Như Nguyệt

Lượt đọc: 83 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VII

❊ ❊ ❊

Lý Thường Kiệt cho ngựa chạy dọc theo bờ nam để quan sát địa thế, tìm chỗ đóng đại bản doanh để tiện trực tiếp chỉ huy quân sĩ chặn giặc vượt sông.

Bỗng ông nhìn thấy ở chỗ cửa sông có một ngôi đền cổ kính nằm khuất trong đám cây lá um tùm. Ông dừng ngựa trước cổng đền, gọi to:

- Trong đền có ai không, ra cho ta hỏi nhờ một tí.

Một ông già râu tóc bạc phơ như cước, từ trong lật đật bước ra, trông thấy một vị tướng nhung phục uy nghi, vội cung kính vái chào:

- Kính chào tướng công, tôi là thủ từ ở đền này, vâng lệnh đòi, xin ra hầu tiếp. Chẳng hay tướng công có điều chi cần hỏi ạ?

Lý Thường Kiệt chỉ ngôi đền, hỏi:

- Ông từ cho ta hỏi, ngôi đền này thờ vị thần nào vậy? Ông từ vồn vã:

- Xin mời tướng công quá bộ vào đền ngồi chơi, rồi tôi sẽ xin thưa.

Ông từ mời Thường Kiệt ngồi trên tràng kỷ gian bên chính diện, chắp tay đứng hầu. Thường Kiệt vui vẻ:

- Mời ông cứ ngồi, rồi kể cho ta nghe.

Ông từ chối không được đành khép nép ngồi ở mép trường kỷ phía bên kia và nói:

- Bẩm tướng công, tôi được cha tôi truyền lại cho cái chân thủ từ ở đền này nên mới biết qua sự tích: vị tôn thần thờ ở đây vốn là hai anh em ruột, tên húy là Trương Hống, Trương Hát, trước theo Lý Nam Đế, đến khi Nam Đế mất, thì làm tướng thờ Triệu Việt Vương, đã đánh thắng quân Lương nhiều trận trên sông Như Nguyệt này. Đến khi Lý Phật Tử làm phản Triệu Việt Vương, cho người mời hai ông ra giúp việc. Hai ông đều chối và trốn vào trong núi Phù Long. Lý bèn mưu giết đi, cho nên hai ông uống thuốc độc tự tử. Theo truyền thuyết thì đến đời Ngô Xương Văn đi đánh giặc Lý Huy ở châu Tây Long, đóng quân ở cửa Phù Lan. Hai thần hiện lên xin giúp. Sau khi giặc tan, vua Ngô phong cho anh, Trương Hống làm Đại dương giang đô hộ quốc thần vương và sai lập đền thờ ở cửa sông Như Nguyệt. Vua Ngô lại phong cho em, Trương Hát, làm Tiểu dương giang đô hộ quốc thần vương, và sai lập đền thờ ở cửa sông Nam quân52. Nhưng hiện nay, ngoài một số cụ già ra, không mấy người biết được gốc tích ấy, nên tưởng ngôi đền cũng chỉ thờ một vị thần bình thường nào đó thôi. Ngay đến già này, từ thuở sinh ra đã ở trong ngôi đền, ấy thế mà nhiều khi cũng không trông thấy đền nữa...

Lý Thường Kiệt gật đầu:

- Lão trượng nói đúng, cái gì quen quá, ta hay coi thường…

Ông từ bỗng sôi nổi:

- Nhưng từ ngày quân Tống động binh đến nay, lúc nào tôi cũng trông thấy ngôi đền sừng sững trước mắt. Những đêm trăng bóng đền in vằng vặc xuống đáy nước. Cứ mỗi buổi sáng trông thấy ngôi đền vẫn soi mình xuống dòng sông, là mọi người lại cảm thấy yên lòng.

Lý Thường Kiệt cảm khái:

Ngôi đền ấy chỉ những lúc quốc gia hữu sự, người ta mới cảm thấy hết cái linh thiêng của nó. Đền in bóng xuống sông, đất tựa mình vào nước, đất nước có hồn thiêng luôn thôi thúc mọi người quên mình để bảo vệ nó... Lão trượng cho ta ngắm qua hình thế ngôi đền một chút...

Ông niềm nở:

- Xin tướng công cứ tự nhiên. Xin phép tướng công cho tôi đi pha trà để người dùng...

Ông từ xuống nhà bếp. Lý Thường Kiệt bước ra sân, nhìn bao quát cảnh ngôi đền. Ông chợt nhận thấy dáng ngôi đền sao mà giống con thuyền nổi trên mặt nước. Cũng kiểu nhà lòng thuyền với những bộ phận tàu mái, lá lầu, then tàu giống như ở trên thuyền. Còn sân đình thì gợi lên cái sạp thuyền quen thuộc. Ngôi đền chính là hình ảnh con thuyền. Hai bên tả hữu đền có sân đền, còn lòng đền, phần giữa, nơi tế chính, không có sàn, cũng gọi là “lòng thuyền”. Các thửa ruộng quanh đền có những đống hình mũi thuyền, cột buồm, bánh lái... Chắc hẳn những người dân trước kia từng dọc ngang sông nước, nay lên đất liền định canh định cư, đã tái hiện lại hình ảnh con thuyền trong kiến trúc ngôi đền. Việc Trương Hống, Trương Hát hiện lên giúp Ngô Xương Văn đánh giặc, không biết có đúng sự thật không, chỉ biết rằng chiếc thuyền của hai ông xưa vẫn thường qua lại trên sông Như Nguyệt này, dân chúng vì cảm phục hai ông là người trung nghĩa, nên mới lập đền thờ theo kiểu con thuyền hai ông từng lướt sóng. Lý Thường Kiệt còn nghe vọng lại âm hưởng tiếng róc rách của sóng vỗ mạn thuyền, tiếng phần phật của lá buồm căng gió, tiếng gươm đao xô xát với giặc Lương khi xưa trên khúc sông này...

Lý Thường Kiệt bước vào trong đền. Phía trên chính giữa là bức hoành đề bốn chữ “Nam quốc sơn hà”. Phía sau bức mành mành là ngai thờ thần tượng. Phía ngoài là hương án trên đặt đỉnh đồng, mâm đồng, bình hương bằng gỗ sơn son thiếp vàng và lọ hoa bằng gốm màu da lươn, khắc chìm hình chim và sóng nước.

Mái đền lợp ngói âm dương, nền lát gạch vuông, trên mỗi viên gạch vuông khắc chìm hình quả trám và cánh hoa thị in nổi, nằm chéo viên gạch, khoảng còn lại khắc nổi một phần tư hình hoa cúc. Bốn viên giáp lại thấy rõ hình hoa thị bốn cánh và hoa cúc.

Mắt Lý Thường Kiệt dừng lâu trên bức hoành đề bốn chữ Nam quốc sơn hà. Phải rồi, hai ông là tướng của Nam Đế, Nam Đế thì tức là vua của Nam quốc sơn hà. Ông chợt nghĩ ra một câu: Nam quốc sơn hà Nam đế cư. Làm được câu đầu, ông nảy ra hứng muốn làm tiếp câu thứ hai. Ông lấy giấy bút trên hương án xuống và ghi lại câu đầu. Nhưng viết tiếp thế nào đây? Từ cái năm mười tám tuổi, ông ngồi đọc sách ở ngôi nhà tranh phường Thái Hòa, đọc quyển Đường thi đến bài Tòng quân hành của Dương Quýnh, có câu Ninh vi bách phụ trưởng, Thắng tác nhất thư sinh53, ông phẫn khích, quăng sách, đi theo con đường võ nghệ để giết giặc cứu nước. Từ bấy đến nay, lăn lộn trong vòng mũi tên hòn đạn, khi rảnh rỗi chỉ đọc binh thư, không có lúc nào trau dồi văn thơ, biết làm thơ ra sao bây giờ? Ông chợt nhớ đến cuốn binh thư ông từng đọc, trong có chương về Thiên văn, trong đó nói: các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Kinh Bắc, Sơn Nam thượng đứng vào độ thứ 14 phân dã sao Chẩn, các xứ Yên Quảng, Hải Dương, Sơn Nam Hạ, đứng vào độ thứ bảy phân dã sao Nữ. Theo như vậy, bờ cõi của từng nước đã định phận theo vị trí của các vì tinh tú trên trời. Ông nghĩ ra câu thứ hai:

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư

Cương giới từng nước, phận sao đã có chia rõ, vậy mà giặc Tống tham lam, ngông cuồng, đem quân sang cướp nước ta. Lòng căm thù giặc sôi sục, khiến ông viết liền một hai câu thứ ba và thứ tư:

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư

Ông từ mang lên một cái khay, trên có cái ấm hình quả dưa bở, tráng men vàng ngà, miệng ấm cao thắt nhỏ lại, vòi ấm gắn sát miệng ấm, chung quanh miệng ấm trang trí in nổi một hàng cánh sen nhọn đầu, thân ấm phần giữa để trơn, nhưng phần sát đáy ấm lại khắc chìm hình sóng nước. Ông rót trà vào một cái chén gốm men xanh ngọc, dâng lên:

- Kính mời tướng công dùng trà.

Lý Thường Kiệt nhấp một ngụm trà sen, cảm thấy tâm thần khoan khoái sau khi vừa nghĩ thơ, đầu óc căng thẳng.

Ông từ nhìn thấy bài thơ đặt trên bàn, hỏi:

- Bài thơ này của tướng công vừa làm?

Lý Thường Kiệt hỏi:

- Lão trượng đọc được chứ?

- Bẩm, già cũng võ vẽ dăm ba chữ.

- Lão trượng thử đọc lên xem nào.

Ông từ cầm bài thơ lên đọc:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư,

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư54

Thơ của tướng công quả là thần cú.

Lý Thường Kiệt mỉm cười:

- Không phải ta làm đâu. Số là thế này, vừa rồi ta mệt quá chợt nhắm mắt thiu thiu ngủ, bỗng tôn thần hiện lên trong mộng đọc cho ta nghe một bài thơ, ta sực tỉnh liền lấy giấy bút ghi lại lời thơ thần đọc đấy thôi!

- Thơ thần làm chẳng trách được tuyệt diệu như vậy. Bẩm tướng công, bữa trước cũng có một bậc sĩ phu đến lễ đền, xin ngủ lại đền một đêm, để cầu thần ứng mộng cho thơ giáng bút. Vậy mà suốt đêm đến sáng vẫn không thấy thần hiện lên. Hẳn ngài phải phúc phận to lắm, mới được thần hiển linh như vậy. Dám hỏi quý hiệu ngài là gì ạ, để tôi xin ghi lại việc ngôi phúc tinh giáng lâm ngôi đền này hôm nay, để truyền lại đời sau.

Lý Thường Kiệt nói:

- Ta là Kiểm hiệu Thái úy Lý Thường Kiệt, đô nguyên soái đoàn quân đánh Tống...

Ông từ reo lên:

- Thì ra là Lý Thái úy. Già này có mắt không ngươi, xin quan Thái úy đại xá cho. Già này muốn xin điều này có được không ạ?

- Lão trượng cứ nói:

- Xin tướng công cho phép già được chép lại bài thơ này, truyền cho mọi người, nói là thần giáng bút, thì ai ai cũng đều mừng rỡ tin theo vì đó là thiên mệnh:

- Được, lão trượng cứ việc chép.

Ông từ chép bài thơ, xong cung kính bỏ vào trong ống hương trên bàn thờ. Lý Thường Kiệt từ biệt ông từ, rồi trở về doanh trại.

---❊ ❖ ❊---

Phòng tuyến của Tống dọc theo bờ sông Phú Lương, từ địa phận Hiệp Hoà qua Việt Yên đến chân núi Nham Biền.

Quách Quỳ cho dịch đại bản doanh đến cạnh bến đò Như Thọ để tiện chỉ huy việc vượt sông. Nhưng trước mắt y lúc này không phải là một thành quách cô lập đồ sộ có thành cao, hào sâu quân Tống thường gặp trên đất chúng, mà là dòng sông Như Nguyệt chắn ngang, là tuyến phòng ngự kiên cố, là những trại quân san sát, cờ xí rợp trời, là quân đội Đại Việt đã dàn sẵn thế trận, từng binh đội luân phiên tuần giữ trên mặt thành, rất tề chỉnh và nghiêm mật.

Giờ đây, Quách Quỳ thấy, muốn tiến chiếm quốc đô Đại Việt không có cách gì khác hơn là phải phá vỡ phòng tuyến sông Như Nguyệt. Bởi thế, Quách Quỳ đã ra lệnh cho các đạo quân gấp rút dồn lên phía trước, cắm binh lập trại, chỉnh bị mọi mặt để sẵn sàng mở cuộc tiến công quy mô lớn đánh phá chiến tuyến sông Như Nguyệt.

Vào những ngày cuối tháng chạp năm Bính Thìn, Quách Quỳ, Triệu Tiết đã hội quân, dàn trận trên bờ bắc sông Như Nguyệt, đối diện với ta. Quách Quỳ chia quân thành hai đạo chính và kỳ. Đạo chính binh do Quách Quỳ trực tiếp chỉ huy, bố trí trên khu vực bắc Thị Cầu, đảm nhiệm tiến công trên hướng chủ yếu. Đạo kỳ binh do phó tướng Triệu Tiết chỉ huy, bố trí trên khu vực phía Bắc bến Như Nguyệt, đảm nhiệm tiến công trên hướng thứ yếu. Ngoài ra trên dải núi Nham Biền, phía cánh trái của đạo quân Quách Quỳ và trên hướng cánh phải của đạo quân Triệu Tiết đều có một bộ phận lực lượng quân Tống đóng giữ để bảo vệ cạnh sườn trong khoảng thời gian sắp xếp và thực hiện việc tấn công vào phòng tuyến sông Như Nguyệt. Một số lực lượng được rải ra chiếm đóng ở những nơi trọng yếu trên các trục đường, để bảo vệ cho các đội phu chiến chuyển vận quân lương từ phía sau lên mặt trận.

Vấn đề lớn nhất đối với quân Tống lúc này là phải có phương tiện để bảo đảm cho hàng vạn quân đồng thời vượt sông. Có như vậy mới tạo nên được sức mạnh trong tiến công để đột phá phòng tuyến của kẻ địch. Do đó, Quách Quỳ đã ra lệnh cho quân sĩ vào rừng chặt nứa, tre và phá nhà dân để lắp ghép bè mảng và cầu phao. Song đó chỉ là cách giải quyết tạm thời. Còn theo như kế hoạch thì lúc này đạo thủy binh của Dương Tùng Tiên phải tới đây hội chiến và đảm bảo vượt sông.

Thủy quân Tống đang ráo riết hội quân dàn trận tập trung lực lượng lớn trên hai hướng Thị Cầu và Như Nguyệt. Lý Thường Kiệt cũng tập trung tăng cường chuẩn bị sẵn sàng đánh địch tiến công đột phá trên khu vực này. Các thủy đội của ta liên tiếp tuần tiễu trên sông để kịp thời phát hiện và tiêu diệt các toán thám tử Tống trong khi chúng lợi dụng đêm tối bí mật vượt sông do thám.

Quân Tống đóng đối diện với chiến tuyến sông Như Nguyệt ở cự ly không xa, nhưng bị ta dùng kế nghi binh và che giấu nên việc quan sát của địch, gặp nhiều khó khăn. Quách Quỳ không nắm được ý đồ và cách bố phòng cụ thể bên ta, nên y còn lưỡng lự trong việc ra lệnh tiến công vượt sông đánh sang phòng tuyến Như Nguyệt.

Trong lúc đó, Miêu Lý, tướng hữu quân của Quách Quỳ phát hiện thấy quân ta cơ động lực lượng trên phía cánh trái của phòng tuyến, bèn đến đại bản doanh báo cáo với Quách Quỳ

- Bẩm Nguyên soái, giặc Man đã trốn đi, ta có thể thừa thế vượt sông được.

Quách Quỳ lo ngại:

- Ta muốn đợi thuyền từ ngoài bể vào, nên không cho các tướng tự tiện tấn công. Chiến tuyến của địch kiên cố như thế, ta không có thuyền thì làm sao qua sông được.

Miêu Lý thưa:

- Bẩm nguyên soái, Hoàng Kim Mãn vừa mách với tiểu tướng biết rằng đường từ bến đò Như Nguyệt đến Thăng Long rất gần. Tiểu tướng nghĩ rằng đại quân địch còn đóng ở động Giáp, chưa kịp rút về, vậy nên thừa hư mà qua sông ở bến đò Như Nguyệt là thượng sách.

- Tướng quân định kế hoạch như thế nào?

- Tiểu tướng xin lĩnh một đạo quân mạnh, có kỵ binh đi đầu, lợi dụng đêm tối vượt bến Như Nguyệt, đánh chiếm phòng tuyến bên địch, để mở đường cho đại quân ta.

Quách Quỳ lưỡng lự một hồi rồi chấp nhận, nhưng dặn thêm:

- Ta sẽ sai Vương Tiến giúp sức trong việc thu xếp phương tiện vượt sông cho đạo quân của ngươi. Phải hết sức cẩn thận đấy!

Ý đồ của Quách Quỳ là muốn dùng Miêu Lý đánh một trận mở đầu có tính chất thăm dò lực lượng và tìm hiểu thế trận của Lý Thường Kiệt. Nếu như đánh thắng, y sẽ thừa cơ đưa đại quân sang để phát huy chiến quả, mở rộng quy mô tiến công trên toàn cục.

Vào một đêm đầu tháng giêng năm Đinh Tỵ55, Miêu Lý dẫn một cánh quân, lợi dụng trời tối, bí mật bắc cầu phao qua sông.

Quân ta ở bến Như Nguyệt nam đã chủ động giấu lực lượng làm như đã rút quân để nhử quân Tống sang phục binh tiêu diệt. Với ý định như vậy, quân thủy ta ở bờ nam cũng như Vạn Xuân đã làm ngơ mặc cho quân Tống bắc cầu phao qua sông tương đối dễ dàng.

Miêu Lý thầm nghĩ mình đã xử lý trận này đúng phương châm mà sách Võ kinh đã nói: “Đằng trước có sông to, quân ta muốn vượt mà không có thuyền ghe, quân địch chặn mất đường về, quân xích hậu của nó canh luôn, những nơi hiểm trở bị giữ hết, quân dũng sĩ địch đánh cả trước sau thì ta nên làm thế nào? Thế thì phải chia quân ra làm ba: tiền quân làm hào cao lũy sâu như là cố thủ, hậu quân tích trữ lương thảo khiến địch không biết ý ta, rồi bất ngờ tung quân tinh nhuệ đánh úp vào chỗ nó không phòng bị. Không cách nào hay hơn thế”. Chính với sự chỉ dẫn của Hoàng Kim Mãn, Miêu Lý tưởng rằng đã phát hiện được chỗ “không phòng bị” của ta để bất ngờ bắc cầu phao, tung quân tinh nhuệ sang sông.

Quân Tống không giỏi về thủy chiến nhưng lại thành thạo trong nghệ thuật bắc cầu phao. Cầu phao đời Tống do Phàn Nhược Thủy chế ra, được coi như một phát hiện quan trọng trong phép hành quân đánh bộ. Cầu phao làm theo kiểu ghép các bè gỗ vào với nhau.

Mờ sáng, Miêu Lý tập trung lực lượng vượt sông, ráo riết đánh phá trận tuyến quân ta. Nhờ có ưu thế về binh lực, đạo quân Miêu Lý đã đột phá được một chiến tuyến ở Như Nguyệt. Chiếm được cầu phía nam ngạn, Miêu Lý phải đội kỵ binh đi tiên phong, thẳng đường tiến về Thăng Long. Các vệ quân chủ lực của ta phòng giữ trên chiến tuyến, lập tức cơ động tiến đánh cắt ngang đội hình, chiếm lại trận địa đã mất, không cho quân Tống tiếp tục sang sông.

---❊ ❖ ❊---

Lý Thường Kiệt đang ngồi trong đại bản doanh thì có tin báo Linh Nhân Hoàng Thái hậu ngự giá tới. Ông kinh ngạc không ngờ Thái hậu lại mạo hiểm ra chốn đầu tên mũi đạn này. Ông vội vàng sửa soạn nghênh tiếp.

Linh Nhân bước vào, mang mạng che mặt, trang phục gọn gàng như một nữ tướng. Lý Thường Kiệt chắp tay vái:

- Kính mừng Thái hậu. Không ngờ xa giá lại quang lâm chốn trận địa xa xôi này.

Linh Nhân vui vẻ:

- Chào quan Thái úy. Ta được biết nếu mất phòng tuyến Như Nguyệt thì cửa ngõ vào Thăng Long mở rộng, như vậy nơi này cũng là một cửa ô của Kinh đô, từ trong cung ra cửa ô có gì mà xa. Không được trực tiếp dùng cánh tay mình chém giặc như Bà Trưng, Bà Triệu ngày xưa, lòng ta cũng đã ân hận lắm rồi.

Lý Thường Kiệt kính cẩn:

- Tâu lệnh bà, đất nước cần cánh tay lệnh bà phê văn án trị nước yên dân, chứ không phiền tay Người chém giặc. Việc ấy đã có chúng tôi lo, lệnh bà cứ yên lòng.

- Lần trước quân Chiêm Thành sang xâm lược nước ta, ta đã giúp Thánh thượng trong việc trị nước, để người vững tâm đánh giặc. Nhưng lần ấy ta yên lòng hơn lần này, không phải chỉ vì quân Chiêm Thành không mạnh bằng quân Tống, mà vì lúc ấy có Thánh thượng là người đứng mũi chịu sào, ta chỉ có việc đỡ đần một tay... Nhưng lần này, sau khi trở thành một người đàn bà góa chồng, ta lại mất luôn cả người mà ta hằng nương tựa trong việc cầm quyền trị nước. Cảnh của ta không chỉ giống như chiếc thuyền gỗ bách nổi nênh trên mặt nước, mà chính ta phải là người lèo lái con thuyền quốc gia trong cơn bão tố. Sáng hôm nay, khi sửa soạn tới chiến trường ủy lạo tướng sĩ, ta soi gương chợt thấy mái tóc mình lốm đốm những sợi bạc...

Lý Thường Kiệt cảm động:

- Lệnh bà... - Ông nói lảng sang chuyện khác cho Linh Nhân vui - Tâu lệnh bà, hạ thần mới làm xong một bài thơ.

Linh Nhân ngạc nhiên:

- Quan Thái úy cũng làm thơ à? Sao bao nhiêu năm nay, chưa thấy khanh nói đến chuyện thơ phú bao giờ cả.

Lý Thường Kiệt khiêm tốn:

- Tâu lệnh bà, hạ thần vốn ít chữ, không ngờ vừa qua bỗng có hứng thơ, nên nẩy ra một bài, xin trình lệnh bà coi và phủ chính cho...

Ông đệ lên bài thơ Nam quốc sơn hà. Linh Nhân đỡ lấy bài thơ đọc, đọc xong mỉm cười.

Lý Thường Kiệt lo lắng:

- Chắc lệnh bà cười lời thơ non nớt của thần. Thì từ bé đến giờ, thần có làm thơ bao giờ đâu.

Linh Nhân lửng lơ:

- Bài thơ này hay mà cũng không hay...

- Tâu lệnh bà, nếu chỗ nào cần sửa, xin lệnh bà cứ chỉ dạy.

Linh Nhân dằn từng tiếng một:

- Nếu trận này mà không thắng thì bài thơ không hay...

Lý Thường Kiệt vụt hiểu:

- Hạ thần hiểu rồi, hiểu rồi. Hạ thần xin viết bài thơ thứ hai bằng chiến công để bảo vệ cho sự trường tồn của bài thơ thứ nhất.

Linh Nhân nghiêm trang:

- Khanh hiểu đúng ý ta đó. Nếu đất nước này mà không còn nữa, thì văn chương của nước này dù hay đến đâu cũng không thể tự bảo tồn. Cốt cách của bài văn cũng nhờ cái xương sống thẳng của con người mà dựng lên được - Ngừng một lát, Linh Nhân lại tiếp, giọng tha thiết - Sáng hôm nay rời Thăng Long, ta đi qua chỗ xây tháp Đại thắng tư thiên, được nhìn thấy một cảnh cảm động: một người thợ xây vờn nốt một đường cong đỉnh tháp, rồi trao bay cho bạn xây tiếp, lên đường đi đánh giặc. Mặc dù giặc đang đe dọa, tầng tầng tháp vẫn vươn lên chiếm lấy bầu trời. Bài thơ này cũng phải trở thành một tháp Đại thắng tư thiên xây dựng bằng bút mực, tuyên cáo với khắp gầm trời, nền tự chủ của dân Việt.

- Hạ thần xin bái lĩnh lời vàng ngọc của lệnh bà:

- Ta có sai người mang theo một số lợn dê, vì trâu còn phải giữ để cày cấy, để khao thưởng tướng sĩ. Khanh đưa ta ra trận địa để ta thân ủy lạo tướng sĩ.

Thường Kiệt và Linh Nhân toan đi, thì có một quân hầu vào báo:

- Tâu Thái hậu, bẩm quan Thái úy, có Thái phó Lý Đạo Thành từ Kinh tới, xin vào ra mắt.

Linh Nhân nói:

- Ngươi mời quan Thái phó vào đây.

Quân hầu lui ra. Lát sau, Lý Đạo Thành bước vào, chắp tay:

- Xin kính mừng Thái hậu. Kính chào Thái úy.

Lý Thường Kiệt đáp lễ:

- Kính chào Thái phó.

Linh Nhân hơi cau mày:

- Quan Thái phó không ở Kinh đô, lo việc trị nước, ra nơi chiến địa này làm gì vậy?

Lý Đạo Thành nói:

- Xin lệnh bà tha thứ cho tội đường đột của thần. Hạ thần xin phép được hỏi quan Thái sư một việc.

Linh Nhân nói:

- Được, khanh cứ việc hỏi.

Lý Đạo Thành nói với Lý Thường Kiệt:

- Thưa quan Thái úy, xin ngài cho tôi biết chuyện con trai tôi hàng giặc có đúng sự thực không?

Lý Thường Kiệt khó xử:

- Cái đó... Cho đến nay chính tôi cũng chưa được tin tức gì về lệnh lang...

Lý Đạo Thành khẩn khoản:

- Tin con trai tôi hàng giặc đã truyền đi khắp chốn, không khỏi có người nghi ngờ, có tôi chủ mưu trong đó. Vì thế tôi xin tới nơi này, sát cánh cùng ngài chống giặc, để dứt mối ngờ của mọi người, tăng thêm niềm tin của tướng sĩ. Nếu quả con tôi hàng giặc, thì xin cho tôi tự tay chém đầu nó, để tạ tội với trăm họ...

Linh Nhân nói:

- Quan Thái phó quả là người trọng nghĩa...

Lý Thường Kiệt băn khoăn:

- Mới đây, chính Lý tướng quân xin với tôi cho ra trận tiền. Tôi đã phái Lý tướng quân đưa cánh thủy quân đến đóng ở hải phận Vĩnh An để chặn giặc. Nhưng gần đây không được tin tức gì về Lý tướng quân nữa. Có lẽ vì bặt tin, nên có kẻ nhân cơ hội đó phao tin đồn là Lý tướng quân hàng giặc, để ly gián hàng ngũ ta cũng nên. Quan Thái phó cứ yên tâm, tôi xin hứa với ngài sẽ cử người đi tìm bằng được Lý tướng quân.

Bỗng có một viên tướng máu me đầy mình chạy vào báo tin:

- Tâu lệnh bà, bẩm tướng công, tướng giặc Miêu Lý sai buộc phù kiều trên bến đò Như Nguyệt, rồi hẹn với tướng tiên phong Vương Tiến đem quân qua sông trước, có Hoàng Kim Mãn dẫn đường. Hiện nay giặc đã tiến sang được bờ nam, vượt qua thành đất của ta mới đắp. Quân ta đang liều chết cản giặc lại nhưng chúng quá đông, tràn sang hết lớp này đến lới khác, vung gươm giáo đâm chém quân ta túi bụi. Bên ta nhiều người chết và bị thương. Tiểu tướng vội về báo tin để quan Thái úy tìm cách đối phó.

Lý Thường Kiệt cương quyết:

- Được, để ta thân ra đó xem sao - Ông vái tạ Linh Nhân và Đạo Thành - Xin lệnh bà và quan Thái phó cứ đợi ở đây, tôi ra ngoài đó xem thế nào, có gì sẽ sai người về báo tin với lệnh bà và quan Thái phó.

Thường Kiệt toan đi. Linh Nhân căn dặn:

- Quan thái úy ra ngoài đó hãy truyền đạt với tướng sĩ, ta thân tới đây đốc chiến, chia sẻ gian lao nguy hiểm với mọi người. Hãy dốc lòng đến nợ nước trong lúc hiểm nghèo ngàn cân treo sợi tóc này.

Thường Kiệt vâng mệnh rồi đi. Linh Nhân quay sang nói với Lý Đạo Thành:

- Việc lệnh lang bặt tin chưa rõ nguyên cớ vì đâu, ta chắc thế nào Lý thái úy cũng sẽ để tâm điều tra, khi nào tìm ra manh mối sẽ cho quan Thái phó hay, khanh cứ nén tâm mà lo việc nước.

Lý Đạo Thành nói:

- Không phải thần vì nghĩ đến đứa con mà quên việc nước, nhưng chỉ e rằng nếu quả thật con thần hàng giặc, thì thần sẽ mắc tội là không biết dạy con, mất lòng tin cậy của mọi người, còn mặt mũi nào mà ở ngôi cao cầm quyền thiên hạ. Trong khi trắng đen chưa rõ, xin lệnh bà cứ vui lòng để cho thần tạm nghỉ việc trị nước, để ra chiến địa làm một tên lính già bình thường, góp phần giết giặc, thế là thần hả lòng rồi, dù có chết cũng không ân hận. Nếu con thần hàng giặc thì khi nào gặp nó thần sẽ tự tay giết nó để chuộc tội có đứa con bất nghĩa.

Linh Nhân ôn tồn:

- Hiện nay việc trị nước cần đến quan Thái phó hơn là việc chém giặc, giữ nước cho yên là cách góp phần giết giặc hay nhất. Nếu bên trong mà rối loạn thì bên ngoài sao vững lòng chiến đấu được. Sự thực thế nào sau này sẽ rõ, Thái phó cứ yên tâm trở lại kinh đô...

Giữa lúc Đạo Thành còn đang phân vân, lại có một viên tướng về báo;

- Tâu lệnh bà, khi quân ta cản giặc lại, giặc sợ quân ta dùng cầu bờ bắc, vội sai quân cắt đứt cầu. Hậu quân Tống không sang sông kịp. Nhưng toán quân tiên phong đã qua sông đang qua tiến gấp về Thăng Long. Quan Thái úy sai tiểu tướng kính mời Lệnh bà và quan Thái phó về Thăng Long trước để giữ lấy căn bản. Còn quan Thái úy sẽ chia quân làm hai cánh, một cánh đuổi theo diệt hết toán tiền quân địch đang tiến về Thăng Long, một cánh chặn không cho hậu quân địch qua sông.

Lý Đạo Thành nói:

- Ngươi về báo với quan Thái úy, chúng ta quyết ở lại đây quyết chiến với giặc cùng với mọi người, lẽ nào lại vì sợ giặc mà chạy thoát lấy thân, bỏ mặc anh em ở lại.

Viên tướng lui ra, Linh Nhân nói:

- Ta khuyên quan Thái phó nên trở về Thăng Long lo việc trị nước, để ta ở lại đây cổ vũ tướng sĩ quyết chiến cũng đủ rồi,

Lý Đạo Thành khăng khăng:

- Lệnh bà là người đứng mũi chịu sào công việc quốc gia trong lúc này, lệnh bà mới cần phải về, còn hạ thần ở lại đây cùng mọi người đánh giặc để tỏ bụng trung can của thần...

Lại một viên tướng khác ra, báo:

- Tâu lệnh bà, có tin đội tiên phong của giặc chỉ còn cách Thăng Long có mười lăm dặm. Quan Thái úy khẩn cầu Lệnh bà và quan Thái phó trở lại Kinh đô để cố kết nhân tâm, nếu để vô chủ, nhỡ xảy ra việc gì thì nguy hiểm lắm.

Linh Nhân cương quyết:

- Nếu vậy thì ta phải về Thăng Long, nhưng trước khi rời nơi này, để ta ra dóng dả các tướng sĩ mấy lời đã. Nào mời quan Thái phó.

Lý Đạo Thành còn dùng dằng, nhưng thấy nét mặt như sắt đá của Linh Nhân, đành phải đi theo.

---❊ ❖ ❊---

Đứng ở cửa đền Như Nguyệt nhìn ra, ông từ thấy lửa sáng rực trời, quân hai bên đang lăn xả vào nhau mà đâm chém. Một người lính ta bị giặc đâm lòi ruột, vẫn một tay ôm chặt lấy mớ ruột, còn tay kia nắm chặt đốc kiếm lao thẳng vào một tên giặc khổng lồ, thanh kiếm theo đà mạnh, xuyên thẳng vào người tên giặc từ bên nọ sang bên kia, rồi cả hai cùng đổ xuống mặt đất, người lính ta vẫn nằm đè lên tên giặc, như khi vật nó ngã lấm lưng trắng bụng. Một người lính ta bị giặc đánh văng mất kiếm, liền xông vào dùng tay không bám chặt cổ giặc, rồi chân phải ngáng vào khe chân trái giặc, vật ngã nó xuống, bóp cổ cho nó chết. Một người lính ta giao chiến với một tên giặc, mình mẩy đầy những vết kiếm đâm chém, máu chảy đầm đìa, vẫn cương quyết không chịu rời bỏ vị trí. Mấy lần giặc vào sang phía bên này lại bị đánh bật trở lại bên kia. Nhưng giặc quá đông, dùng chiến thuật “bể người”, cứ tung từng cánh quân dồn dập tiến sang chiến tuyến ta. Thấy thế quân ta đã có phần núng, ông từ rất lo lắng. Nếu giặc Tống sang được bờ bên này thì chúng sẽ triệt hạ cả vùng này, không còn một ngọn cỏ, cả ngôi đền và tính mạng ông cũng sẽ mất. Nhất định không để cho hậu quân của chúng qua được sông Như Nguyệt. Nếu chúng muốn sang thì trước hết phải dẫm lên xác chúng ta đã. Nhưng giặc vẫn tràn tới như những lớp sóng cuồng, không gì ngăn cản nổi.

Bỗng nghĩ ra một kế, ông từ chạy vào trong đền, lấy bài thơ của Lý Thường Kiệt trong ống hương ra...

Rồi trong đêm khuya thanh vắng, từ ngôi đền Trương Hống, Trương Hát vang lên tiếng ngâm thơ sang sảng:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư.

Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,

Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm.

Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Tiếng ngâm thơ hùng tráng đè lên tiếng sóng gió ào ào trên sông, át cả tiếng binh khí va chạm xô xát nhau, như một sức mạnh siêu nhiên trùm lên cái không khí thần sầu quỷ khốc của chiến trận. Dường như là tiếng thiên sứ cưỡi chim huyền điểu, truyền lời phán xét lũ giặc và báo tin lành cho mọi người.

Một người lính thầm thì:

- Có tiếng ngâm thơ từ ngôi đền vắng tới.

Một người khác:

- Thôi đúng rồi, đúng là thần hiển linh đọc thơ mắng giặc và báo trước là giặc sẽ thua.

Như được tiếp theo sức, quân ta phản công kịch liệt, rút dao nhọn trong mình ra đánh xáp lá cà, gặp tên nào đâm tên ấy, quân giặc hoảng hốt bỏ chạy, bị quân ta đánh bật sang bờ bên kia.

---❊ ❖ ❊---


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của hoài anh