Như Nguyệt

Lượt đọc: 64 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
V

❊ ❊ ❊

Sông Như Nguyệt là đoạn sông Cầu từ ngã ba Xã (huyện Yên Phong) tới Phả Lại. Như Nguyệt là một con sông quan trọng, ngăn chặn đường giao thông từ Quảng Tây (Trung Quốc) vào nước ta. Đoạn sông từ ngã ba sông Cà Lỗ xuôi đến Phả Lại, dễ qua và là nơi gần kinh đô hơn cả. Vì vậy Lý Thường Kiệt quyết định chặn giặc ở đoạn sông này.

Núi Nham Biền có rừng cây hiểm trở. Bên bờ bắc sông Như Nguyệt dân cư thưa thớt. Dọc ven sông, chỉ những bến thuyền mới có người qua lại. Bến Gầm còn có lắm hùm beo. Vì thế nên chiến tuyến đánh địch của Lý Thường Kiệt không phải kéo dài hàng trăm trượng dọc theo sông Như Nguyệt mà chỉ lập ở mười một bến đò ngang, trong đó có ba chiến luỹ quan trọng là Như Nguyệt, Thị Cầu, Phấn Động.

Như Nguyệt, Thị Cầu là hai bến quan trọng trên con đường qua Đình Bảng, quê hương của những người tạo dựng vương triều Lý và dẫn tới kinh đô Thăng Long. Bến Phấn Động (Tam Đa, Yên Phong) là bến thưa người, rừng già bóng cả, nhưng ở đây dòng sông hẹp, quân địch dễ vượt qua.

Tại những nơi trên, sông Như Nguyệt được coi là hào sâu. Bên trên bờ sông, Lý Thường Kiệt dự định đắp những luỹ đất cao như bức tường thành, dưới chân luỹ là những cọc tre ken mấy tầng. Dưới bãi sông sẽ cắm nhiều chông, chà nhọn hoắt. Tất cả sẽ lập thành một chiến luỹ kiên cố không dễ vượt qua.

Điểm tận cùng của chiến tuyến sông Như Nguyệt là trại Vạn Xuân. Ở đây Lý Thường Kiệt bố trí bốn trăm chiến thuyền sẵn sàng chờ giặc.

Lý Thường Kiệt trải tấm bản đồ hành quân ra nghiên cứu, kiểm chứng lại những tin tức mà trinh sát mang về cho ông.

Ngón tay ông vạch ngang trên bản đồ một đường ngang, bắt đầu từ chỗ sườn đông mỏm núi Đền thuộc dãy Tam Đảo, theo nam ngạn sông Như Nguyệt, thẳng sang hướng đông, qua sông Lục Đầu ở Phả Lại nối vào sườn tây núi Ông Sư của dải Yên Tử. Chiến tuyến phải xây dựng theo thế “hoành trận”, kéo dài khoảng 160 dặm. Chiến tuyến còn phải được kết hợp chặt chẽ với cả hệ thống thành quách, đồn ải ở phía Bắc như các thành Quảng Nguyên, Môn Châu, Quang Lang, Tô Mậu, Vĩnh An, các ải Quyết Lý, Giáp Khẩu, Động Giáp... cùng với lực lượng thủy quân bố trí trên sông Đông Kênh, tất cả hợp lại, hình thành thế trận phòng ngự có chiều sâu. Từ thế trận này, ta có thể phát huy được đầy đủ sức mạnh của các lực lượng võ trang trong chiến đấu, kể cả tiến công, cũng như phòng ngự để đánh bại chiến lược “tốc chiến tốc quyết” của quân xâm lược Tống.

Trong cuộc tiến công xâm lược này, nhà Tống có sử dụng cả lục quân và thủy quân, nhưng lục quân được coi như là lực lượng chủ yếu, quyết định trên chiến trường. Để tiến vào nước ta, Quách Quỳ tất phải chọn hướng chủ yếu là theo đường Quảng Tây đánh xuống Đại Việt.

Do núi rừng miền Bắc nước ta hiểm trở, dải núi Tam Đảo ở đầu phía tây và dải núi Yên Tử ở đầu phía đông của chiến tuyến Như Nguyệt đã ngăn cản mọi sự cơ động của quân Tống, cho nên, từ phía Bắc tiến quân xuống, quân địch tất phải vượt qua sông Như Nguyệt, không có con đường nào khác. Chiến tuyến Như Nguyệt được thiết lập không những chỉ là cái áo giáp bảo vệ vững chắc cho kinh thành Thăng Long, khóa chặt mọi cửa ngõ tiến công của quân giặc xuống vùng châu thổ sông Hồng, mà còn là bàn đạp để quân ta chuyển sang phản công chiến lược, tiêu diệt quân xâm lược trên bờ bắc sông.

Lập chiến tuyến phòng ngự tại đây ta sẽ tạo điều kiện cho quân ta tác chiến trên một chiến trường hoàn toàn có lợi. Quân đội ta sẽ nhận được sự hỗ trợ, chi viện trực tiếp về nhiều mặt của nhân dân miền trung và đồng bằng Bắc bộ, nơi có cư dân đông đúc, là hậu phương quan trọng nhất của cả nước. Đó là thế mạnh của ta. Ngược lại, ta sẽ buộc quân Tống phải chấp nhận một cuộc giao chiến hoàn toàn bất lợi cho chúng. Hàng chục vạn quân Tống phải lao vào đột phá phòng tuyến Như Nguyệt, một phòng tuyến cực kỳ kiên cố của ta, cách căn cứ Ung Châu của chúng năm, sáu trăm dặm, qua một vùng rừng núi hiểm trở, đường sá khó khăn, khí hậu khắc nghiệt, cư dân thưa thớt, đường vận lương chiến lược dễ bị quân ta cắt đứt... Từ đó, quân Tống trên chiến trường Như Nguyệt dễ sa vào thế “cô quân”, trăm bề khốn khó trong khi giao chiến với ta.

Lý Thường Kiệt nhung phục chỉnh tề, ra giáo trường điểm duyệt quân sĩ, rồi ngồi lên tướng đài, truyền Đại tướng quân Lý Thường Hiến vào nghe lệnh.

Lý Thường Hiến chắp tay vái, rồi đứng dưới đài chờ lệnh.

Lý Thường Kiệt nói:

- Ta giao cho tướng quân đôn đốc việc xây dựng chiến tuyến Như Nguyệt. Những nơi địch có khả năng tiến công vượt sông, phải xây đắp chiến lũy kiên cố để chống giặc. Mặt ngoài sông chiến lũy đắp dựng đứng, mặt trong đồng đắp thoai thoải, có nhiều bậc để tiện lên xuống. Dưới chân chiến lũy, về phía mép sông, phải đóng nhiều cọc tre, cắm chông, làm giậu dày vài tầng, tạo thành một hệ thống chướng ngại vừa dày đặc vừa vững bền sông sâu, thành lũy cao, rào chắc, tất cả kết hợp lại có quy củ và chặt chẽ sẽ tạo thành một tuyến phòng ngự có quy mô lớn, vững chắc.

Ông rút một cây cờ lệnh, trao cho Lý Thường Hiến. Lý Thường Hiến nhận cờ, vái tạ rồi lui ra.

Lý Thường Kiệt lại cho đòi Thiếu úy Hoàng Kiện vào nghe lệnh. Khi Hoàng Kiện vào, Lý Thường Kiệt nói:

- Tướng quân sửa soạn mang quân chia thành từng vệ, đóng thành từng trại dọc theo chiến lũy mới xây dựng xong. Ở những nơi quan trọng như bến Thị Cầu, bến Như Nguyệt, lực lượng bố phòng cần tăng cường nhiều hơn. Những vệ quân tinh nhuệ nên trao nhiệm vụ phòng thủ tại đây.

Ông rút một cây cờ lệnh, trao cho Hoàng Kiện. Hoàng Kiện nhận cờ, vái tạ, rồi lui ra.

Lý Thường Kiệt lại cho đòi Chiêu thảo sứ Lý Kế Nguyên vào nghe lệnh. Lý Kế Nguyên vào, Lý Thường Kiệt nói:

- Tướng quân hãy chia thủy binh thành từng thủy đội nhỏ, trang bị chiến thuyền loại nhẹ, phối thuộc cho các đạo quân phòng ngự trên chiến tuyến. Các thủy đội này làm nhiệm vụ thường xuyên tuần tiễu trên sông, tiêu diệt các toán quân vượt sông do thám và triệt phá các phương tiện vượt sông của giặc. Một đội thủy binh lớn phải được phái ra vùng sông Đông Kênh để chặn đánh mũi tiến công của thủy binh Tống. Tuy không phải là lực lượng nằm trong đội hình tác chiến của chiến tuyến phòng ngự, nhưng nó là lực lượng phối hợp tác chiến hết sức quan trọng đối với phòng tuyến Như Nguyệt. Vì một khi thủy quân ta đánh tan được thủy quân Tống, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các vệ quân tác chiến trên phòng tuyến Như Nguyệt, thực hiện được trọn vẹn mục đích đã định.

Ông rút một cây cờ lệnh trao cho Lý Kế Nguyên. Kế Nguyên nhận cờ, vái tạ, rồi lui ra.

Sau khi sắp xếp xong đội hình chiến đấu phía trước mặt, bố trí lực lượng tổng dự bị chiến lược khoảng trên dưới mười vạn quân, chia làm hai khối: bộ binh và thủy binh. Khối bộ binh được bí mật đặt tại vùng Tiên Du, Từ Sơn và ở kinh đô Thăng Long, phía sau chiến tuyến phòng ngự. Khối thủy quân có khoảng hai vạn và hơn 400 chiến thuyền, đặt tại sông Lục Đầu. Hai khối quân này đều đóng ở những nơi trọng yếu để có thể sẵn sàng cơ động lên phía trước, chi viện cho lực lượng phòng ngự tác chiến. Nếu địch đột phá được tuyến phòng ngự của ta, thì đó cũng là lực lượng phản kích tiêu diệt địch, giữ vững trận tuyến. Khi chiến dịch phòng ngự đã đạt được mục đích, kẻ địch đã suy yến, không còn khả năng tiếp tục tiến công, buộc phải dừng lại củng cố hoặc chuyển sang phòng ngự, thì sẽ nhanh chóng chuyển sang tiến công để tiêu diệt hoàn toàn quân địch, giành thắng lợi quyết định của chiến tranh.

Ông dự định gọi Tông Đản đang chỉ huy cánh quân án ngữ ở phía Bắc, về chỉ huy khối bộ binh, nhưng còn khối thủy binh thì chưa biết chọn ai cầm đầu.

Bỗng có một quân hầu vào báo:

- Bẩm Thái úy, có hai hoàng thúc Hoằng Chân và Chiêu Văn, muốn xin vào ra mắt.

Nghe nói có hai hoàng thúc đến, Lý Thường Kiệt vội bước xuống tướng đài, thân ra ngoài cửa đón. Khi hai người vào tới nơi, Lý Thường Kiệt cho bắc hai chiếc cẩm đôn mời hai người ngồi, nhưng Hoằng Chân chối từ:

- Thưa quan Thái úy, chúng tôi nghe tin ngài mở giáo trường kén tướng ra đánh giặc, nên đến xin tình nguyện nhập ngũ, để tùy ngài sai phái. Xin ngài cứ coi chúng tôi như những tân binh mới tuyển mộ, không cần phải giữ lễ làm gì!

Lý Thường Kiệt nói:

- Hai hoàng thúc tình nguyện ra chiến trường giết giặc, quả là đáng kính phục. Nhưng tôi e rằng xưa nay hai vị chỉ quen đọc sách, chưa quen trận mạc bao giờ, nếu ra chiến trường liệu có giành phần thắng được không?

Chiêu Văn nói:

- Có văn tất có võ, văn võ không phải là hai đường. Chúng tôi ngoài việc đọc kinh sử, cũng có tham bác cả binh thư đồ trận, có thể dùng vào việc đánh giặc được. Vả chăng làm tướng không chỉ cậy vào cái dũng của kẻ thất phu, mà cần phải có mưu trí. Binh pháp có câu: Việc quân lấy kỳ kế làm mưu, lấy tuyệt trí làm chủ. Xin quan Thái úy cứ giao nhiệm vụ, chúng tôi tin rằng có thể làm tròn bổn phận kẻ làm trai khi đất nước hữu sự.

Lý Thường Kiệt nói:

- Hai hoàng thúc quả có tấm lòng khảng khái. Hiện nay còn khuyết một chân chỉ huy lực lượng dự bị chiến lược thủy quân, có nhiệm vụ hỗ trợ cho bộ binh để phản kích tiêu diệt địch giữ vững trận tuyến và sẵn sàng cơ động ra sông Đông Kênh để tăng cường chi viện cho Lý Kế Nguyên khi cần thiết. Tôi muốn giao chức trách ấy cho hai hoàng thúc, chẳng hay hai vị nghĩ sao, liệu có đảm đương được không?

Hoằng Chân nói:

- Nếu quan Thái úy sai khiến đến anh em chúng tôi, lẽ nào chúng tôi lại không hết sức đánh giặc để báo ơn vua đền nợ nước.

Lý Thường Kiệt vui mừng, rút một cây cờ lệnh trao cho Hoằng Chân. Hai anh em bái tạ, rồi trở về phủ thu xếp công việc để ra trận địa.

---❊ ❖ ❊---

Nghe tin Khúc Chẩn, phó tướng đội quân tả đệ nhị, rời bỏ Quảng Nguyên từ mặt tây tiến quân sang đông nam, kéo đến Môn Châu, Hoàng Kim Mãn bèn rủ tù trưởng Sầm Khánh Tân ra đường đón quân Tống. Vừa trông thấy Khúc Chẩn, Hoàng Kim Mãn đã chắp tay vái lạy:

- Kính chào Khúc tướng quân, chúng tôi xin đem Môn Châu dâng cho ngài và xin tình nguyện dẫn đường cho đại quân tiến xuống phía nam.

Nguyên trước đây, Khúc Chẩn đã gặp Hoàng Kim Mãn khi y được Quách Quỳ cử xuống Hữu Giang, kiểm điểm định tráng, ở các khê động, đoàn kết và huấn luyện các định tráng ấy, để dự bị đánh Lưu Kỷ. Mãn đã ngầm hẹn với Khúc Chẩn, khi nào đại quân Tống đến thì sẽ làm nội ứng. Khúc Chẩn đã mang bằng sắc của vua Tống đến ban hàm cung bị khố phó sứ cho Hoàng Kim Mãn và hàm nội điện sùng bản cho Sầm Khánh Tân, lại xuất tiền bạc trong kho cấp cho hai người để cấp tiền ăn cho cường tráng, mỗi người một ngày một thúng gạo, hai mươi đồng tiền, bắt họ luyện tập, xem ai giỏi thì thưởng mười đồng tiền, bắt họ luyện tập, xem ai giỏi thì thưởng ai đói thì giúp, lại dặn họ phải lập trại, rào chắn các nơi hiểm yếu. Lúc này, nhìn thấy Hoàng Kim Mãn và Sầm Khánh Tân, Khúc Chẩn mừng rỡ, phủ dụ:

- Thiên triều đã hiểu tấm lòng hiếu thuận của các ông từ lâu rồi. Hãy cố gắng lên, thiên triều sẽ không quên công các ông đâu.

Hoàng Kim Mãn mời quân Tống vào trong trại, khoản đãi chu đáo, rồi để Sầm Khánh Tân ở lại giữ trại, còn mình thì thân dẫn đường cho quân Khúc Chẩn.

Mặt đông, quân ở các châu Mộc, Tư Lang tiến vào châu Tô Mậu, Viên châu mục là Vi Thủ An, đã bị viên chúa trại Vĩnh Bình là Dương Nguyên Khanh dụ trước, nên quân Tống chiến Tô Mậu dễ dàng.

Mặt giữa, quân tiền phong vượt núi ở phía nam sông Ô Bi, qua đèo Kháo Mẹ, Kháo Con, tiến quân được vài chục dặm thì đến ải Quyết Lý.

Nghe tin quân Tống kéo đến, phò mã Thân Cảnh Phúc đem đội quân voi ra chặn lại. Tại đây quân ta dựa vào thế đất hiểm, tổ chức phòng ngự vững chắc, đánh trả quân địch, khí thế rất hăng hái.

Quách Quỳ sai Yên Đạt, Trương Thế Cự tiến đánh, Tu Kỷ đi tiên phong, Tu Kỷ đưa quân đi lén tới, giết được một số quân Lý. Nhưng bị voi cản đường, quân Tống không thể tiến.

Quách Quỳ sai quân cung tiễn thủ lấy nỏ bắn vào voi. Lại sai lấy mã tấu chém vòi voi. Voi sợ, quay lại, khiến quân Lý thế trận rối loạn.

Thấy cầm cự lâu không có lợi, Thân Cảnh Phúc đã chủ động rút quân về rừng Động Giáp, rồi du kích vào hậu phương quân Tống. Rình lúc bất ngờ đánh úp quân địch làm chúng rất sợ hãi.

---❊ ❖ ❊---

Chiếm xong huyện Quang Lang, Quách Quỳ định kéo quân xuống thẳng Lạng Châu. Mấy ngày nay, y đã cho quân trinh sát giả làm người kiếm củi đi thăm dò, được biết đường thẳng là đường từ Ôn Châu đến Phủ Lạng Giang. Đường rất hiểm trở, hai bên toàn núi. Phía đông có dãy núi rừng man mác chạy dài qua châu Tô Mậu đến bờ bể. Phía tây, có một dãy núi đá rất cheo leo, bao trùm một vùng đất rộng gọi là núi Đâu Lĩnh49. Núi toàn đèo, dốc lởm chởm tràn về phía tây đến sông Phú Lương thuộc Thái Nguyên.

Trong núi, có một vài lối đường hẹp, ngoằn ngoèo, không quen đường thì khó dò ra được.

Ngoài đường chính ấy còn có một đường vành xa về phía tây qua xã Bình Gia, châu Vạn Nhai rồi đến sông Phú Lương50 và có một lối tắt trong núi qua xã Vạn Linh. Đường cuối này tuy hẹp nhưng cũng khá ngắn. Quỳ cho rằng đi đường hẹp sẽ gặp phục binh thì khó bề ứng phó, nên cứ cho quân đi theo đường chính.

Đi một quãng thì thấy xa xa phía trước có một cửa ải đứng sừng sững. Y giở bức bản đồ hành quân ra xem lại. Tay y lần theo con đường vẽ trên bản đồ bỗng đến ba chữ đề “Giáp Khẩu quan”, khiến y vội rút tay lại như phải bỏng. Thì ra đường chính phải đi qua ải Giáp Khẩu, mà chính ở đây, quân Tống khi sang đánh Lê Hoàn, đã bị một phen thất bại nặng nề. Đại tướng Hầu Nhân Bảo đã bỏ mình vì phục binh của Lê Hoàn đặt ở đó. Từ bấy đến nay, mỗi khi nghe đến ải Giáp Khẩu là người Tống lại giật mình kinh sợ, đến nỗi phải gọi ải này là Quỷ môn quan, và đặt ra câu hát: “Quỷ môn quan, quỷ môn quan, thập nhân khứ, nhất nhân hoàn”51 để nhắc nhở nhau nên tránh đừng qua cửa quỷ, kẻo mất mạng như chơi. Quách Quỳ nghĩ thầm, chắc thế nào Lý Thường Kiệt lần này chẳng đặt nhiều quân lính nấp hai bên cửa ải để đợi mình. Dại gì mà chui đầu vào bẫy.

Quỳ bèn hạ lệnh cho quân lính dừng lại, đừng vượt qua ải.

Nhưng bấy giờ đại quân Tống đã dồn vào chỗ đường độc đạo như nước chảy vào khe hẹp, nên Quỳ phải tìm đường qua. Quỳ gọi tướng tiên phong Tu Kỷ ra bảo:

- Tướng quân hãy đem quân đi trước vòng quanh về phía tây qua dãy núi Đâu Lĩnh, mà tiến đến sông Phú Lương.

Tu Kỷ lo lắng:

- Đường đó hẹp lắm, e rằng...

Quách Quỳ cười nhạt:

- Binh pháp có câu “Binh bất yếm trá”. Lý Thường Kiệt nghĩ rằng ta không dám đi đường hẹp nên không để ý đến việc phục binh ở đó chờ ta, mà sẽ dặt ở ải Giáp Khẩu. Ta cứ đi theo đường hẹp là thượng sách.

Tu Kỷ vâng lệnh cho quân đi về phía tây. Đại quân đi theo vượt qua dãy núi Đâu Lĩnh để ra chỗ cao nguyên ở vùng Yên Thế. Tới đây, Quỳ hạ lệnh theo đường tắt qua xã Vạn Linh.

Thường Kiệt không ngờ quân Tống có thể đem đại quân qua đường hẹp ấy, nên chỉ để một ít quân giữ. Tướng tiên phong Tu Kỷ đưa kỵ binh đi trước, Kỷ gặp một đoàn quân Lý chừng vài nghìn người. Quân Lý đánh rất gắt. Kỷ phải đánh hết sức mới ra khỏi núi.

Tiền quân qua lọt. Đại quân kéo tràn theo sau. Một mặt tiến xuống bờ sông Phú Lương, thuộc địa phận Thái Nguyên. Một mặt tiến sang phía đông, tới phía nam ải Giáp Khẩu. Quân Lý do Thân Cảnh Phúc chỉ huy, nấp ở ải Giáp Khẩu bị bọc sau lưng, nên lật đật rút lui vào miền núi động Giáp để tháo lui về phía đông nam, liên lạc với hữu vực đóng ở vùng Vạn Xuân.

Sau khi quân Lý phải bỏ ải Giáp Khẩu, quân Tống kéo tràn qua đó và thẳng tới sông Đào Hoa. Chúng qua sông ấy liên lạc với những quân đã qua dãy núi Đâu Lĩnh. Rồi chia nhau đóng dọc bờ bắc sông Như Nguyệt.

Các đạo quân Tống đã lần lượt theo con đường từ bắc tiến xuống nam, mà dồn vào trước cái hào sâu thiên nhiên là con sông Cầu. Các quân ấy đóng trên bờ từ khoảng Thái Nguyên đến vùng trước Thị Cầu.

Ngày 21 tháng chạp quân Quách Quỳ tới sông Phú Lương Thế là đại quân Tống đã vượt qua miền rừng núi thượng du phía bắc, tiến xuống trung du, vào sâu nội địa nước ta gần 200 dặm.

Nhưng kết quả 10 ngày tiến công ào ạt ban đầu, Quách Quỳ, Triệu Tiết chỉ mới hạ được một số thành lũy nhỏ của ta đảm nhiệm tác chiến ngăn chặn trên tuyến biên giới. Quân Tống chưa gặp quân chủ lực của ta, chưa tạo ra được trận đánh lớn quan trọng nào, chưa gây cho quân ta những thương vong đáng kể. Có thể nói trong những ngày tiến công ban đầu, Quách Quỳ, Triệu Tiết chưa tạo được một chuyển biến gì lớn lao có lợi cho chúng, mà còn là sự báo hiệu của thế bị động trong kế hoạch tiến công chiến lược của quân xâm lược nhà Tống.

Tuy chiếm được miền thượng du phía bắc của ta, nhưng quân Tống không kiểm soát được miền này. Nhân dân ta rút sâu vào trong rừng, thực hiện kế hoạch “thanh dã”, còn quân địa phương và dân binh ở lại liên tiếp quấy rối, tiêu hao địch. Quách Quỳ buộc phải phân tán lực lượng, rải ra chiếm đóng.

Tiến quân xuống miền trung du, quân Tống còn gặp khó khăn nhiều hơn. Ở đây, không có núi non hiểm trở nhưng vẫn còn nhiều rừng rậm, lại có những chằm đầm lầy xen kẽ, không tiện cho việc dùng binh lớn theo cách bài binh bố trận quân Tống quen dùng. Miền trung du của cải dồi dào, dân cư đông đúc, nhưng dân chúng đã tản đi hết, chỉ còn vườn không nhà trống, khiến quân Tống không thể cướp của, bắt người để phục dịch và cung cấp cho quân đội. Mọi thứ chi dùng của mấy chục vạn quân đều phải trông chờ sự vận chuyển từ Tống sang.

---❊ ❖ ❊---


Nguồn: TVE 4U
Được bạn:Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 28 tháng 5 năm 2026

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của hoài anh