấy ai. Mẹ và Martha đã đi vào tu viện - họ đã đi trước đám đông, cậu nghĩ. Tom có tìm được Alfred không? Cậu quay về hướng tu viện. Rồi cậu thấy Tom.
Thân xác to lớn của bố dượng nằm sõng soài trên mặt bùn. Ông hoàn toàn bất động. Mặt ông vẫn còn nhận ra được, trông thật bình an, nhưng trán ông bị thương và đầu ông vỡ ra. Jack kinh hoàng. Tom không thể chết. Nhưng thân xác này không còn sự sống. Cậu quay đi chỗ khác, rồi lại quay lại. Đây là Tom, và ông đã chết.
Jack quỳ xuống bên thi thể ông. Cậu cảm thấy bị thúc bách phải làm một cái gì, hay nói một điều gì, và lần đầu tiên cậu hiểu tại sao dân chúng hay cầu nguyện cho người chết. “Mẹ sẽ nhớ dượng khủng khiếp,” cậu nói. Cậu nhớ lại lời trách móc giận dữ cậu đã nói với ông trong ngày cậu đánh nhau với Alfred. “Hầu hết những điều đó đều không đúng sự thật,” cậu nói, và nước mắt cậu bắt đầu rơi. “Dượng đã không bỏ rơi con. Dượng đã nuôi con và chăm sóc con, và dượng làm cho mẹ con hạnh phúc, thật sự hạnh phúc.” Nhưng còn có cái quan trọng hơn tất cả những điều đó, cậu nghĩ. Những gì Tom đã cho cậu không phải là những cái quá tầm thường như đồ ăn và chỗ ở. Tom đã cho cậu một cái gì đó độc đáo, một cái mà không người nào khác đã cho, một cái mà ngay cả bố ruột của cậu cũng không có thể cho cậu; cái gì đó chính là niềm đam mê, một kỹ năng, một nghệ thuật và một cách sống. “Dượng đã cho con nhà thờ chính tòa,” Jack thì thầm với người đã chết. “Con cảm ơn dượng.”
Chú thích:
(1) Sào: 5,029 m
(2) Inch: 2,54 cm
(3) Foot: 30,48 cm
(4) Guilder: đồng bạc của Hòa Lan, tương đương bốn mươi xu Dollar.