Chùa Thiền Định nằm trên một bãi đất bằng phẳng ở miền bắc sông Dâu. Qua sông, có cầu gỗ chín nhịp lợp ngói dẫn vào chùa. Đứng ở sân chùa, có thể nhìn thấy rõ tháp Hòa Phong vươn cao lên giữa: những mái ngói cao, thấp của các nếp nhà.
Chùa có bố cục kiểu “nội công ngoại quốc”. Sau dãy hành lang phía trước, chùa có chín gian, chiều dài chiếm gần hết chiều rộng sân chùa. Ba gian giữa có cửa mở dẫn vào chùa, tượng trưng cho ba điều nên của đạo Phật: Trung Quân, Không Quan, Giả Quan. Bốn gian bên đều bịt bằng chấn song dài.
Qua ba cửa này người ta vào sân chùa. Hai bên sân là hai dãy hành lang chạy dài suốt chiều dọc của khu chùa, vây lấy cụm kiến trúc ở giữa gần tháp Hòa Phong và ba nếp chùa gắn bó với nhau theo hình chữ “công”.
Chính giữa sân, tháp Hòa Phong sừng sững vươn cao. Lòng tháp rỗng, nhưng tường tháp dày đến bốn thước. Trong lòng tháp, ở mỗi góc đều có đặt một tượng Kim Cương cao lớn như người thật. Trong tháp có bốn cửa mở. Sau tháp Hòa Phong là những nếp chùa mái ngói rêu phong. Nhà tiền đường (hay chùa Hộ) với chín gian bề thế, chạy dài hết cả chiều rộng của sân chùa. Nối liền với nhà tiền đường là Thiên Hương. Các sư tăng ngồi trước bàn thờ nguyện cầu trước những pho tượng ngồi chật cả tòa Thượng điện – một nếp chùa cuối cùng. Tượng Pháp Vân ngồi trên tòa sen, vừa ở trong tư thế niệm chú, tai dài, mình vận cà sa của Phật, lại vừa có cái cổ cao ba ngấn, lông mày vòng cung thanh mảnh, miệng mỉm cười đôn hậu của người đời. Toàn tượng phủ một lớp sơn màu cánh dán nồng ấm. Điểm trên nền nâu là một vài chữ thếp vàng, làm sáng thêm không khí sâu thẳm của Phật điện.
Hai bên tượng Pháp Vân là tượng Kim Đồng - Ngọc Nữ. Tượng Ngọc Nữ cao bốn thước, trong tư thế đứng nghiêng mình, duyên dáng và kín đáo, với hai tay đưa ra phía trước thành kính. Cô gái có gượng mặt trái xoan thanh tú, đôi lông mày như một vành trăng thượng tuần vờn lấy đôi mắt lá răm sắc sảo, mũi dọc dừa và miệng thì hơi mỉm cười với đôi môi tươi đỏ. Trên người Ngọc Nữ, y phục nhiều lớp sặc sỡ của nhà chùa không che giấu được những đường nét của một cô gái có thân thể đẹp.
Ỷ Lan cùng vua Thái Ninh và Thái sư Lý Đạo Thành cùng bá quan về chùa Dâu dự lễ tắm tượng Phật. Người ta mài trầm hương, hòa với nước đem tắm tượng. Lễ mộc dục không chỉ dành riêng với tượng Phật mà cả với tượng và bài vị thánh thần. Tế lễ ăn uống xong, đem trầm hương tắm Phật thần khi nãy, theo thứ tự trên dưới, mỗi người nhúng tay vào chậu nước, xoa lên mặt một chút, gọi là “quân chiêm thần huê", đội ơn mưa móc. Còn cái khăn vải đỏ dùng để lau tắm tượng thì xé ra chia mỗi người một mảnh. Cái “mụn đỏ” ấy, đem về đeo vào cổ tay hay buộc cổ tay cho con để lấy khước.
Sau đó, Thái sư Lý Đạo Thành xin vua cho phép rước tượng Phật từ chùa Dâu về chùa Một Cột ở kinh sư để cầu mưa. Vì ngoài tượng Pháp Vân, chùa còn có tượng Pháp Vũ, Pháp Đôi, Pháp Điện coi về làm mưa. Lễ cầu mưa này cũng là hội mùa sấm dậy, hội tết mưa dông. Sau tết này, mùa làm nương, làm ruộng cổ xưa nhất bắt đầu.
Về chùa Dâu lần này, Ỷ Lan nhớ lại ngày đầu tiên mình gặp gỡ vua Thần Vũ...
Tin vua Thần Vũ ngự giá về lập đàn chay ở chùa Dâu, giáp hương Thổ Lỗi7, được đồn đại khắp vùng. Ngoài đàn chay lập rất trang nghiêm, vua tới dự lễ ba ngày một lần, còn mở hội cho thập phương xem trong mười lăm ngày. Nhân dân được tin rất mừng bảo nhau rằng: từ xưa chưa từng thấy lập đàn chay cầu duyên như lần này. Mọi người đều đua nhau ăn mặc quần áo rực rỡ, xa gần kéo đến sum họp đông đúc, qua lại không ngớt. Các cô gái vừa đi xem hội vừa mong được xem mặt rồng, nếu may lọt vào mắt xanh của ngài thì cả nhà trọn đời được hưởng phúc lộc. Hội lại có nhiều trò chơi, bởi những phường chuyên nghề biểu diễn như trò lục sở, chồng người làm xiếc, múa rối, múa hát la liệt đầy sân.
Đồng thị gọi cô con gái riêng của chồng là Lê Thị Khiết8 ra bảo:
- Nghe đồn hội mở vui lắm có vua đến ngự, sao con không sắm sửa mà đi xem?
Khiết nói:
- Thưa dì, người ta nô nức đi xem vua, vì họ có quần áo đẹp. Thôi mặc người ta khoe xinh khoe đẹp, còn mình, con nhà nghèo khó, làm lụng vất vả, thì đi chơi có vui vẻ gì mà đi!
Người dì an ủi:
- Con đừng lấy thế làm tủi thân, cứ nghe lời dì, con hãy chăm làm việc ruộng nương, gặp mùa lúa tốt, bán thóc đi, có tiền thì lo gì không sắm được quần áo đẹp!
Khiết bùi ngùi nhớ lại cảnh nhà mình. Cha Khiết ngày trước lo việc đồng ruộng, làm ăn siêng năng, tiêu pha tằn tiện nên trong nhà cũng tạm đủ ăn. Không ngờ ít lâu sau, ông bị quan bắt làm phu lên xây dựng đền đài ở Kinh, trong thời gian cha vắng nhà thì mẹ Khiết mắc bệnh, ngày càng nặng. Đêm ngày không dùng đến cơm cháo. Mẹ liền gọi Khiết đến, khóc sướt mướt mà bảo:
- Mẹ lần này khó lòng qua khỏi, cha thì không thể nào làm lỡ việc quan, không có chị em, còn người ngoài ai lại giúp mãi được. Nhà ta dẫu làm ăn siêng năng, tiêu pha tằn tiện mà vẫn cô đơn, đói rét, mẹ thương con còn bé dại mà đã phải sớm chịu cơ cực. Mẹ mà mất đi thì con sẽ ra thế nào? Mẹ chỉ khuyên con giữ cho tròn đạo hiếu đối với cha con. Tuy cha ăn ở với mẹ nghĩa nặng tình sâu, nhưng rồi cha cũng phải kết bạn mới, sự ấy là thường. Lúc ấy con phải nghe lời dì. Mẹ nuôi cũng phải coi như mẹ đẻ. Mấy lời đầu đuôi mẹ dặn lại, con phải ghi lòng tạc dạ, nhớ lấy. Như vậy mới mong trọn đạo làm con...
Hai mẹ con cùng khóc ròng. Rồi mẹ thiu thiu ngủ mà hồn chốc lát tan bay.
Cha Khiết ở Kinh được tin báo, bèn xin phép về. Lòng ông đau xót khôn nguôi. Trông thấy con đang than khóc, ông mê người, ngã xuống cạnh con.
Tỉnh dậy, ông khóc rằng:
- Sao lại gặp sự khốn đốn đến thế này? Gia đình lẻ loi, không ai giúp. Thôi thì tùy nhà mình có nhiều hay ít của cải lo việc tang, còn trông vào ai nữa!
Ông làm lễ đưa ma vợ mà lòng bùi ngùi nghĩ đến tình nghĩa vợ chồng ăn ở cùng nhau suốt từ bấy đến nay. Giờ con còn dại, nàng đã bỏ lại cho một mình ông chăm nuôi.
Thời gian qua rất nhanh. Mới đó mà đã ba năm mãn tang. Cha bèn bảo Khiết rằng:
- Cha sẽ nói hết đầu đuôi câu chuyện cho con rõ. Lòng cha vẫn thương nhớ mẹ con khôn nguôi. Nhìn cảnh gia đình ta lòng cha càng đau xót. Cha thương con ở một mình trong phòng xưa có mẹ, nay không ai trò chuyện đỡ đần. Vì vậy cha phải tìm một người để chăm nom giúp đỡ con.
Ngập ngừng một lúc rồi cha nói tiếp:
- May cho nhà ta, cha đã gặp được một người rất tốt. Con hãy coi người ấy như là mẹ của con.
Khiết nghe, tức thì hiểu ý cha. Hai hàng nước mắt ròng ròng chảy, cô quệt ướt cả tay áo. Khiết thưa:
- Trí con còn non, hiểu đâu được chuyện người lớn, ví như sứa không biết nhảy, sao vượt qua đăng được. Mấy lời cha dặn dò, thì xưa mẹ cũng trối lại như vậy.
Bấy giờ có người con gái họ Đồng, cha Khiết cưới về làm vợ. Nàng sành sỏi việc gia đình, lại có nết tốt, nghề hay hơn mọi người. Khiết kính mến nàng và lúc nào cũng coi nàng như mẹ đẻ, nhờ đó mà dì ghẻ cũng thương quý Khiết, cảnh nhà được hòa thuận.
Không bao lâu, cha Khiết thình lình chết. Khiết lăn khóc thảm thiết như đất trời sụp đổ. Khiết than thân trách phận, con gái còn trẻ đã làm việc gì oan trái mà thành khổ sở bơ vơ như thế này. Mẹ đã mất sớm, để mình phải chịu xót xa phiền não. May mà cha cưới được dì hiền thục, cư xử tốt. Niềm vui chưa đầy gang tấc nay cha lại ra đi. Đời người thật là chóng vánh...
Tuy nhà nghèo không của cải, nhưng Đồng thị và Khiết đã lo liệu chôn cất ông thật chu tất.
Đời Khiết sống không cha, không mẹ, lại thêm biết bao nỗi sầu thảm khiến nàng càng buồn. Tuy vậy Khiết vẫn lo việc làm ruộng, lại nuôi thêm nong tằm và hái dâu về cho tằm ăn. Trong khi đi làm lụng cùng với mọi người, Khiết không những giỏi công việc đồng ruộng tằm tang mà còn hiểu thấu cảnh khổ của người dân phải thức khuya dậy sớm, làm đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có cơm ăn, áo mặc. Đã thế còn phải lo thiên tai, hạn lụt lại thêm quan nha lý dịch hạch sách, thúc nộp sưu thuế, bóp nặn đủ vành. Có lúc nàng ao ước đổi phận làm trai để ra gánh vác việc dân việc nước, trừ hết bọn sâu mọt cứu giúp dân lành.
Hôm sau, khi mới tờ mờ sáng, Khiết ra đồng hái dâu như mọi hôm.
Bỗng nàng nghe thấy tiếng chiêng trống và tiếng người mách nhau rằng ấy là tiếng đám rước vua về dự đàn chay tại chùa Dâu.
Tiếng sáo tiếng đàn ca rập ràng. Cờ mở, tán trương, màu sắc rực rỡ. Tất cả các quan lớn bé đều sắm sanh lễ vật, hoa quả đang mùa, đợi để tiến dâng vua.
Xe vua tới trạm Cầu Bây thì dừng lại tạm nghỉ. Dân chúng quần hồng, áo lục nhởn nhơ, tứ phương tuôn lại như mây, hớn hở vui vầy.
Một mình Khiết áo quần chân tay lấm đất bụi, hái dâu trong vườn, không tỏ ý gì muốn xem vua.
Vua bước xuống xe. Mùi hương thơm nức bay khắp mọi nơi. Người người qua lại trong ngoài đám rước. Kẻ thì để khoe mình đẹp, người thì để xem mặt vua.
Trong khi tạm ngồi ở trạm Cầu Bây, vua dõi mắt nhìn khắp xung quanh đến tận xa. Vua chợt thấy trong nương dâu xanh có người lủi thủi một mình hái dâu như không hề để ý đến xa giá.
Vua gọi cận thần đến phán:
- Trong nương xa kia có người, các ngươi hãy nhanh mời vào đây để ta phán hỏi xem vì sao lại không tới xem đám rước.
Cận thần vâng lệnh ra dẫn Khiết vào. Khiết đứng bên bụi cỏ lan nhìn vua mỉm cười, không hề tỏ ý sợ sệt.
Vua thầm nghĩ: Người này tuy chân lấm tay bùn nhưng cử chỉ hình dáng thì người phàm tục không sánh kịp. Vua bèn hỏi:
- Đã có lệnh nghiêm cấm con gái trốn đi dự hội, ai dám chẳng tuân. Thế mà cớ sao cô không nghe lệnh? Tứ phương kéo đến tụ tập đông đảo. Chỉ một mình cô không để ý tới. Cứ liệu đi thì vừa!
Khiết quỳ xuống, cúi đầu tâu:
- Tâu bệ hạ, thiếp xin chịu lỗi nhưng xin cho thiếp phân tỏ đôi lời. Chính thật thiếp quê ở hương Thổ Lỗi này, đã mồ côi cha mẹ từ khi còn nhỏ, chịu cảnh nghèo đói, không ai giúp tập. Thiếp ở cùng dì ghẻ, đêm ngày cay đắng có nhau. Chỉ quan tâm lo việc kiếm ăn, bếp nước cả ngày, siêng năng chăm vườn dâu, cuốc cỏ ruộng. Đáng lẽ ra thiếp cũng sắp đi xem hội, nhưng dì thiếp đã có lời răn chứ đua người ăn chơi. Vậy nên thiếp tiếp tục làm lụng như thường, không biết có lệnh đó.
Vua hỏi lại:
- Đã có ai đi hỏi ngươi chưa?
- Muôn tâu, nhà thiếp nghèo đói thì nào ai thương đến.
Vua nghe nói cảm thương cúi đầu nghĩ ngợi. Năm nay ta đã hơn bốn mươi tuổi mà chưa có hoàng nam. Nay ngẫu nhiên gặp nàng ở đây, biết đâu chẳng là trời đã run rủi cho ta gặp được vợ hiền để có con nối dõi sau này.
Liền ra lệnh cho thị nữ sắm sửa quần áo cho nàng thay, rồi sai xe tùy giá đưa nàng về thành Thăng Long trước.
Vua nghĩ đến việc nàng đứng tựa bụi cỏ lan khi gặp vua, nên phong nàng là Ỷ Lan phu nhân, cho nàng ở cung riêng, đặt tên là Lan cung. Lại sai các bà hầu, bà mụ dạy nàng phép tắc, ăn ở nói năng trong cung, rồi sẽ chầu vua.
Tiếp đó, vua sai ty Tư thiên chọn ngày lành tháng tốt cho nàng vào điện vua hầu cận. Cảnh huống vui không gì sánh kịp chẳng khác gì thân nghèo khổ, cô đơn được ánh vầng dương soi ấm áp. Tuy vậy, nàng vẫn nhớ dì và bà con làng xóm không lúc nào nguôi, chỉ mong có dịp đỡ đần mọi người, đền ơn nuôi nấng cưu mang.
Ít lâu sau, Ỷ Lan sinh con trai, vua đặt tên là Kiền Đức. Vua Thần Vũ càng yêu quý nàng gấp bội. Nàng được tôn làm Ỷ Lan nguyên phi, đứng đầu các phi, sau hoàng hậu Thượng Dương. Con trai nàng sinh ngày hôm trước thì ngày hôm sau được lập làm hoàng thái tử. Vua lại đổi hương Thổ Lỗi làm hương Siêu Loại, có nghĩa là vượt lên loại người thường, vì là nơi sinh của nguyên phi.
Từ khi vào cung, nhà vua sai một nữ học sĩ vào dạy Ỷ Lan học chữ nghĩa. Vốn tính thông tuệ, nên chẳng bao lâu nàng đã học hết kinh truyện của Nho gia và sử các đời, lại còn tham bác cả kinh điển của Phật giáo, vì khi đó nhà Lý chủ trương “tan giáo tịnh hành”9. Mỗi khi vào chầu vua, nàng đều hỏi thăm về tình hình đất nước và dân chúng, được vua giảng giải cho nghe nên nàng dần dần am tường công việc trị nước yên dân. Khi gặp chuyện khó xử, vua đem ra bàn bạc với nàng, nàng thành thật đem ý mình tâu bày với vua, được vua khen là sáng suốt.
Năm Kỷ Mùi10, có quân Chiêm Thành xâm lấn bờ cõi phía Nam. Vua Thần Vũ cùng Lý Thường Kiệt phải cất quân đi đánh dẹp. Trước khi xuất chinh, vua cử Ỷ Lan làm Giám quốc, coi việc chính sự.
Một người con gái sinh trưởng ở chốn quê mùa, trước đây chưa được học hành, bỗng dưng được đặt lên vai một trách nhiệm nặng nề, nhưng nàng vẫn can đảm nhận lời để yên lòng người đi đánh giặc phương xa. Nàng thầm nghĩ, thì cũng y như công việc nàng quen làm trước đây: tiến cử người hiền cũng giống như đặt những hom dâu xuống đất bãi rồi vun bón cho dâu ngày càng xanh tốt, trừng trị kẻ ác cũng giống như nhặt cỏ trong ruộng dâu để chúng khỏi mọc lan hút hết màu khiến dâu cần cỗi, chăm sóc dân cũng giống như hái dâu về cho tằm ăn đúng bữa, béo tốt sởn sơ. Nếu trước kia nàng phải thức khuya xay thóc giã gạo thì bây giờ phải thức đọc và phê sớ tấu và văn án từ dưới đệ lên, dòng chữ phê từ ngọn bút nàng phải như những dòng gạo trắng tuôn ra giúp dân no đủ. Nếu trước kia nàng phải dậy sớm ra đồng làm ruộng thì bây giờ phải ra triều hội họp với trăm quan bàn bạc chính sự. Tiếng nàng truyền sau bức rèm châu phải như tiếng sấm xuân dậy trên cánh đồng báo mưa thuận gió hòa.
Lúc đầu mới cầm chính quyền, nàng hãy còn bỡ ngỡ, may mắn nàng có một người trợ thủ đắc lực đó là Thái sư Lý Đạo Thành, một vị lão thần trì trọng đã giữ ngôi tể tướng mười bốn năm trời. Có chuyện gì nàng lại thương nghị với Lý Đạo Thành nên mọi việc đều xử trí ổn thỏa, không có gì va vấp, vướng mắc.
Vua Thần Vũ đánh giặc lâu ngày không thắng, quay trở về. Đến châu Cư Liên11 vua hỏi thăm nhân dân, thấy nhân dân ca ngợi bà nguyên phi Ỷ Lan trị nước rất giỏi, khiến dân tâm hòa hiệp, cõi nước thanh bình. Dân gian sùng Phật, tôn bà là Quan Âm. Vua thở than: “Kẻ kia là đàn bà, mà còn giỏi như vậy. Ta là đàn ông, lại tầm thường thế này sao?”. Ngài lại quay đi đánh giặc và lần này thắng to. Vua Lý bắt được vua Chiêm là Chế Củ, nhưng mở lượng khoan hồng tha cho về nước, sau khi bắt y hứa không được xâm phạm bờ cõi nước ta nữa.
---❊ ❖ ❊---