Những Cột Trụ Của Trái Đất

Lượt đọc: 25343 | 15 Đánh giá: 9,9/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13

“Và Thiên Chúa nói với Satan: ‘ Hãy nhìn vào Job của ta. Đây là người tốt mà ta đã gặp.’” Philip ngưng lại. Đây không phải là lời dịch mà là một lối kể chuyện. ‘Hãy nói cho ta nếu ông ấy không phải là người hoàn hảo và ngay thẳng, người kính sợ Thiên Chúa và không làm gì xấu.’ Vì thế Satan nói: ‘Dĩ nhiên ông ấy kính sợ ông. Ông đã cho ông ấy mọi sự. Hãy nhìn vào ông ấy. Bẩy con trai và ba con gái. Bẩy ngàn con cừu và ba ngàn con lạc đà, năm ngàn cặp bò và năm trăm lừa cái. Đó là lý do tại sao ông ấy lại là người tốt.’ Vì thế Thiên Chúa nói: ‘Được. Hãy lấy hết tất cả tài sản của ông ấy đi, và xem chuyện gì sẽ xẩy ra.’ Và Satan làm như vậy.”

Trong khi Philip giảng, tâm trí ông lẩn vẩn về lá thư ông mới nhận được sáng nay từ tổng giám mục thành Canterbury. Ông ấy chúc mừng về việc ông nhận được tượng Đức Mẹ khóc làm nhiều phép lạ. Philip không biết gì về tượng Đức Mẹ khóc và ông chắc chắn là ông không có. Tổng giám mục vui mừng vì Philip lại tiếp tục xây dựng nhà thờ chính tòa mới, mặc dù Philip chưa có kế hoạch tiếp tục. Ông chờ đợi một dấu hiệu từ Thiên Chúa trước khi bắt tay vào việc, và trong thời gian chờ đợi ông dâng thánh lễ chủ nhật trong một nhà thờ giáo xứ nhỏ.  Sau cùng tổng giám mục Theobald khen sự khôn ngoan của Philip về việc chỉ định người thợ xây dựng chính, một người đã từng làm việc ở Saint-Denis. Dĩ nhiên Philip đã nghe về tu viện Saint-Denis và viện phụ nổi tiếng Suger, một giáo sĩ có thế lực mạnh nhất trong vương quốc Pháp; nhưng ông không biết gì về gian cung thánh mới ở đó và ông không chỉ định bất cứ người xây dựng chính nào. Philip nghĩ bức thư có lẽ viết cho một ai khác rồi gửi lộn cho ông.

“Bây giờ, Job sẽ nói gì khi ông mất hết tài sản và con cái ông đã chết hết? Ông có nguyền rủa Thiên Chúa không? Ông có thờ Satan không? Không, ông nói: ‘Tôi sinh ra trần truồng, và tôi sẽ chết trong trần truồng. Thiên Chúa đã ban cho và Thiên Chúa lấy đi – chúc tụng danh thánh Chúa.’ Đó là điều mà Job đã nói. Và Thiên Chúa nói với Satan: ‘Ta đã nói gì với ngươi?’ Và Satan nói: ‘Đúng, nhưng ông ấy vẫn còn khỏe mạnh, phải không?’ Một người có thể làm được mọi chuyện nếu họ có sức khỏe tốt.’ Và Thiên Chúa để cho Job phải đau khổ nhiều hơn nữa để Ngài chứng tỏ sự tin tưởng của Ngài đối với ông, vì thế Thiên Chúa nói: ‘Hãy lấy sức khỏe của ông ấy đi, rồi xem sự gì sẽ xẩy ra.’ Vì thế Satan làm cho Job bị bệnh hoạn, nở từ đầu cho đến bàn chân.”

Trong thời gian qua, việc giảng trong các nhà thờ đã được phổ biến. Trong thời thơ ấu của Philip chuyện đó ít khi xẩy ra. Viện phụ Peter đã chống lại và cho rằng việc đó muốn dụ dỗ các linh mục thỏa mãn với chính mình. Quan điểm xưa cho rằng cộng đoàn là những khán giả, âm thầm chứng kiến các nghi thức thánh, nghe tiếng Latin mà không hiểu và tin tưởng vào lời cầu nguyện của các linh mục. Nhưng quan điểm này đã thay đổi. Những tư tưởng tiến bộ ngày nay không còn cho rằng cộng đoàn là những khán giả lặng thinh của những nghi thức mầu nhiệm. Giáo hội được coi là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày của người dân. Giáo hội chứng kiến những bước quan trọng trong đời sống của họ, từ lễ rửa tội cho đến lễ cưới, từ khi đứa trẻ được sinh ra, đến việc được xức dầu khi bị bệnh nặng và được an táng trong lòng đất thánh. Giáo hội là chủ đất của họ, thẩm phán, chủ nhân trong công việc và khách hàng của họ. Càng ngày dân chúng càng được chờ đợi trở thành Ki Tô hữu mỗi ngày, không phải chỉ vào ngày chủ nhật. Theo quan điểm mới họ không những cần nghi thức mà còn cần giải thích, hướng dẫn, động viên, khích lệ.

“Bây giờ, tôi tin rằng Satan đã có cuộc nói chuyện với Thiên Chúa về Kingsbridge,” Philip nói. “Tôi tin rằng Thiên Chúa nói với Satan: ‘Hãy nhìn vào dân cư Kingsbridge. Họ không phải là những Ki Tô hữu tốt hay sao? Hãy nhìn họ đã vất vả cả tuần lễ trên cánh đồng và trong xưởng thợ, và rồi dùng cả ngày chủ nhật để xây dựng cho ta một ngôi nhà thờ mới. Hãy cho ta biết nếu họ không phải là người tốt!’ và Satan nói: ‘Họ tốt bởi vì họ đang có cuộc sống tốt. Ông đã cho họ mùa gặt tốt, thời tiết thuận lợi, khách hàng cho cửa tiệm của họ, và bảo vệ họ khỏi những lãnh chúa độc ác. Nhưng nếu ông lấy khỏi họ tất cả những điều này, họ sẽ theo tôi ngay.’ Vì thế Thiên Chúa nói: ‘Được, hãy đốt cháy hết đi, rồi xem họ phản ứng ra sao.’ Vì thế Satan sai William Hamleigh đốt cháy hội chợ len của chúng ta.”

Philip tìm được sự an ủi lớn lao từ câu truyện của Job. Giống như Job, Philip đã làm việc cực nhọc cả đời, với tất cả khả năng để chu toàn ý Thiên Chúa; và giống như Job, ông chỉ nhận được bất hạnh, thất bại và sỉ nhục. Nhưng mục đích của bài giảng là nâng cao tinh thần của cư dân tỉnh lị, và Philip có thể thấy nó không mang lại kết quả. Tuy nhiên, câu truyện chưa kết thúc.

“Và rồi Thiên Chúa nói với Satan: ‘Bây giờ hãy nhìn! Ngươi đã đốt cháy cả thị trấn, và họ vẫn còn xây cho ta ngôi nhà thờ chính tòa. Bây giờ ngươi có thể nói rằng họ không phải là người tốt nữa không?’ Nhưng Satan nói: ‘Nó quá dễ đối với họ. Hầu hết họ đều thoát khỏi hỏa hoạn. Và chẳng bao lâu sau họ lại có nhà cửa bằng gỗ. Hãy cho phép tôi được đem đến một thảm họa thực sự, rồi xem chuyện gì xẩy ra.’ Và Thiên Chúa thở dài rồi nói: ‘Ngươi muốn làm gì bây giờ?’ Và Satan nói: “Tôi muốn để mái nhà thờ mới sụp trên đầu họ.’ Và Satan đã làm như thế - như chúng ta đã biết.”

Nhìn quanh cộng đoàn tham dự, Philip thấy rất ít người đã không mất người thân trong vụ thảm họa đó. Kia là bà góa phụ Meg, người đã mất người chồng tốt và ba người con vạm vỡ, và từ đó bà đã chẳng nói gì và tóc bà bạc trắng ra. Những người khác mang theo những vết thương. Peter Pony đi khập khễnh vì chân ông bị đè bẹp: trước đây ông là người bắt ngựa, nhưng bây giờ ông làm yên ngựa cho em trai ông. Ít có một gia đình nào trong thị trấn không bị thiệt hại gì. Ngồi trên nền nhà phía trước là một người đàn ông đã bị liệt cả hai chân. Philip cau mày: ông ấy là ai? Ông ấy không bị thương trong biến cố mái nhà bị sụp đổ - Philip đã chẳng thấy ông trước đây. Rồi ông nhớ đã nghe kể về một người què đi ăn xin trong thị trấn và ngủ trong đống đổ nát của nhà thờ. Philip đã ra lệnh cho ông một chiếc giường trong nhà khách.

Tâm trí ông lang thang một lần nữa. Ông trở lại với bài giảng. “Bây giờ Job làm gì? Vợ ông nói với ông: ‘Hãy nguyền rủa Thiên Chúa, rồi chết.’ Nhưng ông có làm theo không? Ông không. Ông có mất niềm tin vào Thiên Chúa không? Ông không. Satan thất vọng. Và tôi nói cho quý vị” – Philip giơ tay lên để nhấn mạnh điều muốn nói – “Tôi nói cho quý vị, Satan sẽ thất vọng vì những cư dân của Kingsbridge! Bởi vì chúng ta tiếp tục kính sợ Thiên Chúa, cũng giống như Job đã làm trong tất cả khổ cực của ông.”

Ông ngưng lại một lần nữa để họ thấm hiểu lời ông, nhưng ông có thể nói ông đã thất bại trong việc nâng tinh thần họ lên. Những khuôn mặt ngẩng lên nhìn ông chăm chú, nhưng không được khích lệ. Thật ra ông không phải là nhà giảng thuyết tạo nên khí thế. Ông đứng vững trên mặt đất. Ông không thể thu hút cộng đoàn bằng sức mạnh khả năng, mà bằng nhân cách của ông. Sự thật là dân chúng trở nên trung thành với ông, nhưng không phải ngay lập tức: nó xẩy ra từ từ, qua thời gian, khi họ hiểu ông sống ra sao và ông đã đạt được gì. Công việc của ông thu hút dân chúng – hay đã thu hút dân chúng trong thời gian vừa qua – nhưng không phải lời nói của ông.

Tuy nhiên, phần tốt nhất của câu truyện sẽ đến. “Điều gì đã xẩy ra với Job, sau khi Satan đã làm những việc tệ hại nhất? Vâng, Thiên Chúa đã cho ông nhiều hơn những gì ông có – hai lần nhiều hơn! Nơi ông chăn thả bẩy ngàn con cừu bây giờ đã lên đến mười bốn ngàn. Ba ngàn con lạc đà ông đã mất được đền bù bằng sáu ngàn con. Và ông có thêm bẩy người con trai và ba con gái.”

Họ nhìn thờ ơ. Philip tiếp tục. “Và một ngày nào đó Kingsbridge sẽ lại thịnh vượng. Các quả phụ sẽ lấy chồng, các ông góa vợ sẽ tìm được vợ, và những người chết con sẽ mang thai; và đường phố chúng ta sẽ đầy người, và các cửa hàng sẽ xếp chồng bánh mì và rượu, da và đồ đồng, dây và giầy da; và một ngày chúng ta sẽ xây dựng lại nhà thờ chính tòa.”

Vấn đề là ông không chắc chắn những gì ông nói; vì thế ông không thể nói với sự thuyết phục. Nên không ngạc nhiên gì khi cộng đoàn không có phản ứng.

Ông nhìn xuống cuốn sách dày trước mặt ông, và dịch từ Latin sang tiếng Anh. “Và Job sống thêm một trăm bốn mươi năm nữa, và nhìn thấy con ông, cháu ông và chắt ông. Và ông chết thọ và sung mãn.” Ông đóng sách lại.

Có sự ồn ào ở đàng sau nhà thờ nhỏ. Philip cáu kỉnh nhìn lên. Ông biết rằng bài giảng của ông không có hiệu quả như ông chờ đợi, tuy nhiên ông muốn một vài phút yên lặng sau đó. Cửa nhà thờ mở và những người ngồi ở cuối nhà thờ nhìn ra. Philip nhìn thấy một đám đông bên ngoài – những người không ở trong nhà thờ có lẽ đã tụ họp ở đó, ông nghĩ. Chuyện gì vậy?

Nhiều khả năng có thể xẩy ra, Philip nghĩ – có thể là một cuộc đánh nhau, một cuộc hỏa hoạn, một người nào đó qua đời, một toán kỵ binh đang đến – nhưng ông hoàn toàn không ngờ đến việc thực sự đang xẩy ra. Trước hết hai linh mục khênh tượng một phụ nữ trên một tấm ván trải khăn thêu của bàn thờ. Thái độ nghiêm trang của họ tỏ ra bức tượng là một vị thánh hay có lẽ là Đức Mẹ. Hai người khác đi sau các linh mục, và họ gây ngạc nhiên lớn: một người là Aliena và người kia là Jack.

Philip nhìn Jack bằng cảm xúc lẫn lộn giữa thương mến và bực tức. Ông nghĩ cậu bé đó, ngày đầu tiên khi cậu đến đây, nhà thờ chính tòa đã bị cháy, và từ khi không có liên hệ với cậu ấy, mọi chuyện trở lại bình thường. Nhưng khi Jack bước vào ông cảm thấy hài lòng hơn là khó chịu. Mặc dù bao nhiêu chuyện rắc rối cậu đã gây ra, cậu làm cho đời sống hấp dẫn. Philip nhìn cậu. Jack không còn là một cậu bé. Cậu mới đi hai năm nhưng cậu dường như già đi mười tuổi, và đôi mắt cậu mệt mỏi và hiểu biết. Cậu đã đi đâu? Và làm thế nào cậu đã tìm được Aliena?

Đám rước tiến lên ở khu giữa nhà thờ. Philip quyết định không làm gì và chờ xem việc gì xẩy ra. Tiếng thì thầm phấn khích gữa đám đông khi dân chúng nhận ra Jack và Aliena. Rồi một âm thanh mới, đúng hơn là tiếng thì thầm kinh hoàng, và ai đó nói: “Bức tượng khóc!”

Những người khác lập lại nó như một lời kinh dài: “Tượng khóc! Tượng khóc!” Philip nhìn chăm chú vào bức tượng. Chắc chắn có nước chẩy từ mắt tượng. Ông chợt nhớ đến bức thư của tổng giám mục về tượng Mẹ khóc hay làm phép lạ.  Vì thế đây là bức tượng đó. Nếu nước mắt là một phép lạ, sau này ông sẽ phán quyết. Ông có thể thấy đôi mắt hình như làm bằng đá, hay một loại thủy tinh, trong khi phần còn lại của bức tượng được làm bằng gỗ: có thể trong đó sẽ có lời giải đáp.

Các linh mục quay đầu lại và đặt kiệu xuống nền đất để tượng đối diện với cộng đoàn. Rồi Jack bắt đầu nói.

“Tượng Đức Mẹ khóc đến với tôi trong một đất nước xa xôi,” cậu bắt đầu. Philip bực mình vì cậu xen vào thánh lễ của ông nhưng ông quyết định không làm gì và để cho Jack nói. Một cách nào đó cậu cũng thu hút ông. “Một người Saracen đã được rửa tội cho tôi bức tượng này,” Jack tiếp tục. Cộng đoàn thì thầm vì ngạc nhiên: Saracens được biết đến trong những câu truyện là quân thù dã man, mặt đen, và chỉ có vài người biết rằng một vài người trong số họ đã trở thành Ki Tô hữu. “Lúc đầu tôi tự hỏi tại sao bức tượng lại được trao cho tôi. Tuy nhiên, tôi mang theo nó qua nhiều dặm đường.” Jack đã làm cộng đoàn say mê. Cậu ấy là một nhà giảng thuyết giỏi hơn tôi, Philip buồn bã nghĩ; sự hứng thú có thể cảm thấy được trong cộng đoàn. “Sau cùng tôi nhận ra rằng bức tượng muốn về nhà. Nhưng nhà của Đức Mẹ ở đâu? Sau cùng tôi chợt nhận ra: Đức Mẹ muốn về Kingsbridge.”

Cộng đoàn huyên náo vì ngạc nhiên. Philip nghi ngờ. Có một sự khác biệt giữa cách Thiên Chúa làm và cách Jack làm, và việc này có dấu hiệu của Jack. Nhưng Philip giữ yên lặng.

“Nhưng rồi tôi nghĩ: Tôi sẽ đem mẹ đi đâu? Đền thánh nào mẹ muốn ở Kingsbridge? Trong nhà thờ nào mẹ sẽ nghỉ ngơi vĩnh viễn?” Ánh mắt cậu lướt qua những bức tường trắng đơn sơ của nhà thờ giáo xứ như thể muốn nói: Nhà thờ này không phải là nơi mẹ ở. “Và như thể mẹ nói với tôi: ‘Jack, con sẽ làm cho mẹ một đền thánh và xây cho mẹ một nhà thờ.’”

Philip nhận ra Jack muốn gì. Bức tượng sẽ là ngọn lửa hun đốt lại sự nhiệt tâm của dân chúng trong việc xây dựng nhà thờ mới. Nó sẽ làm được điều mà bài giảng của Philip về Job đã thất bại. Nhưng Philip vẫn tự hỏi: Đó là ý của Thiên Chúa hay là ý muốn của Jack?

“Vì thế tôi hỏi mẹ: ‘Làm sao con xây dựng được vì con không có tiền.’ Và mẹ nói: ‘Mẹ sẽ cung cấp tiền bạc.’ Vâng, chúng tôi lên đường với sự chúc lành của tổng giám mục thành Canterbury.” Jack nhìn Philip khi cậu nói tên của tổng giám mục. Cậu ấy muốn nói gì với tôi, Philip nghĩ: cậu ấy muốn nói cậu ấy có sự hỗ trợ mạnh mẽ đàng sau cho việc này.

Jack quay mặt lại phía cộng đoàn. “Và dọc theo đường đi, từ Paris qua Normandy, qua biển và mọi con đường dẫn đến Kingsbridge, các Ki Tô hữu sùng đạo đã dâng cúng tiền bạc để xây dựng đền thánh cho tượng mẹ khóc.” Khi đó, Jack ra hiệu cho ai đó bên ngoài.

Một lúc sau hai người Saracens nghiêm trang bước vào nhà thờ, khênh trên vai một thùng bọc sắt.

Dân làng sợ hãi lùi lại. Ngay cả Philip cũng kinh ngạc. Ông biết, trong sách vở, rằng người Sarecens có da đen, nhưng ông chưa bao giờ gặp họ, và thực tế thật sửng sốt. Họ mặc áo sặc sỡ. Họ sãi bước qua cộng đoàn và quỳ gối trước tượng, cúi gầm mặt xuống đất.

Một sự yên lặng nín thở khi Jack mở hòm bằng một chìa khóa lớn và nhấc nắp hòm lên. Dân chúng ngẩng cao cổ để nhìn. Bất ngờ Jack đổ thùng ra. Một âm thanh như thác nước đổ, và một dòng tiền bạc đổ ra từ chiếc hòm, hàng trăm, hàng ngàn. Dân chúng tụ họp lại để xem: chưa ai đã nhìn thấy nhiều tiền như thế.

Jack nói to, át tiếng kêu la thán phục. “Tôi đã đem mẹ về nhà, và bây giờ tôi trao mẹ lại cho thợ xây dựng chính của nhà thờ chính tòa mới.” Rồi cậu quay lại, nhìn vào mắt Philip, và cúi đầu một chút như muốn nói: bây giờ tới phiên ông.

Philip ghét kiểu mánh khóe này nhưng cùng lúc ông cũng công nhận rằng cách cậu làm thật đáng khâm phục. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là Jack đã thành công. Dân chúng có thể trầm trồ về tượng mẹ khóc, nhưng chỉ Philip mới có quyền quyết định cho bức tượng được nghỉ ngơi trong nhà thờ chính tòa Kingsbridge, bên cạnh di tích thánh Adolphus hay không. Và ông vẫn chưa được thuyết phục.

Một vài dân làng bắt đầu hỏi chuyện người Sacacens. Philip bước xuống khỏi bục giảng và đến gần hơn để nghe. “Tôi đến từ một đất nước rất xa,” một người trong họ nói. Philip ngạc nhiên nghe ông ấy nói tiếng Anh giống như một ngư dân miền Dorset, nhưng hầu hết dân làng không biết rằng người Saracens có ngôn ngữ riêng của họ.

“Tên đất nước của ông là gì?” một người hỏi.

“Đất nước tôi tên là Châu Phi,” người Saracen trả lời. Ở Châu Phi có nhiều nước, dĩ nhiên, như Philip biết – mặc dù hầu hết dân làng không biết – và Philip tự hỏi người Saracen này đến từ đất nước nào. Nó sẽ thú vị biết mấy nếu nó là một nơi được nhắc đến trong Kinh Thánh như Ai Cập hoặc Ethiopia.

Một bé gái đưa ngón tay ra và chạm vào bàn tay đen của ông. Người Saracen mỉm cười với cô. Ngoại trừ mầu da, Philip nghĩ, ông ấy trông không khác gì mấy với những người khác. Thêm tự tin, bé gái nói: “Châu Phi trông như thế nào?”

“Có sa mạc to lớn và cây vả.”

“Cây vả như thế nào?”

“Nó… nó là một trái cây, trông giống như trái dâu và mùi vị giống như trái lê.”

Philip bất ngờ cảm thấy nghi ngờ khủng khiếp. Ông nói: “Hãy cho tôi biết, Saracan, ông sinh ra ở thành phố nào?”

“Damascus,” người đàn ông trả lời.

Sự nghi ngờ của Philip được xác nhận. Ông tức giận. Ông nắm lấy tay Jack và kéo cậu sang bên. Bằng giọng giận dữ ông nói thầm thì với cậu: “Cậu đang chơi trò gì đây?”

“Ông muốn nói gì?” Jack nói, cố làm như vô tội.

“Những người này không phải là người Saracens. Họ là những ngư dân từ Wareham với khuôn mặt và bàn tay đen.”

Jack dường như không bận tâm đến việc lừa dối của cậu đã bị khám phá. Cậu cười và nói: “Làm sao ông đoán được?”

“Tôi không nghĩ người đàn ông đó đã nhìn thấy cây vả, và Damascus không phải ở Châu Phi. Đâu là ý nghĩa của sự giả dối này?”

“Nó là một sự lừa dối vô hại,” Jack nói và nở nụ cười hấp dẫn.

“Không có lừa dối nào là vô hại,” Philip lạnh lùng nói.

“Đúng.” Jack thấy Philip giận dữ. Cậu nói nghiêm trang. “Nó phục vụ cùng một mục đích như một bức hình minh họa trên một trang Kinh Thánh. Nó không phải là sự thật, nó là một minh họa. Những ngư phủ Dorset tô đen chỉ phụ họa thêm cho sự kiện thật là tượng mẹ khóc đến từ miền đất Saracen.”

Hai linh mục và Aliena đã tách ra khỏi đám đông xung quanh bức tượng và tham gia cùng Jack và Philip. Philip không quan tâm đến họ và nói với Jack: “Cậu không sợ bức hình vẽ của một con rắn. Một minh họa không phải là một lời nói dối. Các người Saracens của cậu không phải là minh họa, họ là kẻ mạo danh.”

“Chúng tôi đã thu được nhiều tiền hơn khi chúng tôi có người Saracens,” Jack nói.

Philip nhìn vào đống tiền trên nền nhà. “Dân cư thị trấn có lẽ nghĩ nó đủ để xây toàn bộ ngôi nhà thờ chính tòa,” ông nói. “Tôi nghĩ rằng nó khoảng một trăm bảng Anh. Cậu biết nó không đủ trả tiền cho một năm xây dựng.”

“Tiền bạc cũng giống như người Saracens,” Jac nói. “Nó chỉ là biểu tượng. Ông biết ông cần tiền để bắt đầu xây dựng.”

Đúng như thế. Không gì có thể ngăn cản Philip xây dựng. Đức Mẹ là điều cần thiết mang lại sức sống cho Kingsbridge. Nó sẽ lôi cuốn nhiều người đến thị trấn – người hành hương, cũng như các học giả và cả người tò mò. Nó sẽ cho dân cư thị trấn một con tim mới. Nó sẽ được coi như một điềm tốt. Philip đã chờ đợi một dấu hiệu từ Thiên Chúa, và ông đã muốn tin rằng đây là một dấu hiệu. Nhưng ông không có cảm giác đây là dấu hiệu từ Thiên Chúa, mà là một sự đóng kịch của Jack.

Vị linh mục trẻ nói: “Tôi là Reynold và đây là Edward – chúng tôi làm việc cho tổng giám mục thành Canterbury. Ông sai chúng tôi hộ tống bức tượng mẹ khóc này.”

Philip nói: “Nếu ông được phép của tổng giám mục, tại sao ông cần đến hai người mạo danh Saracens để chứng thực cho Đức Mẹ?”

Edward xấu hổ. Reynold nói: “Đó là ý kiến của Jack, nhưng tôi thú thực tôi không thấy nó có hại gì. Một cách chắc chắn ông nghi ngờ về Đức Mẹ, phải không Philip?”

“Ông có thể gọi tôi là cha,” Philip nói lại. “Ngay cả khi ông làm việc cho tổng giám mục, ông vẫn không có quyền hạ mình xuống đối với bề trên của ông. Tôi sẽ không để bức tượng này trong khuôn viên nhà thờ Kingsbridge cho đến khi tôi biết chắc đó là một đồ thánh.”

“Một bức tượng bằng gỗ khóc,” Reynold nói. “Ông còn muốn bao nhiêu phép lạ nữa?”

“Sự kiện khóc chưa giải thích được. Điều đó không làm nó thành một phép lạ. Sự thay đổi nước thành đá cứng cũng không giải thích được, nhưng nó không phải là một phép lạ.”

“Tổng giám mục sẽ rất thất vọng nếu ông từ chối nhận Đức Mẹ. Ông ấy đã phải tranh đấu vì viện phụ Suger muốn giữ tượng này cho Saint-Denis.”

Philip biết ông bị dọa. Reynold trẻ tuổi này phải cố gắng hơn nữa nếu muốn dọa tôi, ông nghĩ. Ông nói dịu dàng: “Tôi hoàn toàn chắc chắn tổng giám mục sẽ không muốn tôi chấp nhận bức tượng mà không làm một số đòi hỏi thông thường để xác định sự hợp pháp của bức tượng.”

Một cái gì đó chuyển động dưới chân họ. Philip nhìn xống và thấy người què mà ông đã chú ý đến sáng nay. Người đàn ông bất hạnh này đang lê đôi chân tê liệt trên sàn nhà, cố đến gần bức tượng, nhưng luôn bị đám đông cản lối. Một cách tự động, Philip tránh sang một bên cho ông qua. Những người Saracens ngăn cản dân chúng chạm vào bức tượng, nhưng người què này trốn được khỏi sự chú ý của họ. Philip nhìn thấy bàn tay ông vươn ra. Bình thường Philip sẽ ngăn cản ai muốn chạm và thánh tích, nhưng ông chưa chấp nhận tượng này là thánh tích, nên ông không phản ứng gì. Người què chạm vào gấu áo bằng gỗ. Bất ngờ ông hét lên vui mừng: “Tôi cảm thấy nó!” ông la lên. “Tôi cảm thấy nó!”

Mọi người nhìn vào ông ấy.

“Tôi cảm thấy mạnh khỏe trở lại!” ông la lên.

Philip hoài nghi nhìn vào người đàn ông và biết những gì sẽ xẩy ra tiếp theo. Người đàn ông gập một chân, rồi chân thứ hai. Có tiếng kêu kinh ngạc từ đám đông đang theo dõi. Ông ấy đưa một tay ra và một người đỡ lấy. Với một chút cố gắng, người đàn ông đứng thẳng lên.

Đám đông kêu lên.

Một người la lớn: “Hãy thử đi đi!”

Vẫn còn giữ tay người giúp đỡ, người đàn ông bước một bước tập tễnh, rồi bước một bước nữa. Dân chúng quan sát trong yên lặng. Ở bước thứ ba ông vấp ngã, và dân chúng thở dài luyến tiếc. Nhưng ông ấy lấy lại thế cân bằng và tiếp tục đi.

Họ reo mừng.

Ông ấy đi xuống gian giữa và nhiều người theo ông. Sau vài bước, ông bắt đầu chạy. Tiếng cổ vũ vang lên khi ông ấy đi qua cửa nhà thờ vào trong ánh sáng mặt trời, hầu hết cả cộng đoàn đều theo ông ra.

Philip nhìn vào hai linh mục. Reynold kinh ngạc và nước mắt Erward rơi trên má ông. Rõ ràng họ không liên quan đến việc này. Philip quay sang Jack và nói giận dữ: “Làm sao cậu dám làm một trò bịp bợm như thế?”

“Trò bịp bợm?” Jack nói. “Trò bịp bợm nào?”

“Người đàn ông này mới chỉ đến đây vài ngày. Vào một hai ngày nữa ông ấy sẽ biến mất với túi đầy tiền của cậu. Tôi biết chuyện này được thực hiện như thế nào, Jack. Cậu không phải là người đầu tiên làm giả phép lạ, thật đáng tiếc. Chân ông ta chưa bao giờ bị què, phải không? Ông ấy là một ngư phủ khác của Wareham.”

Lời buộc tội được xác nhận qua cái nhìn tội lỗi của Jack.

Aliena nói: “Jack, em đã nói với anh là không nên làm chuyện đó.”

Hai linh mục như bị sét dánh. Họ đã bị kéo vào cuộc. Reynold giận dữ. “Jack, anh không có quyền làm thế!” ông lắp bắp.

Philip cảm thấy vừa buồn vừa tức giận. Trong tâm hồn ông hy vọng tượng mẹ sẽ được chứng minh hợp pháp, bởi vì ông thấy ông có thể dùng bức tượng này để làm sống lại tu viện và thị trấn. Nhưng nó đã không xẩy ra như vậy. Ông nhìn quanh nhà thờ nhỏ của giáo xứ. Chỉ còn một số ít người còn lại, vẫn nhìn chăm chú vào bức tượng. Ông nói với Jack: “Lần này cậu đã đi quá xa.”

“Những giọt nước mắt là thật – trong đó không có sự bịp bợm,” Jack nói. “Nhưng người què là một sai lầm, tôi nhận lỗi.”

“Nó còn tồi tệ hơn cả một sai lầm,” Philip giận dữ nói. “Khi dân chúng biết sự thật, họ sẽ không còn tin vào phép lạ nữa.”

“Tại sao họ phải biết sự thật?”

“Bởi vì tôi phải giải thích cho họ tại sao bức tượng không được để trong nhà thờ chính tòa. Dĩ nhiên bây giờ không có chuyện tôi chấp nhận bức tượng.”

Reynold nói: “Tôi nghĩ như thế là quá gấp –“

“Khi tôi cần ý kiến của ông, tôi sẽ hỏi ông,” Philip đáp lại.

Reynold im lặng nhưng Jack vẫn kiên trì. “Ông có chắc chắn rằng ông có quyền lấy Đức Mẹ ra khỏi dân chúng không? Hãy nhìn họ.” Cậu chỉ số người ít ỏi còn ở lại. Trong số họ có góa phụ Meg. Bà quỳ gối trước tượng với dòng nước mắt trên mặt. Jack không biết, nhưng Philip biết rằng Meg đã mất cả gia đình vì mái nhà thờ của Alfred đổ xuống. Cảm xúc của bà đánh động trái tim Philip và ông tự hỏi phải chăng Jack có lý. Tại sao lại lấy bức tượng đi khỏi dân chúng? Bởi vì nó không thành thực, ông nhắc nhở lòng mình một cách nghiêm khắc. Họ tin vào bức tượng bởi vì họ nhìn thấy một phép lạ giả tạo. Ông cứng rắn lại.

Jack quỳ xuống bên cạnh Meg và nói với bà. “Tại sao bà khóc?”

“Bà ấy câm,” Philip nói với cậu.

Rồi Meg nói: “Đức Mẹ đã đau khổ nhiều như tôi. Đức Mẹ hiểu tôi.”

Philip như bị sét đánh.

Jack nói: “Ông thấy không? Bức tượng làm giảm nỗi đau của bà – Ông đang nhìn gì?”

“Bà ấy câm,” Philip nói lại. “Từ hơn một năm nay bà ấy không thốt nên lời nào.”

“Đúng như vậy!” Aliena nói. “Meg đã bị câm sau khi chồng và con bà bị chết khi mái nhà thờ sập.”

“Người đàn bà này?” Jack nói. “Nhưng bà ấy vừa…”

Reynold nhìn ngơ ngác. “Ý anh muốn nói đó là một phép lạ?” ông nói. “Một phép lạ thực sự?”

Philip nhìn vào mặt Jack. Jack bị sốc nhất trong số họ. Không có xảo trá trong chuyện này. Philip bị đánh động mạnh. Ông đã nhìn thấy bàn tay của Thiên Chúa tạo nên phép lạ. Ông rùng mình. “Được, Jack,” ông nói bằng giọng run rẩy. “Mặc dù những gì cậu làm đã làm mất uy tín của Đức Mẹ, dường như Thiên Chúa vẫn dùng nó để tạo nên phép lạ.”

Jack không thốt nên lời.

Philip quay lưng lại và đi tới Meg. Ông cầm tay bà và nhẹ nhàng kéo bà đứng lên. “Thiên Chúa đã làm bà khỏe lại, Meg,” ông nói, giọng run run vì xúc động. “Bây giờ bà có thể bắt đầu đời sống mới.” Ông nhớ lại ông đã giảng về câu truyện của Job. Những lời Kinh Thánh trở lại với ông: “Vì thế Thiên Chúa chúc phúc cho Job nhiều hơn lúc đầu…” Ông đã nói với cư dân Kingsbridge rằng điều đó cũng trở thành sự thật với họ. Tôi tự hỏi, ông nghĩ, nhìn vào sự sung sướng trên khuôn mặt đầy nước mắt của bà, tôi tự hỏi đây có phải là sự bắt đầu không.

Có một sự náo động trong nhà họp khi Jack trình bầy thiết kế cho nhà thờ chính tòa mới.

Philip đã cảnh báo Jack về những rắc rối xẩy đến. Dĩ nhiên trước đó Philip đã nhìn thấy bản vẽ. Jack đã đem chúng đến nhà của tu viện trưởng vào một buổi sáng sớm, một bản sơ đồ mặt phẳng và một trực diện, được vẽ trên thạch cao trong khung gỗ. Họ cùng nhau quan sát nó trong ánh sáng buổi sớm mai và Philip đã nói: “Jack, đây sẽ là nhà thờ đẹp nhất ở nước Anh – nhưng chúng ta sẽ gặp khó khăn với các tu sĩ.”

Jack biết từ khi còn là tập sinh rằng Remigius và những người theo ông luôn luôn chống lại bất cứ kế hoạch nào Philip yêu thích, mặc dù đã tám năm rồi từ khi Philip thắng Remigius trong cuộc bầu cử. Họ ít khi nhận được sự đồng tình của số đông các tu sĩ, nhưng trong trường hợp này Philip không chắc chắn: đa số thuộc thành phần bảo thủ và họ sẽ sợ những thiết kế mang tính cách mạng. Tuy nhiên, phải cho họ xem thiết kế và cố gắng thuyết phục họ. Philip chắc chắn không thể đi trước và xây dựng nhà thờ mà không có sự đồng ý của đa số tu sĩ trong tu viện.

Ngày hôm sau Jack vào nhà họp và trình bầy kế hoạch của cậu. Các bản vẽ được dựng lên trên chiếc ghế dựa vào tường, và các tu sĩ tụ tập xung quanh để nhìn nó. Khi họ nhìn vào các chi tiết, tiếng thì thầm thảo luận đã nhanh chóng trở thành sự huyên náo. Qua giọng điệu cậu biết thiết kế của cậu không được chấp nhận, mà lại còn gây nên tức giận. Cậu chán nản. Tiếng ồn bắt đầu lớn hơn khi họ tranh luận với nhau, một vài người chống lại thiết kế và một vài người bảo vệ nó.

Sau một lúc Philip kêu gọi vào trật tự và họ yên lặng. Milius Bursar hỏi một câu đã được chuẩn bị trước. “Tại sao mái trần lại nhọn?”

“Đây là kỹ thuật mới được dùng đến ở Pháp,” Jack trả lời. “Tôi đã thấy nó ở nhiều nhà thờ. Mái vòm nhọn vững chãi hơn. Nó là cách cho phép tôi xây một nhà thờ cao như vậy. Nó có lẽ là gian giữa cao nhất ở nước Anh.”

Jack có thể nói họ thích ý tưởng đó.

Một người khác nói: “Cửa sổ quá lớn.”

“Bức tường dày không cần thiết,” Jack nói. “Chúng đã được chứng minh ở Pháp. Chính các cột trụ đỡ tòa nhà, đặc biệt với mái vòm khung sườn. Và ảnh hưởng của cửa sổ lớn thật là hấp dẫn. Ở Saint-Denis viện phụ đã đặt kính màu với các hình ảnh trong cửa sổ. Nhà thờ trở thành nơi đầy ánh sáng và không khí, thay vì ảm đạm và tối tăm.”

Nhiều tu sĩ gật đầu chấp thuận. Có lẽ họ không bảo thủ như cậu nghĩ.

Nhưng Andrew, người phụ trách phòng thánh, nói: “Hai năm trước anh đã là một tập sinh của chúng tôi. Anh đã bị phạt vì anh chống lại tu viện trưởng, và thay vì anh nhận hình phạt anh lại trốn đi. Bây giờ anh trở lại và muốn dạy chúng tôi phải xây nhà thờ ra sao.”

Trước khi Jack có thể nói, một trong số các tu sĩ trẻ chống lại: “Chuyện này không có liên quan gì đến việc đó! Chúng ta đang thảo luận về thiết kế, không phải về quá khứ của Jack.”

Nhiều tu sĩ cố gắng nói cùng lúc, một vài người la lên. Philip ra lệnh cho mọi người im lặng và yêu cầu Jack trả lời.

Jack đã nghĩ về chuyện đó và đã sẵn sàng. “Tôi đã làm một cuộc hành hương đến Santiago de Compostela như một việc đền tội, thưa cha Andrew, và tôi hy vọng việc đem tượng Mẹ khóc về được coi như sự bù đắp cho việc làm sai trái của tôi,” cậu nói ngoan ngoãn. “Tôi không được chọn là một tu sĩ, nhưng tôi hy vọng có thể phục vụ Thiên Chúa bằng cách khác – như người xây dựng của Chúa.”

Họ dường như chấp nhận điều đó.

Tuy nhiên, Andrew chưa chấm dứt. “Anh bao nhiêu tuổi?” ông nói, mặc dù ông chắc chắn biết câu trả lời.

“Hai mươi tuổi.”

“Đó là quá trẻ để trở thành một nhà xây dựng tổng thể chính.”

“Mọi người ở đây biết tôi. Tôi đã sống ở đây từ khi còn nhỏ.” Từ khi tôi đốt nhà thờ cũ của các ông, cậu nghĩ một cách tội lỗi. “Tôi đã học nghề với người xây dựng chính từ thuở ban đầu. Các ông đã nhìn thấy công trình khắc đá của tôi. Khi tôi còn là một tập sinh, tôi đã làm việc với Tu viện trưởng Phiilip và thợ xây Tom như là thư ký của công trình. Tôi khiêm nhường xin các ông xét xử tôi theo công việc của tôi chứ đừng theo tuổi tác của tôi.”

Đó là một bài phát biểu đã được chuẩn bị. Cậu nhìn thấy một tu sĩ cười khi cậu nói chữ khiêm nhường, và cậu nhận ra đó là một sơ hở nhỏ: tất cả họ biết trong tất cả phẩm chất cậu có, cậu không có sự khiêm nhường.

Andrew nhanh chóng lợi dụng sự sai lầm này của cậu. “Khiêm nhường?” ông nói, và mặt ông đỏ lên khi ông giả vờ làm ra vẻ giận dữ. “Anh đã quá khiêm nhường khi loan báo cho các thợ xây ở Paris ba tháng trước đây là anh đã được chỉ định làm thợ xây dựng chính ở đây.”

Một lần nữa các tu sĩ lại huyên náo vì phẫn nộ. Jack giằn sự thở dài xuống. Làm sao Andrew biết được chuyện ấy? Reynold hay Edward phải tiết lộ điều đó với ông. Cậu cố gắng xua nó đi. “Tôi chỉ muốn lôi cuốn một vài thợ thủ công đến Kingsbridge,” cậu nói khi tiếng ồn ào đã giảm. “Họ vẫn là những người thợ cần thiết, cho dù ai là người thợ xây dựng chính ở đây. Tôi không nghĩ sự đoán chừng của tôi gây thiệt hại gì,” Cậu cố gắng nở nụ cười. “Nhưng tôi xin lỗi vì tôi đã không khiêm tốn.” Cho đến bây giờ mọi chuyện không được suôn sẻ.

Milius Bursar đã đưa cậu ra khỏi rắc rối bằng cách hỏi một câu đã được chuẩn bị. “Cậu dự định làm như thế nào với gian cung thánh đã bị xụp đổ?”

“Tôi đã nghiên cứu nó cẩn thận,” Jack nói. “Nếu hôm nay tôi được chỉ định làm thợ xây dựng chính, tôi sẽ làm để nó có thể sử dụng lại được trong một năm. Hơn nữa, các ông có thể tiếp tục sử dụng nó trong khi tôi xây các gian ngang và gian giữa theo thiết kế mới. Sau cùng khi gian giữa đã hoàn thành, tôi đề nghị dỡ bỏ gian cung thánh và xây một gian mới phù hợp với phần còn lại của nhà thờ mới.”

Andrew nói: “Nhưng làm sao chúng tôi chắc chắn được là gian cung thánh cũ không đổ xuống lần nữa?”

“Sự sụp đổ là do mái vòm bằng đá của Alfred, nó không có trong kế hoạch ban đầu. Các bức tường không đủ mạnh để đỡ nó. Tôi đề nghị trở lại với thiết kế của Tom và làm một trần bằng gỗ.”

Có tiếng thì thầm vì ngạc nhiên. Câu hỏi tại sao mái nhà sụp đổ đã là đề tài tranh luận từ lâu nay. Andrew nói: “Nhưng Alfred đã tăng kích thước của các trụ tường để chống đỡ sức nặng gia tăng.”

Điều này cũng làm Jack thắc mắc, nhưng cậu nghĩ cậu đã tìm được câu trả lời. “Chúng vẫn chưa đủ mạnh, nhất là trên đỉnh. Nếu chúng ta nghiên cứu đống đổ nát, chúng ta có thể thấy rằng phần sụp đổ đầu tiên là phần có cửa sổ ở trên. Và ở đó đã không được củng cố thêm.”

Họ dường như hài lòng với điều đó. Jack cảm thấy khả năng trả lời tự tin của cậu đã cho cậu cơ hội đến gần với địa vị người xây dựng chính.

Remigius đứng dậy. Jack đã tự hỏi khi nào ông ấy sẽ lên tiếng. “Tôi muốn đọc một câu Kinh Thánh cho anh em trong nhà hội,” ông nói, đúng hơn là khoa trương. Ông nhìn Philip và Philip gật đầu đồng ý. Remigius đến bục giảng và mở cuốn Kinh Thánh lớn. Jack quan sát ông. Môi mỏng của ông di động một cách bồn chồn, mắt xanh của ông lồi ra một chút làm cho ông có vẻ như luôn căm phẫn. Ông là hình ảnh của sự oán giận. Nhiều năm trước đây ông đã tin rằng mình được chỉ định để thành người lãnh đạo, nhưng thực ra ông có cá tính quá yếu đuối, và bây giờ ông cam chịu sống trong thất vọng, gây rắc rối cho người tốt hơn ông. “Sách Xuất Hành,” ông xướng lên khi ông lần giở các trang giấy da. “Chương hai mươi. Câu mười bốn.” Jack tự hỏi không biết điều gì xảy ra. Remigius đọc: “Ngươi không được ngoại tình.” Ông đóng mạnh sách lại và trở lại chỗ ngồi.

Bằng giọng vương chút bực tức, Philip nói: “Có lẽ anh nên nói cho chúng tôi, anh Remigius, tại sao anh lại chọn đọc câu đó giữa cuộc thảo luận của chúng ta về việc xây dựng.”

Remigius chỉ ngón tay vào Jack. “Bởi vì người muốn trở thành thợ xây dựng chính của chúng ta lại đang sống trong tình trạng tội lỗi!” ông đe dọa.

Jack không tin nổi là ông ấy nói nghiêm trang. Cậu căm phẫn nói: “Sự thật là hôn nhân của chúng tôi chưa được chúc lành trong nhà thờ vì hoàn cảnh đặc biệt, nhưng chúng tôi sẽ lấy nhau sớm bao nhiêu như ông muốn.”

“Cậu không thể,” Remigius nói một cách đắc thắng. “Aliena đã cưới trong nhà thờ rồi.”

“Nhưng hôn nhân này không thành sự.”

“Tuy nhiên, cặp này đã cưới nhau trong nhà thờ.”

“Nhưng nếu ông không cho tôi lấy cô ta, làm sao tôi có thể tránh sống trong tình trạng tội lỗi?” Jack giận dữ nói.

“Thôi, đủ rồi!” Tiếng nói là của Philip. Jack nhìn ông. Ông có vẻ tức giận và nói: “Jack, có phải cậu đang sống trong tội lỗi với vợ của anh cậu không?”

Jack rất kinh ngạc. “Ông không biết chuyện đó sao?”

“Dĩ nhiên tôi không biết!” Philip hét lên. “Cậu nghĩ tôi có thể giữ yên lặng về nó nếu tôi biết ư?”

Tất cả yên lặng. Philip hét lên là chuyện không bình thường. Jack thấy cậu ở trong một rắc rối thật sự.  Tình trạng hôn nhân bất hợp pháp của cậu chỉ là hình thức, nhưng các tu sĩ coi trọng về việc đó. Thật không may là Philip không biết cậu đang sống với Aliena làm cho vấn đề thành tồi tệ hơn. Remigius đã gây cho Philip sự bất ngờ và làm ông thành kẻ ngu ngốc. Bây giờ Philip sẽ phải cứng rắn để chứng tỏ rằng ông nghiêm ngặt.

Jack nói một cách khổ sở: “Nhưng ông không thể xây sai một kiểu nhà thờ chỉ để trừng phạt tôi.”

Remigius thích thú nói: “Cậu sẽ phải bỏ người phụ nữ đó.”

“Khốn nạn, Remigius,” Jack nói. “Cô ta có con với tôi – nó đã một tuổi.”

Remigius ngồi xuống với một cái nhìn hài lòng.

Philip nói: “Jack, nếu cậu nói như thế trong nhà hội, cậu sẽ phải đi ra.”

Jack biết cậu phải bình tĩnh nhưng cậu không thể. “Nhưng nó lố bịch!” cậu nói. “Ông nói là tôi phải bỏ vợ tôi và con chúng tôi! Đó không phải là luân lý, đó là bắt bẻ!”

Sự tức giận của Philip đã nguôi ngoai đi một chút, và Jack nhìn thấy nét đồng cảm quen thuộc trong đôi mắt xanh sáng của ông. Ông nói: “Jack, cậu tiếp cận luật của Thiên Chúa một cách thực dụng nhưng chúng tôi thích cứng rắn – đó là lý do tại sao chúng tôi là tu sĩ. Và chúng tôi không thể chỉ định cậu là người xây dựng chính trong khi cậu đang sống trong tình trạng hôn nhân bất chính.”

Jack nhớ lại một đoạn Kinh Thánh. “Chúa Giêsu nói: ‘Ai trong các ông vô tội, hãy ném đá người này trước đi.’”

Philip nói: “Vâng, nhưng Chúa Giê Su nói với người đàn bà ngoại tình: ‘Đi, và đừng phạm tội nữa.’” Ông quay về phía Remigius. “Tôi cho rằng anh sẽ không chống lại nữa, nếu tình trạng hôn nhân bất chính này được giải quyết.”

“Dĩ nhiên!” Remigius nói.

Bất chấp sự tức giận và đau khổ của cậu, Jack nhận thấy Philip đã qua mặt Remigius một cách gọn gàng. Ông đã đưa vấn đề hôn nhân bất chính thành câu hỏi quan trọng, qua đó đặt toàn bộ vấn đề về thiết kế mới qua bên cạnh. Nhưng Jack chưa sẵn sàng theo cách đó. Cậu nói: “Tôi không muốn rời cô ta!”

Philip nói: “Nó không kéo dài lâu.”

Jack im lặng. Điều đó làm cậu ngạc nhiên. “Ý ông muốn nói gì?”

“Cậu có thể cưới Aliena nếu hôn nhân trước của cô có thể được công nhận là vô hiệu.”

“Điều đó có thể thực hiện được không?”

“Nó sẽ nhanh chóng, nếu, như cậu nói, hôn nhân đó không thành sự.”

“Tôi sẽ phải làm gì?”

“Xin tòa án giáo hội. Thông thường nó sẽ là tòa án của giám mục Waleran, nhưng trong trường hợp này cậu có lẽ nên đi thẳng tới tổng giám mục thành Canterbury.”

“Và tổng giám mục có bắt buộc phải đồng ý không?”

“Khi nó đúng, vâng.”

Đó không phải là câu trả lời hoàn toàn rõ ràng, Jack nhận ra. “Nhưng trong thời gian đó chúng tôi có phải sống xa nhau không?”

“Nếu cậu muốn được chỉ định làm người xây dựng chính của nhà thờ chính tòa Kingsbridge – có.”

Jack nói: “Ông yêu cầu tôi chọn lựa giữa hai cái mà tôi yêu nhất trên trần gian này.”

Philip nói: “Không lâu đâu.”

Giọng nói của ông làm cậu nhìn lên: có một sự đồng cảm thực sự trong đó. Jack nhận ra Philip thực sự buồn khi phải quyết định việc này. Điều đó làm cậu bớt tức giận nhưng cậu lại buồn hơn. Cậu hỏi: “Bao lâu?”

“Chừng một năm.”

“Một năm!”

“Cậu không phải sống ở thành phố khác,” Philip nói. “Cậu vẫn có thể thấy Aliena và đứa bé.”

“Ông có biết là cô ấy đã đi đến Tây Ban Nha tìm tôi không?” Jack nói. “Ông có thể tưởng tượng điều đó không?” Nhưng các tu sĩ không có quan niệm về tình yêu. Cậu cay đắng nói: “Bây giờ tôi phải nói với cô ấy rằng chúng tôi phải sống xa nhau.”

Philip đứng lên và đặt một tay lên vai Jack. “Thời gian sẽ trôi qua nhanh hơn cậu nghĩ, tôi hứa với cậu,” ông nói. “Và cậu sẽ bận rộn – trong việc xây dựng nhà thờ chính tòa mới.”

II

Khu rừng đã phát triển và thay đổi trong tám năm qua. Jack đã nghĩ cậu sẽ chẳng bao giờ đi lạc trong lãnh địa mà cậu biết rõ như mu bàn tay cậu. Những con đường mòn cũ đã mọc đầy cỏ, những con đường mới được tạo ra do nai, heo rừng và ngựa hoang, những con suối thay đổi khúc quanh, những cây già đã gẫy đổ và những cây non đã cao hơn. Tất cả dường như nhỏ đi: khoảng cách như ngắn lại và đồi núi không quá dốc. Điều ngạc nhiên nhất là cậu thấy mình lạ lẫm ở đây. Khi một con nai nhỏ nhìn cậu, sợ hãi chạy qua khu rừng thưa, Jack không biết nó thuộc gia đình nào và mẹ nó ở đâu. Khi một đàn vịt bay lên, cậu không còn biết như xưa, không còn biết chúng bay lên từ mặt nước nào và tại sao. Và cậu lo lắng vì cậu không biết những người sống ngoài vòng pháp luật ở đâu.

Cậu đã cưỡi ngựa cả đoạn đường từ Kingsbridge tới đây, nhưng cậu đã xuống ngựa ngay khi cậu rời khỏi con đường chính, bởi vì cây mọc quá thấp trên đường mòn không cho phép cậu cưỡi ngựa qua. Trở lại nơi cậu đã trải qua thời niên thiếu làm cậu cảm thấy buồn vô cớ. Cậu đã chẳng bao giờ hiểu rõ được giá trị của đời sống đơn giản khi đó, bởi vì cậu chưa biết đời sống khác. Cậu thích nhất là dâu tây, và cậu biết rằng mỗi mùa hè, trong một vài ngày, có rất nhiều trái mọc trên rừng mà cậu có thể ăn bao nhiêu cậu muốn. Ngày nay mọi thứ không còn đơn giản: tình bạn khó khăn của cậu với Tu viện trưởng Philip; tình yêu thất vọng cậu dành cho Aliena; cao vọng xây nhà thờ chính tòa đẹp nhất trên thế giới; nhu cầu cháy bỏng muốn tìm ra sự thật về bố cậu.

Cậu tự hỏi mẹ cậu đã thay đổi như thế nào trong hai năm qua khi cậu đi xa. Cậu háo hức mong gặp lại bà. Dĩ nhiên cậu có thể đứng vững một mình, nhưng nó an tâm hơn khi có một người trong đời, một người luôn sẵn sàng chiến đấu cho cậu, và cậu đã mất cảm giác thoải mái đó.

Cậu đã mất cả ngày trời để đến được nơi cậu và mẹ cậu đã sống. Bây giờ buổi chiều mùa đông ngắn nên trời tối nhanh. Chẳng bao lâu sau cậu phải từ bỏ ý định đi tìm hang động cũ của họ, và tập trung vào việc tìm kiếm một chỗ có mái che để qua đêm. Trời sẽ lạnh. Tại sao tôi lo lắng? Cậu tự hỏi. Tôi đã quen trải qua nhiều đêm trong rừng.

Sau cùng bà tìm thấy cậu.

Cậu đang muốn bỏ cuộc. Con đường mòn qua những bụi cây mà cậu đi theo, có lẽ chỉ được dùng cho chồn và cáo, bất ngờ chấm dứt. Tốt nhất là lên quay về cùng con đường đó. Cậu quay ngựa lại và xém đạp lên bà.

“Con đã quên cách di chuyển âm thầm trong rừng,” bà nói. “Mẹ có thể nghe thấy tiếng động của con cách đây một dặm.”

Jack mỉm cười. Bà không có gì thay đổi. “Chào mẹ,” cậu nói. Cậu hôn lên má bà, rồi, trong sự xúc động cậu ôm bà.

Bà sờ vào mặt cậu. “Con gầy quá!”

Cậu nhìn bà. Bà đen đi và khỏe mạnh, tóc bà vẫn dày và đen, không có sợi tóc bạc nào. Mắt bà vẫn còn giữ màu vàng ròng và dường như nó vẫn có thể nhìn thấu cậu. Cậu nói: “Mẹ vẫn như ngày nào.”

“Con đã đi đâu?” bà hỏi.

“Tất cả con đường đến Compostela, và xa hơn nữa, tới Toledo.”

“Aliena đi tìm con –“

“Cô ấy đã tìm thấy con. Cảm ơn mẹ.”

“Mẹ rất vui.” Bà nhắm mắt lại như muốn nói một lời cầu nguyện tạ ơn. “Mẹ rất vui.”

Bà dẫn cậu đi qua rừng đến hang động, xa đó chưa đến một dặm: thật ra trí nhớ của cậu không tệ lắm. Bà đã đốt một lò sưởi và ba cây nến. Bà đưa cho cậu một ly rượu táo bà tự làm bằng táo và mật ong rừng, và họ nướng một vài hạt dẻ. Jack có thể nhớ những thứ mà người sống trong rừng không thể tự làm được, và cậu mang cho mẹ cậu dao, dây, xà bông và muối. Bà bắt đầu lột da một con thỏ. Cậu hỏi: “Mẹ có khỏe không?”

“Mẹ khỏe,” bà nói; rồi bà nhìn cậu và nhận ra cậu hỏi bà một cách nghiêm trang. “Mẹ buồn vì thợ xây Tom,” bà nói. “Nhưng ông đã chết và mẹ không quan tâm đến việc lấy người chồng khác.”

“Ngoài ra, mẹ có hạnh phúc ở đây không?”

“Có và không. Mẹ đã quen sống trong rừng. Mẹ thích một mình. Mẹ không quen để các linh mục nói mẹ phải cư xử làm sao. Nhưng mẹ nhớ con, và Martha, và Aliena; và mẹ muốn nhìn thấy cháu của mẹ nữa.” Bà mỉm cười. “Nhưng mẹ chẳng bao giờ có thể về sống lại ở Kingsbridge, nhất là sau khi đã nguyền rủa một hôn nhân trong nhà thờ. Tu viện trưởng sẽ chẳng bao giờ tha thứ cho mẹ về việc đó. Tuy nhiên, nếu mẹ đã đem con và Aliena về lại với nhau thì mẹ đã thấy xứng đáng.” Từ nơi làm việc bà nhìn lên cậu với một nụ cười hài lòng. “Con có thích đời sống hôn nhân không?”

“Có,” Cậu nói ngập ngừng, “chúng con chưa cưới nhau. Dưới mắt giáo hội, Aliena vẫn còn kết hôn với Alfred.”

“Đừng quá ngu dại. Làm sao giáo hội biết được việc đó?”

“Vâng, họ biết họ đã làm lễ cưới cho ai, và họ sẽ không để con xây nhà thờ chính tòa mới trong khi con sống với vợ của một người khác.”

Mắt bà lóe lên giận dữ. “Vì thế con phải sống xa cô ấy?”

“Vâng. Cho đến khi hôn nhân của cô ấy được công nhận là vô hiệu.”

Bà mẹ đặt da thỏ sang một bên. Với con dao sắc trong bàn tay vấy máu bà tách thịt ra khỏi xương và bỏ từng miếng vào nồi nấu trên lửa. “Tu viện trưởng cũng đã làm điều đó với mẹ khi mẹ ở với Tom,” bà nói, trong khi bà cắt thịt. “Mẹ biết tại sao ông lại phát điên lên với những người yêu nhau, bởi vì ông không được phép yêu. Ông không cho người khác hưởng cái mà ông bị cấm. Dĩ nhiên, ông không thể làm gì được khi cặp hôn nhân được chính thức cưới trong nhà thờ.  Còn ngoài ra, ông sẽ có cơ hội làm hỏng mọi thứ để làm cho mình cảm thấy tốt hơn.”  Bà cắt đứt bàn chân con thỏ và ném nó vào thùng rác.

Jack gật đầu. Cậu đã chấp nhận những gì không tránh được, nhưng mỗi tối khi cậu chào từ giã Aliena và đi ra khỏi cửa nhà cô, cậu cảm thấy tức giận Philip và cậu hiểu sự oán giận dai dẳng của mẹ. “Nhưng nó chỉ kéo dài một thời gian ngắn thôi,” cậu nói.

“Còn Aliena cảm thấy như thế nào về việc này?”

Jack nhăn nhó. “Không tốt. Nhưng cô nghĩ nó là lỗi của cô vì cô đã cưới Alfred.”

“Vâng, nó là như thế. Và nó là lỗi của con vì con nhất quyết muốn xây nhà thờ.”

Cậu lấy làm tiếc vì bà không chia sẻ viễn tượng của cậu. “Mẹ à, xây những công trình khác không có giá trị. Nhà thờ lớn hơn, cao hơn và đẹp hơn, xây khó khăn hơn, có nhiều trang trí và công trình điêu khắc hơn bất cứ công trình xây dựng nào khác.”

“Và con không hài lòng với bất cứ việc gì khác.”

“Vâng, đúng như vậy.”

Bà lắc đầu. “Mẹ chẳng bao giờ biết từ đâu con đã có ý tưởng rằng con được sinh ra để làm những chuyện to lớn.” Bà bỏ phần còn lại của con thỏ vào nồi và làm sạch phần da, vì bà còn muốn sử dụng da nó. “Chắc chắn con đã không được thừa hưởng nó từ tổ tiên của con.”

Đó là lời gợi ý mà cậu đã chờ đợi. “Mẹ à, khi con ở nước ngoài, con đã biết thêm về tổ tiên của con.”

Bà ngưng cạo da và nhìn cậu: “Con muốn nói gì?”

“Con đã tìm được gia đình của bố con.”

“Trời ơi!” Bà bỏ rơi tấm da. “Làm sao con có thể tìm được? Họ ở đâu? Họ ra sao?”

“Đó là một thành phố ở Normandy, gọi là Cherbourg. Đó là nơi bố con xuất thân.”

“Làm sao con biết chắc chắn được về điều đó?”

“Con trông rất giống bố con đến nỗi họ tưởng con là hồn ma.”

Bà mẹ nặng nề ngồi xuống chiếc ghế. Jack hối hận đã làm bà bị sốc. Cậu không nghĩ thông tin của cậu lại làm bà bị khủng hoảng như vậy. Bà nói: “Người nhà… người nhà của bố con trông ra sao?”

“Bố của bố con đã qua đời, nhưng mẹ của bố con vẫn còn sống. Sau khi bà nội được thuyết phục rằng con không phải là hồn ma của bố con, bà rất tốt với con. Anh lớn của bố là một thợ mộc, có vợ và ba người con. Họ là anh em họ của con.” Cậu mỉm cười. “Nó không vui sao? Chúng ta có họ hàng thân thuộc.”

Những ý tưởng đó dường như làm bà khó chịu và buồn rầu. “Ồ, Jack, mẹ xin lỗi vì đã không nuôi con lớn lên trong một gia đình bình thường.”

“Con không nghĩ như vậy,” cậu nói nhẹ nhàng. Cậu bối rối khi mẹ cậu tỏ ra hối hận: nó không đúng với cá tính của bà. “Nhưng con vui vì con gặp họ hàng của con. Ngay cả nếu con không gặp lại họ nữa, nó vẫn tốt khi con biết có họ ở đó.”

Bà gật đầu buồn bã. “Mẹ hiểu.”

Jack hít một hơi thở sâu. “Họ nghĩ bố con đã chết đuối trong một cuộc đắm tàu hai mươi bốn năm về trước. Ông ở trên một con tàu tên là ‘Tàu Trắng’, bị chìm khi ra khỏi Barfleur. Người ta nghĩ mọi người trên tàu đều chết đuối. Hiển nhiên là bố con đã sống sót. Nhưng một cách nào đó họ chẳng biết điều đó, bởi vì ông chẳng bao giờ trở lại Cherbourg.”

“Ông đi tới Kingsbridge,” bà nói.

“Nhưng tại sao?”

Bà thở dài. “Ông bám vào một chiếc thùng và trôi dạt vào bờ biển gần một lâu đài,” bà kể. “Ông vào lâu đài báo cáo về việc đắm tàu. Có nhiều nam tước quyền thế ở trong lâu đài và ngạc vì sự xuất hiện của ông. Họ bỏ tù ông và đem ông đến nước Anh. Sau vài tuần hay vài tháng – ông đã bị lẩn thẩn – ông được đem đến Kingsbridge.”

“Ông có kể gì về việc đắm tàu không?”

“Ông chỉ nói rằng con tàu chìm xuống rất nhanh như thể nó bị đục thủng.”

“Dường như người ta muốn bịt miệng ông lại.”

Bà gật đầu. “Và rồi khi họ nhận ra họ không thể giữ ông mãi trong tù, họ giết ông.”

Jack quỳ xuống trước mặt bà và ép bà nhìn vào cậu. Bằng giọng nói run run vì xúc động cậu hỏi: “Nhưng họai?”

“Trước đây con đã hỏi điều đó.”

“Và mẹ chưa trả lời con.”

“Bởi vì mẹ không muốn con lãng phí cả đời để trả thù cho cái chết của bố con.”

Bà vẫn coi cậu là một đứa bé, cậu cảm thấy, vì thế bà muốn dấu những thông tin không tốt cho cậu. Cậu cố gắng tỏ ra là một người lớn và bình tĩnh. “Con dự định dùng cả đời để xây nhà thờ chính tòa Kingsbridge và có con cái với Aliena. Nhưng con muốn biết ai đã treo cổ bố con. Và chỉ có những người đã làm chứng dối chống lại ông mới có thể trả lời được. Vì thế con muốn biết họ là ai.”

“Vào thời điểm đó, mẹ không biết tên họ.”

Cậu biết bà đang tìm cách lảng tránh và nó làm cậu tức giận. “Nhưng bây giờ mẹ biết!”

“Đúng, bây giờ mẹ biết,” bà nói trong nước mắt, và cậu nhận ra rằng chuyện này làm cho bà đau khổ cũng như cậu. “Và mẹ sẽ nói cho con biết, vì mẹ thấy con sẽ không bao giờ ngừng hỏi về việc này.” Bà hỉ mũi và lau nước mắt.

Jack hồi hộp chờ đợi.

“Có ba người: một tu sĩ, một linh mục và một hiệp sĩ.”

Jack nhìn bà. “Tên họ là gì?”

“Con muốn hỏi họ tại sao họ đã khai dối?”

“Vâng.”

“Và con mong họ sẽ nói cho con biết?”

“Có lẽ không. Con sẽ nhìn vào mắt họ khi con hỏi họ và nó có thể nói cho con mọi điều con cần phải biết.”

“Ngay cả khi nó không thể?”

“Con muốn thử, mẹ à!”

Bà thở dài. “Vị tu sĩ là tu viện trưởng ở Kingsbridge.”

“Philip?”

“Không. Không phải Philip. Nó xẩy ra trước thời của Philip. Đó là người tiền nhiệm của ông ấy, James.”

“Nhưng ông ấy đã chết.”

“Mẹ đã nói với con là nó không còn có thể hỏi họ nữa.”

Jack nheo mắt lại. “Còn những người khác là ai?”

“Người hiệp sĩ là Percy Hamleigh, lãnh chúa của Shiring.”

“Cha của William!”

“Đúng.”

“Ông ấy cũng chết rồi.”

“Đúng.”

Jack có một cảm giác khủng khiếp rằng cả ba đều đã chết và sự bí mật sẽ bị chôn vùi với đống xương của họ. “Vị linh mục là ai?” cậu khẩn trương hỏi.

“Tên ông ấy là Waleran Bigod. Bây giờ ông ấy là giám mục ở Kingsbridge.”

Jack thở phào nhẹ nhõm. “Và ông ấy còn sống,” cậu nói.

Lâu đài của giám mục Waleran được hoàn thành vào dịp Giáng Sinh. William Hamleigh cùng với mẹ cưỡi ngựa đến đó vào một buổi sáng đẹp trời vào đầu năm mới. Ngang qua thung lũng họ đã nhìn thấy nó từ xa. Nó nằm trên một địa thế cao của rặng đồi đối diện, nhìn xuống vùng nông thôn xung quanh.

Khi ngang qua thung lũng, họ đi qua dinh thự cũ. Bây giờ nó được dùng như nhà kho chứa len. Thu nhập từ len đủ chi phí cho lâu đài mới. Họ men theo con dốc phía bên kia thung lũng và theo con đường xuyên qua một khoảng trống của thành lũy bằng đất, rồi ngang qua một con hào khô sâu tới cổng trong một bức tường đá. Với thành lũy, một con hào và một bức tường đá, đây là một lâu đài có tính an toàn cao, an toàn hơn cả lâu đài của William và nhiều lâu đài khác của nhà vua.

Trong sân một dinh thự hình vuông ba tầng to lớn làm lu mờ đi ngôi nhà thờ bằng đá bên cạnh nó. William giúp mẹ xuống ngựa. Họ giao ngựa cho các hiệp sĩ và bước lên bậc thang dẫn lên đại sảnh.

Lúc đó là giữa trưa, và các nhân viên của Waleran đang chuẩn bị bữa ăn trưa trong đại sảnh. Một số tổng đại diện, thư ký, nhân viên và chân tay của ông đang đứng xung quanh chờ bữa ăn trưa. William và Regan chờ trong khi người quản lý lên khu riêng của giám mục báo tin họ đến.

Trong lòng William bừng lên ngọn lửa ghen tương khốc liệt. Aliena đang yêu và cả vùng biết chuyện đó. Cô đã sinh một đứa con đáng yêu và chồng cô đã đuổi cô ra khỏi nhà. Với đứa bé trong tay cô đã đi tìm kiếm người mà cô yêu và đã tìm thấy cậu ấy sau khi đi tìm nửa vòng trái đất. Câu chuyện được kể đi kể lại trong cả vùng nam nước Anh. Mỗi lần cậu nghe về nó lòng cậu lại dậy lên niềm căm thù. Nhưng cậu đã nghĩ ra cách trả thù.

Họ được dẫn lên cầu thang và vào phòng của Waleran. Họ thấy ông ngồi ở bàn với Baldwin, bây giờ là một tổng đại diện. Hai giáo sĩ đếm tiền trên một miếng vải có hình ca rô, xếp các đồng xu thành từng đống mười hai, rồi di chuyển chúng từ ô màu đen sang màu trắng. Baldwin đứng lên và chào bà Regan, rồi nhanh chóng cất vải và tiền đi.

Waleran đứng dậy khỏi bàn và đi đến chiếc ghế gần lò sưởi. Ông di chuyển nhanh chóng, giống như con nhện, và William cảm thấy sự không ưa quen thuộc. Tuy nhiên cậu quyết giữ thái độ dịu dàng. Cậu mới nghe về cái chết khủng khiếp của bá tước thành Hereford, người đã cãi nhau với giám mục thành Hereford và đã chết trong tình trạnh bị vạ tuyệt thông. Thi thể ông đã bị thiêu trong lòng đất không được hiến thánh. Khi William tưởng tượng thân thể cậu nằm dưới đất không được bảo vệ, bị giao cho ma quỷ trong địa ngục, cậu rùng mình vì sợ. Cậu sẽ chẳng bao giờ dám cãi nhau với giám mục của cậu.

Waleran vẫn xanh xao và gầy như trước, và áo chùng đen trên người ông giống như quần áo phơi khô trên cây. Ông vẫn không thay đổi. William biết rằng chính cậu đã thay đổi. Đồ ăn và rượu là thứ cậu thích, và mỗi năm cậu mập thêm mặc dù cậu có cuộc sống năng động, vì thế mà chiếc áo giáp đắt tiền được làm cho cậu trong dịp sinh nhật thứ hai mươi mốt đã phải thay đổi hai lần trong bẩy năm vừa qua.

Waleran vừa từ York trở về. Ông đã vắng nhà cả nửa năm và William lịch sự hỏi ông: “Ông có một chuyến du hành thành công không?”

“Không,” ông trả lời. “Giám mục Henry gửi tôi tới đó để giải quyết một cuộc tranh chấp kéo dài đã bốn năm về việc ai sẽ là tổng giám mục thành York. Tôi đã thất bại. Cuộc tranh chấp tiếp diễn.”

Ít nói về điều đó có lẽ tốt hơn, William nghĩ. Cậu nói: “Trong khi ông đi vắng, có nhiều sự thay đổi ở đây. Nhất là ở Kingsbridge.”

“Ở Kingsbridge?” Waleran ngạc nhiên. “Tôi nghĩ vấn đề đó đã được giải tỏa lâu rồi.”

William lắc đầu. “Họ nhận được tượng Đức Mẹ khóc.”

Waleran nhìn kinh ngạc. “Cậu đang nói về chuyện gì?”

Mẹ của William trả lời. “Đó là một bức tượng Đức Trinh Nữ bằng gỗ họ dùng để rước. Vào những lúc nhất định, nước từ mắt tượng chẩy ra. Dân chúng nghĩ rằng nó là phép lạ.”

“Nó phép lạ!” William nói. “Một bức tượng mà có thể khóc được!”

Waleran nhìn cậu khinh bỉ.

Regan nói: “Có là phép lạ hay không thì hàng ngàn người đã đến viếng trong vài tháng qua. Trong khi đó Tu viện trưởng Philip đã xây dựng lại nhà thờ. Họ đã sửa gian cung thánh và thiết lập một mái trần bằng gỗ, và họ đã bắt đầu xây dựng phần còn lại của nhà thờ. Nền móng cho khu giữa đã được đào, và một số thợ xây đã tới từ Paris.”

“Paris?” Waleran hỏi.

Regan nói: “Nhà thờ bây giờ được xây theo kiểu nhà thờ Saint-Denis.”

Waleran gật đầu. “Mái vòm nhọn. Tôi đã nghe nói về nó ở York.”

William không quan tâm nhà thờ Kingsbridge xây theo kiểu nào. Cậu nói: “Vấn đề là những người trẻ rời trang trại của tôi và đến làm việc ở Kingsbridge, chợ Kingsbridge lại mở cửa mỗi chủ nhật, lấy đi công việc kinh doanh từ Shiring… Nó lại như cũ!” Cậu liếc nhìn lo lắng về phía hai người kia, tự hỏi có ai khám phá ra cậu có điều bí ẩn trong đầu không; nhưng cả hai không nghi ngờ gì.

Waleran nói: “Lỗi lầm nghiêm trọng nhất tôi đã làm là giúp Philip thành tu viện trưởng.”

“Họ phải học rằng họ không thể làm việc này,” William nói.

Waleran trầm ngâm nhìn cậu. “Cậu muốn làm gì?”

“Tôi định cướp bóc thị trấn một lần nữa.” Và khi tôi làm chuyện đó, tôi sẽ giết Aliena và người yêu của cô ấy, cậu nghĩ; và cậu nhìn vào ngọn lửa để mẹ cậu không nhìn được vào mắt cậu và đọc được những gì cậu đang nghĩ.

“Tôi không chắc chắn là cậu có thể làm thế,” Waleran nói.

“Tôi đã làm như thế một lần rồi – Tại sao tôi không thể làm lại?”

“Lần trước cậu có lý do tốt: hội chợ len.”

“Lần này là ngôi chợ. Họ chẳng bao giờ có phép mở chợ của vua Stephen.”

“Nó không hoàn toàn giống nhau. Philip lợi dụng cơ hội để mở hội chợ len và cậu đã tấn công ngay lập tức. Chợ vào ngày chủ nhật ở Kingsbridge đã được sáu năm rồi, ngoài ra nó cách Shiring hơn hai mươi dặm nên nó phải được cấp giấy phép.”

William đè nén cơn giận xuống. Cậu muốn nói với Waleran rằng nên chấm dứt kiểu nói yếu ớt của bà già ấy đi, nhưng cậu dừng lại.

Trong khi cậu đang kìm hãm sự tức giận, người quản lý bước vào và đứng yên lặng ở ngưỡng cửa. Waleran nói: “Chuyện gì thế?”

“Có một người muốn gặp ông, thưa giám mục. Tên ông ta là Jack Jackson. Thợ xây dựng chính từ Kingsbridge. Tôi có nên đuổi ông ấy đi không?”

Trái tim William đập mạnh. Đó là người tình của Aliena. Tại sao người đó lại xuất hiện ở đây vào lúc William dự định giết ông ấy? Có lẽ ông ấy có một khả năng siêu nhiên. William sợ hãi.

“Từ Kingsbridge?” Waleran hỏi với sự quan tâm.

Regan nói: “Ông ấy là thợ xây dựng chính ở đó. Ông ấy chính là người đem tượng Đức Mẹ khóc từ Tây Ban Nha về.”

“Thật là thú vị,” Waleran nói. “Để coi ông ấy ra sao.” Ông nói với người quản lý: “Cho ông ấy vào.”

William nhìn chăm chú vào cửa với sự kinh hoàng mê tín. Cậu chờ đợi một người đáng sợ, to lớn trong bộ áo choàng màu đen đi vào và chỉ ngón tay buộc tội vào cậu. Nhưng khi Jack xuất hiện ở cửa, William kinh ngạc vì cậu còn trẻ. Jack chưa qua hai mươi. Cậu có mái tóc đỏ và đôi mắt xanh cảnh báo lướt thoáng qua William, dừng lại một chút trên Regan rồi nhìn thẳng vào Waleran. Người thợ xây bình tĩnh trước mặt hai người quyền thế nhất trong vùng, nhưng ngoài sự tỉnh bơ đáng ngạc nhiên này cậu trông không có vẻ đáng sợ.

Giống William, Waleran cảm thấy thái độ bất tùng phục của người thợ xây trẻ này, và với giọng lạnh lùng kiêu căng ông nói: “Tốt, chàng trai kia, cậu cần gì nơi tôi?”

“Sự thật,” Jack nói. “Ông đã chứng kiến bao nhiêu người bị treo cổ?”

William nín thở. Nó là một câu hỏi làm kinh ngạc và xấc xược. Cậu nhìn những người khác. Mẹ cậu nghiêng về phía trước, cau mày nhìn vào Jack như thể bà đã gặp cậu ở đâu đó và đang cố nhớ lại. Waleran trông lạnh lùng.

Waleran nói: “Đó có phải là một câu đố không? Tôi đã chứng kiến nhiều người bị treo cổ hơn là tôi có thể đếm được, và sẽ có thêm người nữa nếu cậu tiếp tục nói kiểu vô lễ như thế.”

“Tôi xin lỗi ngài, thưa giám mục,” Jack nói, nhưng cậu vẫn không sợ hãi. “Ông có nhớ tất cả họ không?”

“Tôi nghĩ tôi có thể,” Waleran nói. “Tôi đoán có một người đặc biệt mà cậu chú ý đến.”

“Hai mươi hai năm về trước, ở Shiring, ông đã chứng kiến việc tử hình một người tên là Jack Shareburg.”

William nghe thấy tiếng thở của mẹ cậu.

“Ông ấy là người hát dạo,” Jack tiếp tục. “Ông có nhớ ông ấy không?”

William cảm thấy bầu khí trong phòng bất ngờ căng thẳng. Có một sự sợ hãi khác thường về Jack Jackson đã ảnh hưởng đến Waleran và mẹ cậu. “Tôi nghĩ tôi còn nhớ,” Waleran nói, và William nhận ra trong giọng nói của ông có sự cố gắng giữ bình tĩnh. Chuyện gì đã xẩy ra?

“Tôi nghĩ là ông nhớ,” Jack nói, và bây giờ giọng cậu ấy lại có vẻ vô lễ. “Người này đã bị kết án vì lời làm chứng của ba người. Hai người đã chết. Ông là người thứ ba.”

Waleran gật đầu. “Ông ấy đã ăn cắp một cái gì đó của tu viện Kingsbridge – một chén quý.”

Một cái nhìn cứng rắn trong mắt xanh của Jack. “Ông ấy không làm chuyện đó.”

“Chính tôi bắt được ông ấy với chiếc chén.”

“Ông nói dối.”

Một thoáng yên lặng. Khi Waleran lên tiếng lại, giọng ông nhẹ nhưng mặt ông cứng như đá. “Tôi có thể cắt lưỡi cậu về chuyện đó,” ông nói.

“Tôi chỉ muốn biết tại sao ông lại làm chuyện đó,” Jack nói như thể cậu không nghe thấy lời đe dọa. “Ông có thể nói thẳng thắn ở đây. William không phải là mối đe dọa cho ông, còn mẹ cậu ấy dường như đã biết tất cả rồi.”

William nhìn mẹ cậu. Nó đúng như vậy, bà tỏ ra như bà biết chuyện. William hoàn toàn hoang mang. Nó dường như – cậu không dám hy vọng – rằng cuộc thăm viếng của Jack không liên quan gì đến William và kế hoạch bí mật của cậu về việc giết người yêu của Aliena.

Regan nói với Jack: “Cậu đang cáo buộc giám mục tội khai gian!”

“Tôi sẽ không lập lại lời kết tội này một cách công khai,” Jack lạnh lùng nói. “Tôi thiếu bằng chứng, và thực ra tôi cũng không quan tâm đến việc trả thù. Tôi chỉ muốn hiểu tại sao ông lại treo cổ một người vô tội.”

“Ra khỏi đây,” Waleran lạnh lùng nói.

Jack gật đầu như thể ông không còn chờ đợi gì hơn. Mặc dù cậu không có câu trả lời cho câu hỏi của cậu, khuôn mặt cậu có nét hài lòng như thể sự nghi ngờ của cậu đã được xác nhận.

William vẫn còn bối rối với những lời trao đổi giữa họ. Bốc đồng, cậu nói: “Đợi một chút.”

Jack quay lại nơi cửa và nhìn cậu bằng đôi mắt xanh chế giễu.

“Mối…“ William nuốt nước bọt và nói: “Mối quan tâm của cậu trong việc này là gì? Tại sao cậu đến đây và đặt những câu hỏi này?”

“Bởi vì người đàn ông bị treo cổ là bố tôi,” Jack nói và đi ra.

Trong phòng im lặng. Vì thế người yêu của Aliena, thợ xây dựng chính ở Kingsbridge là con của người ăn cắp đã bị tử hình ở Shiring, William nghĩ. Nhưng tại sao mẹ cậu lại lo lắng và Waleran có vẻ sợ hãi?

Sau cùng Waleran nói cay đắng: „ Người phụ nữ đó đã đeo đẳng tôi hai mươi năm.“ Ông thường tỏ ra cứng rắn, vì thế mà William ngạc nhiên khi cậu thấy ông tỏ bày cảm xúc của ông.

"Bà ấy đã biến mất sau khi nhà thờ chính tòa bị sụp đổ,“ Regan nói. Tôi nghĩ đó là lần cuối cùng chúng ta thấy bà ấy.“

"Bây giờ con trai bà ấy đến để ám ảnh chúng ta.“ Có một cái gì đó thực sự sợ hãi trong giọng của Waleran.

William nói: „Tại sao ông không bỏ tù cậu ấy vì đã kết tội ông khai gian?“

Waleran nhìn cậu khinh miệt, rồi nói: “Con trai bà thật khờ dại, Regan ạ.“

William nhận ra lời kết tội khai gian phải là thật. Và khi cậu có thể tìm ra sự thật, thì Jack cũng có thể. „Còn có người nào biết về điều đó nữa không?“

Regan nói: „Tu viện trưởng James đã thú nhận sự khai gia của ông trước khi chết với tu viện phó Remigius. Nhưng Remigius luôn ở về phía chúng ta chống lại Philip, vì thế ông ấy không nguy hiểm. Mẹ của Jack biết một vài điều về chuyện này, nhưng không biết tất cả; nếu không bà ấy đã dùng những thông tin đó để kiện lại chúng ta. Nhưng Jack đã du hành đây đó – có lẽ cậu đã thu thập được một vài điều mà mẹ cậu không biết.“

William nhận thấy câu truyện xa lạ trong quá khứ này có thể trở thành lợi điểm cho cậu. Cậu nói: "Vậy chúng ta hãy giết Jack."

Waleran lắc đầu khinh bỉ.

Regan nói: "Điều đó chỉ làm cho mọi người chú ý đến Jack và lời kết tội của cậu ấy."

William thất vọng. Nó dường như đã được tiền định. Cậu nghĩ về điều đó trong khi căn phòng vẫn im lặng. Rồi một ý tưởng mới chợt đến, và cậu nói: „Nó không cần thiết.“

Hai người ngẩng đầu lên nhìn cậu chờ đợi.

"Jack có thể bị giết mà không gây sự chú ý đến cậu ấy,“ William kiên nhẫn nói.

"Được, hãy cho chúng tôi biết bằng cách nào,“ Waleran nói.

"Cậu ấy có thể bị giết trong một cuộc tấn công vào Kingsbridge, “William nói, và cậu hài lòng khi thấy cái nhìn tôn trọng trên khuôn mặt của cả hai người.

Trời đã về chiều khi Jack và Tu viện trưởng Philip đi một vòng xung quanh công trường xây dựng. Đống đổ nát của gian cung thánh đã được dọn, và đống gạch vụn được đổ thành hai đống lớn ở phía bắc sân tu viện. Giàn giáo mới đã được dựng lên và các thợ thủ công đã xây lại các bức tường bị sụp đổ. Bên cạnh khu bệnh xá là một đống gỗ dự trữ lớn.

"Công việc trôi chẩy nhanh chóng,“ Philip nói.

"Không nhanh như tôi muốn,“ Jack trả lời.

Họ kiểm tra chân móng của gian ngang. Bốn mươi hay năm mươi lao công ở trong một hố xâu, xúc bùn vào xô, trong khi những người khác ở trên mặt đất đang kéo các xô đất lên và đổ đi. Các khối đá thô, lớn đã được cắt cho chân móng xếp thành đống ở gần đó.

Jack đưa Philip vào xưởng riêng của cậu. Nó lớn hơn so với nhà kho của Tom. Một phía hoàn toàn mở để cho ánh sáng vào. Nửa nền nhà của xưởng là bản vẽ. Cậu đã đặt các tấm ván trên mặt đất, làm khung gỗ xung quanh và đổ đầy thạch cao phía trong. Khi thạch cao đã khô, nó cứng đủ để có thể đi trên đó và dùng một cây sắt nhọn vẽ trên nó. Đây là nơi Jack phác thảo các chi tiết. Cậu dùng la bàn, một thước thẳng và một thước vuông. Những nét vẽ mới luôn luôn có màu trắng, rõ ràng, nhưng nó mau thành màu xám, vì thế mà đường mới có thể dễ dàng vẽ trên đường cũ mà không sợ bị lầm lẫn. Nó là một ý tưởng cậu đã học được ở Pháp.

Phần còn lại của xưởng thợ là các bàn làm việc, nơi cậu làm các khuôn mẫu bằng gỗ cho các thợ xây biết cắt đá như thế nào. Ánh sáng đã yếu dần: hôm nay cậu không còn có thể làm các khuôn mẫu nữa. Cậu thu xếp công cụ của cậu lại.

Philip nhặt một khuôn mẫu và hỏi: „Khuôn này dùng làm gì?“

"Chân của cột trụ."

"Cậu chuẩn bị trước thật kỹ lưỡng."

"Tôi không thể chờ đợi được đến khi công việc xây dựng bắt đầu"

Trong những ngày này cuộc đàm thoại của họ ngắn gọn và thực tế.

Philip đặt mẫu xuống. „Tôi phải đi dự giờ kinh chiều.“ Ông quay người lại và đi.

„Và tôi sẽ đi thăm gia đình tôi,“ Jack nói gay gắt.

Philip dừng và quay lại như thể ông muốn nói điều gì đó, rồi nhìn buồn bã và bỏ đi.

Jack khóa thùng công cụ của cậu lại. Cậu hối hận về lời nói của cậu. Cậu đã chấp nhận làm việc với các điều khoản của Philip, vì thế sự phàn nàn bây giờ không có nghĩa gì. Nhưng cậu cảm thấy luôn luôn tức giận Philip, và cậu không thể giữ nó trong lòng.

Cậu rời sân tu viện trong ánh hoàng hôn và đến căn nhà nhỏ trong khu nghèo, nơi Aliena sống với em cô, Richard. Cô cười hạnh phúc khi Jack bước vào, nhưng họ không hôn nhau: trong những ngày này họ không đụng đến nhau, vì sợ sẽ bị kích thích, và rồi một là họ sẽ phải rời xa nhau mà không thỏa mãn, hai là chiều theo ham muốn và có thể rủi ro bị bắt vì không giữ lời hứa với Tu viện trưởng Philip.

Tommy đang chơi trên nền nhà. Bé đã một tuổi rưỡi và hiện tại cậu thích xếp các đồ vật lên nhau. Bé có bốn hay năm chiếc tô ở trước mặt, và bé không mỏi mệt xếp chiếc nhỏ hơn bên trong chiếc lớn hơn và cố gắng đặt chiếc lớn hơn vào chiếc nhỏ hơn. Jack ngạc nhiên với ý tưởng rằng Tommy theo bản năng không biết chiếc tô lớn không thể cho vào trong chiếc nhỏ được; rằng đây là cái gì đó mà con người phải học. Tommy chiến đấu với mối quan hệ không gian cũng như Jack cố gằng hình dung một cái gì đó giống như hình dạng của viên đá trong một mái vòm cong.

Tommy hấp dẫn Jack và làm cậu lo lắng nữa. Cho đến bây giờ Jack chẳng bao giờ lo về khả năng tìm việc làm của cậu. Cậu lên đường vượt qua nước Pháp mà không một phút nào nghĩ đến việc cậu có thể thiếu thốn và chết đói. Nhưng bây giờ cậu muốn an toàn. Nhu cầu muốn chăm sóc cho Tommy còn lớn hơn nhu cầu lo cho bản thân mình. Lần đầu tiên trong đời cậu có trách nhiệm.

Aliena đặt một bình rượu và một miếng bánh với gia vị trên bàn và ngồi xuống đối diện với Jack. Cậu rót một chén rượu và nhấm nháp nó với lòng biết ơn. Aliena đặt một vài miếng bánh trước mặt Tommy, nhưng bé không đói, và làm vương vãi nó trên nền nhà.

Aliena nói: „Jack, em cần thêm tiền.“

Jack ngạc nhiên. „Anh đưa cho em hai mươi xu một tuần. Anh chỉ còn hai mươi bốn xu.“

„Em xin lỗi,“ cô nói. „Anh sống một mình – Anh không cần nhiều như thế.“

Jack nghĩ điều đó không hợp lý lắm. „Nhưng một người lao động chỉ có sáu xu một tuần – và một vài người trong số họ có năm hay sáu con.“

Aliena nhìn một cách đau khổ. “Jack, em không biết những bà vợ của các người lao công lo việc nhà cửa như thế nào – Còn em, em chưa được học làm việc đó. Và em không tiêu gì cho em cả. Nhưng anh ăn trưa ở đây mỗi ngày. Ngoài ra còn Richard –“

“Richard làm sao?” Jack giận dữ nói. “Tại sao cậu ấy không tự lo lấy thân mình?”

“Cậu ấy chưa bao giờ tự lập.”

Jack cảm thấy Aliena và Tommy đã là một gánh đủ nặng cho cậu. “Anh không biết là anh phải có trách nhiệm lo cho Richard!”

“Vâng, cậu ấy thuộc về em,” cô lặng lẽ nói. “Khi anh lấy em, anh cũng lấy cậu ấy nữa.”

“Anh không nhớ anh có đồng ý chuyện đó không!” cậu tức giận nói.

“Đừng tức giận!”

Nó đã quá trễ: Jack đã nổi khùng. “Richard đã hai mươi ba tuổi – lớn hơn anh hai tuổi. Tại sao anh phải lo cho cậu ấy? Tại sao anh phải ăn bánh mì khô và mua thịt hun khói cho Richard?”

“Ngoài ra, em lại có thai.”

“Cái gì?”

“Em sắp có thêm một em bé.”

Sự tức giận của Jack biến mất. Cậu nắm lấy tay cô. “Thật tuyệt vời!”

“Anh có vui không?” cô nói. “Em sợ anh lại tức giận.”

“Giận ư? Anh rất vui! Anh không biết Tommy khi nó còn nhỏ - bây giờ anh biết anh đã không được chứng kiến điều gì.”

“Nhưng còn về trách nhiệm và tiền bạc thì sao?”

“Ồ, tiền bạc không thành vấn đề. Anh chỉ khó chịu vì chúng ta phải sống xa nhau. Chúng ta sẽ có thêm tiền. Nhưng một đứa con nữa! Anh mong nó là con gái.” Cậu suy nghĩ điều gì đó, và nhăn mặt. “Nhưng khi...?”

“Nó phải xẩy ra trước khi Tu viện trưởng Philip bắt chúng ta sống ly thân.”

“Có lẽ vào ngày lễ các Thánh.” Cậu cười. “Em có nhớ đêm đó không? Em cưỡi anh như một con ngựa –“

“Em nhớ,” cô đỏ mặt nói.

Cậu nhìn cô trìu mến. “Anh muốn yêu em ngay bây giờ.”

Cô mỉm cười. “Em cũng vậy.”

Họ nắm tay nhau trên bàn.

Richard bước vào.

Cậu để cửa mở và bước vào trong, mồ hôi nhễ nhại và bụi bặm, tay dắt con ngựa. “Em có một tin dữ,” cậu vừa nói vừa thở hổn hển.

Aliena bế Tommy lên khỏi nền nhà, tránh cho ngựa đi. Jack nói: “Chuyện gì thế?”

“Ngày mai tất cả chúng ta phải di chuyển ra khỏi Kingsbridge,” cậu nói.

“Tại sao?”

“William sẽ lại đốt thị trấn vào ngày chủ nhật.”

“Không thể được!” Aliena kêu lên.

Jack lạnh người. Cậu nhớ lại cảnh tượng ba năm về trước, khi kỵ binh của William tấn công hội chợ len với những ngọn đuốc rực lửa và những cú đánh tàn bạo. Cậu nhớ lại cảnh hỗn loạn, tiếng la hét và mùi xác cháy. Cậu nhìn thấy thi thể của bố dượng, với vầng trán bị dập nát. Cậu đau trong tim.

“Làm sao cậu biết chuyện ấy?” cậu hỏi Richard.

“Em ở Shiring và em thấy một số thuộc hạ của William mua vũ khí ở cửa hàng.”

“Điều đó không có ghĩa là "

“Còn nhiều điều khác nữa. Em theo họ vào quán bia và nghe họ nói chuyện. Một người hỏi Kingsbridge có sự phòng thủ nào không, và một người khác nói là không có gì.”

Aliena nói: “Trời ơi! Đó là sự thật.” Cô nhìn Tommy, và tay cô đưa xuống bụng, nơi đứa bé đang phát triển. Cô nhìn lên, và Jack gặp ánh mắt cô. Cả hai có cùng một suy nghĩ.

Richard tiếp tục: “Sau đó em nói chuyện với một vài người trẻ, những người không biết em. Em kể cho họ về cuộc chiến ở Lincoln, và các việc tương tự, và em nói với họ em đang tìm chỗ chiến đấu. Họ nói với em hãy đến lâu đài lãnh chúa, nhưng phải đi ngay ngày hôm nay, vì họ sẽ lên đường vào ngày mai, và cuộc chiến sẽ diễn ra vào chủ nhật.”

“Vào chủ nhật,” Jack thốt lên sợ hãi.

“Em sẽ đến lâu đài lãnh chúa để kiểm tra xem sao.”

Aliena nói: “Richard, việc đó rất nguy hiểm.”

“Tất cả những dấu hiệu tiên báo về một cuộc chiến sắp tới: sứ giả đến rồi đi, ngựa được tập, vũ khí được lau chùi... Không còn nghi ngờ gì.” Richard kết thúc bằng giọng nói đầy thù hận: “Không gì có thể làm con quỷ William này hài lòng – nó luôn muốn nhiều hơn.” Tay cậu đưa lên tai phía phải, và sờ vào vết sẹo với một cử chỉ lo lắng.

Jack quan sát Richard. Cậu lười biếng và tiêu tiền phung phí, nhưng sự phán đoán của cậu trong lãnh vực quân sự đáng tin cậy. Khi cậu nói William dự định một cuộc cướp bóc, cậu có lý. “Đó là một thảm họa,” Jack nói. Kingsbridge vừa mới khôi phục lại từ đám bùn lầy. Ba năm trước hội chợ đã bị đốt cháy, hai năm trước mái nhà thờ đã đổ xuống dân chúng và bây giờ lại đến chuyện này. Dân chúng có thể nói rằng niềm bất hạnh của Kingsbridge đã quay trở lại. Ngay cả khi cư dân bỏ chạy để tránh đổ máu, Kingsbridge sẽ bị tàn phá. Không ai còn muốn sống nơi đây, còn muốn đến chợ mua bán và làm việc ở đây. Việc xây dựng nhà thờ chính tòa sẽ chấm dứt.

Aliena nói: “Chúng ta phải thông báo cho Tu viện trưởng Philip – ngay bây giờ.”

Jack gật đầu. “Các tu sĩ chắc đang ăn tối. Chúng ta phải đi ngay.”

Aliena bế Tommy và tất cả họ vội vã lên đồi, hướng về phía tu viện trong ánh nắng buổi chiều.

Richard nói: “Khi nhà thờ chính tòa hoàn thành, người ta có thể họp chợ trong đó. Điều đó có thể tránh được cuộc đột kích.”

Richard, Aliena và Tommy đợi bên ngoài trong khi Jack vào trong nhà ăn của các tu sĩ. Một tu sĩ trẻ đọc lớn tiếng bằng tiếng Latin trong khi các tu sĩ khác ngồi ăn trong thinh lặng. Jack nhận ra một đoạn tiên báo trong sách Khải Huyền. Cậu đứng nơi cửa và gặp ánh mắt của Philip. Ông ngạc nhiên khi thấy cậu, ông vội đứng dậy và đi ra ngay lập tức.

“Tin dữ,” Jack nói dứt khoát. “Tôi để Richard kể cho ông.”

Họ nói chuyện trong bóng tối của gian cung thánh đang được sửa lại. Richard thông tin cho Phlip trong một vài câu ngắn gọn. Khi cậu chấm dứt, Philip nói: “Nhưng chúng ta không tổ chức hội chợ, mà chỉ là một buổi chợ nhỏ!”

Aliena nói: “Ít nhất chúng ta có cơ hội để di tản thị trấn vào ngày mai. Không ai bị thương tổn. Rồi chúng ta có thể xây lại nhà cửa như chúng ta đã làm trong quá khứ.”

“Trừ khi William không đuổi theo những người di tản,” Richard nói. “Tôi không tin cậu ấy sẽ tha.”

“Ngay cả khi mọi người có thể trốn thoát, tôi nghĩ điều này có nghĩa là các buổi họp chợ sẽ chấm dứt,” Philip buồn bã nói. “Dân chúng sẽ sợ hãi không còn dám lập các quầy hàng ở Kingsbridge nữa.”

Jack nói: “Nó cũng có nghĩa là kết thúc của nhà thờ chính tòa. Trong mười năm vừa qua nhà thờ đã một lần bị đốt cháy, một lần đã sụp đổ và nhiều thợ xây đã bị giết khi thị trấn bị tàn phá. Cuộc thảm họa này sẽ là lần cuối cùng. Dân chúng sẽ nói nó là một bất hạnh.”

Philip bị giằng co. Ông chưa đến bốn mươi tuổi, Jack nhẩm tính, nhưng khuôn mặt ông đã đầy nét nhăn và tóc ông nhiều xám hơn đen. Tuy nhiên có một ánh cương quyết trong mắt sáng xanh của ông khi ông nói: “Tôi không chấp nhận chuyện này. Tôi không nghĩ đây là ý của Thiên Chúa.”

Jack ngạc nhiên không biết ông nói về chuyện gì. Làm sao ông có thể ‘không chấp nhận’ nó? Những con gà cũng có thể nói chúng không chấp nhận con cáo. “Vì thế ông định làm gì?” Jack hoài nghi nói. “Ông sẽ cầu nguyện cho William rớt xuống khỏi giường tối nay và gẫy cổ sao?”

Richard háo hức về ý tưởng chống cự lại. “Chúng ta hãy chiến đấu,” cậu nói. “Tại sao không? Chúng ta có hàng trăm người. William sẽ mang theo năm mươi người, cùng lắm là một trăm – chúng ta có thể thắng về số lượng người đông.”

Aliena phản đối. “Và bao nhiêu người của chúng ta sẽ bị giết?”

Philip lắc đầu. “Các tu sĩ không đánh nhau,” ông buồn rầu nói. “Và tôi không thể yêu cầu cư dân thị trấn hy sinh mạng sống của họ trong khi tôi không sẵn sàng mạo hiểm đời sống của tôi.”

Jack nói: “Cũng đừng tính đến sự chiến đấu của các thợ xây của tôi. Đó không phải là công việc của họ.”

Philip nhìn Richard, người có nhiều khả năng quân sự nhất trong số họ. “Có cách nào bảo vệ thị trấn mà không cần đến đánh nhau không?”

“Không có tường thành thì không có cách nào,” Richard nói. “Chúng ta không có gì để ngăn quân thù, ngoại trừ bằng chính thân xác của mình.”

“Bức tường thành,” Jack trầm tư nói.

Richard nói: “Chúng ta có thể thách thức William chiến đấu tay đôi – một chống một. Nhưng tôi nghĩ cậu ấy không đồng ý việc đó.”

“Tường thành có thể cứu chúng ta không?” Jack hỏi.

Richad sốt ruột nói: “Nó có thể cứu chúng ta lần sau, nhưng bây giờ không. Chúng ta không thể xây tường thành trong một đêm.”

“Tại sao chúng ta không thể?”

“Dĩ nhiên không, không có thể -"

“Im lặng, Richard,” Philip mạnh mẽ nói. Ông nhìn Jack chờ đợi. "Cậu đang nghĩ gì?"

"Một bức tường thành thì không khó xây,,“ Jack nói.

"Tiếp tục!"

Tư tưởng Jack hỗn loạn. Các người khác nín thở lắng nghe. Cậu nói: „Không cần mái vòm, không cần mái trần, không cần cửa sổ, không cần mái,…  Một bức tường có thể xây trong một đêm, nếu chúng ta có nhân công và vật liệu.

"Chúng ta lấy gì mà xây nó?“ Philip nói.

"Hãy nhìn xung quanh ông," Jack nói. „Đây là những phiến đá đã cắt sẵn cho nền móng. Kia là đống gỗ to hơn căn nhà. Trong nghĩa trang có đống gạch nát từ cuộc sụp đổ. Bên dưới bờ sông có một đống đá lớn từ mỏ đá. Không có tình trạng thiếu nguyên liệu.“

"Và thị trấn có đủ thợ xây," Philip nói.

Jack gật đầu. „Các tu sĩ có thể tổ chức. Các thợ xây làm việc chuyên môn. Và các dân cư của cả thị trấn làm công việc của người lao động.“ Cậu suy nghĩ nhanh chóng. "Bức tường phải chạy dọc theo bờ sông. Chúng ta sẽ tháo gỡ cây cầu. Rồi chúng ta phải xây bức tường lên đồi, bao quanh khu nhà nghèo, cho đến khi đụng bức tường tu viện phía đông… sau đó theo hướng bắc… và xuống đồi, tới bờ sông. Tôi không biết chúng ta có đủ đá cho công việc này không"

Richard nói: „Không phải chỉ có tường đá mới có hiệu quả. Một con hào sâu, với một thành lũy làm bằng đất lấy từ hào lên, cũng có hiệu quả, nhất là nơi quân thù không dễ dàng tấn công được.“

''Bằng đá dĩ nhiên là tốt hơn," Jack nói.

''Tốt hơn nhưng không nhất thiết. Mục đích của bức tường là ngăn kẻ địch lại, và tạo cơ hội cho người phòng thủ bắn phá họ từ một chỗ an toàn.''

''Bắn phá họ?“ Aliena nói. ''Bằng cái gì?''

''Bằng đá, dầu sôi, cung tên – hầu hết các gia đình trong thị trấn đều có cung tên."

Aliena rùng mình nói: „Như vậy là chúng ta phải có một cuộc chiến.''

''Nhưng không phải tay đôi, không hoàn toàn như vậy.''

Jack bị giằng co. An toàn nhất có lẽ là mọi người trốn vào rừng với hy vọng William sẽ hài lòng với việc đốt phá nhà cửa. Nhưng vẫn có nguy cơ là Williiam và quân của ông sẽ đi lùng cư dân thị trấn và tàn sát họ. Nếu họ ở lại đây đàng sau bức tường thành, nó có nguy hiểm hơn không? Nếu có chuyện gì sai lầm và William tìm được cách chọc thủng bức tường thì cuộc tàn sát sẽ kinh khủng. Jack nhìn Aliena và Tommy, và nghĩ về đứa bé trong bụng Aliena. „Còn cách nào khác hơn không?“ cậu nói. ''Chúng ta có thể di tản đàn bà và trẻ em, còn đàn ông sẽ ở lại để bảo vệ tường thành''

''Không, cảm ơn anh,''  Aliena nói quyết liệt.  ''Đó là một sáng kiến tồi tệ nhất. Như thế chúng tôi sẽ không có tường thành và không có đàn ông để bảo vệ chúng tôi''

Cô có lý, Jack nhận ra. Bức tường thành không có giá trị nếu không có người bảo vệ, và đàn bà và trẻ em cũng không thể để trong rừng mà không có người bảo vệ: William có thể rời thị trấn một mình và giết các phụ nữ.

Philip nói:  ''Jack, cậu là thợ xây dựng. Chúng ta có thể xây tường thành trong một ngày không''

''Tôi chưa bao giờ xây tường thành,'' Jack nói. ''Dĩ nhiên chúng ta không cần bản vẽ. Chúng ta sẽ phân công các thợ thủ công thành từng phần và để họ tận dụng khả năng phán đoán của họ. Vữa sẽ chưa cứng vào buổi sáng chủ nhật. Nó sẽ là bức tường tồi nhất trong nước Anh. Nhưng được, chúng ta có thể làm nó.“

Philip quay lại Richard. ''Cậu đã tham dự nhiều cuộc chiến. Nếu chúng ta xây tường thành, chúng ta có thể ngăn cản William lại không?''

''Chắc chắn,,“ Richard nói. ''Cậu ấy chuẩn bị cho một cuộc đột kích chớp nhoáng, không phải cho một cuộc bao vây. Khi cậu ấy gặp một sự phòng thủ, cậu ấy sẽ không biết phải làm gì.”

Sau cùng Philip nhìn Aliena. “Cô là một trong những người cần được bảo vệ. Cô có một đứa bé để chăm sóc. Cô nghĩ gì? Chúng ta có nên trốn vào rừng với hy vọng là William không đuổi theo chúng ta, hay chúng ta xây một bức tường thành và chặn cậu ấy lại?”

Jack nín thở.

“Nó không phải đơn thuần chỉ là câu hỏi về an toàn,” Aliena nói sau một lúc im lặng. “Philip, ông đã dành cuộc đời ông cho tu viện này. Jack, nhà thờ chính tòa là ước mơ của anh. Nếu chúng ta trốn chạy, các anh sẽ mất hết mọi thứ mà các anh yêu quý. Còn đối với tôi… Vâng, tôi một lý do đặc biệt muốn nhìn thấy quyền lực của Williiam Hamleigh bị kiềm chế. Tôi nói chúng ta ở lại.”

“Được,” Philip nói. “Chúng ta xây một bức tường thành.”

Khi đêm xuống, Jack, Richard và Philip đi dọc theo ranh giới của thị trấn với đèn lồng, quyết định bức tường sẽ được xây ở đâu. Thị trấn được xây trên một ngọn đồi thấp, và dòng sông bao quanh hai phía của nó. Bờ sông quá mềm để chịu được bức tường không có nền tảng chắc chắn, vì thế Jack đề nghị một hàng rào bằng gỗ ở đó. Richard hoàn toàn hài lòng. Quân thù chỉ có thể tấn công hàng rào gỗ qua đường sông, một điều không thể thực hiện được.

Về hai phía khác, một số đoạn sẽ được làm đơn giản bằng con hào sâu với thành lũy bằng đất. Richard cắt nghĩa rằng nó sẽ hiệu quả nơi mặt đất bị dốc và quân thù phải tấn công từ dưới đồi lên. Tuy nhiên, nơi mặt đất bằng, một bức tường bằng đá sẽ cần thiết.

Sau đó Jack đi quanh làng và thu thập các thợ xây lại, kêu gọi họ ra khỏi nhà – ra khỏi giường, trong một số trường hợp – và ra khỏi quán bia. Cậu giải thích tình trạng khẩn trương và cách mà thị trấn phải đối phó với nó; rồi cậu đi quanh ranh giới với họ và giao cho mỗi người thợ một đoạn đường: hàng rào gỗ cho thợ mộc, tường đá cho thợ xây, và thông hào cho người học nghề và người lao động. Cậu yêu cầu mỗi người đánh dấu phần mình trước khi đi ngủ bằng cọc và dây, và trong khi ngủ sẽ nghĩ cách xây dựng nó như thế nào. Chẳng bao lâu sau, chu vi của thị trấn được đánh dấu bằng những ánh đèn lấp lánh phát ra từ đèn của thợ thủ công. Các thợ rèn mồi lửa qua đêm để chế tạo cuốc xẻng. Công việc bất thường giữa đêm phá rối giấc ngủ của cư dân thị trấn, và các thợ thủ công phải mất nhiều giờ cắt nghĩa cho họ những việc đang làm. Chỉ có các tu sĩ, những người đã lên giường từ lúc trời tối, ngủ yên không biết gì.

Nhưng vào giữa đêm, khi các thợ thủ công đã chấm dứt việc chuẩn bị của họ và hầu hết cư dân thị trấn đã mệt mỏi, các tu sĩ được đánh thức dậy. Giờ cầu nguyện của họ được rút bớt lại, và khi họ được phân phối bánh mì và bia trong nhà ăn, Philip thông báo cho họ. Ngày mai họ sẽ là những người tổ chức. Họ được chia thành từng nhóm, mỗi nhóm làm việc chung với một thợ thủ công. Họ sẽ nhận lệnh từ người thợ thủ công và giám sát việc đào bới, kéo đất lên, và đem các vật liệu đến. Nhiệm vụ chính của họ, Philip nhấn mạnh, là cung cấp vật liệu cần thiết mà người thợ thủ công cần: đá và vữa, gỗ và công cụ.

Khi Philip nói, Jack tự hỏi không biết William Hamleigh đang làm gì. Lâu đài lãnh chúa cách Kingsbridge một ngày đi ngựa, nhưng William sẽ không làm chuyện đó trong một ngày, bởi vì như vậy đoàn quân sẽ mệt mỏi khi đến nơi. Họ sẽ lên đường vào sáng nay lúc mặt trời lên. Họ sẽ không đi chung với nhau, nhưng riêng rẽ, và che giấu vũ khí và áo giáp của họ như thể họ đi du lịch, để tránh gây chú ý. Họ sẽ gặp nhau bí mật vào buổi chiều, ở một nơi nào đó cách Kingsbridge một hai giờ, có lẽ trong một nhà lớn của một người thuê đất của William. Vào buổi tối họ sẽ uống bia, mài dao, và kể những câu chuyện rùng rợn về những chiến thắng trước đó: thanh niên bị cắt xén, người già bị chà đạp dưới vó ngựa, thiếu nữ bị hãm hiếp, trẻ em bị chặt đầu và trẻ sơ sinh bị cắm trên thanh kiếm trong khi các bà mẹ gào lên trong đau đớn. Rồi sáng mai họ sẽ tấn công. Jack rùng mình vì sợ. Nhưng lần này chúng tôi sẽ ngăn họ lại, cậu nghĩ. Dầu vậy, cậu vẫn sợ.

Mỗi nhóm các tu sĩ được phân chia một đoạn tường và nguồn vật liệu. Sau đó khi ánh bình minh vừa xuất hiện ở phía đông, họ đi quanh khu phố đã được chỉ định, gõ cửa, đánh thức cư dân dậy trong khi tiếng chuông tu viện vang lên khẩn trương.

Khi mặt trời vừa lên công việc đã bắt đầu chạy. Thanh niên và phụ nữ làm công việc lao động trong khi những người lớn tuổi cung cấp đồ ăn và nước uống, các trẻ em chạy việc lặt vặt và thông tin liên lạc. Jack liên tục đi quanh công trường, lo lắng giám sát công việc. Cậu nói với người thợ hồ dùng ít vôi, để vữa mau cứng hơn. Cậu khuyên người thợ mộc làm hàng rào nên lấy gỗ từ các kho dự trữ khác nhau thay vì dùng gỗ của giàn giáo. Cậu chú ý cho các phần của bức tường khi gặp nhau sẽ trùng hợp. Và cậu luôn luôn khôi hài, cười nói và khuyến khích mọi người.

Mặt trời lên trên bầu trời trong xanh. Hôm nay sẽ là một ngày nóng. Nhà bếp tu viện cung cấp bia, nhưng Philip ra lệnh pha loãng với nước, và Jack tán thành bởi vì những người làm việc vất vả sẽ uống nhiều trong thời tiết này, và cậu không muốn họ buồn ngủ.

Mặc dù mối đe dọa khủng khiếp đang đến, mọi người vẫn có bầu khí vui nhộn. Nó giống như một ngày lễ, khi toàn thị trấn cùng làm một việc với nhau, giống như làm bánh trong ngày lễ hội mùa hay thả nến trôi theo dòng sông trong đêm lễ hội mùa hè. Dân chúng dường như quên đi mối nguy hiểm mà chính vì lý do đó mà họ có những hoạt động này. Tuy nhiên, Philip thấy một số người kín đáo rời bỏ thị trấn. Một là họ tìm cơ hội trốn trong rừng, hoặc họ có thân nhân ở các làng lân cận, những người sẽ cho họ trú ẩn. Còn ngoài ra hầu hết mọi người đều ở lại.

Vào giữa trưa Philip kéo chuông một lần nữa, và mọi người ngưng làm việc để ăn trưa. Trong khi mọi người ăn, Philip cùng với Jack đi một vòng quanh bức tường thành. Mặc cho có nhiều cố gắng, công việc vẫn chưa tiến triển nhiều. Các bức tường đá vẫn chỉ cao đến mặt đất, thành lũy vẫn chỉ là các gò đất thấp và còn nhiều lỗ hổng trong hàng rào gỗ.

Vào cuối cuộc kinh lý Philip nói: “Chúng ta có thể hoàn thành đúng hẹn không?”

Jack đã cố vui vẻ và lạc quan suốt cả buổi sáng, nhưng bây giờ cậu phải đối diện với thực tế. “Với tốc độ này, không,” cậu nói một cách thất vọng.

“Chúng ta có thể làm gì để tăng tốc độ?”

“Cách duy nhất để xây nhanh hơn là xây cẩu thả hơn, thông thường là như vậy.”

“Vậy thì chúng ta xây cẩu thả hơn – nhưng bằng cách nào?”

Jack nhận định. “Lúc này chúng ta có thợ xây làm các bức tường, thợ mộc làm hàng rào, lao công làm việc đào đắp, và dân cư khiêng vật liệu. Nhưng hầu hết các thợ mộc có thể xây các tường thẳng, và hầu hết người lao động có thể làm hàng rào gỗ. Vì thế chúng ta để các thợ mộc giúp thợ xây làm tường đá, để người lao công làm hàng rào, và để dân làng đào hào và đắp lũy. Và khi công việc đã trôi chẩy nhịp nhàng, các tu sĩ trẻ có thể bỏ công việc tổ chức và giúp các người làm công.”

“Được.”

Họ ban hành lệnh mới sau bữa ăn trưa. Đây không những là bức tường xây dựng tồi tệ nhất nước Anh, Jack nghĩ, nó có lẽ còn là bức tường sụp đổ nhanh nhất. Nếu sau một tuần mà tất cả còn đứng vững thì nó đúng là một phép lạ.

Vào buổi chiều dân chúng bắt đầu mệt mỏi, nhất là những người đã thức dậy trong đêm. Bầu khí lễ hội biến mất nhường chỗ cho sự dứt khoát. Bức tường đá cao hơn, thông hào sâu hơn, và những lỗ hổng trong hàng rào đã bít kín. Họ ngừng công việc lại để ăn tối, khi mặt trời xuống dưới chân trời phía tây họ lại bắt đầu.

Khi màn đêm buông xuống, bức tường vẫn chưa hoàn thành.

Philip chia phiên gác, ra lệnh mỗi người ngủ một vài giờ và thông báo ông sẽ kéo chuông vào giữa đêm. Cư dân thành phố mệt mỏi lên giường ngủ.

Jack đến nhà Aliena. Cô và Richard vẫn thức.

Jack nói với Aliena: “Anh muốn em mang Tommy vào trốn trong trừng.”

Tư tưởng này cậu đã có cả ngày trong đầu. Lúc đầu cậu xua đuổi nó; nhưng khi thời gian trôi đi, ký ức kinh hoàng về ngày William đốt cháy hội chợ len luôn luôn trở lại; và sau cùng cậu quyết định để cô đi.

“Tốt hơn em nên ở lại,” cô dứt khoát nói.

Jack nói: “Aliena, anh không biết công trình của chúng ta có kết quả không, và anh không muốn em ở đây nếu William Hamleigh vượt qua được bức tường thành.”

“Nhưng em không thể rời đây được trong khi anh tổ chức kêu gọi mọi người ở lại và chiến đấu,” cô nói một cách lý lẽ.

Đó là chuyện hợp lý, nhưng cậu không muốn hiểu. “Nếu em đi bây giờ họ sẽ không biết.”

“Một lúc nào đó họ sẽ nhận ra.”

“Khi đó mọi chuyện đã xong.”

“Nhưng hãy nghĩ về sự ô nhục.”

“Ô nhục không là vấn đề,” cậu hét lên. Cậu điên lên vì thất vọng và không tìm được chữ để thuyết phục cô. “Anh muốn em được an toàn!”

Giọng nói tức giận của cậu đánh thức Tommy và nó khóc thét lên. Aliena bế nó lên và ru nó. Cô nói: „Em không chắc ở trong rừng em có được an toàn hơn không.“

''William không tìm kiếm ở trong rừng. Cậu ấy quan tâm đến thị trấn hơn.”

“Cậu ấy có thể quan tâm đến em.”

“Em có thể ẩn trong khu rừng của em. Không ai đến đó.”

“William có thể tình cờ thấy nó.”

“Hãy nghe anh! Ở đó em sẽ an toàn hơn ở đây. Anh biết điều đó.”

“Mặc dù vậy em muốn ở lại đây.”

“Anh không muốn em ở đây,” cậu nói cay nghiệt.

“Vâng, bằng mọi giá em sẽ ở lại đây,” cô trả lời với một nụ cười, làm ngơ không để ý đến sự thô lỗ của cậu.

Jack dằn cơn giận lại. Không nên tranh luận một khi cô ấy đã quyết định: cô ấy cứng đầu như một con la. Cậu đổi giọng van lơn: “Aliena, anh sợ những gì sẽ xẩy ra vào ngày mai.”

“Em cũng sợ nữa,” cô nói. “Và em nghĩ chúng ta sẽ cùng nhau sợ.”

Cậu biết cậu nên chiều theo ý cô một cách êm thắm, nhưng cậu quá lo lắng. “Vậy thì mặc kệ em,” cậu giận dữ nói rồi đi ra.

Cậu đứng ngoài trời, hít thở không khí ban đêm. Một lúc sau cậu bình tĩnh lại. Cậu vẫn còn lo lắng kinh khủng, nhưng thật ngu dại để giận nhau: có thể cả hai sẽ cùng chết vào buổi sáng nay.

Cậu đi vào lại. Cô vẫn đứng ở chỗ cũ như lúc cậu đi, buồn bã. “Anh yêu em,” cậu nói. Họ ôm nhau và đứng như thế một lúc lâu.

Khi cậu đi ra, mặt trăng đã lên. Cậu nguôi ngoai đi khi nghĩ rằng Aliena có thể đúng: ở đây cô có thể an toàn hơn ở trong rừng. Ở đây ít nhất cậu sẽ biết nếu cô gặp khó khăn, và có thể làm mọi cách để bảo vệ cô.

Cậu biết cậu sẽ không ngủ được nếu bây giờ cậu lên giường. Cậu có một nỗi sợ hãi ngu ngốc là mọi người sẽ ngủ quên đến khi mặt trời lên, lúc mà quân của William tiến vào tàn phá. Trong lo âu cậu đi quanh một góc thị trấn. Thật kỳ lạ là cho đến ngày nay Kingsbridge đã không có một bức tường thành. Bức tường đá mới xây tới thắt lưng, chưa cao đủ. Hàng rào cao đủ nhưng vẫn còn nhiều lỗ trống để một trăm người có thể cưỡi ngựa đi qua trong thời gian ngắn. Thành lũy bằng đất đã cao nhưng một con ngựa tốt vẫn có thể nhẩy qua được. Còn nhiều việc phải làm.

Cậu dừng lại nơi mà trước đây là cây cầu qua sông. Nó đã được gỡ ra thành từng mảnh, và từng bộ phận đã được cất trong tu viện. Cậu nhìn dòng nước tràn ngập ánh trăng. Cậu thấy bóng người đi dọc theo hàng rào gỗ, và rùng mình sợ hãi nhưng đó là Tu viện trưởng Philip, người cũng mất ngủ như cậu.

Trong lúc này mối ác cảm của Jack đối với Philip đã bị lu mờ bởi sự đe dọa từ William, và Jack không còn cảm thấy bất hòa với Philip. Cậu nói: “Nếu chúng ta sống sót sau biến cố này, chúng ta sẽ xây lại bức tường, từng bước một.”

“Tôi đồng ý,” Philip nhiệt tình nói. “Chúng ta nên có kế hoạch xây dựng bức tường đá quanh thị trấn trong vòng một năm.”

“Ngay tại đây, nơi cây cầu bắc qua sông này, tôi sẽ xây một cổng gác để ngăn người từ ngoài vào mà không cần tháo gỡ cây cầu.”

“Các tu sĩ chúng tôi không giỏi trong việc tổ chức phòng thủ thị trấn.”

Jack gật đầu. Các tu sĩ không được phép tham gia vào những việc liên quan đến bạo lực. “Nhưng nếu ông không tổ chức, ai sẽ là người làm chuyện đó?”

“Em của Aliena, Richard, thì sao?”

Jack giật mình vì ý tưởng đó, nhưng sau một lúc suy nghĩ cậu thấy nó là một ý kiến tốt. “Cậu ấy sẽ làm điều đó tốt, nó sẽ giúp cậu ấy không còn lười biếng và tôi sẽ không phải chu cấp cho cậu ấy nữa,” cậu nhiệt tình nói. Cậu nhìn Philip với sự ngưỡng mộ miễn cưỡng. “Ông chẳng bao giờ ngừng suy nghĩ.”

Philip nhún vai. “Tôi ước muốn tất cả vấn đề của chúng ta có thể giải quyết đơn giản như vậy.”

Tâm trí Jack trở lại với bức tường. “Tôi cho rằng từ bây giờ Kingsbridge sẽ là một thị trấn được bao bọc đời đời.”

“Không phải đời đời, nhưng chắc chắn cho đến ngày Chúa Giê Su trở lại.”

“Chúng ta sẽ thấy,” Jack nói một cách suy đoán. “Có thể một ngày nào đó những kẻ mọi rợ như William Hamleigh không còn quyền lực nữa, một ngày nào đó luật pháp sẽ bảo vệ những người dân thay vì đàn áp họ và vua chúa gây dựng hòa bình thay vì chiến tranh. Hãy nghĩ về một ngày các thị trấn của nước Anh sẽ không cần đến tường thành nữa!”

Philip lắc đầu. “Đó chỉ là tưởng tượng,”ông nói. “Nó sẽ không xẩy ra trước ngày tận thế.”

“Tôi không nghĩ như thế.”

“Đã đến gần nửa đêm rồi. Chúng ta phải bắt đầu lại thôi.”

“Philip, trước khi ông đi…”

“Chuyện gì vậy?”

Jack hít một hơi dài. “Nó vẫn còn đủ giờ để thay đổi kế hoạch của chúng ta. Chúng ta có thể di tản thị trấn vào ngày mai.”

“Cậu sợ à, Jack?” Philip nói, không một ác ý.

“Vâng. Nhưng không phải vì tôi, mà vì gia đình tôi.”

Philip gật đầu. “Hãy nghĩ như thế này. Nếu cậu rời đi bây giờ, có thể cậu sẽ an toàn ngày mai. Nhưng William có thể trở lại vào ngày khác. Nếu chúng ta cho cậu ấy cơ hội ngày mai, chúng ta sẽ luôn sống trong sợ hãi. Cậu, tôi, Aliena và cả Tommy nhỏ bé nữa, nó sẽ lớn lên trong sợ hãi vì William hay một người nào đó giống William.”

Ông ấy có lý, Jack nghĩ. Nếu muốn cho các trẻ em giống như Tommy được lớn lên trong tự do, bố mẹ của chúng không được phép trốn chạy khỏi William.

Jack thở dài. “Được.”

Philip đi kéo chuông. Ông là một nhà lãnh đạo, người canh giữ hòa bình, lo lắng cho công bằng và không đàn áp người nghèo dưới quyền ông, Jack nghĩ. Nhưng ông có phải thực sự sống độc thân để làm chuyện đó không?

Tiếng chuông vang lên. Đèn được thắp lên sau các ngôi nhà còn đóng cửa, và các thợ thủ công lững thững đi ra, tay dụi mắt và còn ngáp dài. Họ bắt đầu công việc một cách chậm chạp, và một số người lao động nổi nóng khi nói chuyện với nhau; nhưng Philip đã ra lệnh cho lò bánh của tu viện và chẳng bao lâu họ sẽ có bánh nóng và bơ tươi, và mọi người hài lòng.

Vào lúc bình minh Jack đi một vòng với Philip. Ánh mắt họ nhìn vào cuối chân trời còn tối, lo sợ dấu hiệu xuất hiện của những kỵ binh. Hàng rào bên bờ sông đã hầu như hoàn thành, các thợ mộc dồn sức làm nốt một vài mét còn lại. Ở phía bên kia, tường lũy bằng đất đã cao bằng đầu người, và thông hào phía ngoài đã sâu ba bốn bộ: một người với cố gắng có thể trèo lên được, tuy nhiên họ phải xuống ngựa. Bức tường đã cao bằng đầu người, nhưng ba bốn hàng đá phía trên vẫn còn yếu, bởi vì vữa chưa đủ khô. Tuy nhiên, quân thù sẽ không biết điều đó cho đến khi họ cố gắng vượt qua bức tường.

Ngoài những khoảng trống trong hàng rào, hầu hết công việc đã được thực hiện và Philip ban hành lệnh mới. Các cư dân lớn tuổi và trẻ em đi tới tu viện và trú ẩn trong phòng ăn. Jack hài lòng: Aliena có thể ở với Tommy đàng sau chiến tuyến. Các thợ chuyên môn tiếp tục xây dựng, nhưng một vài người lao động trở thành binh lính dưới sự điều khiển của Richard. Mỗi nhóm chịu trách nhiệm phòng thủ phần tường họ đã xây dựng. Những cư dân có cung tên sẽ sẵn sàng ở các bờ tường và bắn tên xuống quân thù. Những người không có vũ khí sẽ ném đá xuống và họ đã chuẩn bị kho dự trữ đá. Nước sôi cũng là một vũ khí hữu dụng, và các vạc nước đã được nấu sẵn để đổ xuống kẻ tấn công ở một số vị trí chiến lược. Nhiều cư dân có gươm, nhưng chúng chỉ là vũ khí hữu dụng khi chiến đấu tay đôi.

Jack đã thức từ bốn mươi tám giờ qua. Đầu cậu nhức và mắt cậu chẩy nước mắt. Cậu ngồi trên mái nhà gần bờ sông và nhìn qua cánh đồng, trong khi các thợ mộc cố hoàn tất phần hàng rào còn lại. Bất ngờ cậu nhận ra rằng quân của William có thể bắn tên lửa vào đốt thị trấn mà không cần vượt qua bức tường. Mệt mỏi cậu xuống khỏi mái nhà và lên đồi tới khu tu viện. Ở đó Richard cũng có cùng suy nghĩa, và cậu đã phân công một số tu sĩ lo các thùng và xô nước ở một số địa điểm chiến lược xung quanh các góc thị trấn.

Cậu vừa rời tu viện khi cậu nghe tiếng gì vang lên như tiếng hét cảnh báo.

Tim đập mạnh, cậu trèo lên mái nhà chuồng bò và nhìn qua cánh đồng về hướng tây. Trên con đường dẫn đến cây cầu, một dặm hay hơn, một đám mây bụi tiết lộ một nhóm lớn kỵ binh đang đến.

Cho đến thời điểm này tất cả mọi chuyện dường như có một chút gì đó không thật; nhưng bây giờ những người muốn tàn phá Kingsbridge đã ở đây, đang đi trên đường và bất ngờ sự nguy hiểm trở thành ghê gớm thật sự.

Jack bất ngờ muốn đi tìm Aliena, nhưng không còn giờ nữa. Cậu nhẩy xuống khỏi mái nhà và chạy xuống đồi, tới bên bờ suối. Một đám đông đang tập hợp xung quanh lỗ hổng cuối cùng. Họ đang đóng gạc xuống đất, lấp đầy khoảng trống và vội vàng đóng đinh hai thanh gỗ chắn và kết thúc công việc. Hầu hết cư dân tập trung ở đây, ngoài những người đã trú ẩn trong nhà ăn. Một vài phút sau khi Jack đến, Richard chạy xuống la lớn: “Không có ai ở phía bên kia của thị trấn! Có thể có nhóm khác lẻn sau lưng chúng ta. Hãy về vị trí của các ông. Nhanh lên!” Khi họ di chuyển, cậu lẩm bẩm với Jack: “Không có kỷ luật – không có kỷ luật gì cả.”

Jack nhìn qua cánh đồng khi đám mây bụi đến gần và những hình dạng của từng kỵ binh rõ dần. Họ giống như những con quỷ từ hỏa ngục, cậu nghĩ, họ chỉ có trong đầu sự chết và hủy diệt. Chúng tồn tại vì các bá tước và vua chúa cần chúng. Philip có thể ngu dại trong vấn đề tình yêu và hôn nhân, Jack nghĩ, nhưng ít nhất ông tìm ra cách lãnh đạo một cộng đoàn mà không cần sự giúp đỡ của những con người tàn ác như thế này.

Nó là một khoảng khắc kỳ lạ cho những suy nghĩ như thế này. Có phải đó là những thứ mà người ta nghĩ khi họ sắp chết?

Các kỵ binh đến gần. Có hơn năm mươi người, nhiều hơn Richard dự đoán. Jack cho rằng con số lên đến gần một trăm. Chúng hướng về chỗ nơi cây cầu cũ; rồi chúng đi chậm lại. Jack lên tinh thần khi chúng kìm ngựa lại ở phía bên kia sông. Khi chúng nhìn chằm chằm qua dòng nước vào bức tường thành mới, vài người gần Jack cất tiếng cười. Những người khác tham gia thêm và rồi tiếng cười lây lan như cháy rừng, vì thế mà chẳng bao lâu sau, năm mươi, một trăm rồi hai trăm người cười to vào mặt những binh lính xấu hổ vì bị mắc kẹt bên kia bờ sông, không có ai để đánh.

Một số kỵ binh xuống ngựa và đứng ngổn ngang. Nhìn qua đám sương ban sáng, Jack nghĩ cậu có thể nhìn thấy mái tóc vàng và khuôn mặt đỏ của William Hamleigh ở giữa đám đông, nhưng cậu không chắc chắn.

Một lúc sau họ lên ngựa, tụ họp lại và đi khỏi. Dân chúng Kingsbridge bùng lên reo mừng. Nhưng Jack không nghĩ William đã bỏ cuộc. Chúng không đi lại con đường chúng đã đến. Thay vào đó chúng đi theo dòng sông về hướng thượng nguồn. Richard đến bên Jack và nói: “Chúng đi tìm chỗ cạn. Chúng sẽ qua sông và đi qua rừng để đến bằng phía khác. Hãy loan tin này cho các người khác.”

Jack đi nhanh quanh bức tường, chuyển tiếp dự đoán của Richard. Về hướng bắc và đông thị trấn, bức tường bằng đất hay bằng đá, nhưng không có sông. Về phía này bức tường nối liền với tường phía đông của khu tu viện, chỉ một vài bước xa nhà ăn, nơi Aliena và Tommy đang trú ẩn. Richard đã chỉ định Oswald, người bán ngựa, và Dick Richards, người con của thợ thuộc da, ở trên mái nhà bệnh xá với cung tên của họ: họ là những xạ thủ giỏi nhất trong thị trấn. Jack đi đến góc phía đông bắc và đứng trên thành lũy bằng đất, nhìn qua cánh đồng đến khu rừng mà quân của William sẽ xuất hiện.

Mặt trời lên trên bầu trời. Nó là một ngày nóng, không gợn mây. Các tu sĩ đến xung quanh bức tường, mang theo bánh và bia. Jack tự hỏi William sẽ đi bao xa về phía thượng nguồn. Có một chỗ cách đây một dặm, nơi một con ngựa tốt có thể bơi qua, nhưng nó trông có vẻ nguy hiểm cho một người lạ, và William có lẽ đi một vài dặm xa hơn cho đến khi cậu ấy tới một chỗ cạn.

Jack băn khoăn không biết Aliena ra sao. Cậu muốn đến nhà ăn để thăm cô, nhưng cậu không muốn rời bức tường; bởi vì nếu cậu làm thế, những người khác sẽ làm theo và bức tường không còn người bảo vệ.

Trong khi cậu đang chiến đấu chống lại cám dỗ thì một tiếng hét vang lên, và các kỵ binh lại xuất hiện.

Chúng ra khỏi khu rừng phía đông, vì thế mà ánh mặt trời chiếu thẳng vào mắt cậu khi cậu nhìn chúng: không nghi ngờ gì, đó là cố ý. Cậu nhận ra chúng phi nhanh đến – chúng muốn phá hủy tường thành. Những con ngựa phi nước đại trên cánh đồng. Một hai cư dân bắn tên xuống, Richard đứng gần Jack tức giận hét lên: “Còn quá sớm! Hãy đợi cho đến khi chúng vào trong hào – khi đó các ông sẽ không thể bắn hụt!” Chỉ vài người nghe lời cậu, và một loạt mưa tên lãng phí rơi xuống trên cánh đồng lúa mì màu xanh. Chúng ta là một đội quân vô vọng, Jack nghĩ, chỉ có bức tường mới cứu được chúng ta.

Cậu có một cục đá nơi tay và tay kia cầm ná giống như cái cậu đã dùng khi còn bé để săn vịt trời. Cậu băn khoăn không biết cậu còn nhắm giỏi không. Cậu nhận ra cậu đang cầm vũ khí quá chặt và cậu buộc mình phải thư giãn ra. Viên đá có hiệu quả chống lại vịt trời, nhưng nó quá thô sơ chống lại những người có vũ khí ngồi trên lưng ngựa, những người đến nhanh như vũ báo. Cậu nuốt nước bọt. Một vài kẻ địch có cung và tên lửa, cậu nhìn thấy; và một lúc sau cậu nhận ra những người có cung tên tiến về phía tường đá, và những người khác về phía thành đất. Điều đó có nghĩa là William đã quyết định không tấn công tường đá: cậu ấy đã không nhận ra rằng vữa quá mới đến nỗi bức tường có thể xô đổ bằng tay. Cậu ấy quá ngu dốt. Jack cảm thấy một chút chiến thắng.

Rồi kẻ tấn công tới gần bức tường.

Cư dân thị trấn bắn như mưa, nhưng chỉ có số ít trúng tên. Những con ngựa đã đến thông hào. Một số ngần ngại, một số nhẩy xuống và trèo lên phía bên kia. Ngay lập tức, đối diện với Jack, một người to lớn mặc áo giáp cho con ngựa nhẩy qua hào. Jack nạp đá vào ná và bắn. Phát bắn của cậu chắc chắn như mọi khi: viên đá trúng ngay chóp mũi con ngựa. Nó hí vang đau đớn và chạy đi, nhưng người cưỡi ngựa trượt xuống và rút gươm ra.

Hầu hết các con ngựa đã quay lại, vì tự ý hay do người cưỡi sai khiến chúng; nhưng nhiều người đi bộ tấn công và những người khác đã quay trở lại. Liếc nhìn về phía sau, Jack thấy nhiều mái nhà đang bốc cháy, bất chấp sự cố gắng của nhân viên cứu hỏa – những phụ nữ trẻ của thị trấn – để dập tắt lửa. Một ý tưởng kinh hoàng đến trong đầu Jack rằng mọi việc không ổn thỏa. Mặc dù những nỗ lực anh hùng trong ba mươi sáu giờ qua, những người tàn ác này sẽ vượt qua bức tường, đốt cháy thị trấn và tàn sát dân chúng.

Viễn cảnh phải chiến đấu tay đôi làm Jack kinh hoàng. Cậu chưa bao giờ học chiến đấu, chưa bao giờ dùng gươm – ngay cả cậu chẳng có vũ khí nào – và kinh nghiệm duy nhất cậu có về chiến tranh là khi Alfred đánh cậu. Cậu cảm thấy bất lực.

Các kỵ binh chiến đấu lại và những người đã mất ngựa trèo lên thành lũy bằng chân. Đá và tên rơi trên chúng. Jack dùng ná bắn đá của cậu một cách hệ thống, nạp đá rồi bắn, nạp đá rồi bắn giống như một cái máy. Nhiều kẻ tấn công bị ngã xuống dưới cơn mưa đá và tên. Ngay trước mặt Jack một kỵ binh ngã xuống và rơi mất chiếc mũ sắt, để lộ mái tóc vàng: đó chính là William.

Không một con ngựa nào lên được đến đỉnh của thành lũy đất, nhưng một vài người đi bộ đã lên tới nơi, và trước sự kinh hoàng của Jack, cư dân thị trấn phải đánh nhau với họ, chống lại kiếm và giáo bằng gậy và búa rìu. Một số kẻ thù đã lên tới đỉnh, và Jack thấy ba bốn cư dân gần cậu ngã xuống. Trái tim cậu trĩu nặng kinh hoàng: cư dân thị trấn đã ngã xuống.

Nhưng tám hay mười cư dân bao quanh mỗi kẻ tấn công khi chúng vượt qua bức tường, đập chúng bằng gậy và chém chúng không thương tiếc bằng rìu. Mặc dù nhiều cư dân bị thương, nhưng các kẻ tấn công bị giết nhanh chóng. Sau cùng cư dân dồn được chúng xuống dưới thành lũy. Cuộc tấn công không kết quả và các kỵ binh trên lưng ngựa chạy lui chạy tới. Jack buông tay, thở mạnh, mừng vì có một phút nghỉ ngơi, sợ hãi chờ đợi cuộc tấn công tiếp của đối phương.

William dơ gươm lên trời và hò hét để thu hút sự chú ý của quân cậu. Cậu vẫy thanh kiếm trên đầu ra lệnh tập hợp họ lại, rồi chỉ vào tường thành. Họ chuẩn bị tấn công bức tường một lần nữa.

Jack thấy một cơ hội.

Cậu nhặt một viên đá, nắp vào ná và nhắm cẩn thận vào William.

Viên đá bay trong không khí thẳng như đường của một thợ xây và trúng ngay giữa trán William, quá mạnh đến nỗi Jack nghe thấy tiếng kêu của đá đập vào xương.

William ngã xuống đất.

Quân ông do dự và cuộc tấn công dừng lại.

Một người đàn ông da đen to lớn nhẩy xuống khỏi ngựa và chạy đến bên William. Jack nhận ra người cận thần của William, Walter, người luôn luôn đi bên cạnh cậu ấy. Vẫn giữ dây cương, Walter quỳ xuống bên William. Lúc đó Jack hy vọng William sẽ chết. Rồi William chuyển động và Walter giúp cậu ấy đứng lên. William choáng váng. Mọi người ở cả hai phía đều nhìn họ. Trận mưa đá và tên ngừng lại trong chốc lát.

Vẫn còn loạng quoạng, William trèo lên ngựa của Walter, với sự giúp đỡ của Walter, người trèo lên ngồi sau lưng cậu. Đó là khoảnh khắc của hồi hộp khi mọi người băn khoăn không biết William có thể tiếp tục chiến đấu nữa không. Walter vẫy kiếm thành vòng tròn trên đầu như ra hiệu tập hợp, rồi, trong sự thở phào không chờ đợi của Jack, ông ấy chỉ vào rừng.

Walter thúc vào hông ngựa và chúng chạy đi.

Các kỵ binh khác theo sau. Những người còn đang chiến đấu trên thành lũy bỏ cuộc, lùi lại và chạy xuyên qua cánh đồng theo chân người chỉ huy của chúng. Một vài viên đá và mũi tên đuổi theo họ trên cách đồng lúa mì.

Cư dân thị trấn reo hò.

Jack nhìn xung quanh cậu, cảm thấy choáng váng. Mọi chuyện đã qua rồi sao? Cậu không tin được điều đó. Ngọn lửa cháy đã tàn – các phụ nữ đã thành công dập tắt chúng. Các đàn ông nhẩy múa trên thành lũy, ôm nhau. Richard trèo lên chỗ cậu và vỗ vào lưng cậu. “Bức tường đã cứu chúng ta, Jack,” cậu nói. “Bức tường của anh.”

Cư dân thị trấn và các tu sĩ tụ họp xung quanh hai người, tất cả muốn chúc mừng Jack và chúc mừng nhau.

“Chúng có đi thật không?” Jack hỏi.

“Ồ, dĩ nhiên,” Richard trả lời. “Chúng sẽ không trở lại, bây giờ chúng đã nhận ra rằng chúng ta quyết tâm phòng thủ. William biết rằng cậu ấy không thể chiếm được một thị trấn có tường bao bọc nếu cậu không có một đội quân mạnh mẽ và chuẩn bị một cuộc vây hãm sáu tháng.”

“Như vậy là nó đã qua đi,” Jack thẫn thờ nói.

Aliena chen lấn qua đám đông với Tommy trên tay. Jack ôm cô trong tay. Họ vẫn sống và họ ở cùng với nhau, và cậu mang tâm tình biết ơn.

Bất ngờ cậu cảm thấy ảnh hưởng của hai ngày không ngủ, và cậu muốn nằm xuống. Nhưng không có thể. Hai người thợ xây trẻ nắm lấy cậu và nâng cậu lên vai họ. Tiếng hoan hô vang lên. Họ di chuyển, kéo theo đám đông. Jack muốn nói với họ rằng không phải cậu là người đã cứu họ, nhưng chính họ đã cứu họ; nhưng cậu biết họ không nghe bởi vì họ muốn một anh hùng. Khi tin lan truyền đi, và cả thị trấn nhận ra rằng họ đã thắng, tiếng reo mừng như vũ báo. Họ đã sống trong sợ hãi vì William nhiều năm nay, Jack nghĩ, nhưng hôm nay họ đã giành được sự tự do của họ. Cậu được khênh đi quanh thị trấn trong một cuộc rước khải hoàn, vẫy tay và mỉm cười, và khao khát đến lúc được nằm xuống, nhắm mắt lại trong giấc ngủ hạnh phúc.


Nguồn: Dịch giả: VNthuquan.net -Thư viện Online
Được bạn:Ct.Ly đưa lên
vào ngày: 17 tháng 1 năm 2017

« Lùi
Tiến »

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của ken follett