Như Nguyệt

Lượt đọc: 82 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
VI

❊ ❊ ❊

Được lệnh của Lý Thường Kiệt, Lý Kế Nguyên mang thủy quân đến hải phận Vĩnh An.

Một đoàn thuyền Mông đồng mỗi chiếc trên chở được 200 người đủ lương thảo, khí giới gồm gươm, giáo, lao, mộc. Rồi đến đoàn thuyền hai lòng chuyên dùng để đánh hỏa công gồm một khoang thuyền giả to (thuyền mẹ) bọc ngoài ở phía trước một chiếc thuyền thật nhỏ hơn (thuyền con). Trên khoang thuyền, to, chất củi lửa và thuốc cháy, mỗi thuyền có những đinh nhọn.

Tiếp đó, đến chiếc thuyền lầu, gồm những tầng lầu cao, chứa được nhiều lính có trang bị cung nỏ. Lý Kế Nguyên ngồi trong khoang thuyền lớn trên cùng, để chỉ huy tướng sĩ.

Lý Kế Nguyên xem xét địa thế, quyết định đóng căn cứ ở vùng đảo Vân Đồn là một đảo trong nhóm phía đông vùng đảo Kế Bào. Đường biển từ Trung Quốc vào nước ta thuận tiện nhất vẫn là con lạch thiên tạo nhờ những lớp đảo đã chạy dài song song với bờ biển suốt từ Ngọc Sơn, qua Vân Đồn vào vịnh An Bang (vùng biển Quảng Yên). Từ đây, có mấy cửa sông từ trung tâm đất nước là đồng bằng sông Hồng, trong đó con đường lên Lục Đầu rồi tỏa đi các nơi. Với ý chí kiên quyết không để quân Tống lọt vào đất ta bằng bất cứ cửa biển nào, với lòng tự tin về sức mạnh hơn hẳn của thủy quân ta, Lý Kế Nguyên đã không bố trí chặn giặc ở cửa sông Bạch Đằng như Ngô Quyền và Lê Hoàn trước đó, mà đem chiến thuyền chặn giặc tận ngoài hải giới.

Bọn Hòa Mãn và Dương Tùng Tiên đã đem thuyền sang hải phận ta, muốn theo dọc sông Đông Kênh để vào cửa Bạch Đằng, nhưng gặp thủy quân của Lý Kế Nguyên chặn lại. Đông Kênh là dải nước biển nằm giữa đất liền và các đảo chạy ven phía ngoài, trông tựa như một dòng kênh.

Từ đó, quân ta với địch đã đụng độ hơn mười cuộc trên mặt trận đường biển. Quân Tống bị thua luôn. Quân lính bị thương nhiều.

Bất lực trước phòng tuyến trên biển kiên cường của quân Lý, bọn Dương Tùng Tiên chỉ còn cách luẩn quẩn ở ven biển Khâm Châu, Vĩnh An và cố cắt ra một tốp binh thuyền nhỏ giao cho hai viên hiệu dụng là Phàn Thật và Hoàng Tông Khánh liều mạng vùng ra ngoài khơi, vượt biển sang Chiêm Thành, xui Chiêm Thành đánh ta, thực hiện cái mưu mẹo đã cũ kỹ và bị vứt bỏ của họ Dương. Nhưng Chiêm Thành không dám đánh, vì sợ uy Lý Thường Kiệt từng đánh chúng đại bại trong lần chúng sang xâm lược trước đây, chỉ đưa bảy ngàn quân chẹn các đường quan hệ từ nước ta vào nước ấy mà thôi.

Từ sau khi nhận lệnh của Lý Thường Kiệt, Hoằng Chân ngày nào cũng huấn luyện võ nghệ cho quân bản bộ. Ông có nuôi riêng 500 quân đặc biệt, cấm mọi điều thị dục, dạy cho trận pháp.

Đến ngày thao luyện, trời mới tảng sáng, Hoằng Chân ra thao trường, chia các đội mỗi đội bảy hàng, bảy từng, họp bốn đội lại thành một đội.

Nghe tiếng địch của trung quân ra hiệu lệnh thì lính có trách nhiệm cầm cờ phải đến trung quân, nghe phân phát, xếp đặt những việc xong thì đi trở về các đội, truyền đạt cho binh sĩ không được nói ồn ào, bàn tán xôn xao, cùng là để đội ngũ rối loan.

Nghe từ trung quân, tiếng phèng la thứ nhất vọng ra thì các đội bộ binh đều phải tụ tập lại. Tiếng phèng la thứ hai thì bộ binh đưa cờ lên. Tiếng phèng la thứ ba vọng ra, trống đánh, các đội cách xa nhau đi ra chầm chậm, cứ mỗi tiếng trống thì một bước chân, cho đến mười tám bước.

Trung quân đốt nổ một tiếng pháo, vẫy cờ ba lần, phát ra ba tiếng hô chiến đấu. Nghe loa gọi, trống đánh thì đi mau mười tám bước. Nghe tiếng chiêng thì dừng lại, chỉ mở rộng ra mà thôi. Nghe tiếng phèng la thì bắn súng, cung nỏ, thương, bảng đều sắp thành thế đánh, quân sĩ cùng hô lên ba tiếng: giữ, giữ, giữ. Nghe tiếng hiệu lệnh như chim kêu thì phát tiếng la lên. Nghe tiếng não bạt xập xòa thì thu đội vào, dừng lại làm thành trận thứ nhất. Nghe trống đánh lại thì mặt sau của đội đi ra hết chầm chậm qua khỏi phía trước trận thứ nhất mười tám bước. Nghe một tiếng pháo nổ, vẫy cờ một lần, phát ra một tiếng hô chiến đấu... Nghe tiếng hiệu lệnh như chim kêu thì phát tiếng la lên. Nghe tiếng não bạt thì thu đội vào, dừng lại lập thành thế trận.

Trung quân bắt đầu nổi lửa ba đống, đánh có các đội cách nhau đi ra trước, đi mười tám trống, từ các trận bước, đều chạy về chỗ đất bằng phẳng, phân ra từng khu vực đã hạ trại, trái, phải, trước sau, dọc ngang, trải bày ra thành từng hàng dãy có thứ tự, mặt đều hướng ra phía ngoài. Nghe tiếng chiêng thì dừng lại không chiến đấu nữa. Nghe tiếng loa gọi chỉ mở rộng ra như bản đồ chung của trận thế, các góc và bờ rào móc nối liền nhau, để thành quy mô của bát trận.

Trung quân phát lệnh xông tới, giăng bày, biến hóa trận thế, đội hình án ngự mặt trước được chỉnh đốn, chiêng, trống, cờ từng cặp đối nhau, khí cụ phát ra tiếng thì hai bộ, chiêng hai cái, phèng la hai cái, trống mười hai cái, não bạt hai cái, súng lớn bốn khẩu.

Trung quân có chiêng trống, cờ phan như cũ, nghe tiếng truyền lệnh thì vào Thiên Trận để vận dụng. Sau đó, trung quân giơ hai sắc cờ đen, vàng lên, làm biến hóa hai trận Thiên Phúc Địa Tải. Đốt nổ một tiếng pháo, đánh trống thi đội coi phần Thiên Trận, từ từ đi lại phía nam sắp bày Thiên Trận, còn đội coi phần Địa Trận từ từ đi qua phía bắc sắp bày Địa Trận, hết thảy đều tới địa giới... Sau khi bày xong hai trận Thiên, Địa lại lần lượt biến hóa sang các trận Trung quân bày trận Trung Huỳnh, sau đó lại có các trận Tiền Xung, Hậu Xung, Tả Đột, Hữu Kích, Bạch Vân, Thanh Xà, Đại Xích, Thái Hắc, Suy Hùng, Quyết Thắng, Tiên Phong, Phá Địch gồm mười hai trận, ứng với mười hai thời.

Tập xong trận thì có lệnh của Lý Thường Kiệt cho đòi Hoằng Chân ra chặn giặc ở sông Kháo Túc. Thì ra phòng tuyến của ta từ chân núi Nham Biền đến Vạn Xuân, không kiên cố như ở phía tây, cho nên Quách Quỳ nghĩ quân công ở khoảng ấy dễ, nên dẫn theo 5.000 kỵ binh người phiêu lạc tức là thổ dân ở phương bắc đến sông Kháo Túc để tìm cách vượt sông.

Hoằng Chân vừa bước ra cửa thì con voi chiến của chàng đã ngoan ngoãn quỳ phục xuống để cho chàng cưỡi lên để ra trận. Cổ voi có kết mấy chục cái chuông nhạc, khi đi nghe loong coong thật vui tai. Theo sau chàng là Chiêu Văn, em chàng, cưỡi trên lưng một con ngựa trắng khỏe mạnh, rồi đến năm trăm quân bản bộ, người nào cũng cầm một cái kim bài để làm hiệu riêng.

Khi đến bờ sông Nhị, thì bốn trăm chiến thuyền chở vài vạn quân đã tề tựu chờ đợi. Hoằng Chân xuống thuyền vào khoang trung quân, cử Chiêu Văn làm tiền quân, dẫn đầu đoàn chiến thuyền tiến thẳng đến sông Lục Đầu.

Chiến thuyền của Hoằng Chân dừng lại trước Bãi Cháy. Bãi Cháy là bờ biển phía tây vịnh Hạ Long, cạnh cửa sông Lục. Nói là bãi, nhưng thực ra đây là một dải đồi. Dải đồi này dài 750 trượng từ phía Cửa Lục đến Cái Dăm có ngọn cao 40 trượng, sườn đồi phía đông choãi xuống bờ vịnh, tạo nên các mặt bằng Trước mặt Bãi Cháy là vịnh Hòn Gai, xòe rộng ra tựa chiếc quạt khổng lồ bằng lụa xanh. Chiếc quạt này có chốt là hòn Cửa Giữa, hai cánh bên là tuyến đảo phía nam và dải đồi cát phía bắc, sau cùng là bờ Bãi Cháy kéo dài đến đảo Tuần Châu. Mùa hè, gió đông nam thổi qua vịnh Hòn Gai vào Bãi Cháy như gió nổi lên từ chiếc quạt khổng lồ kia.

Bờ phía tây vịnh Hạ Long là một khu rừng rậm rạp. Hoằng Chân cho quân đóng đồn ở cạnh chỗ ấy. Cửa Lục là dòng sông có hình thể độc đáo thắt co lại ở giữa và hai đầu phình rộng ra. Cửa Lục chứa nước của sáu con sông (Trứng, Đá Trắng, Viễn Vọng, Giáp Khẩu, Sang, Cao Xanh), từ vùng núi Hoành Bồ đổ xuống, mùa mưa, nước Cửa Lục cuồn cuộn chảy xiết, mài mòn bờ phía tây dòng sông. Những dải đồi, rặng núi dựng lên nhiều lớp, cao dần như những tay ngại ôm lấy ba phía, khiến cho Cửa Lục giống một cái túi lớn. Hoằng Chân thầm nghĩ phải lợi dụng cái túi thiên nhiên này để bắt giặc.

---❊ ❖ ❊---

Nghe tin đạo quân Khúc Chẩn đã tới, Quách Quỳ vội mời Khúc Chẩn đến đại bản doanh ở trước xã Thị Cầu để họp bàn. Sau khi thi lễ, phân ngôi chủ khách, Quách Quỳ nói:

- Khúc tướng quân đi đường nào mà tới đây nhanh thế?

Khúc Chẩn nói:

- Bẩm nguyên soái, khi tiểu tướng rời Quảng Nguyên, tiến quân sang đông bắc, lấy Môn Châu một cách dễ dàng, vì các tướng giữ vùng ấy là Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân đã ngấm ngầm thông với quân ta từ trước. Nhờ có Hoàng Kim Mãn làm hướng đạo, quân ta đi đường tắt Vĩnh Gia, Vạn Nhai theo dọc phía tây dãy núi Đâu Lĩnh, để xuống Phú Lương hội với đại quân.

Quách Quỳ mừng rỡ:

- Nếu vậy thì hay lắm. Báo cho tướng quân biết, các đạo quân khác cũng đã lần lượt kéo đến đóng trên bờ sông này, kéo dài từ Thái Nguyên đến vùng trước Thị Cầu. Chỉ cần qua được con sông Như Nguyệt là quân ta chắc khuynh đảo được lăng tẩm họ Lý và đất Giao Chỉ,

- Nguyên soái đã dự định kế hoạch vượt sông như thế nào chưa?

- Ta đã xét kỹ tình thế. Từ bờ sông Như Nguyệt đến Thăng Long, đường gần nhất và không bị trở ngại nhiều, là đường đi từ làng Như Nguyệt ở cửa sông Cà Lồ chảy vào sông Phú Lương, tới bờ sông Nhị phía tây bắc hồ Tây. Đường ấy chỉ dài chừng bốn mươi dặm.

Phía tây bến đò Như Nguyệt còn có những cồn núi cuối cùng của dãy núi Tam Đảo ngăn cản. Từ đó sang đông, thì chỉ có đồng bằng. Qua sông chỗ nào cũng dễ dàng, và lúc qua rồi thì gặp đồng ruộng phì nhiêu. Lương thực nhiều, phu phen nhiều, và muốn qua sông Cà Lồ thì cũng không khó lắm.

Vậy tướng quân truyền cho tướng quân Miêu Lý dẫn toán quân từ mặt tây đổ dồn xuống bến đò Hữu Dực. Giúp việc dẫn đường đã có Hoàng Kim Mãn. Còn tướng quân thì quản lĩnh cảnh quân tả dực ở phía đông đi theo đường đất ở bắc ngạn sông Nam Định đổ tới Vạn Xuân. Còn ta thì dẫn trung quân đi đường cái về Thăng Long. Tất cả các cánh quân đều phải gặp nhau trước bến đò Như Nguyệt để tìm cách vượt sông.

Khúc Chẩn vâng lệnh, về doanh trại cắt đặt mọi việc.

Khúc Chẩn dẫn cánh quân tả dực núi Nham Biền chắn ngang, Khúc Chẩn không cho quân qua dãy núi này, vì còn phải quay mặt về hướng đông để đối phó với quân Thân Cảnh Phúc đóng vùng động Giáp, nhưng cuối cùng cũng dừng chân trước sông Như Nguyệt.

---❊ ❖ ❊---

Toán quân phụ đang đào đất ở những thửa ruộng dọc theo bờ nam, để đắp bức tường đất tôn cao thêm con đê cũ, đất ở đây rất rắn, nên việc đào khá chật vật, lưỡi mai thường bị quằn, mẻ. Cứ xắn được một khối đất lớn lại hắt vào sọt tre, có người khiêng chuyển lên bờ đê, người ở trên đê lại dùng cuốc, thuổng để đầm và san cho đều. Trời mùa đông, rét như cắt ruột, nhưng mọi người vẫn hăm hở làm việc, quên cả cái lạnh.

Bỗng có một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, đầu quấn khăn lượt, mặc áo dài đen, xách một cái túi vừa đi tới. Trông thấy mọi người đang đào đất ở thửa ruộng trước ngôi đền, ông ta vội chạy lại, nói:

- Ấy chớ, các bác đừng có đào đất ở chỗ này!

Một người dân phu nói:

- Ông là ai mà lại dính vào việc của chúng tôi.

Người đàn ông nói:

- Tôi là thầy địa lý chính tông, qua đây thấy các bác đào đất ở chỗ này là chạm đúng long mạch, vì đây là mình con rồng; đầu rồng là cái đồi ở Phong Châu, nơi phát tích vua Hùng, rốn rồng là đất Long Đỗ, tức thành Thăng Long của nhà Lý, còn đuôi rồng là đảo Bạch Long Vĩ, ở ngoài biển Đông. Nếu các bác đào thêm một chút nữa, thì sẽ thấy nước chảy ra đỏ như máu. Long mạch mà đứt thì nhà Lý sẽ tuyệt diệt, người Tống sẽ vào làm chủ đất An Nam...

Một người dân phu nói:

- Ông đừng có nói nhảm nhí, Tống làm sao mà cướp nổi nước ta. Lần trước chúng sang chẳng bị vua Lê Đại Hành đánh cho một trận thất điên bát đảo đấy à?

Thầy địa lý nói:

- Lần trước Tống dại dột, định sang chiếm nước ta làm quận huyện, nên dân ta mới cương quyết chống lại. Lần này họ khôn khéo hơn, cho truyền tin đi khắp nơi là họ đem quân vào chỉ cốt bắt mẹ con Ỷ Lan và Lý Thường Kiệt là những người chủ trương chống lại họ, còn họ sẽ lập một người trong tôn thất nhà Lý lên làm vua, nước Nam chỉ là một nước phiên thuộc của Trung Quốc thôi, Tống không đặt quan cai trị như thời Hán Đường. Nghe đâu tướng Lý Kế Nguyên đã ra hàng họ rồi, họ đã cử ông ta giữ chức Giám quốc, chẳng là ông ta cũng thuộc dòng tôn thất mà. Ông ấy lại là con quan Thái phó Lý Đạo Thành, đang cầm quyền chính, nếu cha con họ mà đồng lòng hợp sức với nhau, trong ứng ngoài hợp thì cơ đồ này hỏng mất...

Thầy địa lý vờ thở dài ngao ngán, rồi chậm chạp bước đi, vừa đi vừa lấm lét nhòm ngó rình mò việc bố trí trên trận tuyến.

Lời thầy địa lý nói đào đất chỗ này sẽ chạm long mạch, cũng như tin đồn Lý Kế Nguyên đầu hàng giặc, một đồn mười, mười đồn trăm, trong chốc lát đã lan suốt dọc bờ đê. Nhiều người chán nản, không muốn đào đất đắp lũy nữa. Nếu đào thêm, rủi đứt long mạch thì sao. Nhất là Lý Kế Nguyên là Thủy sư đô đốc, đang chặn giặc ở sông Đông Kênh, mà nay hàng giặc thì cửa từ ở ngoài biển vào sẽ mở thông thống, giặc muốn đi bộ đánh vào chiến tuyến này lúc nào chẳng được. Cơ sự đã như thế thì dẫu có đắp cao chiến lũy cũng chỉ là công lao dã tràn xe cát.

Thấy mọi người chểnh mảng công việc, Lý Thường Hiến ngạc nhiên, sau khi hỏi rõ đầu đuôi câu chuyện, ông đến đại bản doanh báo cho Lý Thường Kiệt biết. Lý Thường Kiệt nói:

- Tên thầy địa lý đó đúng là tay chân của Hoàng Kim Mãn, từ bờ bắc lọt sang, phao tin đồn nhảm để làm cho quân, dân ta hoang mang, dao động, sẽ sa sút tinh thần đắp lũy chặn giặc. Hiền đệ hãy cho người đi lùng bắt tên đó giải về đây, để ta xét hỏi...

Lý Thường Hiến ngập ngừng:

- Xin tuân lệnh huynh trưởng. Nhưng còn chuyện Lý Kế Nguyên thì sao? Huynh trưởng có được tin tức gì của Lý Kế Nguyễn không ạ?

Lý Thường Kiệt phân vân:

- Từ khi Lý Kế Nguyên ra trấn giữ ở sông Đông Kênh, ta vẫn chưa được tin tức gì xác thực, chỉ nghe thám tử về báo là Lý Kế Nguyên mất tích, đến nay vẫn chưa truy tìm ra dấu vết, cả thủy đội cũng không còn đứng ở chỗ cũ nữa.

Lý Thường Hiến lo lắng:

- Nếu quả thật Lý Kế Nguyên hàng giặc thì rất phiền cho ta. Quan Thái phó lại đang cầm quyền chính trong tay, nếu xảy ra chuyện gì thì biết xoay sở ra sao?

- Hiền đệ cứ yên lòng. Ta tin rằng cả hai cha con Thái sự không đời nào lại cam tâm hàng giặc đâu. Rất có thể là giặc phao tin đồn bậy bạ để ly gián hàng ngũ ta. Nếu lúc này mà nội bộ ta không tin nhau, xào xáo lẫn nhau thì giặc sẽ thừa cơ trục lợi. Hiền đệ cứ truy nã tên thầy địa lý mang về đây, để ta tra hỏi y, sẽ rõ hư thực.

Thường Hiến tuân lệnh đi... Lý Thường Kiệt lại cúi xuống trang binh thư đang đọc dở. Bỗng ông thích thú đọc lên thành tiếng từ hồi nào không biết:

- Giấu Kỳ ở Chính, giấu Chính ở Kỳ, lấy Kỳ làm Chính, lấy Chính làm Kỳ. Trong việc giao chiến, lấy Chính để hợp, lấy Kỳ để thắng, chiến thắng không ngoài lẽ Kỳ Chính. Kỳ Chính biến đổi không cùng. Kỳ Chính tương sinh như vòng tròn không có gốc. Ông đặt sách xuống, suy nghĩ. Được rồi, một mặt ta cho quân nấp sau đồn lũy chặn đánh quân giặc, mặt khác chiến thuyền đều rút về bờ nam đón đánh quân giặc nếu chúng chực qua sông. Như vậy mới phát huy được cả quân trú chiến, đóng lại mà đánh lẫn quân thác chiến, mở ra mà đánh, như phép dùng quân của nhà Lý ta.

Bỗng một tên quân vào báo:

- Bẩm tướng quân, có mấy người dân áp giải tên thầy địa lý vào dâng nộp.

Lý Thường Kiệt vui mừng:

- Dẫn họ vào đây.

Thầy địa lý bị trói gô như một con lợn, do hai dân đinh lực lưỡng khiêng vào. Một cụ già đi sau cầm cái túi đựng đồ nghề của hắn. Lý Thường Kiệt truyền:

- Các ngươi hãy cởi trói cho nó đã.

Hai dân đinh cởi trói cho thầy địa. Thầy địa lạy như tế sao:

- Trăm lạy tướng công, ngàn lạy tướng công, xin tha mạng cho con, con làm ăn lương thiện...

Lý Thường Kiệt nghiêm khắc:

- Sinh nhai bằng cái nghề dị đoan nhảm nhí này mà cũng bảo là lương thiện à?

- Dạ, dạ, lương thiện lắm ạ. Con có môn địa lý gia truyền, đã để đất cho nhiều người chân trắng phát công khanh. Ngài tha cho con, con xin để hầu ngài một ngôi đất đại quý để đền ơn.

- Hiện nay ta đã là Thái úy, trên ta chỉ còn có vua nữa thôi, vậy ngươi định để cho ta ngôi mộ phát gì. Vả chăng nếu ngươi biết chỗ đất phát được công khanh thì sao không đem hài cốt cha mẹ ngươi mà táng vào đấy?

- Bẩm nhà con vô phúc, nên có đất quý cũng không dám hưởng...

Lý Thường Kiệt cười:

- Nếu vậy thì chính cái mả vô phúc của nhà ngươi hôm nay phát to rồi đấy. Ta hỏi ngươi, sao dám bịa chuyện là đào đất ngoài ruộng là chạm long mạch, cốt cho dân phu sợ hãi không dám đào đê?

Thầy địa sợ hãi:

- Bẩm, con oan lắm, con có nói gì đâu ạ.

Một dân đinh nói:

- Lão còn chối nữa à, chính lão vào nhà tôi, gạ tôi là nếu giúp lão một việc, lão sẽ để cho một ngôi đất phát đến tước hầu. Nhưng kiều đất này ở sau lưng sông Như Nguyệt là nghịch thủy, nên phải phá ngang mới làm nên được, lão còn chối gì nữa.

Lý Thường Kiệt quát:

- Biết điều hãy khai ngay, đừng để ta phải dùng cực hình khảo đả.

Thầy địa vẫn một mực:

- Dạ, anh này bịa chuyện cho con, chứ con không nói thế đâu ạ.

Dân đinh nói:

- Thì chính mắt tôi trông thấy lão vẽ một cái bản đồ, bảo rằng đó là bản đồ địa huyệt, chỗ nào án, chỗ nào chẩm, chỗ nào đai, rồi nào tay long tay hổ, nói ai nghe theo lời lão, lão sẽ để cho chỗ đất quý ấy, giờ còn kêu oan uổng gì nữa.

Lý Thường Kiệt nói:

- Các ngươi hãy khám trong cái túi của lão xem.

Ông già khám trong túi thấy một cái la bàn, một cái tróc long, bên cạnh là một bức bản đồ, nộp lên.

Lý Thường Kiệt cầm bức bản đồ lên xem cười:

- Kiểu đất nào mà quý đến nỗi giống hệt căn cư của quân ta. Chứng cớ đã rõ ràng, ngươi hãy khai mau.

- Dạ, dạ ...- Thầy địa ấp úng.

Lý Thường Kiệt nói:

- Người thạo nghề phân kim điểm huyệt, ta cũng sẽ điểm huyệt ngươi cho người sống mà thành tật. Khai mau! Ngươi nhờ người này làm việc gì?

Thấy thầy địa không khai, Thường Kiệt toan đưa ngón tay điểm huyệt, thầy địa vội vàng nói:

- Dạ, dạ... Con nhờ bác này mang giùm bức bản đồ sang cho ông Hoàng Kim Mãn bên trại Tống ạ. Bây giờ ngài đã biết rồi, con xin nhận tội, xin ngài tha tội chết cho con.

- Còn chuyện khuyên người này phá ngang là thế nào? - Thường Kiệt vặn hỏi.

- Dạ, dạ... con nói kiểu đất này có sông Như Nguyệt chảy phía sau lưng là nghịch thủy...

- Nếu muốn xoay cho thuận thì phải chạy lên phía bắc theo quân Tống, có phải ngươi muốn nói thế hay không? Sông ngòi nước ta đâu có thể để cho giặc tự ý đổi dòng xuôi ngược được. Còn chuyện bảo đào đất ở ruộng gần chân đê là làm đứt long mạch thì như thế nào?

- Dạ... ông Hoàng Kim Mãn ông ấy xui con phao tin như thế đấy ạ. Con trót dại nghe theo lời ông ấy...

- Thế chuyện tướng quân Lý Kế Nguyên hàng Tống, có đúng hay không?

- Dạ... con cũng chỉ nghe ông Hoàng Kim Mãn ông ấy nói kín kín hở hở như thế thôi, còn hư thực thế nào con cũng không được rõ. Con trót vui miệng nói ra, chứ không có ý gì đâu ạ.

Lý Thường Kiệt nghiêm giọng:

- Ngươi chỉ là thứ tay sai mạt hạng của tên Hoàng Kim Mãn, nghe lời nó xui giục mà làm càn. Ta hãy cho giam ngươi lại, chờ bắt được tên Hoàng Kim Mãn sẽ xử một thể - Ông nói với mấy người dân - Xin cám ơn bà con đã giúp ta bắt tên gian manh này. Các ngươi dẫn nó đi, giao cho quân sĩ dưới doanh trại.

Thầy địa lạy rối rít:

- Dạ, dạ, con cắn rơm cắn cỏ lạy tướng công ngài tha cho con, xin xin nguyện làm thân trâu ngựa để đền ơn...

Lý Thường Kiệt nói:

- Thế ngươi tưởng hiện nay ngươi đang là người đấy à!

Mấy người dân giải thầy địa đi. Lý Thường Kiệt trầm ngâm. Giặc dùng hết sức người, lại cầu viện đến cả ma quỷ để đánh ta. Không những mượn địa lý, chúng còn mượn cả thiên văn, nói gần đây có sao chổi đuôi dài ở phương Tây và có động đất ba lần, đó là điềm nước Nam sắp mất. Chúng còn nói, có con gà mái tự nhiên cất tiếng gáy gở, đó là điềm đàn bà lên cầm quyền làm rối loạn âm dương, có con trâu trắng trèo lên ngọn cây mận, mận chữ hán là Lý, đó là điềm ta gây vạ cho nước nhà. Thậm độc thật! Nhưng cho dù chúng nó mượn cả thiên văn, địa lý huyễn hoặc dị đoan làm khí giới đánh ta, miễn nhân sự ta vững vàng, là sẽ có sức thần, thắng mọi mưu mô chước quỷ!

Bỗng Lý Thường Hiến từ ngoài vào, nói:

- Bẩm huynh trưởng, vừa rồi tiểu đệ đã giải thích cho mọi người biết lão thầy địa lý đó là tay sai của giặc, phao tin đồn nhảm làm nản lòng quân, dân ta, và khuyên mọi người không nên tin lời hắn mà mắc mưu lũ giặc cướp nước. Mọi người đã hiểu ra, bắt đầu trở lại làm việc. Nhưng lại có khó khăn, nên cứ đắp lên là lại lở xuống. Mà nếu cứ khoét sâu xuống để lấy đất, thì chân để lại không vững, biết làm thế nào?

Lý Thường Kiệt suy nghĩ một hồi rồi nói:

- Hay là thế này... Ta bàn với mọi người lấy đất ở dưới lòng sông, như vậy vừa có đất đắp đê, mà lòng sông lại sâu hơn, thuận tiện cho thủy quân ta đưa thuyền vào... cũng như dễ dàng đánh đắm thuyền giặc nếu chúng qua sông.

- Nhưng đất ở dưới lòng sông nhiều bùn nhão thì đắp làm sao?

- Nào có khó gì! Ta bảo mọi người đem những cái giành tre chứa đất trong đó rồi chuyển lên đê, đất đã có sẵn cốt tre bên ngoài thì càng thêm chắc, đắp cũng nhanh hơn. Sau khi chất những giành đất lên, ta lấy đất dẻo đè lên một lượt rồi nên kỹ thế là được. Sau đó ta lại đóng cọc tre mấy từng ngoài, để làm giậu...

Lý Thường Hiến reo lên:

- Phải đấy, có thế mà tiểu đệ không nghĩ ra. Tiểu đệ sẽ đi đôn đốc dân đinh chặt tre ngay đem về đan giành và đóng cọc...

Thường Hiến đi rồi, Thường Kiệt cũng ra ngoài bờ sông để xem xét việc đắp đê.

Bỗng ông thấy từ phía xa có một cái võng bằng vải như cái túi trên có mui dài, dùng lá cây trang sức như lớp vảy cá, đòn dài hai người khiêng, đi tới. Khi đến gần, ông lật mui phủ võng lên xem, thì thấy Thân Cảnh Phúc, trên người ngang dọc những vết gươm chém, nằm thiêm thiếp trên cán, máu đã khô đọng cứng lại. Thân Cảnh Phúc từ từ hé mở mắt, nhìn thấy Thường Kiệt, chàng hổn hển:

- Bẩm quan Thái úy, tôi đang chặn giặc ở Vạn Xuân, thì thấy quân Tống phát tờ bố cáo nói Lý Kế Nguyên thuộc dòng họ tôn thất, con Thái phó Lý Đạo Thành đã sang quy thuận, chúng phong làm Giám quốc, sửa soạn đưa về Thăng Long để quyền tạm việc nước, thay ông vua bé mới bảy tuổi. Nghe tin đó, quân sĩ đều hoang mang, vừa kịp quân giặc kéo đại binh đến, tôi phải mở một đường máu, thoát được về đây...

Nghỉ một lát lấy sức, Thân Cảnh Phúc lại nói tiếp:

- Nếu quan Thái úy không quá tin Lý Kế Nguyên giao cho trọng binh chặn thủy quân Tống ở sông Đông Kênh thì đâu đến nỗi. Biết đâu y không theo lời cha y là Lý Đạo Thành, làm nội ứng cho Thượng Dương và giặc Tống.

Lý Thường Kiệt nói:

- Việc này ta còn đang cho điều tra, trắng đen chưa rõ ra sao. Phò mã hãy về Thăng Long tĩnh dưỡng cho vết thương mau lành đã, rồi hãy liệu sau.

Thân Cảnh Phúc nói;

- Từ xưa đến nay tôi vẫn tin quan Thái úy, nhưng lần này tôi buộc lòng phải phiền trách ngài, điều đó còn khiến tôi nhức nhối hơn cả vết thương trên cơ thể. Nếu ngài không nuông chiều cháu gái ngài để cô ta bênh che cho Kế Nguyên, thì làm gì có chuyện ấy.

Lý Thường Kiệt vẫy tay. Hai người lính lại khiêng võng đi. Lý Ấu Mai vừa ra đến nơi, chợt nghe thấy mấy câu cuối của Thân Cảnh Phúc, đau đớn, chạy lại quỳ xuống ôm lấy gối của Lý Thường Kiệt:

- Thưa bá phụ, nếu có phải vì tội của cháu, mà để phiền cho bá phụ, thì gươm đây, xin bá phụ cứ trị tội cháu cho đúng phép quân pháp nước - Cô rút gươm đang đeo bên mình dâng lên.

Lý Thường Kiệt gạt đi:

- Sao cháu lại nghĩ càn như vậy. Việc này hư thực chưa tường, cháu cứ để ta dò xét xem sao đã. Ông nhìn xa xa - Quái, sao giờ này Ngọc Hoa vẫn chưa về....

Lý Ấu Mai kiên quyết:

- Thưa bá phụ, cháu đi đến đâu cũng thấy người ta xì xào, vì bá phụ quá nuông chiều cháu, tin Lý Kế Nguyên, nên bị anh ta phản trắc. Như thế này cháu không còn mặt mũi nào nhìn thấy ai nữa. Nếu bá phụ không xử tội cháu thì cháu xin tự xử - Cô quay ngược mũi gươm định đâm vào cổ tự vẫn. Lý Thường Kiệt vội giật lấy gươm:

- Cháu cứ bình tĩnh đã. Quân giặc nhiều mưu mô quỷ quyệt lắm, biết đâu không phải là chúng phao tin đồn nhảm, để làm ly tán lòng quân dân ta. Cháu nỡ nào cạn nghĩ mà liều mình để đau lòng bác và thân phụ cháu trong lúc cha cháu đang giữ trọng trách cản giặc hay sao?

Bỗng có tiếng ồn ào ở phía xa, rồi một viên tướng vào báo:

- Bẩm quan Thái úy, giặc đã kéo đến bắc ngạn, chúng bắn những mũi tên kèm theo lá thư, mang lời Lý Kế Nguyên, hiệu triệu quân sĩ giải giáp, vì vua Tống đã bằng lòng trả lại những đất chiếm của ta cho hắn đứng lên làm Giám quốc. Quân ta đang đóng cọc đắp lũy, nghe tin này đều hoang mang, việc làm uể oải hẳn đi. Xin quan Thái úy ra hiểu dụ quân sĩ cho họ lại nức lòng làm việc.

Lý Thường Kiệt nói:

- Tướng quân cứ ra trước, ta sẽ ra ngay.

Viên tướng đi, Thường Kiệt quay lại nói với Ấu Mai:

- Cháu cứ ở đây chờ ta, lát nữa ta về sẽ bàn thêm với cháu. Nhưng cháu phải hứa với ta, không được xử sự liều lĩnh, nghe chưa.

Lý Ấu Mai nói:

- Cháu xin hứa - Lý Thường Kiệt âu yếm vuốt tóc cháu rồi đi. Lý Ấu Mai thầm nghĩ - Biết tính cách nào bây giờ đây? Âu là ta mạo hiểm sang trại giặc cốt tìm xem Lý Kế Nguyên có ở bên đó không? Nếu chàng quả là phản bội thì ta giết chàng đi, rồi tự vẫn để tạ tội cùng trăm họ. Có như vậy cái chết của ta mới không đến nỗi uổng.

Lý Ấu Mai toan đi, thì Ngọc Hoa vừa chạy tới. Ngọc Hoa là một cô bé chín tuổi, người làng Đại Yên, ngoài thành Thăng Long. Khi thấy Lý Thường Kiệt đem quân đi đánh Tống, cô đã chặn đầu ngựa lại, xin theo đi đánh giặc. Thường Kiệt liền phái cô đi làm trinh sát dò la tình hình quân giặc. Ngọc Hoa hỏi Ấu Mai:

- Cô ơi! Ông nội đâu rồi cô?

Ấu Mai mừng rỡ:

- Ông đợi cháu mãi. Sao đến giờ cháu mới về?

Ngọc Hoa nhanh nhảu kể:

- Cháu lên đê bờ bắc, vờ đánh chuyền đánh chắt để dò xét tình hình trại giặc. Ối eo ôi, chúng nó đóng đông như kiến cỏ, doanh trại cứ y như là bát úp ý... Suốt từ bến đò Như Nguyệt đến tận chân núi Nham Biền, không đâu là không thấy khói nấu bếp của chúng nó cứ đen kịt cả một góc trời. Đi đến đâu cháu đánh dấu đến đấy, cứ một nghìn quân cháu lại bỏ một que đánh chắt, cứ một đồn trại cháu lại tính bằng một hòn sành cho dễ nhớ. Xong, cháu cắp một thúng bánh vào tận trong trại bán cho tụi lính. Tụi chúng đói quá, ăn hết sạch cả thúng bánh, giục cháu về lấy thêm, cháu mượn cớ đi sâu vào trong trại giặc, nên đến bây giờ mới về được cô ạ.

- Tốt lắm. Cháu có biết tin chú Kế Nguyên ra sao không?

- Cháu chỉ nghe chúng nó kháo nhau là có một ông tướng chức to lắm về dòng họ vua An Nam, đến xin hàng, còn đầu đuôi thế nào cháu không rõ.

- Cháu đã biết đường lối trong trại giặc, vậy có thể dẫn cô vào trong đó được không?

Ngọc Hoa gật đầu:

- Được, cô ạ. Nhưng cô phải cải trang thành một cô gái quê mùa đội thúng bánh mới lọt vào trong trại của chúng nó được.

- Phải đó. Nào ta đi! - Ấu Mai cùng Ngọc Hoa đi.

---❊ ❖ ❊---


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của hoài anh