Như Nguyệt

Lượt đọc: 63 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
IV

❊ ❊ ❊

Từ ngày phải thay Lý Đạo Thành quyền chức tể tướng, đọc văn thư để dâng lên cho Linh Nhân hoàng thái hậu phê duyệt, Lý Thường Kiệt cứ hận về nỗi mình ít học.

Nguyên ông tên là Ngô Tuấn, quê phường Thái Hòa ở phía tây thành Thăng Long, nhà ở gần một núi nhỏ cũng tên là Thái Hòa. Cha tên An Ngữ, sung chức Sùng ban lang tướng. Mẹ họ Hàn, năm hai mươi tuổi vào năm Thuận thiên thứ 10, đời Lý Thái Tổ21 sinh Ngô Tuấn, sau lại sinh Ngô Hiến.

Khoảng niên hiệu Thiên Thành, đời Lý Thái Tông, cha đi tuần biên địa ở Tương Châu, thuộc Thanh Hoa, bị bệnh rồi mất vào năm Tân Mùi, 1031. Ngô Tuấn bấy giờ mới mười ba tuổi, đêm ngày thương khóc không dứt.

Chồng cô là Tạ Đức, thấy thế đem lòng thương và dỗ dành. Nhân dò hỏi ông về chí hướng, Ngô Tuấn trả lời:

- Về văn học, biết chữ để ký tên là đủ. Về võ học, muốn theo Vệ Thanh, Hoắc Khứ Bệnh22 lo đi xa vạn dặm để lập công, lấy được ấn phong hầu, để làm vẻ vang cho cha mẹ. Đó là sở nguyện.

Tạ Đức khen là có chí khí, dạy cho học các sách binh thư của Tôn Vũ, Ngô Khởi.

Ngô Tuấn đêm ngày học tập, đêm đọc sách, ngày tập bắn cung, cưỡi ngựa, lập doanh, bày trận. Các phép binh thư đều thông hiểu cả, Tạ Đức lại khuyên đọc sách nho.

Khi ấy có Lý Công Ẩn, một vị tôn thất nhà Lý, có tài học nhưng không ra làm quan, đến ở làng Bái Ân, mở trường dạy học, Ngô Tuấn đã đến xin theo học Lý Công Ẩn, hằng ngày, hai buổi Ngô Tuấn đi theo con đường từ thôn Yên Ninh đến thôn Yên Thái trên bờ hồ phía nam hồ Tây để đến trường. Ngô Tuấn rất chịu gắng công học tập, nên chóng thành tài.

Năm ông 18 tuổi, mẹ mất. Hai anh em lo đủ mọi lễ tống táng. Trong khi cúng tế, hễ có việc gì, cũng tự tay mình làm.

Lúc hết tang, nhờ phụ ấm. Ngô Tuấn được bổ chức Kỵ mã hiệu úy, tức là một võ quan nhỏ về đội quân cưỡi ngựa.

Năm Lý Thánh Tông lên ngôi23, ông 36 tuổi, vì đã có công phù dực, nên được thăng chức Bổng hành quân hiệu úy, tức là một chức võ quan cao cấp. Hàng ngày, ông hầu cận bên vua, hiến việc tốt, can việc xấu, giúp vua hết mọi cách, vì công lao giúp rập, nên được phong lên chức Kiểm hiệu thái bảo, tức là một chức tại triều rất cao, và được ban quốc tính. Từ đó ông lấy tên là Lý Thường Kiệt. Sau ông lại được phong làm phụ quốc thái phó, rồi thái uý.

Từ khi chuyển sang võ chức, ông chỉ ham đọc binh thư mà xao nhãng sách nho. Nhất là từ khi nhà Tống rình rập toán xâm lược nước ta, ông càng chăm đọc binh thư hơn. Đêm nay, ông lại cúi mình trước trang sách Tôn tử binh pháp để tìm kế hay mẹo giỏi đánh giặc:

“Đời xưa, kẻ thiện chiến trước hết phải tạo cho mình cái thế không thể bị đánh bại, rồi mới chờ cơ hội có thể thắng được quân địch.

Nếu xét bên địch chưa có cơ bị chiến bại, ta phải cẩn thận việc phòng ngự, giấu kín quân hình. Không thể thắng được thì thủ, có thể thắng thì công. Kẻ giỏi thế thủ, giấu mình dưới chín lớp đất. Người giỏi tấn công, tác chiến trên chín trời. Cho nên, lực lượng vẫn bảo toàn, mà cái thắng được trọn vẹn.

Một quân đội thắng là biết rõ cái lẽ thắng trước rồi mới đánh sau. Binh bại là binh cứ đánh trước để cầu một chiến thắng may rủi về sau.

Người giỏi dùng binh là biết sửa đạo, giữ phép, cho nên nắm được giềng mối của sự thắng bại.

Binh pháp có năm việc:

- Một là đo tính địa hình địa vật.

- Hai là lường tính nhân tài vật lực.

- Ba là so tính quân số.

- Bốn là cân nhắc thế lực.

- Năm là nắm cái cơ tất thắng.

Cho nên binh thắng tương tự như việc lấy dật24 cân với thù25. Binh bại như lấy thù cân với dật. Kẻ thắng tiến đánh hình thế giống như người tháo khe nước trên cao ngàn nhận, uy thế không ai ngăn cản nổi.

Trong thiên “Quân hình” này ông chú ý nhất câu “phải nắm cái cơ tất thắng”. Muốn thế thì phải lấy dân làm gốc, động viên mọi người đứng lên giữ lấy đất nước. Muốn làm kế sâu rễ bền gốc thì phải nuôi sức dân. Ông rất tán thành chủ trương của Linh Nhân hoàng thái hậu. Ở nông thôn bấy giờ có nhiều phụ nữ vì nghèo mà phải bán mình hoặc bị mẹ cha buộc lòng phải đem bán, đem thân thế nợ, không thể lấy chồng được. Linh Nhân đã lấy tiền bạc trong kho nhà nước chuộc những người ấy và đứng ra dựng vợ gả chồng cho họ. Bà rất hiểu rằng đối với người dân cày “con trâu là đầu cơ nghiệp”. Cho nên bà đã nhiều lần nhắc triều đình phải phạt tội nặng những kẻ ăn trộm trâu và giết trâu. Việc giết trâu ăn thịt những ngày giỗ, đám cũng bị hạn chế. Nhà nước quy định ở Thăng Long cũng như tại các địa phương trong cả nước, cứ ba nhà lập thành một “bảo”, kiểm soát lẫn nhau và cùng liên đới chịu trách nhiệm về tội lạm giết trâu bò.

Muốn giúp bà đắc lực trong việc trị nước thì phải học thông chữ nghĩa để đọc và phê văn án, cũng như đọc các sách nói về chính trị, kinh tế, xã hội... Thế là Lý Thường Kiệt lại để thì giờ đọc những sách: Kinh Thư, Mạnh Tử, Tuân Tử, Quản Tử, Hàn Phi Tử... để học về cách trị nước.

---❊ ❖ ❊---

Bức thư đã chìm ngập trong đống giấy tờ công văn hàng ngày không hiểu có mãnh lực gì bắt Lý Thường Kiệt phải mọi lên đọc lại lần nữa. Rõ ràng nó mang những tin không vui cho ông và triều đình Đại Việt.

Thư ấy của Từ Bá Tường, người châu Bạch bên nhà Tống, đã đỗ tiến sĩ, nhưng không được triều đình Tống dùng, vì không vừa lòng tể tướng Vương An Thạch. Lần này thấy Tống sửa soạn đánh Việt, Từ vội báo cho triều đình ta biết. Vì Lý Đạo Thành thôi chức tể tướng. Nội các cũng tự giải tán, Thường Kiệt phải đọc tất cả văn án, rồi trình lên Linh Nhân hoàng thái hậu xét.

Thường Kiệt vuốt thẳng mép thư, nghĩ ngợi. Ông lấy trầu ra ăn. Bấy giờ đàn ông, đàn bà ai cũng ăn trầu, vì tin rằng trầu xua được chướng khí. Kể cũng đúng thôi, cứ ra khỏi Thăng Long là đã thấy rừng: rừng gỗ tứ thiết Đông Ngạc, Trang Liệt, Xuân Quan, Đình Bảng, rừng bàng Yên Thái, rừng du Du Lâm, rừng dâu da Gia Lâm... có rừng, tất là nhiều khí độc.

Chuyện này ông đã liệu từ trước. Khi thấy nhà Tống bãi chức Thẩm Khởi và cho Lưu Di thay coi Quế Châu, nhất là lại bãi chức cả Vương An Thạch cho Ngô Sung thay, trong triều đình Việt ai cũng cho rằng chính sách thôn tính của Tống đã thay đổi. Nào ngờ gần đây liên tiếp những tin cáo cấp: Lưu Di vẫn dùng chính sách Thẩm Khởi, sai quan lại vào các khê động kiểm điểm thổ dân, bắt chúng tập trận. Di đóng chiến hạm, dùng thuyền muối để tập thủy binh y như Khởi trước. Di cũng cấm người của ta sang buôn bán để tránh sự thám thính. Những thuế má vùng Tả, Hữu giang thu bằng thóc gạo để tích trữ quân lương...

Dù nhà Tống có thay người nhưng đầu óc xâm lược của họ vẫn thế: chẳng qua vì tân pháp bị phản đối quá nên vua Tống phải bãi chức An Thạch đấy thôi. Tiếng chia ra tân đảng và cựu đảng, nhưng đảng nào cũng muốn nuốt Giao Chỉ, chỉ biện pháp khác nhau. Cứ xem sớ của đại thần Trương Phương Bình thuộc cựu đảng dâng vua Tống thì đủ rõ. Phương Bình không tán thành chủ trương đánh Giao Chỉ của An Thạch, nhưng lại nói: “Tôi xét việc đánh Man có thể dùng mẹo chứ khó dùng sức. Huống chi Giao Chỉ tục không giống Man khác. Các Man khác từ trước đến sau đều phục tùng một dòng họ quý chủng mà thôi. Còn ở Giao Chỉ thì từ khi quốc triều lập nên, đã đổi đến bốn họ Ngô, Đinh, Lê, Lý mà đều là đại tướng lên cướp ngôi chúa. Đó là thói quen của các phiên trấn cuối đời Đường. Vì vậy thế Giao Chỉ dễ lật đổ. Kiền Đức còn nhỏ, những kẻ giúp việc đều theo ba người. Khi chúng đi cướp đất, lấy được nhiều vàng, lụa, con gái, chắc chúng sẽ tranh giành nhau khi chia của. Rồi chúng sẽ khai hấn lẫn nhau, bấy giờ ta đánh càng dễ...”.

Thường Kiệt gãi đầu trần bóng dầu thơm, mỉm cười. Chúng mày uổng công chờ đợi chúng tao chia rẽ...

Một người lùn tịt, mặt to phèn phạt còn vẽ thêm thành lông mày chổi xể, đôi mắt ốc nhồi, cặp môi dày đỏ lòm lúc nào cũng như cười nhăn nhở, đầu nghiêng bên nọ, nghiêng bên kia, từ trong nhà ra, nói giọng bụng:

- Bẩm tướng công, hôm nay muốn xem trò gì ạ?

Thường Kiệt nói :

- Ta muốn xem tuồng như mọi bận.

- Vâng, con xin hiến tướng công tích Tướng tướng hòa26

Ưu nhân27 bắt đầu đóng giả vai Liêm Pha, trợn mắt ra vẻ oai phong lẫm liệt, nói:

- Quân bay, bắt con gà ra đây cho ông Lạn Tương Như ông ấytrói!

Rồi y lại đóng giả quân hầu:

- Dạ, ông ấy trói không chặt để xổng mất rồi!

Liêm Pha lại thét:

- Cơm toi! Cơm toi!

Trói gà không chặt mà dám đọ cùng ta.

Một lão tướng trải qua trăm trận.

Hãy cuốn gói để mắt ta khỏi bận.

Thấy một tên đồ gản đồ gàn.

Mở miệng là nói cản nói càn.

Rặt những chuyện tam hoàng ngũ đế.

Rồi Liêm Pha hát:

Tam hoàng ngũ đế ý y chi thư,

Đến khi nhớ vợ ỳ y ngồi thừ ỳ mặt ra...

Xong ưu nhân lại đóng vai Lạn Tương Như:

- Này ông Liêm Pha, ông so với thằng Tần Thủy Hoàng liệu có bén gót chân.

Đến nó tôi còn chẳng sợ, thì tôi cóc cần sợông.

Đứng cạnh nó, tôi còn túm lấy áo lông gà... à, lông công.

Bảo chỉ trong ba bước, tôi sẽ lấy máu cổ vẩy lên mình rắn... à mình rồng nó ngay.

Ông quả là gà què ăn quẩn cối xay,

Tôi đang thiếu người xách dép, ông sang tôi sẽ cho thay thằng hầu...

Bỗng Thường Kiệt vẫy tay.

Đoạn trò khôi hài không làm cho Thường Kiệt cười như mọi lần mà khiến ông mất vui. Ông biết ưu nhân có ý nhắc khéo ông về chuyện bất hòa giữa ông với Lý Đạo Thành. Việc Lý Đạo Thành được cử ra coi châu Nghệ An, có người hiểu lầm Thường Kiệt muốn độc chiếm địa vị nên tìm cách đẩy Đạo Thành đi.

Thường Kiệt chép miệng thở dài. Sự thực không phải như thế. Cũng như nhiều người cho rằng Linh Nhân vì tính hay ghen, nên mới tìm cách buộc tội Thượng Dương, để giành lấy quyền hành về tay mình. Thượng Dương tự tiện dâng biểu xin đem nước Nam nội phụ vào Tống là phạm tội đối với dân, nước. Lý Đạo Thành vì xét lầm người, đưa Thượng Dương lên ngôi nhiếp chính, mà không để ý theo dõi, kiểm tra để xảy ra chuyện tư thông với ngoại bang, việc ấy dù Đạo Thành không đồng mưu, nhưng thân làm tể tướng mà không hay biết, thì vẫn cứ là có tội. Việc giáng chức Đạo Thành do cộng đồng nghị án, không phải do Thường Kiệt vì tư thù nên làm hại đồng liêu.

Về vụ án Thượng Dương, ngoài tên mang biểu sang nhà Tống đã bị bắt chỉ là kẻ tay sai tầm thường “thiên lôi chỉ đâu đánh đấy” không đáng kể, trong số các quan liêu chỉ mới thấy có Quách Sĩ An, nhưng y chỉ nhận là thảo biểu giùm Thượng Dương chứ không phải là đồng mưu của mụ. Thế nào cũng phải có một tên đồng mưu quan trọng mà Thượng Dương giấu kín không chịu khai ra, để tên này có thể nấp trong bóng tối mà hoạt động, hy vọng sau này có thể nhờ tên đó cứu thoát cho mụ. Trong khi chưa tìm ra tên đó, dù có tra khảo Thượng Dương đến chết chăng nữa, mụ cũng sẽ ôm theo cái bí mật kia xuống dưới suối vàng. Nếu cứ để Đạo Thành ở nguyên chức cũ tại Thăng Long, thế nào tên kia chẳng nấp bóng Đạo Thành để hoạt động, như vậy tai hại cho việc nước không nhỏ. Việc Linh Nhân xử trí Đạo Thành là điều cần thiết phải làm chứ không phải vì thù hằn Đạo Thành trước đây không tôn lập mình làm nhiếp chính.

Tất cả cũng do Đạo Thành câu nệ, cố chấp tin vào một số tín điều Nho giáo như đích mẫu phải ở trên sinh mẫu, hoàng hậu phải ở trên hoàng phi, theo cái tôn ti trật tự mà nhà nho đặt ra nhằm nâng cao người trên, đè nén người dưới, vì thế nên ông ta mới chủ trương tôn lập Thượng Dương. Trái lại, Thường Kiệt có đầu óc phóng khoáng hơn, thấy cái gì có lợi cho dân, cho nước thì làm chứ không nhắm mắt tin vào lời dạy của thánh hiền, cũng như kỷ cương phép tắc từ đời xưa để lại nếu xét thấy sai trái và hủ lậu. Thường Kiệt tôn phù Linh Nhân là vì ích chung của xã tắc, chứ không phải vì muốn dựa vào Linh Nhân để mưu cầu lợi riêng. Có người hiểu lầm cho ông là phe Linh Nhân, chống với Đạo Thành là phe Thượng Dương, nên hai bên mới sinh ra bất hòa, hiềm khích. Chắc rằng bên ngoài miệng tiếng đã nhiều cho nên ưu nhân mới đưa vào lời hát vừa rồi để nhắc nhở ông.

Bỗng viên Trung thư xá nhân từ trong bước ra. Người gầy đét, mặt choắt cheo, áo dài thâm cổ vàng cài khít bốn vạt, quần thâm, búi tóc cài trâm sắt, quấn khăn sa đen. Y trụt đôi dép da đen cầm trong tay, khép nép:

- Bẩm tướng công, con vừa ở nhà trong, nghe thấy tên ưu nhân dám đặt câu hát xúc phạm người trên, gièm chê chính sự, xin tướng công thẳng tay trừng phạt cho nó khỏi nhờn phép nước.

Thường Kiệt xua tay:

- Ngươi không nhớ chuyện Ưu Mạnh xưa đặt câu hát nhắc vua Sở chuyện dùng con cháu Tôn Thúc Ngao hay sao? Những lời đồ ngôn đồ thuyết28 của con hát nhà trò, tuy là chuyện vui đùa nhưng xét ra cũng có nhiều câu thâm thúy, có bổ ích cho việc dò xét dân tình, tìm phương trị nước. Nếu nhất nhất cho là bài bác chính sự mà trừng phạt thì từ rày còn ai dám dâng lời nói thẳng nữa.

Trung thư xá nhân mấp máy cặp môi mỏng dính:

- Bẩm, con xem khẩu khí thằng hề rõ ràng nó đặt câu hát chế nhạo ngài không dung nạp quan Tả gián nghị đại phu, biết đâu nó chẳng nhận tiền của bọn tay chân quan đại phu, để tìm lời khích bác, xin tướng công xét kỹ.

Thường Kiệt nhìn chằm chằm xuống chỗ ưu nhân vừa đứng lúc nãy. Mặt sàn gạch tráng men văn hóa cúc, còn nhân ra những lốt có lớp bụi dày hơn vây theo vành ngoài chiếc giày. Một con ruồi bò vào hút giọt mật từ bát chè quân hầu bưng lên làm rớt xuống. Bị dính vào giọt mật, nó cố nhấc mình ra nhưng không được, cuối cùng bị lật ngửa bụng, cánh vẫn vè về kéo theo giọt mật xoay vòng tròn... Một con kiến từ kẽ gạch bò đến, râu rung rung đánh hơi, rồi về kéo cả đàn ra, cố tha con ruồi đi Xác ruồi to nặng, bị một đàn ruồi nhỏ t khiêng trong long trọng như một đám rước.

Thấy Thường Kiệt nín lặng, tưởng ông đã xiêu lòng, Trung thư xá nhân giọng càng ỏn thót:

- Bẩm con nghe, từ khi Lý Đạo Thành bị biếm ra Nghệ An, vẫn còn ý oán hận. Đạo Thành lập viện Địa tạng trong khu vườn ở miếu Vương Thánh đặt tượng Phật và vị hiệu vua Thánh Tông để thờ, tỏ ý không công nhận đức tân quân. Nghe đâu ông ta còn thuê tạc tượng Linh Nhân hoàng thái hậu và tướng công bằng gỗ đào rồi sai đạo sĩ vẽ bùa yểm tâm, hàng ngày cầm kim chích vào các lỗ khiếu, để cầu cho Thái hậu và ngài sớm…

Thường Kiệt vội gạt:

- Ưu nhân xúc phạm ta, mà ta cảm ơn, vì mang lại điều hay cho ta. Còn ngươi xu phụ ta mà ta căm ghét vì mang lại điều hại cho nước. Việc nước và việc của ta là một! Ta hạ lệnh cho người hãy tránh xa ta một trăm dặm. Chưa cần ngươi nói gì, chỉ hơi thở xú uế của ngươi cũng đủ làm vẩn đục bầu hòa khí trong lành. Nước mà loạn là tội ở những kẻ xu nịnh như ngươi. Ta muốn rằng khi ta ngẩng đầu lên thì không phải bẩn mắt vì trông thấy ngươi nữa!

Ông quay mặt vào vách, ngồi theo phép kiết già trên bồ đoàn, hai chân khóa vào nhau, trước hết đặt bàn chân phải lên đùi trái rồi đem bàn chân trái đặt lên đùi phải. Bàn tay phải ngửa lên và đặt trên bàn chân trái, bàn tay trái cũng đặt ngửa lên trên bàn tay phải, đầu hai ngón tay cái chạm nhau. Xương sống thẳng đứng không nghiêng bên trái cũng không lệch bên phải, không cúi tới trước cũng không ngả ra sau, lỗ tại thẳng với vai và lỗ mũi ngay nơi rốn. Lưỡi chạm hàm trên, miệng ngậm, mắt hé mở, hơi thở tự nhiên, nhưng thông qua mũi nghe rất nhẹ. Phép thiền định này đã giúp ông trấn tĩnh khi có điều xúc động tâm thần. Khi quay lại, thì tiếng vó ngựa phi đã im bặt, ông trút một hơi thở dài như vừa cất đi một tảng đá đè nặng trên lồng ngực.

Ông gật gù... Nhà Tống sở dĩ rối loạn, bị Liêu, Hạ ăn hiếp, chính vì trong triều, các đại thần kéo bè kéo cánh chia rẽ nhau. Vương An Thạch muốn cải cách chính sự để cứu vãn cảnh nguy ngập, nhưng chính vì mối bất hòa trong triều đình nên dù cố gắng bao nhiêu, tân pháp do y đề ra vẫn không thu được hiệu quả. Thêm nữa, bên dưới lại đầy dẫy quan tham lại nhũng, hà lạm của dân, mượn cơ hội để kiếm ăn, khi thi hành tân pháp thì làm việc hững hờ, thối nát vẫn hoàn thối nát, thành thử An Thạch nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì chỉ tổ làm trò cười cho bọn thủ cựu cổ hủ. Vì vậy An Thạch muốn lập công ở ngoài biên, đánh nước yếu để dọa nước mạnh, tin rằng đánh được Giao Chỉ thì thế Tống sẽ tăng, các nước Liêu, Hạ sẽ phải nể. Từ đó sẽ có cơ đè nén được cựu đảng, làm chỗ dựa cho việc thi hành tân pháp.

Kỳ này thế nào ông cũng phải mang quân đi đối phó với Tống. Việc nước cần một lão thần trì trọng trông nom. Ngoài Đạo Thành, còn ai xứng đáng hơn nữa, ông biết rằng Đạo Thành vốn yêu nước, không bao giờ chịu khuất phục Tống. Việc gọi Đạo Thành về triều coi sóc chính sự, trong khi ông bận lo việc binh, chắc sẽ được nhiều người vừa lòng, vì Đạo Thành vốn được sĩ phu ngưỡng vọng, như vậy không những đã hòa mục trong triều mà còn cố kết được nhân tâm. Tính cẩn trọng của Đạo Thành đi đôi với tính cả quyết của Linh Nhân, hai đằng bồi bổ cho nhau, chỉ càng có lợi cho việc nước.

Nhưng không biết Linh Nhân có chịu dung nạp Đạo Thành hay không? Ai lạ gì Đạo Thành đã từng tôn lập Thượng Dương. Thường Kiệt nghĩ rằng một người đàn bà sáng suốt như Linh Nhân, có lẽ nào lại không biết vì nước quên hiềm riêng... Một gái quê khi vua đến mà không chịu ra xem xa giá, coi như chuyện bình thường, thì có coi uy quyền vào đâu, hỏi có việc gì ích quốc lợi dân mà lại không đủ dũng khí làm... Được Đạo Thành giúp đỡ, hẳn bà sẽ chăm sóc cho dân như xưa kia bà chăm chỉ hái dâu, đêm quên ngủ rắc dâu cho tằm mỗi khi tằm ăn rỗi...

Ông vân vê ngọn bút trên nghiên mực bằng đá núi An Hoạch29 thứ đá màu sáng như ngọc lam, chất xanh như khói mới lên, rồi đưa nhanh trên giấy quỳ sắc, thảo tờ biểu xin đòi Lý Đạo Thành về. Xong, ông vào thay triều phục: áo bào tía, cầm hốt ngà, thắt đai da đỏ, nam sừng tê, đeo túi kim ngư đại hình cá bằng vàng.

Kiệu thừa lương bằng gỗ, sơn đen, thiếp vàng, hai đòn kiệu ngắn đi về phía hoàng thành.

Qua khu vườn Tây Cấm trong có chùa Diên Hựu tức Chùa Một Cột kiệu đi trên một quảng trường, nơi thường mở hội mừng sinh nhật nhà vua, rồi đi trên một con đường trồng toàn liễu, tới cửa Tây trên có biển đề chữ “Quảng Phúc Môn". Phía ngoài Cẩm Thành có điện Thiên An, phía trước là Long Trì thềm rồng, sân rồng rộng lớn, nơi tổ chức hội thề tháng mười, tổ chức đấu voi đấu hổ, hay là nơi vương hầu thi tập múa võ, đá cầu, hắt phết. Hai bên là hành lang giải vũ đông tây, nơi các quan chầu chực tiến triều. Quanh Thiên An là một loạt cung điện, lợp ngói ông, đầu bịt ngói hình rồng, phượng, hoa sen, nào Tập Hiền, Quảng Vũ, nào Phật Quang, Nguyệt Minh, nào Tuyên Đức, Diên Phúc. Nổi bật lên là lầu Chính Dương, nơi đặt đồng hồ cát để xem giờ giấc. Lầu chuông treo quả chuông lớn, ai có việc oan khuất thì được phép lên lầu đánh chuông, vua sẽ thân nghe việc và nếu cần thì minh oan.

Kiệu dừng lại trước cửa điện Long An. Qua tòa điện cao bốn tầng sơn màu đỏ, cột chạm vẽ rồng, hạc và tiên nữ múa, Thường Kiệt nhằm hướng cung Thúy Hoa. Từ trong đó, một tia sáng hắt ra, qua bức rèm châu, Thường Kiệt thoáng thấy bóng Linh Nhân đang ngồi phê văn án. Vành khăn trắng chít ngang đầu làm cho da mặt bà trắng xanh hơn. Vầng trán bà nhíu lại. Thường Kiệt chợt nhận thấy bà đã già đi nhiều. Ông dừng lại chưa dám bước vào, sợ làm kinh động lúc bà đang mải mê làm việc.

Nghe tiếng động, bà chợt ngẩng lên, truyền cho Thường Kiệt vào. Thường Kiệt vái ba vái, dâng tờ biểu. Linh Nhân đọc xong, mỉm cười, cầm bút son phê chuẩn y trên tờ biểu, bàn tay thoăn thoắt như khi hái dâu hồi nào. Đôi mắt bà lúc này chợt ánh lên những tia trẻ trung, tinh nghịch như khi đứng tựa khóm lan nhìn vua Thánh Tông như thách thức với số phận của mình. Một nước có người cầm đầu đầy nghị lực như thế thì giặc nào đến mà chẳng phải tan.

Một ngọn gió lạ từ ngoài thổi vào làm ngọn nến lung lay nhưng chỉ trong giây lát lại bừng sáng.

---❊ ❖ ❊---

Trên văn kỷ, khói từ từ trầm bốc lên uốn éo rồi tan loãng dần trong không. Một mùi hương ngào ngạt tỏa lan trong thư trái, chứa đầy sách cổ mà không có đồ cổ đồng có giá trị. Trên tường treo bức chữ viết câu thơ “Xuân phong hựu lục Giang Nam ngạn”, do Tô Thức viết theo lời yêu cầu của chủ nhân.

Vương An Thạch mê mải đọc bản tâu của trị Ung Châu Tô giám, nói ở An Nam Nhật Tôn30 chết, con là Kiền Đức mới bảy tuổi lên nối ngôi. Ông ta mừng rỡ, thế là phen này có cơ hội tốt để đánh lấy An Nam. Nhưng ông ta nghĩ nếu đem việc này ra bàn bạc ở triều đình, thế nào cũng bị phái “cựu đảng” phản đối quyết liệt.

Mấy năm gần đây, Vương An Thạch đã bị phái “cựu đảng” của Tư Mã Quang, Lữ Công Trứ... đả kích dữ dội. Phái “tân đảng” chỉ có Lữ Huệ Khanh, Ngô Xung, Vương Khuê đi theo An Thạch. Tô Tuân (thân phụ Tô Thức, Tô Triệt) có lần lên kinh sư đến thăm nội hàn Tư Mã Quang, thấy Quang đãi cơm khách. Khách đi hết, chỉ có Tô Tuân còn nán lại. Tô Tuân hỏi Quang: “Vừa rồi ngồi có người đầu bù mặt ủ rũ, đó là người nào vậy?”. Quang đáp: “Vương Giới Phủ31 đấy. Nhà văn nổi tiếng, ông không nghe biết à?”. Tuân nói: “Theo tôi nhìn, người này khi đắc chí ắt làm loạn thiên hạ. Khiến cho ông ta đắc chí vào triều, tuy là chúa thông minh cũng sẽ bị ông là lừa mị đưa vào con đường lầm lạc. Nội hàn sao lại giao du với ông ta”. Tuân lui về, nói với mọi người An Thạch là người bất cận nhân tình, chớ để cho kẻ đại gian đó cổ hoặc. Rồi làm bài “Biện gian luận” lưu hành ở đời. Khi đó An Thạch đã làm tri chế cáo, mà Tô Tuân là người áo vải.

Trình Di nói thẳng “An Thạch tâm thuật bất chính, gây hại lớn cho nước”.

Không chỉ trái ngược với Trình Hạo; Trình Di về quan niệm chính trị, Vương An Thạch còn đối lập với hai anh em họ Trình về quan niệm triết học. Trình Hạo cho rằng kẻ học đạo trước tiên là nhận biết đức Nhân. Nó hồn nhiên, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín chỉ là những cách bày tỏ lòng Yêu người mà thôi. Đã nắm gọn nguyên lý ấy, hãy đem lòng thành kính gìn giữ tồn dưỡng nó là đủ rồi, việc gì phải kiểm tra, xét nét, học tập hay kìm giữ nó nữa. Ông nói: Kẻ chưa an tâm nên mới mất công đi đến tận cùng cái lý. Cứ dưỡng tâm thanh tĩnh thì tự nó bừng sáng lên, chứ suy lý làm chi. Đạo không đối đãi, không chủ khách chi cả. Bản thể tuyệt đối thì không đối đãi. Nó là Một chứ không phải là Hai.

Trình Di thì cho rằng Lý tính vũ trụ tương thông, nhất quán với con người và vạn vật. Ở Trời thì Lý ấy gọi là “Thiên”, bẩm thụ được Thiên lý thì gọi là “Tính", tồn dưỡng ở người thì gọi là “Tâm”. Ông nói: “Tâm một người tức là tâm Trời Đất, lý ở một vật không khác cái lý ở vạn vật, một ngày vận hành không khác một năm”.

Tuy nhiên, Thiên lý siêu ngã lại khác hẳn nhân tâm cá biệt gọi là "nhân dục”, hay “tư dục”. Thiên lý không thể đồng nhất hóa với tư dục. Cụ thể như ý chí hay ý muốn làm việc thiện cũng là Dục vọng, khác hẳn Thiên lý chí công, vô tư, vô dục.

Trái lại, Vương An Thạch đi theo con đường Pháp trị của Tuân Tử, cho rằng tính bẩm sinh của con người vốn là ác, vì nó theo dục vọng, muốn được theo sở thích, bản năng mù quáng, vị kỷ chứ không vị tha như Mạnh Tử tin tưởng. Tuân Tử cho rằng “tính tình” tự nhiên của con người là ích kỷ, ham muốn hưởng thụ. Chất của tính là tình; phản ứng hay biểu hiện của tình là dục. Ông nói: “Dục vọng của người ta thường muốn ăn ngon, mặc đẹp, đi thì muốn lên xe xuống ngựa. Ai cũng muốn giàu có, tích lũy của cải dư thừa. Vậy mà suốt đời không biết thế nào là đủ. Đó là nhân tính". Tính biểu lộ ra yêu ghét, mừng, giận, thương, vui gọi là tình. Người ta sinh ra đã có tình, có dục, cầu mong, ham muốn vô cùng tận. Thích gì thì mong muốn, tìm đủ cách tranh đoạt. Thế là đi đến rối loạn. Ông nói: “Vua xưa ghét sự cạnh tranh hỗn loạn, nên lập ra lễ nghĩa để phân chia đo lường, giới hạn dục vọng và nhu cầu con người. Lễ là phần trọng yếu của pháp chính, là kỷ cương của các loại người trong xã hội”.

Chính vì thế An Thạch muốn dùng pháp luật để khống chế con người. Ông rất tán thành quan điểm của Hàn Phi Tử cho rằng bản tính con người là ích kỷ, thích thưởng, sợ phạt. Thưởng phạt là biện pháp chính của nhà cầm quyền. Chính quyền mạnh cần luật pháp, uy quyền và thủ đoạn. Vua không có thuật cai trị thì yếu, triều thần khôngcó chính pháp sẽ sinh ra hỗn loạn. Thưởng phạt công minh, dựa trên tiêu chuẩn chính sách. Công phải thưởng tương xứng với danh phận. Chính pháp cũng phải nhờ chính sách mới minh bạch, hiệu quả tạo quyền lực tối thượng cho quân vương. Kỷ cương trật tự được củng cố nhờ danh phận xác thực. Danh phải ứng với Thực. Danh chính đáng, luật nghiêm túc, thánh nhân không cần phải lo làm gì nữa.

Chính vì đem những lý luận đó ra thuyết phục, vua Tống Hy Ninh đã bùi tại tán thành “tân pháp” của Vương An Thạch.

Vương An Thạch, từ Giới Phủ, hiệu Bán Sơn, người Lâm Xuyên Giang Tây. Cha ông Vương Ích hoạn lộ gian nan, vẫn cứ làm quan địa phương. Năm Khánh Lịch thứ hai32, An Thạch 22 tuổi thi đỗ tiến sĩ. Ra làm mạc liêu cho một trưởng quan ở Dương Châu, sau đó làm quan ở một số địa phương, rồi giữ chức “trù chế cáo” chuyên khởi thảo chiếu lệnh cho nhà vua. Đến năm đầu Hy Ninh33, từ Tham tri chính sự thăng làm Tể tướng. Dưới sự ủng hộ của vua Hy Ninh, Vương An Thạch chủ trương cuộc vận động biến pháp. Để tiến hành biện pháp có hiệu quả, Vương An Thạch trước tiên đặt Tam ly (Độ chi, Lại bộ, Diêm thiết) ty Điều lệ, coi là tổng cơ quan chủ trì biến pháp. Biến pháp xoay quanh hai phương diện lý tài và chỉnh đốn quân đội tiến hành. Trong đó có phép quân thâu, phép thanh miêu, phép miễn dịch, phép thị dịch, phép phương điền quân thuế, phép tướng binh, phép bảo giáp, phép bảo mã.

Vua Hy Ninh đưa Vương An Thạch ra làm tể tướng và đặt nhiều hy vọng ở con người có đầu óc “kinh bang tế thế” này, mong có thể giúp cho nhà Tống luôn cường thịnh, hùng mạnh hơn cả các thời Tấn, Đường, để có thể làm bá chủ cả thiên hạ. Lời chế phong chức viết: “Từ khi có con người đến nay, chỉ có một số ít người được như vậy mà thôi. Tạo tác ngôn ngữ, đến mức có thể theo kịp thánh nhân". Lời tâng bốc đến cùng cực.

Người ta chê cười An Thạch ở bẩn, lười tắm gội có khi trước mặt khách cũng lần áo bắt rận, rồi bỏ vào miệng nhấm, trăm nghìn con mới sót vài con. Vua Tống Nhân Tông khi vào ngự uyển thưởng hoa câu cá, dùng đĩa vàng đựng mồi câu bày trên kỷ, lúc quần thần vào quán làm thơ, An Thạch thấy liền ăn hết sạch.

An Thạch nghĩ An Nam cũng ngon xơi như đĩa mồi câu mà ông ta đã ăn. Khi vào triều ông ta bàn với các quan lại trong triều: “Nhân lúc Kiền Đức mới lập, ta chỉ cần hai vạn tinh binh là xong việc!”. Nhưng phái “cựu đảng” trong đó có đại thần Trương Phương Bình, chủ trương không nên đánh Giao Chỉ lúc này vì trong nước còn nhiều khó khăn. An Thạch lại muốn lập công ngoài biên, để giải quyết tình hình khó khăn trong nước. Để làm rõ ý đồ của mình. An Thạch nêu ra lý lẽ “lúc ta diệt được Giao Chỉ, uy ta sẽ có. Rồi ta báo cáo cho Thiểm Tây biết. Quân dân Thiểm Tây sẽ có thắng khí. Với thắng khí ấy, ta sẽ nuốt tươi nước Hạ. Mà nếu nuốt tươi được nước Hạ thì ai dám quấy nhiễu Trung Quốc nữa”.

Âm mưu quốc sách căn bản của đế chế Tống là gây chiến, xâm lược để thôn tính các nước mà họ coi là nhược tiểu, đưa Đại Tống thực sự trở thành kẻ bá chủ thiên hạ. Thực hiện âm mưu này, nhà Tống luôn muốn coi Đại Việt là một mục tiêu chính yếu, cần phải đánh chiếm trước. Chiếm được quốc gia cường thịnh ở phía Nam này, nhà Tống có thể tung hoành trên toàn lục địa vốn có nhiều vàng bạc châu báu, nhiều hương liệu quý, nhiều của ngon vật lạ. Nếu thắng Đại Việt, chiếm được lục địa phía Đông Nam nổi tiếng giàu có, thì người Liêu, người Hạ làm sao còn đủ sức cưỡng lại được sự sáp nhập vào nước Đại Tống.

Để đạt được ý đồ đó, An Thạch xin vua Tống thực hiện chính sách tạm thời hòa hoãn với Liêu Hạ, thậm chí nên cắt đất cho người Liêu nhằm lừa họ, khiến cho họ yên lòng để nhà Tống có điều kiện tập trung lực lượng đánh chiếm Đại Việt.

Việc đánh chiếm Đại Việt còn là để cứu nguy cho “tân pháp” của Vương An Thạch. An Thạch chủ trương theo thuyết “pháp trị” và lấy phép “thanh miêu, trợ dịch” làm căn bản trong kế sách “trị quốc bình thiên hạ”. Nhưng, những chính sách được gọi là “tân pháp” của Vương An Thạch cũng chẳng làm xoay chuyển được tình hình xã hội Trung Hoa lúc bấy giờ: tướng kiêu, binh lười, nuôi quân vô dụng, tiêu hao thuế má, vét hết của cải thiên hạ, lính càng nhiều thế nước càng yếu. Đến nỗi nhà triết học Trình Hạo phải tâu vua: “Ngày nay bọn kiêu binh cậy thế làm hao mòn sức mạnh trong nước, tổn phí của cải rất nhiều. Ngoài các quân cấm vệ, nếu không dần dần đưa về làm nông nghiệp thì sẽ để mối lo lắm".

Để giải quyết một số thực trạng mâu thuẫn nhau (việc cần có quân đông để tiến hành chiến tranh xâm lược, mà lại bớt được tổn phí về quân sự) trong “tân pháp”, Vương An Thạch có đề ra phép “bảo giáp” và phép “bảo mã”. Phép “bảo giáp” là mười nhà làm một bảo, những định trong bảo đều được phát cung nỏ và được dạy về chiến tranh. Phép “bảo mã” là tất cả những người các nghĩa bảo muốn nuôi ngựa ở năm lộ, thì nỗi nhà một con, các quan lo việc chăn ngựa xem số ngựa và cấp cho những người tình nguyện ấy. Hoặc nhà nước cho giá tiền để họ tự mua lấy ngựa. Hàng năm, một lần kiểm soát xem ngựa gây béo thế nào, nếu có ngựa chết hay ốm thì phải đền.

Song, cái “diệu kế" này của An Thạch cũng chẳng hề thực hiện được bởi người dân Tống, không thể sẵn sàng nộp tính mạng và tài sản của mình để nuôi dưỡng một đội quân chuyển làm nghề chiến tranh xâm lược phi nghĩa, không mang lại một chút lợi ích nào cho họ.

Nếu đánh chiếm được Đại Việt sẽ chứng minh tân pháp là đúng và được đẩy mạnh thi hành. Do bị phái “cựu đảng” phản đối tấn công dữ dội, năm Hy Ninh thứ 734 Vương An Thạch đã phải từ chức về vườn. Đến năm sau, Vương An Thạch lại được phục hồi chức tể tướng, cho nên quyết phải ra tay hành động để tự bảo vệ mình.

Vua Tống Hy Ninh đã tán thành chủ trương của An Thạch. Triều đình Tống đã quyết định thành lập “An Nam chiêu thảo sứ” và tổ chức một đạo quân viễn chinh lớn, gồm nhiều vạn quân chủ lực tinh nhuệ tuyển từ phương bắc, hàng vạn kỵ binh và hàng chục vạn quân địa phương thuộc các tỉnh nam Trường Giang để tiến công Đại Việt. Triều đình Tống còn ra lệnh cho công khố xuất 600.000 lạng vàng để đảm bảo chi phí chiến tranh. Để giành lấy phần chắc thắng trong cuộc chiến tranh, nhà Tống thường muốn tạo một giọng kìm đánh tập hậu Đại Việt từ mặt Nam lên. Biết nước Chiêm Thành trước đó không lâu đã bị nhà Lý đánh một đòn đau, vua Tống đã cử Hứa Ngạn Tiên và Lưu Sơ mộ người buôn bể đi dụ vua Chiêm Thành và Chân Lạp trả “huyết thù".

Sau đó vua Tống lại xuống chiếu cho Lý Bột và La Xương Hạo mang một số thứ khí dụng đến mua chuộc Chiêm Thành, Chân Lạp, kèm theo bài sứ kích động, trong có đoạn viết: “Chiêm Thành, Chân Lạp từ lâu nay bị Giao Chỉ cướp. Nay vương sứ sang đánh Giao Chỉ để phạt tội. Các nước ấy nên thừa cơ hội hiệp lực mà trừ nó... Trẫm lại nghe nói rằng nhiều dân nước ấy đã bị Giao Chỉ bắt về. Trong số ấy có cựu vương Chiêm Thành". Bị kích động, Chiêm Thành đã đem 7 ngàn quân bịt các ngả đường thuộc tuyến biên giới phía Nam Đại Việt. Hạo còn vẽ bản đồ đường đi từ Chiêm Thành đến Giao Chỉ, mang về dâng vua Tống.

Ngay từ khi mới giành được giang sơn, nhà Lý đã rất quan tâm đến an ninh vùng biên giới, chia miền biên giới thành những châu. Cư dân ở khe và thung lũng gọi chung là dân khê động. Đứng đầu một vùng khê động là tù trưởng, người bản địa. Họ có vai trò to lớn, thay mặt nhà vua cai quản vùng đất địa đầu giàu có nhưng hiểm trở và là đồn lũy đầu tiên ngăn đường tiến quân của địch.

Vua Tống giao toàn quyền việc chiêu dụ tù trưởng và nhân dân miền khê động cho các tướng tá của mình, dặn nếu có thể kết ước được các khê động ở đất giặc gần biên thùy thì nên làm. Rồi thừa hư mà đánh, tùy “iện thi hành theo đường lối đã ban bố, không cần phải tâu bẩm, mất thời giờ, lỡ cơ hội.

Vua Hy Ninh dốc quốc khố, vung tiền bạc dùng chức tước mua chuộc các tù trưởng khê động. Vua Tống đã cho làm nhiều bằng sắc bỏ trống phát cho Ty Chiêu thảo để bọn thuyết khách mang những bằng sắc trống tên và chức tước ấy đến từng khê động dụ dỗ, ghi tên và chức tước sẽ phong cho những người quy hàng chúng vào đó, để khi quân Tống vào sẽ theo đó mà thu dụng và trọng thưởng.

Mặt khác, nhà Tống cũng tung hàng loạt thám báo vào Đại Việt dò la tin tức. Hễ quân Lý động tĩnh đều có kẻ mách cho tướng Tống Đào Dật biết.

Tống sử dụng người Bạch y (thuộc tộc Thái) xứ Cừu Đạo vào hoạt động do thám Đại Việt. Họ là những người sơn cước, quen địa hình, am hiểu phong tục tập quán vùng biên cương Đại Việt nên đã hoạt động có hiệu quả. Để trả công, vua Tống sai người đem của cải “khuyến khích” họ.

---❊ ❖ ❊---

Dưới tấm biển “Địa tạng viện” là khuôn cửa diềm lá đề có hoa văn cánh sen, hoa cúc. Trên bệ, chính giữa đặt pho tượng Địa Tạng Vương Bồ Tát bằng gỗ, chạm trổ rất tinh xảo, miệng nở một nụ cười bí ẩn. Dưới tượng Phật là linh vị Thánh Tông Phía trước là một bát sứ nền nâu hoa trắng, đựng nước lã, một bát hương gốm men ngọc và hai bình hoa. Phía sau là rèm che cửa phủ trên hàng cột lớn. Trên tường, treo bức tranh “Anh hùng độc lập”, chim ưng đứng trên đỉnh núi giữa biển.

Lý Đạo Thành mặc áo thâm, nửa mông sau đặt trên bồ đoàn ngồi vững vàng theo thế bán già, đặt chân trái lên đùi phải. Ông nhắm nghiền mắt hồi lâu, rồi bỗng mở mắt ra, đọc một bài kệ:

Thân như bóng chớp có rồi không.

Cây cối xuân tươi, thu não nùng,

Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi.

Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.

Lý Kế Nguyên từ bên trong ra, thấy cha đang ngồi tọa thiền, mỉm cười:

- Thưa cha, không ngờ một người xuất thân Nho học như cha nửa đường bỏ đi nghiên cứu Phật học, thế mà đã sớm đắc đạo như vậy.

Lý Đạo Thành hơi chau mày:

- Mày lại chế nhạo cha mày rồi. Ta tu đạo Phật, nhưng vẫn không bỏ được cái tật thích thơ hồi học nho. Thiền học cao siêu, ta chưa hiểu thấu suốt, chỉ biết có một điều là những bài kệ của các vị thiền sư triều Lý ta hay không kém gì thơ. Như bài kệ Dặn Đệ tử của thiền sư Vạn Hạnh mà ta vừa tụng, con thấy có hay không?

- Cha đọc kệ thay cho tụng kinh, thế thì cũng thú vị chẳng kém gì rung đùi ngâm thơ. Cứ theo ý cha thì mấy câu kệ ấy nghĩa lý thế nào, xin cha vui lòng giảng cho con nghe.

Lý Đạo Thành cười:

- Thế là ta chưa đắc đạo mà đã thu đệ tử rồi đấy nhé!

- Con nhờ cha giảng là nhờ sức học chữ nho của một danh sĩ, chứ không phải là nhờ sức hiểu kinh Phật của một cao tăng đâu.

Lý Đạo Thành nghiêm trang:

- Ta giảng cho con nghe nhé. Thân người như bóng chớp, có rồi không. Cây cối tiết xuân tươi, tiết thu lại héo. Đã tu đến trình độ nhậm vận thì không sợ hãi trước sự thịnh suy đổi dời như giọt sương đọng trên ngọn cỏ. Con thấy mấy câu ấy ý nghĩa có hàm súc hay không. Như ta đây, đã là dòng tôn thất, ở ngôi cực phẩm mười bốn năm ròng, kể về sự tôn vinh chỉ kém có hoàng đế, vậy mà phút chốc hóa thành một lão quan già bị đẩy đi châu Xá... Cuộc đời này cũng chỉ là mộng ảo chóng tan thôi con ạ.

Lý Kế Nguyên giọng đĩnh đạc:

- Thưa cha, con xin mạn phép cho hiểu khác ý nghĩa mấy câu kệ đó. Cha có nhớ mấy câu đó là của quốc sư Vạn Hạnh, người đã giúp đức Thái tổ gây dựng nên triều Lý ta hay không? Nếu vậy thì Vạn Hạnh là một người nhập thế chứ không chỉ xuất thế lại biết “dung tam tế”, dung hợp tinh hoa của cả Phật, Nho, Lão để làm điều lợi dân ích nước. Cha để ý câu thứ ba có chữ vô bổ úy, chữ đó đã chứa đựng điểm tinh hoa nhất của Phật học, là chủ trương vô úy. Không sợ hãi trước kẻ tàn bạo, không sợ hãi trước cảnh hiểm nguy đã đành, không sợ hãi trước cả cảnh thịnh suy dời đổi của vạn vật, vì đã nắm vững luật biến dịch của vũ trụ. Có, không hẳn là có hẳn, không, không hẳn là không hẳn, mà từ cái không sinh ra cái có, từ cái có đổi thành cái không, cứ thế vần chuyển mãi, như xuân qua hạ, sang thu, rồi đến đông, hết đông lại sang xuân. Người đã hiểu thấu cái lẽ có, không như vậy, là đã luyện được tấm thân kim cương bất hoại, không lay chuyển trước mọi thịnh suy, dời đổi của vạn vật, vì cái tâm không chấp trước có và không, ta và nó, đạt đến độ tuệ nhãn, không còn mờ tối vì danh, lợi, thị, phi...

Lý Đạo Thành giật mình:

- Con học ở đâu ra những đạo lý vi diệu như vậy. Người xưa bảo lâu ngày không gặp một kẻ sĩ khi gặp lại phải “quát mục tương đãi”, đối xử bằng một cặp mắt kính nể, vì chắc rằng trong thời gian đó người ấy đã học được một điều gì rồi, quả thật là đúng.

- Thưa cha, trước khi rời Thăng Long về Nghệ An hầu hạ bên gối cha, con đã đến từ biệt thiền sư Quảng Nghiêm, người đã điểm hóa cho con bằng những lời lẽ trên đây. Khi chia tay Người có đọc cho con nghe hai câu kệ: “Tài trai có chí xông trời thẳm, dẫm vết Như Lai uổng nhọc mình”. Không cần đi đúng theo con đường của Như Lai đã đi, vì trong tâm mình đã có Phật rồi, chỉ cần tu tâm dưỡng tĩnh là cũng có thể trở thành Phật bằng con đường riêng của mình, còn phải cầu Phật ở ngoài ta làm gì cho mất công.

Lý Đạo Thành cảm động, nhắc lại:

- Tài trai có chí xông trời thẳm, dẫm vết Như Lai uổng nhọc mình... Cha chỉ tiếc cho chí khí xông lên trời của con, chỉ vì bác cháu Thường Kiệt mà đành lỡ dở,

Lý Kế Nguyên dè dặt:

- Thưa cha, con tin rằng quan Thái úy và Ấu Mai không có lòng dạ nào với cha con ta đâu.

Lý Đạo Thành nổi giận:

- Có phải mày vẫn nặng lòng thương con Ấu Mai nên hết lời bênh vực cho bác cháu nhà nó phải không? Ta còn lạ gì, Thường Kiệt bao năm đố kỵ với ta, coi ta như cái gai trước mắt chỉ mong nhổ cho bằng được. Hắn sợ uy tín ta ngày một lên cao, được bá quan vị nể, hắn không thực hiện được cái mộng độc chiếm quyền hành, nên nhân dịp Thánh thượng băng hà, mưu với Ỷ Lan, buộc cho ta cái tội đồng mưu với Thượng Dương đem nước Nam nội phụ Tống, để dễ bề lật đổ ngôi vị của ta - Ông chấp tay hướng về linh vị Thánh tông:

- Tiên đế ơi, người có thấu cho tấm lòng trung thành của kẻ lão thần này hay không - Tủi phận, ông bỗng bưng mặt khóc.

Lý Kế Nguyên ôn tồn:

- Thưa cha, cũng vì cha chủ trương tôn lập Thượng Dương làm nhiếp chính, lại làm phụ chính trong thời gian Thượng Dương nắm quyền, trách nào bá quan chẳng có ý nghi ngờ. Ngay cả con, vì lúc thoạt đầu buộc phải tuân lời Thượng Dương trong việc đóng cửa cung, nên cũng không trách được mọi người nghi ngờ con về phe Thượng Dương. Khi con thấy con bị chuyển sang làm Chiêu thảo sứ cầm thủy quân, mà không làm tả đô chỉ huy sứ nữa, con chắc rằng do sự dị nghị nên Linh Nhân hoàng thái hậu không tiện cho con chỉ huy cấm vệ. Vì sự tị hiềm, tránh gây phiền phức cho triều đình, nên con viện cớ cha lâm bệnh, xin nghỉ giả hạn về Nghệ An để phụng dưỡng cha. Tình ngay, lý gian, biết làm thế nào. Nhưng con tin rằng sớm muộn nỗi oan của cha con ta sẽ được giải.

Lý Đạo Thành lắc đầu:

- Không phải bá quan nghi ngờ hay dị nghị, việc này chủ mưu là Lý Thường Kiệt, nhưng y khéo ném đá giấutay - Ông nghiêm nghị - Trước linh vị Tiên đế, con hãy thề đi.

Lý Kế Nguyên ngạc nhiên:

- Thưa cha, thề sao kia ạ?

Lý Đạo Thành dằn mạnh từng tiếng:

- Con phải thề cắt đứt mối tơ tình với con Lý Ấu Mai...

Lý Kế Nguyên đau khổ:

- Thưa cha, xin cha dùng gươm trí tuệ cắt đứt mọi điều phiền não, đừng cắt đứt tơ duyên của chúng con cho đành lòng.

- Bác cháu nó là lưỡi gươm tuốt sẵn, chỉ chờ dịp đâm vào cổ ta. Nếu mày còn vương vấn với nó, thì đừng nhìn mặt tao nữa. Ta sẽ từ mày ngay từ giờ khắc này!

Lý Kế Nguyên năn nỉ:

- Thưa cha, một ngày là nghĩa, huống hồ chúng con trót thương nhau hơn ba năm ròng, sao nỡ dứt bỏ. Xin cha nghĩ lại cho chúng con được nhờ ơn.

Lý Đạo Thành lạnh lùng:

- Không tuân mệnh cha mẹ là bất hiếu, mày có biết như thế hay không?

Lý Kế Nguyên đau đớn xen lẫn phẫn nộ:

- Sao cha cứ phải nhất nhất theo đúng từng lời một của ông Khổng Tử. Những lời nói ông ấy toàn là do môn đệ góp nhặt lại đưa vào bộ Luận ngữ, mỗi người ông ấy dạy một khác, mỗi lúc ông ấy nói một khác, trong khi đó chính con người ông ấy cũng mỗi lúc một biến đổi. Sau khi đi khắp nước chư hầu thử thời vận mà không thành công, đến lúc tuổi già ông ấy mới bắt đầu nghiên cứu Kinh dịch, hiểu được cái lẽ biến, thông thì đã muộn rồi. Cũng vì cha chấp nhất vào lời ông ấy nói trong một lúc, nên mới chủ trương tôn lập Thượng Dương, để sinh ra nông nỗi. Con vì chữ hiếu mà phải xin về phụng dưỡng cha, vậy mà cha chấp nhất vào lời ông ấy nói trong một lúc, nên cho con là bất hiếu. Nếu không biết sửa đổi điều lầm lỗi của cha, mà chỉ nhắm mất vâng lời cha, dù người đó là Cổ Tẩu hay ông Cổn, thì làm gì còn có sự nghiệp của vua Thuấn, vua Vũ là người mà chính ông Khổng Tử còn phải ca ngợi là đại hiền, đại đức.

Lý Đạo Thành giận dữ:

- Nghịch tử, mày dám bảo tao là Cổ Tẩu, là Cổn à? Hãy bước ngay cho khuất mắt ta. Mày không được đứng trước linh vị của Tiên đế, làm hoen ố cả không khí thanh tĩnh chốn này!

Lý Kế Nguyên biết lúc này có nói cũng vô ích, nên đành lủi thủi đi. Lý Đạo Thành chợt giật mình:

- Huệ Minh thiền sư dặn ta phải dẹp tham, sân, si, ta vừa giận dữ như vậy là sai rồi. Để trấn tĩnh, ông ngồi đọc bài kệ mà Huệ Minh dùng để độ cho ông hôm trước:

Non Già vừng nguyệt tĩnh,

Biển thẳm chiếc thuyền không

Hiểu thấu “không” và “có”

Rừng Thiền mặc ruổi dong.

Ông đang đọc thì Hoàng Kim Mãn từ ngoài bước vào, trầm trồ khen:

- Hay, hay! Giọng đọc kệ của Thái sư nghe sang sảng, chứng tỏ công tu luyện của người đã đến bậc thượng thừa rồi vậy.

Lý Đạo Thành đứng dậy, đón :

- Xin chào Hoàng tù trưởng! Ông quá khen, ta thích thơ thì ngâm nga chơi cho đỡ buồn chứ kinh với kệ gì. Mời ông ngồi. À này, ông đừng gọi ta là Thái sư nữa nhé, bây giờ ta là Tả gián nghị đại phu!

Hoàng Kim Mãn ngồi xuống chiếu:

- Chức Thái sư của Tiên đế phong cho ngài, tôi cứ gọi, còn cái chức mà bọn quyền thần giáng ngài xuống, ai đếm xỉa đến làm gì. À, Thái sư đã biết tin gì chưa?

- Ta từ ngày bị biếm vào Nghệ An đến nay, chỉ lo tròn phận sự ở châu này, có để ý gì đến việc triều đình nữa đâu. Tin gì vậy ông?

Hoàng Kim Mãn giọng quan trọng:

- Nhà Tống sai người bắn tin sang triều đình nước ta, nếu khai phục ngôi Tể tướng cho ngài thì họ sẽ không động binh, còn nếu cứ để Thường Kiệt nắm quyền thì họ sẽ kéo quân sang làm cỏ nước ta.

Lý Đạo Thành ngạc nhiên:

- Ta có điều gì khiến cho nhà Tống ưa thích ta như vậy. Thôi ông đừng nói với ta chuyện nhảm nhí ấy làm gì, ta không muốn nghe đâu.

Ông quay mặt đi.

Hoàng Kim Mãn cười nịnh:

- Quan Thái sư nóng tính quá, ngài chưa hiểu hết lời tôi nói. Họ nói phải để ngài làm Tể tướng, thì họ mới chịu nói chuyện với nước mình, vì như vậy là ngang hàng xứng lứa, dễ hiểu biết nhau hơn. Chả lẽ đường đường Thiên triều mà lại thèm chuyện trò tay đôi với một phụ nhân quê mùa xuất thân làm nghề tằm tang, với một võ biền dốt nát, vốn là chú tiểu phá giới à? Dù sao chăng nữa, họ vẫn kính nể Thái sư vì là một đối thủ xứng đáng...

Lý Đạo Thành đắc ý:

- Ừ, như thế thì được. Kể ra họ cũng biết người biết của đấy. Họ từng được xem biểu văn của ta thảo, lời lẽ cứng cáp, nên họ mới chịu phục đấy chứ.

Hoàng Kim Mãn vờ ngạc nhiên:

- Thế ra chính ngài thảo tờ biểu xin nội phụ nhà Tống đấy ư? Vậy mà tưởng là Quách Sĩ An thảo. Ngài khéo giấu tài thật!

Lý Đạo Thành càng ngạc nhiên hơn:

- Không, ta nói đây là nói tờ biểu mà sinh thời Tiên đế sai ta thảo kia. Tờ biểu ấy đại ý nói: trước đây nhà Tống chỉ chịu phong cho vua ta là Giao Chỉ quận vương, như vậy có khác gì coi nước ta là quân huyện như thời còn nội thuộc nhà Đường. Ta đòi vua Tống phải phong vua ta là Giao Chỉ quốc vương, mới chịu nhận sắc mệnh!

Hoàng Kim Mãn chậc lưỡi:

- Thế mà ở bên ngoài, người ta cứ bảo Thái sư thảo từ biểu xin nội phụ nhà Tống, nếu không thì ít nhất cũng được xem từ biểu ấy. Ngài được Thượng Dương hoàng thái hậu tin cẩn, đưa lên làm phụ chính trong khi vẫn giữ ngôi tể tướng, ngài mà không biết thì còn ai biết vào đấy nữa!

Lý Đạo Thành quả quyết:

- Ta không đời nào lại đi thảo tờ biểu bán nước ấy.

Hoàng Kim Mãn cười hề hề:

- Nhưng dẫu sao thì chuyện cũng đã lỡ rồi, chưa biết chừng chỉ vì không nhận được tờ biểu xin nội phụ mà chỉ căn cứ vào tờ biểu đòi phong tước Giao Chỉ quốc vương, Tống mới động binh đánh ta. Chắc Tống đã biết ngài là người thảo tờ biểu ấy nên mới đòi bằng được ngài phải ra nói chuyện với họ. Ngài không ra, họ đem quân sang đánh ta, lỗi ấy là do ngài gây nên vì tự dưng ngài lại đi khích nộ họ, chọc giận con cọp đang nằm ngủ. Bây giờ chỉ còn một cách chữa lại...

Lý Đạo Thành hỏi:

- Cách ấy là cách gì?

Hoàng Kim Mãn nhỏ giọng:

- Thái sư là người có uy tín lớn trong dân chúng, chi bằng ngài đứng ra mộ quân ở Nghệ An, kéo về hỏi tội Ỷ Lan và Thường Kiệt cấu kết chuyên quyền làm hại tôi trung của Tiên đế. Sau khi trừ khử được Ỷ Lan và Thường Kiệt rồi, ngài sẽ lấy ngôi Tể tướng đứng ra nói chuyện với nhà Tống, có thể nhà Tống vì nể ngài mà không động binh nữa. Nếu ngài không đứng ra, cứ để cho họ kéo quân sang đây thì cái họa núi xương sông máu do ngài tự tay gây nên cả.

- Ông bảo ta nên mộ quân kéo về triều...

- Ngoài cách đó không còn cách nào hơn.

- Ông tin rằng nếu ta kéo quân về, mọi người sẽ ủng hộ ta?

- Trước hết, tôi sẽ vận động tù trưởng các khê động, mang quân từ biên giới về giúp sức ngài. Sau đó ta thảo hịch truyền đi khắp nơi nói là Ỷ Lan vì ghen tuông mà mưu cùng Thường Kiệt vu hãm Thượng Dương hoàng thái hậu là chính phối của đức Tiên đế thì dân chúng sẽ oán ghét Ỷ Lan và Thường Kiệt mà đứng về phía ta...

Lý Đạo Thành sẵng giọng:

- Nếu vậy ông mới chỉ biết một mà chưa biết hai. Ta cất quân về sẽ gây nên chuyện biến động, giặc Tống ở phía Bắc và giặc Chiêm ở phía Nam sẽ nhân dịp này xâm phạm bờ cõi ta. Nếu Ỷ Lan và Thường Kiệt đứng ra chống ngoại xâm thì dân chúng đứng về phía họ chứ không đứng về phía ta. Ta giận Ỷ Lan và Thường Kiệt thật, nhưng đó là chuyện trong nội bộ, sẽ tìm cách giải quyết với nhau, còn giặc ngoại xâm là kẻ thù truyền kiếp với ta, không thể để cho chúng có cơ hội nhảy vào hòng đục nước béo cò, chiếm đoạt giang sơn ta, tàn hại sinh linh ta. Ném chuột e vỡ đồ quý là thế đấy!

- Thế ra ngài định chịu bó tay chờ Ỷ Lan và Thường Kiệt chém cổ ngài, chứ không nỡ đánh lại chúng. Không ngờ quan Thái sư mới tu đạo Phật ít lâu mà đã nhiễm thói từ bi, không dám đại khai sát giới, ha ha...

Lý Đạo Thành nghiêm giọng:

- Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy. Khi có giặc đến thì phải hợp sức cùng nhau giết hết chúng đã, hết giặc rồi lúc ấy hãy thanh toán nợ nần với nhau cũng chưa muộn. Chỉ có kẻ tiểu nhân mới coi quyền lợi riêng to hơn xã tắc, giống nòi.

Hoàng Kim Mãn đỏ mặt, nín lặng. Không khí im lặng đầy nặng nề. Bỗng Lý Kế Nguyên từ ngoài vào, báo: .

- Thưa phụ thân, có sứ giả cưỡi ngựa lưu tinh mang sắc chỉ của triều đình đến nhà ta.

Hoàng Kim Mãn lo lắng:

- Có sắc chỉ à?

Hoàng Kim Mãn toan đứng dậy, Lý Đạo Thành nắm tay giữ lại:

- Hay lắm, ông ngồi lại đây với tôi, ta nghe thử xem sắc chỉ như thế nào, thử xem có đúng như lời ông vừa nói với tôi hay không?

Hoàng Kim Mãn gượng gạo:

- Vâng, tôi xin ở lại cùng với quan Thái sư.

Sứ giả đó là Lý Ấu Mai cải nam trang. Khi vừa đến cửa cô nhác trông thấy Hoàng Kim Mãn ngồi bên trong, bèn nẩy ra một ý, cất mũ đội đầu, lộ ra mái tóc cài trâm của một cô gái. Lúc ấy cô mới đường hoàng bước vào, vái chào trước mặt Lý Đạo Thành và Hoàng Kim Mãn:

- Xin kính lạy lão bá, kính chào đại nhân.

Hoàng Kim Mãn nói:

- Không dám, không dám, chào cô nương...

Lý Đạo Thành ngạc nhiên:

- Vậy ra không phải là sứ giả, mà là...

Lý Ấu Mai nói:

- Thưa lão bá, cháu đến vấn an lão bá vì tình bác cháu trong nhà và cũng để xin phép lão bá cho cháu được gặp Lý huynh… Phải đội lốt sứ giả mới vào được đến đây, cũng là chuyện tòng quyền, xin lão bá vui lòng lượng thứ.

Lý Đạo Thành giận dữ:

- Bác cháu mày mưu hãm hại ta, giờ lại đến đây để dò xét ta phải không?

Lý Ấu Mai phân trần:

- Thưa lão bá, bá phụ cháu và cháu vẫn một lòng kính trọng lão bá, cháu đến đây để thăm lão bá và Lý huynh, xem việc cung ứng nhu dụng có được đầy đủ không, e rằng người ở nơi đất lạ có phần lao khổ.

- Thôi đi, đừng nói lời nhân nghĩa đãi bôi, bác cháu mày có định giết ta thì giết bằng gươm, đừng giết bằng những lời phỉnh phờ giả dối.

- Cháu đến đây vì một tấc lòng thành, sao lão bá lại nói những lời nặng tình như thế?

- Hừ! Lòng thành? Ta hỏi mày ai buộc tội ta là đồng mưu với Thượng Dương đem nước Nam nội phụ Tống?

Lý Ấu Mai vờ lúng túng:

- Dạ, thưa lão bá...

- Có phải chính mày đã rình mò dò xét ta, rồi về báo cho bác mày, bác mày thêu dệt thêm chứng cớ để đổ riệt cho ta có phải không?

Lý Ấu Mai chống chế cốt để lộ sơ hở:

- Lão bá là một vị trọng thần được mọi người kính nể, bá phụ cháu buộc tội lão bá làm sao nổi ạ.

- Mày nói vô lý lắm, ngay đến hoàng thái hậu Thượng Dương, Thường Kiệt còn dám buộc tội, thì ta hắn coi vào đâu.

Lý Ấu Mai vờ ngây thơ:

- Bá phụ cháu buộc tội lão bá để làm gì kia ạ?

- Ta thử hỏi mày, trong triều chỉ có ta với Thường Kiệt là lớn chức hơn cả, nếu ta mà gục thì ai có lợi nhất?

- Thưa lão bá...

- Thường Kiệt muốn được đắc dụng, phải xu phụ Ỷ Lan. Biết ta là người chủ trương phù lập đích mẫu của tự quân làm thái hậu nhiếp chính theo đúng điển lệ xưa, chứ không thiên vị ai, Thường Kiệt lợi dụng điều đó buộc tội cho ta đồng mưu với Thượng Dương đem nước ta nội phụ Tống, làm cho bá quan và bách tính nghi ngờ ta, để y nắm trọn quyền hành.

- Cháu thiết tưởng nếu bá phụ cháu định hại lão bá thì sao không giết, mà lại xin tha cho lão bá khi đình thần luận tội.

Lý Đạo Thành nhếch cười:

- Ấy chính vì thế mà ta nghi ngờ. Thường Kiệt muốn hại là nhưng tránh tiếng, xúi giục người khác, khi người khác đòi trị tội ta thì chính Thường Kiệt lại xin tha cho ta để đánh lạc hướng, che mắt mọi người. Thế mới thật là sâu độc!

- Thưa lão bá, cháu đang muốn được làm dâu con nhà bác, thì đời nào bên nhà cháu lại...

Lý Đạo Thành cười gằn:

- Thôi đi, thế là mọi sự đã rõ ràng. Nếu mày vì tình riêng với thằng Kế Nguyên mà không chủ tâm hại ta, thì chính Thường Kiệt lại lợi dụng cái tình riêng đó, để cho mày lọt vào trong nhà ta, dò xét, kiềm chế ta. Ta dại gì mà nuôi ong tay áo. Cái gương Trọng Thủy Mỵ Châu còn sờ sờ ra đấy! Thôi, bước ngay kẻo bẩn mắt ta. Nhà ta không chứa những hạng người lòng dạ rắn rết như mày. Bước!

Hoàng Kim Mãn khoái chí, nhưng vờ can khéo:

- Ồ, Thái sư làm gì mà nóng thế! Cô con dâu tương lai của ngài từ Thăng Long, chẳng quản đường xa dặm thẳng, đến vấn an ngài, ngựa còn chưa ráo mồ hôi, chưa kịp ăn cỏ, người quần áo còn lấm vết bụi đường chưa kịp tẩy trần, vậy mà ngài chưa cho nghỉ ngơi đã đòi đuổi đi lập tức, như thế có đúng với chữ từ bi hỉ xả của Phật tổ hay không?

Lý Đạo Thành bối rối:

- Cái đó...

Hoàng Kim Mãn làm ra vẻ thân mật:

- Thôi, bây giờ ngài có khách, à quên, có người nhà đến chơi, tôi xin phép cáo lui, để ngài có thì giờ cùng cô con dâu tương lai hàn huyên cho thỏa niềm khao khát.

Lý Đạo Thành giữ lại:

- Mời ông nán lại chơi, tôi còn có chuyện muốn bàn với ông.

Hoàng Kim Mãn cười hề hề:

- Làm như thế bất tiện chết, ngài để cho khi khác, giữa chúng ta còn chán thì giờ, đi đâu mà vội! Thôi, xin kính chào Thái sư, chào Lý cô nương.

Hoàng Kim Mãn đứng dậy, Lý Đạo Thành nói:

- Vâng, xin tạm biệt ông, hẹn có ngày tái ngộ - Mãn đi rồi Lý Đạo Thành nói với Ấu Mai:

- Con tiện tì kia, nể lời Hoàng tù trưởng, cũng vì đức từ bi của Phật tổ, ta cho phép mày nghỉ ngơi chốc lát cho đỡ mệt, rồi trở về Thăng Long, nói là món nợ của ta với bác mày thế nào cũng có phen phải trả.

Lý Ấu Mai tinh quái:

- Thưa lão bá, cháu đã về làm sao được ạ!

- Không về, còn ngồi lì ở đó làm gì nữa!

- Bởi vì việc chính của cháu đến đây đã xong đâu mà về.

Lý Đạo Thành bực tức:

- Việc gì, mày định giết ta chăng?

Lý Ấu Mai thủng thẳng:

- Thưa lão bá, cháu chính là sứ giả của triều đình.

Lý Đạo Thành sửng sốt:

- Mày nói có thật không?

- Cháu cam đoan với lão bá là thật, nếu không có chiếu chỉ, cháu xin nguyện mất đầu.

Lý Đạo Thành đổi nét mặt kính cẩn:

- Nếu ngươi là sứ giả thật thì lại là chuyện khác, ta phải tiếp nghênh theo đúng lễ nghi. Bay đâu, bày hương án để ta tiếp nghênh thánh chỉ.

Lý Ấu Mai xua tay:

- Khoan, tuy là chiếu chỉ nhưng đây là mật chỉ, xin tướng công đừng làm kinh động người khác.

- Dù là mật chỉ cũng phải giữ cho đúng lễ - Ông toan quỳ xuống nhưng nghĩ sao lại đứng lên - Ngươi hãy đưa mật chỉ cho ta xem trước đã!

Lý Ấu Mai rút mật chỉ giắt trong người ra, hai tay nâng lên dâng Lý Đạo Thành, Lý Đạo Thành liếc qua: Ấn ngự dụng của Tiên đế! Đúng là sắc chỉ thật!

Lý Ấu Mai ngạc nhiên:

- Sao lão bá lại biết điều ấy?

- Có khó gì, vì ấn này chính ta thuê khắc.

Lý Ấu Mai ngạc nhiên:

- Thật vậy ư, lão bá?

Lý Đạo Thành đắc ý:

- Khi ta sang sứ nhà Tống, có làm quen với một nhà đại danh họa tên là Mễ Phế, ông ta có tài khắc đủ một trăm con voi vào miếng ngà bằng ngón tay mà con nào ra con ấy. Kể về cái tinh vi tỉ mỉ thì phải chịu người Trung Hoa thật đấy. Ta liền nhờ ông khắc giúp cho một cái ấn nhỏ bằng ngọc, đủ nạm cho nhẫn đeo tay để Thánh thượng dùng đóng vào các văn thư cơ mật. Mễ Phế liền khắc cho ta bốn chữ triện “Đại Việt quốc bảo”, nét nhỏ như con kiến mà rất phân minh. Ở đời này không ai có thể khắc giả cái ấn của Mễ Phế, còn chính Mễ Phế thì đã bị bọn quyền gian bên đó ám hại, vì tội khắc cái ấn đề chữ “Đại Việt”.

- Thật như vậy à? Cháu nghe bá phụ cháu kể chuyện bên nhà Tống cũng có nhiều người không tán đồng việc gây hấn với nước ta. Như các nhà Lý học Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, các nhà văn Âu Dương Tu, Tư Mã Quang, các nhà thơ Tô Đông Pha, Hoàng Đình Kiên đều cực lực phản đối chủ trương xâm lấn nước Việt. Qua đó, ta thấy các nhà văn nhân học giả bên đó có thể tin cậy được.

Lý Đạo Thành lắc đầu:

- Chưa hẳn như thế đâu. Vương An Thạch cũng là thi gia đấy, vậy mà hắn lại là đầu trò việc gây hấn với nước ta, mưu dành thắng lợi ngoài biên, hỗ trợ cho tân pháp y thi hành ở Trung Quốc không được lòng dân chúng, cũng để uy hiếp các nước Liêu, Hạ.

- À, ra đầu đuôi là như vậy, bây giờ cháu mới vỡ lẽ ra, trước kia quá thực bụng tin người.

- Không phải bây giờ ta mới biết, mà từ lâu đã biết An Thạch không những ở bẩn như các nhà nho bên ấy chế giễu mà còn bẩn bụng nữa. Khi ta sang sứ Tống, Vương An Thạch lấy chức tể tướng ra tiếp sứ giả Đại Việt và Triều Tiên ở nhà công quán. Thấy nét mặt An Thạch có vẻ khinh khỉnh, hợm mình đáng ghét, ta nói độp một câu: “Tôi sang Thiên triều là nước thi thư, tưởng được cái hân hạnh gặp nhà thơ Giới Phủ với câu thơ nổi tiếng “Xuân phong hưu lục Giang nam ngạn”, không ngờ chỉ được gặp quan tể tướng Kinh công với những câu nói kỳ thị các dân tộc khác là Man di, không thấy đâu là đức chính như ngọn gió xuân biếc thổi bờ Giang nam được tả trong câu thơ năm trước”. An Thạch giật mình lật đật đứng dậy tạ rằng: “Người ta thường bảo An Nam là nước văn hiến, câu đó quả thật không ngoa”:

- An Thạch nói được câu đó kể cũng khá đấy chứ. Vậy sao hắn vẫn không bỏ chủ trương gây sức ép với ta?

Lý Đạo Thành phẫn khái:

- Chính vì thấy nước ta là nước văn hiến nên nó mới quyết tâm đồng hóa cho bằng được, vì văn hiến của một nước cũng như cái hồn trong thân thể người, tạo cho người một cốt cách riêng, một ý chí riêng, không phụ thuộc vào người khác. - Ông im lặng một hồi rồi lại nói:

- Một nhà văn khi ghen ghét, dìm tài người khác, thì còn nguy hiểm độc địa hơn người thường. Một người có đôi chút tư tưởng. khi thấy người khác không tán đồng chủ trương của mình thì sẽ tìm cách trả thù người ấy bằng những mưu mẹo nhỏ nhen, hèn mạt gấp mấy những kẻ chuyên a dua, phụ họa. Hoàn cảnh An Thạch là như vậy. Nhưng một nhà văn mà đố kỵ thì không thể tiến xa về văn chương vì tâm thuật đã hèn kém rồi. Đấy cứ xem như An Thạch từ khi chủ trương xâm lược nước ta, y có làm được bài thơ nào hay nữa đâu. - Ông mỉm cười - còn Tô Đông Pha, có người bảo ông ta thủ cựu, điều đó đúng hay sai, ta chưa cần bàn tới, chỉ biết là ông ta hết sức phản đối việc đánh phương Nam. Chính vì chống tân pháp, mà ông bị An Thạch xui vua khép vào tội chết nhưng vua Tống chỉ bắt đày đi Hồ Châu - Ông bồi hồi - Ta nhớ hồi gặp nhau ở Khai Phong, ông ấy lấy chức Hàn lâm học sĩ ra tiếp sứ Việt. Đàm đạo văn chương với ta một hồi, ông ấy lấy làm tương đắc, cứ đòi đưa ta đi thăm Xích Bích, nơi ông ta từng viết bài phú nổi tiếng - Ông gõ bát ngâm:

Chèo quế chừ thuyền lan,

Theo làn nước chữ ánh trăng tan

Dằng dặc chừ lòng này

Mong người đẹp chừ trời một phương

Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương... Ông bỗng khóc nấc lên :

- Ta biết bao giờ mới gặp lại những bạn tri kỷ Trung Hoa đã bị bọn quyền gian hãm hại!

Lý Ấu Mai cũng xúc động ôm mặt. Nhưng Lý Đạo Thành bỗng khẳng khái đứng lên, chỉ vào bức tranh treo trên tường:

- Cháu có nhìn thấy bức tranh Mễ Phế tặng ta không? Người ngay thẳng mới có nét bút cứng cỏi. Người mất đi nhưng tác phẩm còn để lại muôn đời. Ta phải như con chim ưng đứng trên đỉnh núi cheo leo, dưới là sóng biển Đông muôn trượng, với cái thế “anh hùng độc lập” - Ông quay phắt lại - Sứ giả hãy tuyên chiếu cho ta nghe - Ông quỳ xuống.

Lý Ấu Mai giở tờ chiếu nghiêm trang đọc:

“Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế chiếu rằng: Trẫm tuổi nhỏ đức bạc, sợ không kham nổi việc lớn, phụ lòng các đấng Tiên đế ngày trước và có lỗi cùng trăm họ muôn dân. Nghe tin giặc Tống đang rình rập ngoài biên, vậy đặc chỉ phong cho khanh chức Thái phó bình chương quân quốc trọng sự, vời khanh hồi kinh để cùng trẫm và bá quan chung lo việc nước. Khâm thử".

Lý Đạo Thành cúi lạy:

- Phụng mạng - Ông đứng dậy nói với Ấu Mai - Xong chuyện nghi lễ triều đình rồi, bây giờ là tình trong nhà, ta cho phép cháu được gặp Kế Nguyên, còn ta phải về phủ thu xếp công việc, để còn lên đường hồi kinh.

Lý Ấu Mai cung kính

- Xin đội ơn lão bá.

Lý Đạo Thành đi. Lý Kế Nguyên từ trong ra, nhưng Ấu Mai vẫn vờ ngắm bức tranh “Anh hùng độc lập” không để ý đến. Kế Nguyên đằng hắng mấy tiếng. Âu Mai vẫn làm lơ, Kế Nguyên vỡ dậm chân làm như mình bước đi, nhưng Ấu Mai vẫn không nhúc nhích. Kế Nguyên bèn nói to:

- Kìa, có ai nhìn chúng ta cười kia kìa!

Lý Ấu Mai giật mình quay lại:

- Ai vậy, Lý huynh?

Lý Kế Nguyên chỉ tượng Phật cười:

- Ông Phật cười chứ còn ai nữa!

- Lý huynh lại đánh lừa tiểu muội rồi - Nàng hờn dỗi quay đi.

Lý Kế Nguyên cười:

- Hiền muội vẫn còn giận ta đấy à?

- Không phải giận, mà căm thù mới đúng!

- Eo ơi, làm cái gì mà ghê gớm thế. Hiền muội căm thù ta vì chuyện gì nào?

- Sao hôm trước hiền huynh lại theo lệnh Thượng Dương đóng chặt cửa cung điện không cho ai vào. Lỡ trong khi đó Thượng Dương gây ra chuyện biến loạn trong cung cấm thì sao?

Lý Kế Nguyên hiểu ra, vội phân trần:

- Ta hỏi thật hiền muội, nếu ta đồng mưu với Thượng Dương thì liệu hiền muội có thoát ra khỏi cửa cung để về báo tin cho quan Thái úy biết không?

Lý Ấu Mai sực tỉnh:

- Thế ra lúc em lén ra khỏi cung, hiền huynh có nhìn thấy em à? Thảo nào em cứ hơi ngờ ngợ...

Lý Kế Nguyên gật đầu:

- Đúng như vậy. Khi ấy Thượng Dương đang nắm quyền hành trong tay, nhất là khi mưu nội phụ nhà Tống chưa lộ ra, bà ấy sai đóng cửa cung, ta phải tuân theo, nếu không tuân thì ta đã mất đầu rồi. Ta chiếu lệ đóng cửa cung, còn cho ai vào, ai ra, đó là quyền của ta. Hôm đó chính Hoàng Kim Mãn xin vào điếu tang. nhưng ta không cho vào, bảo bao giờ có lệnh thì các tù trưởng khê động mới được vào điếu tang, giờ này chỉ hoàng gia và các đại thần trong Nội các mới được vào.

- À ra thế. Sao trước mặt bá quan, hiền huynh không phân trần chuyện đó để mọi người hiểu ra.

Lý Kế Nguyên buồn rầu:

- Khó phân trần lắm. Ta không những đã được lệnh đóng cửa cung điện, mà lại là con trai của thân phụ ta, một người tán đồng việc tôn lập Thượng Dương làm nhiếp chính, nên mọi người nghi ngờ là phải. Cũng vì sự tỵ hiềm nên ta xin nghỉ về phụng dưỡng thân phụ ta, để cho kẻ xấu không còn lợi dụng mà gieo rắc mối bất hòa vào đâu được.

Lý Ấu Mai xúc động:

- Giờ em mới hiểu hết nỗi khổ tâm của hiền huynh. Hiền huynh tha thứ cho em đã có lúc trong trí vẩn lên những ý nghĩ ngờ vực hiền huynh... Từ khi vào xứ Nghệ An đến nay, hiền huynh có được mạnh khỏe không?

- Vẫn được như thường, chỉ có hơi mất ngủ vì nhớ hiền muội thôi.

Lý Ấu Mai tha thiết:

- Nếu vì nhớ em mà hiền huynh mất ngủ, có hại cho sức khỏe thì thà hiền huynh đừng nhớ còn hơn. Hiền huynh ơi, mấy hôm nay em thường có ý nghĩ rằng ở vào một vị trí đặc biệt như nước la, luôn luôn bị ngoại xâm đe dọa, thì đến cái thân ta cũng chỉ một nửa là của ta thôi, còn một nửa thuộc về đất nước, sức khỏe của anh cũng là của cải của đất nước, em đâu dám làm cho hao tổn chỉ vì một chút tình riêng...

Lý Kế Nguyên cảm động:

- Hiền muội, độ này hiền muội cũng gầy hẳn đi.

- Hiền huynh ơi, từ khi trong cung cấm xảy chuyện đến nay, em bỗng thấy em già hẳn đi, mọi suy nghĩ cũng chín chắn hơn, mọi hành vi cũng nhiệm nhặt hơn, em có cảm tưởng rằng chúng mình là những đứa trẻ con phải mau chóng trở thành người lớn để kịp với tầm vóc mà đất nước đòi hỏi. Thánh Gióng ba tuổi, đi đánh giặc trở thành người ba mươi tuổi và khi đánh giặc xong thì biến thành nghìn tuổi. Trong con người em cũng vậy, có cả một đứa trẻ hồn nhiên và một cụ già từng trải. Nhiều lúc em muốn đổi phận làm trai để ra gánh vác việc nước vì thế khi Linh Nhân hoàng thái hậu cần một người tin cẩn để mang mật chỉ vào Nghệ An, tránh những con mắt dòm ngó của kẻ thù, em đã xin đi, cải nam trang và phi ngựa lưu tinh đến đây... cũng là để có dịp gặp anh... - Cô ứa nước mắt.

Lý Kế Nguyên cười:

- Muốn làm con trai thì phải cứng rắn lên chứ, ai lại mau nước mắt thế. Thôi đi cô bé, đừng có ỉu xìu xìu nữa, khéo mà ông Phật kia ông ấy cười cho thật đấy! Em có thấy ông Phật kia lúc nào cũng lạc quan, yêu đời không nào?

Lý Ấu Mai gạt nước mắt:

- Hiền huynh tha lỗi cho em đã trót yếu lòng. Đúng thật hiện huynh ạ, bây giờ mà mình hơi buồn một tí là đã hại cho đất nước một chút rồi. Thế của mình hiện nay như con chim ưng đứng trên đỉnh núi nổi giữa biển, hễ hơi vô ý phân tâm là sẩy chân xuống đáy nước.

Bỗng có tiếng vó ngựa phi lộp cộp phía xa, rồi có tiếng Lý Đạo Thành thét to:

- Con nữ tặc đâu rồi. Ta phải giết nó lấy máu tế cờ, về hỏi tội phường đại nghịch bất đạo.

Lý Kế Nguyên kinh hoảng nhưng không biết làm cách nào, vội đẩy Ấu Mai vào phía sau bức màn phủ trên hàng cột. Lý Đạo Thành cầm gươm chạy xồng xộc vào, quát:

- Con tiện tì đâu, ra cho ta hỏi tội!

Lý Kế Nguyên sợ hãi:

- Thưa phụ thân, nàng vừa rời khỏi viện rồi. Chẳng hay có chuyện gì thế a?

Lý Đạo Thành giận dữ:

- Vừa rồi ta thấy Hoàng tù trưởng quay trở lại, trên bả vai một mũi tên cắm ngập, ông ấy cho ta biết ngoài mé rừng có một toán quân triều đình mai phục, ông ấy phát giác ra, vội quay ngựa chạy thì toán quân đó bắn tên ra như mưa, ông ta trúng một mũi tên vào bả vai. Thì ra trước khi con tiện tì giả mang chiếu thư đến mời ta, đã sắp sẵn quân mai phục, chỉ chờ ta đi qua khu rừng là đổ ra ám hại cho phi tang...

- Thưa phụ thân, làm gì có chuyện ấy?

- Mày vẫn còn u mê tin nó à? Hoàng tù trưởng xin ta cho đem gia tướng ra đối phó, toán quân kia nhác trông thấy bên mình đã có phòng bị, hốt hoảng bỏ trốn....

- Thưa phụ thân, Hoàng tù trưởng có bắt được tên quân nào không ạ?

- Hoàng tù trưởng đang cùng các gia tướng đuổi theo, chắc thế nào cũng bắt được một vài tên. Bằng không thì ta cứ lùng bắt con tiện tì để làm chứng cớ đối chất với Thường Kiệt. Nghe tin giặc đến, ta đã thành thật bắt tay với Thường Kiệt, không ngờ y đã nhanh tay hại ta trước, giờ ta mới hiểu thế nào là mấy chữ “Tiên pháp chế nhân”35 mà Thường Kiệt thường nói.

- Thưa phụ thân, con tin rằng một người như Lý Ấu Mai không bao giờ làm cái chuyện lừa dối đó đâu.

Lý Đạo Thành càng giận hơn:

- Mày bảo nó không lừa dối à? Nó mang bức chiếu thư đến đây, trong đó có đóng cái ấn ngự dụng của Tiên đế, mà sau khi ngài thăng hà thì thất lạc, không tìm thấy đâu nữa. Biết đâu bọn Ỷ Lan chẳng đánh cắp cái ấn ấy của Tiên đế để dễ lừa dối mọi người. Cũng vì nó mang chiếu chỉ có đóng cái ấn ấy, nên tạo mới phải nể vì, chứ nếu không thì đời nào tao chịu tiếp nó trong nhà này. Mày giấu nó ở đâu phải đưa nó ra ngay, không thì tai vạ không nhỏ.

Lý Kế Nguyên cứng cỏi:

- Con không biết nàng hiện ở đâu cả. Nếu nàng là kẻ thù định hại cha thì đời nào con lại đi giấu giặc trong nhà.

Lý Đạo Thành bỗng lắng nghe:

- Hình như có tiếng thở! - Ông vội đâm một nhát kiếm xuyên qua bức màn, nhát kiếm sượt qua cột, đâm trúng cánh tay Âu Mai nhưng nàng nhanh tay lấy vạt áo lau sạch vết máu trên kiếm và cố nén hơi thở cho Đạo Thành khỏi phát hiện ra. Đạo Thành rút kiếm ra, không thấy gì, nói nhỏ: - Quái lạ, vừa rồi ta đoán là đâm trúng vật gì, có lẽ đâm sượt vào hàng cột cũng nên.

Lý Kế Nguyên đánh lạc hướng:

- Con cam đoan với cha là nàng đã ra khỏi đây rồi!

Nghe Lý Ấu Mai về tâu Lý Đạo Thành chịu về Kinh, Linh Nhân cho mời sư Thông Biện vào hỏi. Thông Biện thuộc phái Vô Ngôn Thông. Nguyễn Khuông Việt truyền cho học trò là Đa Bảo truyền cho Đinh Hương, Đinh Hương truyền cho Viên Chiếu, Viên Chiếu lại truyền cho Thông Biện, nhưng Thông Biện có những kiến giải riêng khác với những bậc tiền bối. Linh Nhân hỏi:

- Bạch đại sư, ta đã cho mời mà Lý đại nhân không chịu về Kinh. Ông cho thờ tượng Địa Tạng vương bên cạnh bài vị tiên đế đêm ngày tụng niệm là có ý gì?

Thông Biện nói:

- Tâu lệnh bà, theo truyền thuyết Địa Tạng vương là vị bồ tát chịu trách nhiệm dạy bảo những linh hồn bất hạnh sống trong thời đại đen tối, từ khi Phật hóa đến khi Di Lặc, Phật của tương lai xuất hiện. Ở đây Lý đại nhân tự coi mình đang hành đạo trong thời kỳ đen tối từ khi tiên đế băng đến khi đức kim thượng trưởng thành. Ông muốn nhắn bảo cho mọi người cách thức vượt qua thời kỳ khó khăn này và tìm thấy sự thoải mái cho nhiệm vụ của mình trong đức bồ tát. Chỉ có điều cách tu thiền bằng phương pháp tụng niệm của ông là sai lầm.

Linh Nhân hỏi:

- Sai lầm như thế nào?

Thông Biện nói:

- Khởi đầu, ba chủ đề của Tâm học Phật giáo bao gồm Giới, Định và Tuệ. Giới giữ tất cả những giới luật đã được đức Phật thiết lập cho sự an ổn tinh thần cho các đệ tử Ngài. Định là phép tu tập, nhờ đó người tu giữ được yên tĩnh, cho đến khi nào tâm chưa được kiểm soát thì giữ Giới một cách máy móc, đơn giản vẫn là vô ích, thục ra các giới luật này nhằm đem về sự an ổn tinh thần. Tuệ hay Bát Nhã là năng lực thâm nhập vào bản tính của tự thể và đồng thời nó cũng là chân lý được cảm nghiệm theo trực giác. Sau thời đức Phật, xảy ra sự tách rời giữa Định và Tuệ. Người ta chấp nhận Tuệ như cái thấy thâm nhập chân lý. Khởi đầu người ta cũng hành động, không nghĩ đến cái xấu. Tuy nhiên, Định trở thành cách tu luyện huỷ diệt sự sống, nó giữ tâm trì trệ trong một trạng thái mê ám và đưa các hành giả thiền định đến chỗ vô dụng cho xã hội, trong khi Tuệ để cho mất cả sự thâm sâu, tự đồng hóa nó với những tri thức luận giải, các khái niệm phân tích. Sự tách rời giữa Định và Tuệ đã được thiền sư Thần Tú và các đệ tử của Ngài ủng hộ và điều này dẫn đến các phép tu thanh tẩy nghĩa là “tẩy sạch bụi trần”. Ngược lại, Huệ Năng cho rằng Định mà không Tuệ sẽ đưa đến sai lầm nghiêm trọng, trái lại nếu Tuệ là chính thì nhất thiết Tuệ phải đi kèm với Định, nếu không nắm được mối tương quan đồng nhất này sẽ không có giải thoát nào hết.

Trước hết, về mối quan hệ với Định, Huệ Năng giải thích “Phép tọa thiền, vốn chẳng dính mắc ở tâm, chẳng dính mắc ở tính, cũng chẳng bận bịu với sự bất động... Vậy tọa thiền là gì? là không bị chướng ngại trong mọi việc. Đối với hoàn cảnh tốt xấu bên ngoài mà tâm chẳng khởi nghĩ gọi là “tọa”. Bên trong thì thấy tự tính mình bất động gọi là “thiền”. Ngoài, không dính mắc ý niệm về hình tượng là thiền. Trong, chẳng loạn gọi là định. Nếu ngoài dính tượng thì trong tâm tất loạn. Nếu ngoài lìa được tướng thì tâm chẳng loạn. Bản tính của mình tự nó thanh tịnh, tự nó ổn định, chỉ vì thấy có cảnh, nghĩ đến cảnh nên loạn. Nếu thấy cảnh mà tâm chẳng loạn ấy là chân định vậy... Kinh Tính Danh nói: “Ngay lúc chợt tịnh, liền về được bản tâm” và kinh Bồ Tát Giới nói: “Bản tính của ta vốn thanh tịnh và không ô nhiễm”. Như vậy, các thiện tri thức, trong hai kinh này hãy tự tìm cho mình trong mỗi niệm cái tính thanh tịnh của tự tính mình, rồi tu theo nghĩa ấy và tự thực hành, đó là chúng ta tự thành tựu đạo của Phật vậy. Theo Đàn Kinh, sự hiện hữu của một vật là tính, là điểm tối hậu trong sự tồn tại của một vật, hay một người, nhưng không nên hiểu tính như một thực thể riêng, như một hạt nhân còn lại sau khi bỏ hết các lớp vỏ bên ngoài, hay như một linh hồn thoát khỏi thân xác sau khi chết. Tính có nghĩa là cái mà nếu không có nó thì không thể có sự hiện hữu nào cả, cũng như không thể nào tưởng tượng ra nó được. Người ta có thể gọi nó là Lực sống.

Có thể nói "tự tính” là “cái biết của mình" - nó không chỉ hiện hữu mà còn là thông hiểu nữa. Huệ Năng nói: “Chính trong bản tính có cải trí Bát Nhã và do đó là cái trí của mình. Bản tính tự phản chiếu trong chính nó và sự tự chiếu này không thể diễn đạt bằng ngôn từ". Trong dòng Đại Thừa, có ba khái niệm mà các triết gia cần dùng để giải thích mối quan hệ giữa bản thể và công năng. Đó là thể, tướng và dụng. Thể tương ứng với bản chất. Tướng là hình dáng và Dụng là công năng. Bắc tông của Thần Tú chú trọng đến khía cạnh Thể của tự tính và đòi những người theo nó tập trung nỗ lực “lau chùi” tâm thức theo cách thấy tự tính tự phản chiếu thanh tịnh và không ô nhiễm trong nó. Hiển nhiên, họ đã hiểu lầm sự kiện tự tính không phải là một vật mà Thể có thể phản chiếu trên mặt hồ yên tĩnh. Một cái Thể như thể không hiện hữu trong tự tính, vì thế chính là Dụng, ngoài Dụng không có Thể. Chính cái Dụng này chuyển dịch cái thấy mà Thể có tự nó, thành chính nó. Hình thái này của tự tính, của “cái mà nó tự thấy nó” hay hình thái Bát Nhã thì Thần Tú hoàn toàn không biết. Trái lại Huệ Năng, đặc biệt nhấn mạnh hình thái Bát Nhã này, theo đó chúng ta có thể biết được tự tính.

Linh Nhân hoàng thái hậu chợt hiểu ra. Lý Đạo Thành đã lấy chủ nghĩa tịch mặc làm phương pháp chính để tu tập thiền định, không hiểu được mối quan hệ giữa Thể và Dụng, nên không muốn đem thân ra giúp đời nữa. Linh Nhân nói:

- Bây giờ ta mới hiểu tại sao quốc sư Vạn Hạnh lại hết sức giúp đỡ đức Thái Tổ ta lên ngôi vì ngài thấy đức Thái Tổ là người khoan thứ nhân từ được lòng dân. Khi Thái Tổ vừa lên ngôi đã thi hành nhân chính. Đại xá các thuế khóa cho thiên hạ trong ba năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả. Đến đức Thái Tông, thấy trước đây việc kiện tụng trong nước phiền nhiễu, quan lại giữ luật pháp câu nệ luật văn, cốt làm cho khắc nghiệt thậm chí nhiều người bị oan uổng quá đáng. Người lấy làm thương xót, sai trung thư sản định luật lệnh, châm chước cho thích hợp, làm thành sách Hình thư của một triều đại. Đến đức Thánh Tông lại lệnh cho hữu tỷ phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa cho người tù giam trong ngục. Như vậy đều là nhờ sự cảm hóa của đạo Phật từ bị bác ái.

Thông Biện nói:

- Tâu lệnh bà, đó chỉ là một phần, còn một phần là do chính sách trị nước sáng suốt của các đời tiên đế. Khi sư tổ bản môn là Đa Bảo dựng chùa Kiến Sơ làng Phù Đổng, đặt miếu thổ thần ở bên phải cửa vào chùa, coi Phù Đổng thiên vương là vị thần linh bảo vệ Phật giáo. Đức Thái Tổ về thăm chùa, đã phong cho Phù Đổng thiên vương hiệu Xung Thiên thần vương. Như vậy, Ngài đã khéo kết hợp Phật giáo với tín ngưỡng bản địa. Thái Tổ lại cho thờ các thần Đồng Cỏ, Long Đỗ, Tô Lịch, Bạch Mã và các anh hùng chống ngoại xâm như Lý Phục Man tướng của Lý Nam Đế, Trương Hống, Trương Hát tướng của Triệu Quang Phục, Phạm Cư Lạng tướng của Lê Đại Hành... chứng tỏ Người muốn lập một quốc giáo với sự dung hợp cả tam giáo. Đức Thánh Tông lập ra phái Thiền Thảo Đường cũng không ngoài ý ấy.

Linh Nhân nói:

- Kiến thức của đại sư quả là uyên thâm. Ta muốn nhờ đại sư tới Nghệ An thuyết phục cho Lý đại nhân trở về triều, như vậy là ngài đã góp phần giúp nước như các bậc tiền bối Khuông Việt, Vạn Hạnh và Đa Bảo vậy.

Dù Lý Đạo Thành coi thời kỳ Linh Nhân nhiếp chính là thời kỳ đen tối, Linh Nhân vẫn công tâm nhận những đóng góp của Lý Đạo Thành đối với sự nghiệp xây dựng đất nước. Vốn là một nhà nho, năm Canh Tuất, Lý Đạo Thành đã tâu vua Thần Vũ xin lập Văn miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ Phối, vẽ tranh Thất thập nhi hiền, bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử Kiền Đức mới bốn tuổi đã được đưa đến đó học. Khi đó vua Thần Vũ đã bắt đầu ốm yếu, việc đưa Kiền Đức đến học ở Văn miếu – kho kiến thức sách vở cho kiến thức thực tế về cách giữ gìn đất nước trong thời kỳ khó khăn – chứng tỏ Lý Đạo Thành đã chuẩn bị bồi dưỡng việc điều hành chính sự cho cậu bé Kiền Đức sắp lên nối ngôi. Tiếp tục chủ trương kết hợp Phật giáo với tín ngưỡng bản địa, sau khi vua Thần Vũ băng, Đạo Thành cũng cho cúng tế ở núi Tản Viên, nơi trú ngụ của các thần linh dũng mãnh bảo vệ đất nước. Ông tổ chức hội mừng ngày sinh của vua, một lễ hội do Lê Đại Hành đặt ra năm Thiên Phúc thứ 6. Lễ này là dịp để khuyến khích sự trung thành và biểu thị sự giàu có và sức mạnh bằng việc ban phát lộc vua cho các nhân vật quan trọng về chính trị. Ông thu xếp cho thiếu đế dự lễ tắm Phật, tượng Phật được đưa từ đền Pháp Vân qua sông Cái về kinh đô, cho các thành viên triều đình có thể cầu Phật cho trời quang sáng. Ông công bố một đạo dụ kêu gọi tăng lữ Phật giáo làm thơ phú để tuyển lựa người làm nhân viên phục vụ.

Dù Nho giáo có giúp ích cho công việc trị nước nhưng vì quá đề cao tôn ti trật tự nên đối với dân có phần khe khắt, lại chủ trương rập khuôn mô hình tổ chức và điều hành chính trị của thời cổ đại ở Trung Quốc. Có lần nho thần khuyên Lý Thái Tông noi theo phép cũ thời Đường Ngu, Thái Tông đã mai mỉa nói: “Trẫm là người ít đức đứng đầu thần dân, lúc nào cũng lo sợ như lội vực sâu, chưa biết lấy đạo gì để thấu trời đất, lấy đức gì để kịp Nghiêu Thuấn".

Do Nho giáo hướng về quá khứ, chỉ chú ý đến bổn phận của người sống giữ trọn nghi lễ đối với người chết, dân chúng thỉnh thoảng lại cầu viện đến Đạo giáo, tìm kiếm ở đây cái mã tổn giáo nghi lễ quan phương không thể đem lại cho họ: sự cứu giúp thần kỳ trong những tai ương của cuộc sống và sự giao tiếp tự do với những sức mạnh siêu nhiên. Các vua Lý đã giao cho các đạo sĩ hiệm vụ xử lý đối với thế giới thần linh của các tín ngưỡng vật linh ở địa phương, cho các đạo sĩ đăng ký ở cung Thái thanh để được phép hoạt động tu hành. Nhưng nhu cầu tôn giáo của dân chúng đã không thỏa mãn cả với Đạo giáo, vì đạo này bằng những phù phép của mình chỉ cứu giúp trong những hoạn nạn của cuộc sống hiện tại, nhưng lại cũng như Nho giáo, hiểu biết rất ít về sự sống tương lai. Đạo Phật đã đáp ứng nhu cầu tâm linh của con người: nó nâng cao lên bên trên tất cả các thần linh, một con người tự hóa thân, một con người bằng kỳ công cá nhân đã giành lấy cho mình vị trí của một sinh linh tuyệt đối và tối thượng, nó đã đặt giới hạn cho những cuộc phiêu diêu bất tận của linh hồn trong thế giới bên kia bằng lý tưởng về sự yên bình tuyệt đối – Niết bàn. Đạo Phật còn chủ trương hòa đồng xã hội và khoan dung với các tín ngưỡng tôn giáo song song.

Nghe nói Đường Hiến Tông đã phê vào tờ sớ bài xích Phật giáo của nhà Nho Hàn Dũ: “Dĩ Phật trị tâm, dĩ Đạo trị thân, dĩ Nho trị thế”36. Quả là khôn ngoan!

Linh Nhân thấy nên tiếp tục duy trì chủ trương: “Tam giáo thịnh hành”, kết hợp với tín ngưỡng thờ cúng thần linh và tổ tiên, để xây dựng một quốc giáo trên cơ sở khoan hồng với dân chúng và tôn trọng tính tự trị của các địa phương làng xã.

---❊ ❖ ❊---

Vương An Thạch ngồi trước án, cầm bút dầm mực định viết một bài thơ, như thói quen trước đây, nhưng không hiểu sao hôm nay tứ thơ không chịu đến với ông. Ông thở dài đặt bút xuống. Có lẽ phải đợi đến khi được tin báo tiệp từ An Nam đưa về, tứ thơ mới đến với ông chăng? Ông nhẩm lại câu thơ cũ: Minh nguyệt hà thời chiếu ngã hoàn37. Bao giờ trăng sáng mới đưa tin chiến thắng về với ông cùng với tứ thơ?

Bỗng Lữ Huệ Khanh từ bên ngoài chạy vào, nói:

- Bẩm tướng công, ngài đã biết tin gì chưa?

- Tin gì vậy?

Vừa rồi có ngựa lưu tinh phi về kinh báo tin khẩn cấp: Không hiểu sao việc chuẩn bị đánh An Nam đã bị tiết lộ, nên Lý Thường Kiệt dùng cái sách “tiên phát chế nhân”38 đánh sang đất ta trước. Quân An Nam chia thành nhiều mũi, vượt biên ải, bất ngờ tiến công vào toàn bộ hệ thống đồn trại quân ta ở dọc theo biên giới. Bị đánh bất ngờ, quân ta không sao chống đỡ nổi, hàng ngũ rối loạn, số thì chết, số thì bị bắt, số còn lại vội vã bỏ đồn trại tháo chạy về hướng Ung Châu. Quân An Nam đuổi theo, trên đường tiến binh, tất thảy đồn trại của ta đều bị quân An Nam triệt phá. Quân ta chạy về Ung Châu để cố thủ. Quân An Nam thừa thế hợp quân tiến lên vây đánh thành Ung Châu Thành Ung bị uy hiếp hết sức nặng nề buộc Tô Giám phải tập trung toàn bộ lực lượng đối phó. Giữa lúc quân ta đang đối ph với cánh quân trên bộ của An Nam. Lý Thường Kiệt trực tiếp thống lĩnh đạo quân chủ lực gồm khoảng 6 vạn, từ Vĩnh An dùng chiến thuyền ngày đêm vượt biển tiến về hải cảng Khâm Châu. Lợi dụng ban đêm, tiền quân địch bí mật đổ bộ vào cảng Khâm, bất ngờ đánh chiếm thành Khâm. Bị đánh úp, quân ta chống đỡ không nổi, buộc phải đầu hàng.

Chiếm được thành Khâm, Lý Thường Kiệt chia quân tiến đánh Liêm Châu. Quân ta nghe tin Khâm Châu bị mất nên đã phòng bị nghiêm ngặt, đề phòng quân An Nam đánh úp. Nhưng thủy quân An Nam đã tiến vào cửa bể Liêm Châu đổ bộ lên bến cảng và nhanh chóng chia thành nhiều mũi bao vây tiến công thành Liêm Châu.

Tiếp đó, Lý Thường Kiệt phái một số vệ quân tiến về hướng Bạch Châu, Dung Châu. Quân ta đóng giữ trong thành Bạch Châu và Dung Châu đều không dám cố thủ chống cự, phải vội bỏ thành rút chạy về hướng Quảng Châu.

Chiếm xong thành Khâm Châu và thành Liêm Châu, Lý Thường Kiệt trực tiếp thống suất đại quân tiến về thành Ưng.

Trên đường tiến binh, Lý Thường Kiệt cho phân phát bản “lộ bố”, thám báo của ta lấy được một bản mang về, xin dâng trình tướng công xem.

Vương An Thạch lập cập đón lấy tờ giấy Lữ Huệ Khanh đưa, giở ra xem, thấy trong đó viết:

“Trời sinh ra dân chúng, vua hiền tất phải hòa mục. Đạo làm chủ dân cốt ở nuôi dân. Nay nghe vua Tống ngu hèn, chẳng biết tin theo phép thánh, lại tin kế của An Thạch tham tà, bầy những phép “Thanh miêu”, “Trợ dịch” khiến trăm họ mệt nhọc lầm than mà riêng thỏa mưu nuôi mình béo mép.

Bởi tính mệnh muôn dân đều phú bẩm tại trời thế mà bỗng nhiên sa vào cảnh éo le độc hại. Lượng kẻ ở trên cố nhiên phải xét. Những việc từ trước thôi nói làm gì. Nay bản chức, vâng mệnh quốc vương, chỉ đường tiến quân lên Bắc, muốn dẹp yên làn sóng yêu nghiệt; chỉ có ý phân biệt quốc thổ, không phân biệt chúng dân. Phải quét sạch nhơ bẩn hôi tanh... Ta nay ra quân, cốt để cứu muôn dân khỏi nỗi chìm đắm. Hịch văn truyền tới để mọi người cùng nghe. Ai thấy hãy đắn đo chớ mang lòng sợ hãi”.

Đọc xong Vương An Thạch mặt tái như chàm đổ, tay run lẩy bẩy đánh rơi tờ giấy xuống đất. Ngày xưa Tào Tháo đọc xong bài hịch Trần Lâm kể tội mình liền khỏi bệnh nhức đầu, nhưng nay An Thạch đọc xong bản lộ bố của Lý Thường Kiệt đầu bỗng nhức như búa bổ. Ông ta nghiến răng: “Lý Thường Kiệt! Người hại ta! Ta với ngươi quyết không cùng sống!”.

Nửa tháng sau, vua Tống Hy Ninh nhận được sớ tâu của kinh lược Quảng Tây, biết quân Tống đại bại ở Khâm, Liêm, Bạch, Dung. Triều đình Tống bối rối, không phán đoán được ý đồ của ta. Sợ ta thừa thắng tiến lên đánh chiếm Quảng Châu, vua Tống đã hạ lệnh cho Quảng Đông, Quảng Tây cố thủ các nơi hiểm yếu, cất giấu lương thực vàng bạc, vải vóc để chờ viện binh.

Nhận được sớ tâu của Tô Giám về việc quân An Nam tổng công phá thành Ung Châu, vua Tống ra lệnh cho Tô Giám phải cố cầm cự với Lý Thường Kiệt: cố thủ đến cùng không được để thành Ung bị phá. Ý đồ của vua Tống và Vương An Thạch là kéo dài cuộc chiến để kìm chân chủ lực quân ta ngay tại đất Tống, khiến cho quân ta ở vào cái thế đánh cũng khó và rút cũng khó, nhân đó mà Tống sẽ tung ra đạo quân chủ lực phương Bắc do Tuyên huy Nam viện sứ Quách Quỳ chỉ huy, dùng chiến thuyền vượt biển nhanh chóng tiến quân, bất ngờ đổ bộ, đánh chiếm lấy kinh đô Đại Việt.

Ít lâu sau vua Tống được tin báo: Bị quân An Nam vây đánh rất ngặt, quân Tô Giám bị thương vong ngày càng nhiều, tinh thần quân sĩ càng thêm nao núng. Tô Giám gửi thư cấp cáo về Quế Châu xin quân cứu viện. Viên Đề Kiểm Quế Châu lập tức phái Trương Thủ Tiết nắm đạo kỵ binh khoảng một vạn, nhanh chóng tiến xuống ứng viện cho Tô Giám. Trương Thủ Tiết thận trọng dẫn đạo viện binh vượt qua chặng đường núi non hiểm trở đến Côn Luân cách Ung Châu khoảng 80 dặm, đến đây Trương Thủ Tiết cho quân dừng lại, chấn chỉnh đội ngũ để chuyển sang tiến công đánh bọc sau lưng quân An Nam ở Ung Châu. Trong khi Trương Thủ Tiết đang dồn quân, quân ngũ chưa chỉnh đốn thì bị phục binh An Nam nổi lên bất ngờ tiến đánh. Đạo kỵ binh Tống không kịp chống đỡ, Trương Thủ Tiết bị chém chết tại trận. Quân An Nam tập trung tổng lực đánh chiếm thành Ung Châu, dùng sọt, bao bì đựng đầy đất để lấp hào, đắp tường sát vào mặt thành ngoài của ta theo hình bậc thang để tiến quân lên đánh chiếm mặt thành. Hàng loạt thang “vân thể” được dựng lên, quân An Nam từ trên chòi liên tiếp bắn tên có tẩm chất cháy vào trong thành. Cuối cùng quân An Nam chiếm được mặt thành. Thành bị hạ. Giám cho thuộc hạ 36 người chết trước, chôn xác vào hố, rồi châm lửa tự đốt chết. Trận này quân ta chết 5 vạn 8 nghìn người, cộng với số người chết ở các châu Khâm Liên thì đến hơn 10 vạn. Bọn Thường Kiệt còn bắt sống một số tù binh mang về nước.

Vua Hy Ninh ôm mặt khóc, ra lệnh truy phong cho Tô Giám và đổ tội cho Vương An Thạch. Con người được ông ta tâng bốc là gần được như thánh nhân kia, lúc này cũng đánh bắt chước Thánh Khổng ngửa mặt lên trời mà than: “Ta có làm gì nên tội đâu mà Trời bỏ ta! Trời đã sinh An Thạch, sao còn sinh Thường Kiệt!”.

---❊ ❖ ❊---

Lý Đạo Thành giở bức thư của Lý Kế Nguyên gửi về cho ông ra đọc, Thư viết như sau:

“Kính thưa phụ thân,

Con bất hiếu Lý Kế Nguyên hai lạy dâng bức thư này trước văn kỷ, kính chúc phụ thân an khang, gia đình ta vạn sự tốt lành.

Trước hết, con xin phụ thân tha tội cho con đã không kịp từ tạ phụ thân trước lúc lên đường, vì không muốn quấy rầy người trong khi người không được vui. Sở dĩ con phải lên đường gấp, vì nghe tin giặc Tống sắp đánh nước ta, con phải trở lại quân ngũ, làm tròn bổn phận người trai trong cơn xã tắc ngửa nghiêng, và người lính giữ nghiêm quân luật, khi hạn kỳ xin nghỉ phép đã hết. Khi giặc sang xâm lược nước ta, mọi người ai chẳng nuôi chí tiêm cừu cùng với lũ giặc, chắc phụ thân là bậc đạo cao đức trọng, đa kiến quảng văn, cũng rộng xét cho con điều ấy.

Trên đường đi, con đã hỏi thăm các làng xóm và hàng quán dọc đường, nhiều người nói là mấy hôm trước, thấy có một người mặc áo chàm đi cùng một toán quân triều đình về phía châu lỵ Nghệ An. Như vậy, rõ ràng toán quân ăn mặc theo lối quân triều là của Hoàng Kim Mãn, chứ không phải của Lý Ấu Mai mang theo. Khi tiễn Ấu Mai về Thăng Long, con đã hỏi nàng về chuyện đó, nàng đoan quyết đó là âm mưu của Hoàng Kim Mãn gây ra, để ly gián giữa phụ thân và quan Thái úy. Đến khi con tới Thăng Long vào bái yết quan Thái úy, ngài cũng cho biết là Mãn ít bữa trước đã có mặt ở Thăng Long, nhưng lại vội vã trở về Môn Châu. Chắc là khi chạm trán Lý Ấu Mai, nó biết là đã bại lộ tung tích, nên đã tìm đường trốn thoát.

Quan Thái úy giao lại cho con chức Chiêu thảo sứ, hàng ngày huấn luyện võ nghệ cho quân sĩ, để chờ xuất trận. Quan Thái úy cũng lấy làm tiếc vì phụ thân chưa về Thăng Long, để ngài kịp bàn giao công việc chính sự cho phụ thân, trước khi người lên đường đánh giặc. Ngài cũng kể cho con biết đại cương tình hình như sau:

- Theo thám tử của quan Thái úy vào Lưỡng Quảng dò xét thì trước khi tướng Quách Quỳ xuất quân. Vua Tống đã dặn rằng: “Sau khi bình được Giao châu, sẽ đặt quận huyện như nội địa”.

Nhân cơ hội, Tống muốn đặt quan cai trị các vùng khê động thay các tù trưởng mà đến bấy giờ vẫn tự lập. Nhất là vùng Quảng Nguyên, sản xuất nhiều vàng bạc, Tống lại càng muốn chiếm lấy. Vua Tống lại dặn Quách Quỳ: “Nghe nói vùng khê động có nhiều của quý. Sau khi Giao Chỉ thua, hãy đặt thành quận huyện mà cai trị và hãy sung công của cải”.

Trong cuộc nam chinh lần này, Quách Quỳ đã đem theo một vạn ngựa, vì y và Triệu Tiết đều là tướng giữ bắc thùy, quen với lính cỡi ngựa cùng cao nguyên và sa mạc.

Đại binh sẽ kéo xuống, tập trung tại Ung Châu, phân phối ra các trại trên đường thông lộ sang Quảng Nguyên, Lạng Châu, Tô Mậu và Vĩnh An. Rồi hai cánh đánh vào Quảng Nguyên và Vĩnh An để chặn đường quân ta tập hậu. Xong, sẽ đưa đại quân theo đường chính vào Lạng Châu, qua các sông Đào Hoa39, sông Nam Định40, sông Lô41 đến tận kinh thành Thăng Long.

Phần tinh nhuệ Tống là kỵ binh, xung phong chọc thẳng hàng ngũ địch, dẫn đường cho bộ binh. Kỵ binh lại là “kỳ binh”, đánh những chỗ bất ngờ. Dùng sức ngựa chạy lanh, và qua những gai góc, đá sỏi dễ, kỵ binh có thể, lúc vướng chỗ này, chạy quanh chỗ khác, để bọc hai bên hông quân địch.

Nhưng muốn lợi dụng kỵ binh để phá địch, thì phải làm sao qua khỏi vùng hiểm trở, tới chỗ bằng, để cho ngựa xông xáo dễ dàng. Đèo ải tuy hiểm nhưng có thể dùng kỵ binh, hoặc vượt qua, hoặc len lỏi qua rừng để tránh. Còn sông sâu rộng, thì ngựa khó lòng qua nổi. Vì vậy tướng Tống đã nghĩ đến dùng thủy quân giúp sức bộ binh để qua sông.

Tống không có thủy binh sẵn. Chưa hề phải vượt bể, quân đội Tống không có chiến hạm. Lúc hữu sự, mới sung công hay chế tạo thuyền mành, và chiêu nạp hay cưỡng bách dân chài dọc bể tòng quân.

Dương Tùng Tiên xin xuất quân đường bể, vào sâu tới góc tây nam, quành sau lưng ta, đánh vào chỗ bỏ trống, nhân dịp xui Chiêm Thành, Chân Lạp cùng đánh ta. Nhưng theo ý Tô Tử Nguyên nên thôi, đừng dùng kế xui Chiêm Thành, Chân Lạp đánh biên thùy miền nam nước ta. Trái lại nên đem thủy quân vào trong cõi nước ta, để hợp chiến với lục quân và nhất là để giúp lục quân qua các sông. Triều đình Tống bác ý của Dương Tùng Tiên, và y theo kế của Tô Tử Nguyên. Nhưng sau đó Dương Tùng Tiên vẫn được giữ chức chiến trạo đô giám, và y tìm cách thi hành mưu kế của Tử Nguyên, đem thủy quân xuất phát từ hải cảng Khâm, Liêm tiến vào cửa biển nước ta.

Tình hình này sớm muộn thế nào đại quân Tống cũng kéo vào nước ta. Cúi xin phụ thân suy xét kỹ, dẹp bỏ tư hiềm, lấy việc nước làm chính, mà sớm trở về kinh đô coi giữ chính sự, để quan Thái úy yên lòng lên đường chặn giặc. Viết bức thư này, con trộm lấy làm sợ hãi đã làm phật ý cha, nhưng xin cha rộng lòng thể tất cho tấc lòng thành của con, con đội ơn khôn xiết. Thư bất tận ngôn.

Lý Kế Nguyên bái bút”.

Đêm ấy Lý Đạo Thành trằn trọc không sao ngủ được. Những dòng chữ trong thư của con trai cứ nhảy múa trước mắt ông khiến ông nổ đom đóm mắt: “Tống sẽ đặt nước ta làm quận huyện”. Phải rồi, dù thay đổi bao triều đại, Bắc quốc vẫn không đổi chính sách cướp nước ta. Khi Tống mới lên, đã sai sứ mang thư sang chiêu dụ vua Lê Đại Hành hàng phục, bức thư này khi ông sang sứ Tống, có sao lại được trong Tống sử, mang về nước định dùng làm tài liệu để bổ sung vào quốc sử của ta, vì nguyên bản chứa ở Bí thư các đã bị thất lạc. Thế nhưng từ khi về nước, ông bận chính sự không có thì giờ tu bổ quốc sử, nên bản sao bức thư vẫn còn chứa ở trong tráp. Ông mở tráp, lấy bức thư ra xem lại. Thư rằng:

“Trung Hoa đối với Man Di, cũng như thân người có tứ chi, vận động duỗi co, tùy ở tim mình, cho nên nói tim là chủ. Nếu ở một tay một chân mà mạch máu ngừng đọng, gân cốt không yên thì phải dùng thuốc thang để chữa. Chữa mà không công hiệu thì phải châm cứu cho kỳ khỏi, không phải là không biết thuốc thang thì đắng miệng, mà châm chích thì rách da. Phải làm như thế là vì tổn hại ít, mà lợi ích nhiều. Kẻ làm vua thiên hạ cũng phải làm như vậy chăng? Cho nên Thái Tổ hoàng đế ta nhận ngôi do nhà Chu nhường, đổi tên nước là Tống, văn vật trong sáng, một phen biến đổi theo xưa, ở ngôi đế vương mà nhìn Man Di mắc bệnh. Cho nên, năm thứ 1 thứ 2 thì thuốc thang cho các đất Kinh, Thục, Tương, Đàm, năm thứ 3 thứ 4 thì châm cứu cho các miền Quảng, Việt, Ngô, Sở42, gân cốt huyết mạch ra dáng trẻ non, có phần khỏe mạnh. Không do cơ trí thần diệu sáng suốt của bậc vương giả mà trù liệu được đến thế ư? Đến khi ta nối giữ cơ nghiệp lớn, đích thân coi chính sự, cho rằng đất Phần, đất Tinh43 là bệnh ở trong lòng bụng, nếu lòng bụng mà chưa khỏi thì sao chữa nổi tứ chi? Vì thế mới luyện thuốc thang bằng nhân nghĩa, sửa đồ châm cứu bằng đạo đức, hết sức chữa cho các đất Phần, Tinh, chỉ một lần là khỏi bệnh, chín châu bốn biển đã mạnh lại yên. Chỉ có Giao Châu của ngươi ở xa cuối trời, thực là ngoài năm cõi44. Nhưng phần thừa của tứ chi, ví như năm ngón chân ngón tay của thân người, tuy chỉ một ngón bị đau, bậc thánh nhân lại không nghĩ đến hay sao? Cho nên phải mở lòng ngu tối của ngươi, để thanh giáo của ta trùm tỏa, ngươi có theo chăng? Huống chi từ đời Thành Chu, nước ngươi đã đem chim trĩ trắng sang dâng, đến đời Viêm Hán dựng cột đồng làm mốc, cho đến đời Lý Đường, vẫn thuộc về nội địa. Cuối đời Đường nhiều họa nạn, chưa kịp xử trí. Nay thánh triều lòng nhân trùm khắp muôn nước, cơ nghiệp thái bình kể cũng đã thịnh. Lễ phân phong đã sắp đặt sẵn, còn đợi ngươi đến chúc sức khỏe của ta. Ngươi đừng ru rú trong bốn góc nhà, khiến cho ta buồn phiền, phải chém cờ, bổ so45 làm cỏ nước ngươi hối sao cho kịp. Dù cho sông nước ngươi có ngọc, ta vứt xuống suối, núi nước ngươi sản vàng, ta ném vào bụi, để thấy chẳng phải là ta tham của báu nước ngươi. Dân của ngươi bay nhảy còn ta thì có ngựa xe, dân ngươi uống bằng mũi, còn ta thì có cơm rượu để thay đổi phong tục của nước ngươi, dân ngươi cắt tóc, còn ta thì có áo mũ, dân người nói tiếng chim, còn ta thì có Thi, Thư, để dạy lẽ cho dân ngươi. Cõi nóng chói chang, khói hơi mù mịt, ta tỏa mây Nghiêu, tưới cho mưa ngọt. Khí biển hầm hập, cháy mây chảy đá, ta gảy đàn Thuấn, quạt làn gió thơm. Sao trên trời nước ngươi, chẳng ai biết tên gì, ta quay chòm tử vi để ngươi biết chầu về. Đất ngươi nhiều ma quỷ, ai cũng sợ chúng quấy, ta đã đúc vạc lớn để yểm trừ, khiến chúng không làm hại. Ra khỏi chốn đảo di của ngươi mà xem nhà Minh Đường, Bích Ung46 chăng? Trút áo quần cỏ lá của ngươi mà mặc áo cổn hoa thêu hình rồng núi chăng? Ngươi có theo về hay không, chớ mau chuốc lấy tội. Nay ta đang chỉnh đốn, xe cộ quân lính, truyền hiệu lệnh chuông trống. Nếu chịu theo giáo hóa, ta sẽ tha tội cho, nếu trái mệnh, ta sẽ sai quân đánh. Theo hay chống, lành hay dữ tự người xét lấy”.

Giọng trịch thượng, ngạo mạn trong bức thư khiến Lý Đạo Thành sục sôi căm giận. Người soạn bức thư này nghe nói là một văn học đại gia tên Vương Vũ Xứng, nhưng chắc chưa hề đến nước ta bao giờ, nên mới nhắm mắt nói mò, bảo dân nước ta uống bằng mũi, nói như tiếng chim, mặc áo quần cỏ lá, không biết chữ nghĩa, sách vở, chỉ có Trung Hoa mới là văn vật, còn các dân tộc khác đều coi là Man Di cả. Được rồi, nếu chúng mày muốn đổ thuốc cho chúng tao, châm chích cho chúng tao thì chính chúng mày sẽ đắng miệng, rách da, chứ không phải chúng tao. Chúng tao là nước văn hiến, nhưng vẫn sẵn sàng vũ lực để tự vệ, đánh đổ mưu đồ xâm lược của chúng mày. Chúng mày nói là không tham vàng, ngọc của chúng tao, chỉ là nói mẽ, để lòe bịp người khác, lời vua Tống dặn Quách Quỳ chả nói toẹt ra là phải vơ vét vàng ở Quảng Nguyên hay sao? Thời xưa, chúng mày ham ngà voi, sừng tê, bắt dân ta phải lên rừng xuống biển để kiếm đem nộp, còn nay thì chúng mày lại mưu chiếm đất Quảng Nguyên để khai mỏ vàng. Quả là lòng tham không đáy!

Nếu bức thư của Lý Kế Nguyên còn làm cho Đạo Thành phân vân vì còn xen lẫn chút tự ái, thì bức thư của nhà Tống lại làm ông tức giận “tóc dựng ngược lên chỏm mũ” (như lời thơ tráng sĩ phát xung quan của Lạc Tân Vương, người đã từng thảo bài hịch đánh Võ Tắc Thiên). Ông liền thu xếp trở về Kinh theo tiếng gọi của Nước, cũng là tiếng gọi của lương tâm.

Ngày 23 tháng giêng năm Bính Thìn47 vua Tống sai quan lễ viện Trịnh Ung tế cáo thần núi Nam Nhạc, ở phía nam hồ Động Đình và Trần Đồng tế cáo thần bể Nam hải ở Quảng Châu, để báo việc sắp xuất quân xuống miền Nam.

Vua Tống lại ban tiền cho quân lính và dặn rằng: “Đại quân xuống phương nam vừa lúc nắng to, phải chinh thảo xa xôi, triều đình lấy làm thương xót. Vậy nay Trẫm ban cấp tiền cho. Nhưng đợi lúc tới Đàm Châu, sẽ phát, rồi đợi khi ra khỏi Lĩnh lại phát lần nữa”.

Khi đó ở trong triều, Vương An Thạch cử Triệu Tiết làm thống soái, vua nghe ý Ngô Sung lại cử Quách Quỳ. Tiết đã miễn cưỡng cử Quỳ và xin làm phó. Cho nên hai tướng bất hòa đến nỗi hiệu lệnh bất nhất.

Lúc quân đã xuống đến Ung Châu, mà hai tướng vẫn còn hục hoặc nhau. Nhiệm vụ mỗi người không rành mạch. Khi bàn việc, hai người đôi co nhau không ai chịu nhường ai. Ngày 12 tháng 9 vua Tống phải hạ chiếu chia phần việc:

Tuyên bố đức trạch, an phủ quân dân (phát tiền, gạo, bằng sắc) thì giao cho ti tuyên phủ, Quỳ làm chánh, Tiết làm phó.

Mưu mẹo phương lược thì thuộc ti kinh lược chiêu thảo, Quỳ coi một mình.

Hành doanh, tướng hiệu binh mã thì thuộc quyền ti độ tổng quản, Quỳ làm chánh, Yên Đạt làm phó.

Tiết đã được vua Tống giao cho việc lương thực. Quỳ chia công việc ti đô tổng quản với Yên Đạt là viên phó đô tổng quản. Còn Tiết là phó an phủ sứ lại không được dự. Cho nên mỗi lúc Tiết bàn gì, cũng bị Quỳ bác. Ngày 21 tháng 10, vua Tống phải hạ chiếu trách và dặn: “Quỳ, Tiết phải biết rằng triều đình đã giao cho trọng trách. Thế mà ta nghe rằng các ngươi bàn luận, thường không ăn ý nhau. Vậy, phàm việc gì cũng phải theo lệnh trên, trong khi thương nghị, chớ có giằng co nhau”.

Sự bất hòa còn diễn ra ở cả mặt chiến lược. Lúc tới Quế Châu, Tiết bàn nên thừa lúc chưa động binh, sai người vào vùng Lưỡng Giang chiêu dụ tù trưởng, không nên đem quân xuống đóng chỗ lam chướng, và nên đợi quan sát địch đã. Quỳ không nghe cứ đem đại quân xuống Ung, rồi xuống Tư Minh, đóng lại ở Bằng Tường. Tiết lại bàn nên dụ Lưu Kỷ và Thân Cảnh Phúc. Tiết nói: “Vì mưu của Thường Kiệt và Lý Kế Nguyên, nên Giao Chỉ đã làm loạn. Kiền Đức và mẹ là Ỷ Lan oán hai người ấy, và nay lại tin vào Nguyễn Thù. Thù vốn có lòng quy thuận. Vả Lưu Kỷ ở Quảng Nguyên, Thân Cảnh Phúc giữ động Giáp đều cầm cường binh. Ta có viên Thành Trạc, làm giám áp ở trại Hoành Sơn, vốn quen thân với Thân Cảnh Phúc. Tôi muốn sai Trạc mang sắc bằng vào chiêu nạp chúng”. Quỳ cũng không nghe mưu ấy.

Trong khi các tướng ở ngoài không ăn ý với nhau, thì ở triều, cuộc xung đột giữa Vương An Thạch và cựu phái lại càng kịch liệt. Tháng 10, An Thạch phải từ chức. Tống Thần Tông lấy Ngô Sung và Vương Khuê thay. Phùng Kinh được coi việc khu mật. Sung vốn thuộc phải không thích đánh. Sung đã từng cãi lại An Thạch rằng: “Có lấy được Giao Chỉ, cũng vô ích!” Nhưng nay quân đã đến biên thùy, vô cớ lui quân cũng bất tiện. Sung viết thư cho Quách Quỳ, nói: “Về việc quận huyện bắt phu chậm trễ, triều đình đã ban chỉ hạch tội. Về việc sắp đặt đánh Giao Chỉ, đã có kế bàn định rồi. Hãy chỉ nên đóng quân lại, để xét kỹ càng. Thế là hay hơn”. Quỳ tính vốn cẩn thận, chậm chạp, nay được lệnh như thế, lại càng trù trừ.

Quân lính do các tướng chiêu mộ lấy thường không theo luật pháp, đến nỗi vua Tống phải hạ chiếu cắt đặt người cai quản, và bảo phải gia tử tội. Tướng cũng có kẻ không theo pháp luật. Như Lý Thực lĩnh đội quân hữu đệ nhất đưa cả vợ con đi theo.

Tình trạng quân Tống bấy giờ khốn đốn vì bệnh tật và thiếu lương thực.

Từ khi qua dãy núi Lĩnh, gặp mùa nóng nực, quân lính bị đau rất nhiều. Đến thượng tuần tháng chín, đã chết mất bốn, năm nghìn người trong bốn đạo trung quân. Vua Tống rất lo ngại, gửi chiếu chỉ nhiều lần xuống dặn dò thuốc thang. Thuốc không khỏi, lại sai cúng.

Về lương thực, các viên đốc sự cũng đã tính toán mập mờ. Triệu Tiết được cử coi công việc ấy từ đầu. Khi tới Hồ Nam, Tiết hỏi những kẻ chuyên trách phải điều phát bao nhiêu lương số. Có Đường Nghĩa làm chuyển vận phán nói: “Vì không dám làm lỗi quân kỳ, xin chở tất cả một lần”. Nhưng viên phủ sứ Tăng Bố nói: “Không thể làm nổi. Phải chở làm hai lần”.

Tiết hỏi: “Đã chở lương tới Quảng Tây được bao nhiêu rồi? Bố nói: “Đã có 90 vạn hộc”. Tiết hỏi: “Đã có bao nhiêu phu?” Bố trả lời” “Có 27 vạn”. Tiết tính, thấy thế là đủ, bèn bảo Nghĩa thôi việc bắt phu ở Hồ Nam nếu thiếu thì mình lo cho.

Lúc đến Ung Châu, lương và phu đều thiếu. Ngày 12 tháng 10, viên khu mật phải thúc giục và dọa: “Nếu ai thiếu tiền, cỏ, trong việc đánh An Nam, thì lúc quân trở về, sẽ thu gấp đôi”. Thế mà cuối cùng lương vẫn thiếu.

Đầu tháng 10, đại quân Tống đóng ở Tư Minh48. Tư Minh thuộc trại Vĩnh Bình, là trung tâm điểm để đi các cửa ải vào những châu Quảng Nguyên, Môn, Tô Mậu và huyện Quang Lang. Quân Tống ở đó bảy mươi ngày, Quách Quỳ theo lệnh của tể tướng mới là Ngô Sung, đóng hành doanh ở Bằng Tường, cạnh Tư Minh, đợi xem nên hành động ra làm sao.

Sau khi xem xét tình thế, Quách Quỳ hội các tướng lại nói rằng:

- Quảng Nguyên là cổ họng của Giao Chỉ. Có binh giáp mạnh đóng giữ đó. Nếu ta không đánh lấy trước, thì sau khi ta đi sâu vào đất chúng, quân ta sẽ bị đánh cả mặt trước và mặt sau. Lưu Kỷ đóng ở đó, là quan sát sứ của giặc, mà lại là chủ mưu sự cướp Ung Châu.

Nếu ta không bắt được nó, thì thanh thế ta không thể nổi dậy.

Dứt lời Quách Quỳ truyền lệnh cho phó đô tổng quản Yên Đạt:

- Trước đây, ta đã dụ Lưu Kỷ hàng, nhưng không được. Nay ta giao cho Yên tướng quân đem quân qua trại Thái Bình, vào châu Quảng Nguyên bắt Lưu Kỷ đem về dâng nộp.

Yên Đạt vâng lệnh. Yên Đạt vốn là một võ tướng đã lập được nhiều công ở Diên Châu trong khi đánh Hạ. Lúc y vào bái từ để theo Quách Quỳ xuống miền Nam, Tống Thần Tông có dặn:

- Khanh, danh vị đã cao, bất tất phải tự mình xông pha tên đạn. Khanh chỉ nên khuyến khích tướng sĩ mà thôi.

Đạt cúi đầu cảm tạ và tâu:

- Tâu bệ hạ, thần nhờ uy vua đi dẹp giặc. Dẫu chết cũng không sợ.

Tháng 11, quân Tống bắt đầu vượt biên giới tiến công vào Vĩnh An và Quảng Nguyên.

Trên hướng cánh quân phải, Quách Quỳ trao cho Yên Đạt và Khúc Chẩn chỉ huy một đạo quân mạnh khoảng vài vạn người, xuất phát từ Tư Minh, chia thành hai mũi chính và kỳ song song cùng tiến đánh vào Quảng Nguyên. Yên Đạt đem theo một tướng giỏi tên là Tu Kỷ giúp mình. Đường vào Quảng Nguyên hiểm trở nhưng quân Tống đông, cứ nối nhau mà tiến.

Tại Quảng Nguyên, tướng Lưu Kỷ chỉ huy khoảng 5 vạn nghìn quân bản bộ đã kịp thời chặn đánh quyết liệt các mũi tiến công của địch. Dựa vào địa thế núi rừng hiểm trở, các đội thổ binh của ta đã tiến hành nhiều trận đánh phục kích nhỏ để tiêu hao quân Tống. Vùng bắc Quảng Nguyên có Hoàng Lục Phấn ngăn được quân Tống, không để chúng cướp phá động mình ở Lũng Định, gần phủ Trùng Khánh.

Sau một thời gian tiến công kéo dài, quân Tống tuy bị thương vong nhiều nhưng đã cố sức tiếp cận được châu Quảng Nguyên. Lưu Kỷ tập trung toàn lực của mình cố thủ thành Quảng Nguyên. Tại đây đã diễn ra những trận chiến đấu rất quyết liệt. Quân Tống bị thương vong ngày một nhiều mà vẫn không sao đánh chiếm được thành Quảng Nguyên. Trước sự chiến đấu dũng cảm kiên cường của quân ta, bọn Yên Đạt và Khúc Chẩn thấy không thể chiếm được Quảng Nguyên bằng sức mạnh quân sự nên đã chuyển sang dùng kế ly gián, mua chuộc hầu cắt vây cánh của Lưu Kỷ. Một mặt Yên Đạt cho bọn thám tử cải trang là người của ta, xuống các làng bản, phao tin Lưu Kỷ đã nhận lời theo Tổng và hẹn ba ngày nữa sẽ ra hàng. Những thổ ty chỉ huy dân binh tại các bản làng không phân biệt được thực hư, không thấy được âm mưu địch liền bị chúng đánh lừa. Từ đó, tinh thần chiến đấu của dân binh trở nên sa sút. Không những thế, họ còn căm phẫn, bất hợp tác và thậm chí, chống lại Lưu Kỷ, làm cho Lưu Kỷ làm vào tình trạng bị cô lập trong chiến đấu. Mặt khác, Yên Đạt lại cử người mang vật phẩm và giấy phong chức tước của triều Tống cho Lưu Kỷ để mua chuộc ông. Thâm độc hơn, chúng còn bịa đặt việc Thường Kiệt không tin và muốn hại Lưu Kỷ... Tất cả những thủ đoạn ấy của địch làm cho Lưu Kỷ bị mắc mưu, thủ tiêu chiến đấu và đầu hàng giặc. Quảng Nguyên bị quân Tống chiếm đóng. Yên Đạt sai đốt phá các động để phòng sự quân ta tập kích.

Ti chiêu thảo báo về vua Tống dụ chiếu rằng: Nếu vì đại binh tới gần cõi, cho nên Lưu Kỷ bất đắc dĩ mới hàng thì hãy đem Lưu Kỷ và gia quyến về kinh đô.

Sau đó, cả Lưu Kỷ và các tì tướng như Nùng Sĩ Trung và Lư Bảo thủ lĩnh động Bát Tế ở châu Cổ Lộng, đều bị đem về Biện kinh cả.

Đầu tháng chạp, Quảng Nguyên bị mất. Ý Triệu Tiết là sau khi lấy được Quảng Nguyên, bảo Yên Đạt theo đường tắt xuống Thăng Long, tức là đường qua Bắc Cạn, Thái Nguyên, Tiết nói:

- Đường tắt từ Quảng Nguyên đến Giao Châu chỉ 12 trạm. Theo đường ấy rất tiện lợi. Ta nên xuất kỳ bất ý đem quân đi đường ấy mà đánh úp. Như thế, vừa bằng sông, vừa bằng bộ, ba đường tiến đánh, thế giặc phải chia. Chắc ta sẽ thắng.

Ba đường nói trên là đường Quảng Nguyên, đường Lạn Châu và đường thủy từ Bạch Đằng vào.

Quách Quỳ không bằng lòng kế ấy, và bảo Yên Đạt, khi đánh xong Quảng Nguyên, phải trở lại trại Vĩnh Bình, hội với đại binh ở vùng Tư Minh, Bằng Tường. Yên Đạt bèn đúng lời hẹn, bỏ Quảng Nguyên và rút quân về phía Đông.

Nhưng bấy giờ còn chừng một vạn quân ta đóng ở động Hạ Liên và Cổ Lộng. Hai châu này ở phía Nam Quảng Nguyên, trên đường Cao Bằng, Thái Nguyên.

Trong khi lui quân, Yên Đạt sợ bị quân ta đánh úp, bèn sai Khúc Chẩn quản 3 nghìn quân kỵ đóng lại, dương ngôn sắp qua các động ấy để vào đánh Thăng Long.

Đạt lại tha tù binh, quê ở các châu ấy, để họ về kể truyền lại tin bịa ấy. Vì thế quân ta cảnh giác, chỉ ở lại giữ thế thủ mà thôi.

Yên Đạt rút quân được vô sự. Còn Khúc Chẩn ở lại sau.

Cũng vào thời gian này, Quách Quỳ ra lệnh cho Nhâm Khỉ chỉ huy một đạo quân chừng một vạn, từ Khâm Châu chia thành hai mũi thủy bộ, tiến đánh các trại Ngọc Sơn, Vĩnh An. Tại đây, ta chỉ có một lực lượng nhỏ trấn thủ. Sau một số trận giáp chiến với địch, thấy không đủ sức chống đỡ, nên đã rút về phía sau. Chiếm được Ngọc Sơn, quân Tống tiếp tục đánh Vĩnh An rồi lập căn cứ tại đó.

Hai đạo tả, hữu quân Tống làm nhiệm vụ tiến công trước, đã chiếm được Quảng Nguyên, Vĩnh An, tạo được thế yểm hộ mạn sườn vững chắc, Quách Quỳ, Triệu Tiết liền tung toàn bộ lực lượng mở cuộc tiến công đại quy mô vào quốc gia Đại Việt.

Ngày 11 tháng 12 năm Bính Thìn, Quách Quỳ thống suất đại quân từ Tư Minh chia thành nhiều mũi vượt biên giới ào ạt tiến công sang ta.

Trước khi tiến quân, Quách Quỳ căn dặn các tướng:

- Phàm quân đi, đến nơi nào có sông ngòi nhỏ thì phái du binh, hoặc chặt tre làm cầu, làm bè, hoặc quãng dây thừng sang trước, đi một dặm để thăm dò, về báo không có giặc, rồi sau phái binh, một phần nghiêm binh phòng giữ, một phần đẫn tre chặt cây làm cầu, làm bè, giăng dây để sang, đừng nên nóng vội. Như gặp sông lớn thì sức trước cho thuyền ghe chờ đợi, phái du binh sang trước, đi xa 1, 2 dặm, thăm dò xem có giặc hay không. Như có giặc thì đừng sang sông và trên thượng lưu có ngăn nước thì cũng đừng sang, sợ địch phá nước ngăn. Nếu báo quả không có giặc, thì phải cho ba toán tiền chi sang trước, cách chúng một tầm trông, bày binh sắp hàng để phòng sự không ngờ, rồi sau mới theo thứ tự tả, tiền, trung, hữu mà sang. Đường sau cũng phái du binh thám xét, sợ quân giặc nhân ta sang nửa chừng đánh úp hậu binh ta. Binh xuống thuyền sang sông, thì y theo đơn vị, giữ súng và khí giới, hoặc gặp sóng gió cũng không kinh động, thế thì không có sự lo bất ngờ.

Phàm quân đi, gần đến giới phận rừng núi thì trước phái du binh và người địa phương lớn vào rừng rậm, hoặc lên cao, hoặc trèo cây, hoặc tìm hang sâu bụi rậm xem có quân giặc hay không rồi về báo. Nếu có giặc thì ta giành trước lấy nơi cao hay nấp chỗ rậm, rồi sau theo phép trận “song đấu” bày hai hàng gươm súng xen nhau vừa bắn vừa tiến, như lăn vòng tròn, gọi là trận “Ngô công cuốn đất”. Nếu không có giặc thì cũng y theo hai hàng mà chuyển qua, giữ cho không trở ngại.

Các tướng đều dạ ran. Quách Quỳ cho đánh ba hồi trống lớn, các quân họp cả. Tù và thổi ba hồi thì quân cầm khí giới, một tiếng chiêng thì quân đều bày hàng ngồi. Trống đánh tiên nghiêm đánh ba tiếng thì đứng dậy, ba tiếng la đồng thì mở cờ. Trống lớn hai tiếng đánh cặp nhịp, quân đầu cầm khí giới. Trống lớn ba tiếng thì cả đoàn quân rầm rập xuất phát.

Hướng tiến công chủ yếu của chúng theo trục đường Tư Minh, Lạng Sơn, Thị Cầu, Thăng Long. Hai đạo tả, hữu quân ở các căn cứ Quảng Nguyên, Vĩnh An và đạo thủy quân của Dương Tùng Tiên ở Hợp Phố thuộc Liêm Châu cùng đồng thời tiến công phối hợp với đại quân của Quách Quỳ. Quách Quỳ trực tiếp chỉ huy đạo chính binh, tiến công trên hướng chủ yếu, theo trục đường thiên lý, Lạng Sơn, Chi Lăng, Thị Cầu, Thăng Long. Phó tướng Triệu Tiết chỉ huy kỳ binh tiến công theo hướng Bằng Tường, Bình Gia, Vạn Nhai, Nhã Nam, xuống bến Như Nguyệt.

---❊ ❖ ❊---


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của hoài anh