Đuốc Lá Dừa

Đuốc Lá Dừa

Lượt đọc: 16 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương I

❊ ❊ ❊

Trời tờ mờ sáng. Trong màn sương trắng đục hiện rõ dần một đoàn tàu chiến Lang-Sa1*tiến dần vào sông Bến Nghé. Những thiết giáp hạm lớn với nhiều lớp buồm chằng chịt dây neo, cột buồm đầu tàu treo cờ ba sắc, thân tàu sơn nhiều màu đề những chữ Phlê-giê-tông, A-lác-mơ, Pri- mô-ghê và A-va-lăng-xơ, tiếp đến những tàu hơi chân vịt La Đra-gon-nơ, En Ca-nô, Prê-giăng… Hơi sương lờ mờ quyện với làn khói đen đặc nhả từ đầu ống khói thấp lè tè làm nhòa một góc trời.

Tới trước bến Thành, cả đoàn tàu dừng lại. Bỗng trên chiến hạm Phlê-giê-tông nhốn nháo, một đám đông sĩ quan mũ lưỡi trai thêu kim tuyến, áo trắng khuy vàng đứng xúm xít quanh tên chỉ huy đội mũ ba sừng, nhung phục xanh lá mạ, đeo ngù vai, đi ghệt, bên sườn đeo một thanh kiếm ngắn. Đó là tên đô đốc Ri-gô đờ Giơ-nui-i. Ri-gô đưa ống nhòm lên. Qua lớp kính, thành Gia Định hiện ra, chỉ cách bờ sông khoảng tám trăm thước, bốn mặt đều đặt trọng pháo. Thành xây đá ong, vuông vức, nhưng khuất sau một dốc đất lớn nên từ ngoài sông nhìn vào chỉ thấy cửa thành và cột cờ nhô ra cao vượt rặng cây và những dãy nhà cửa, vườn tược chạy dọc bờ sông. Ri-gô hạ ống nhòm quay lại thì thầm với một người đội mũ ba cạnh, áo dài đen, đó là viên thừa sai Lơ-phép-vrơ thông thạo địa dư, chữ Nho và tiếng Việt làm hướng đạo cho hắn.

Bỗng hiệu cờ Đô đốc được kéo lên đỉnh cột buồm tàu Plê-giê-tông. Một hồi kèn vang lên the thé. Chiếc A-lác-mơ dẫn đầu hai chiến hạm Pri-mô-ghê và A-va-lăng-xơ, vượt qua chiếc Phlê-giê-tông. Những lính thủy đội mũ vải có dải, áo cổ bẻ trắng sọc xanh biển lùi cả xuống, rồi những pháo thủ áo dạ lính dài chấm gối, vai đeo cuộn chăn, quần nẹp đỏ, giày xăng đá hùng hổ chạy lên. Tàu chiến dàn hai hàng, hàng trăm khẩu đại bác đều chĩa nòng vào thành.

Nghe tin cấp báo, quan hộ đốc Gia Định Võ Duy Ninh lật đật trèo lên vọng lầu nhìn xuống đã thấy từ các tàu giặc, đại bác tập trung bắn vào thành, mỗi lúc một dữ dội. Võ Duy Ninh vội truyền lệnh cho quân sĩ bắn trả.

Được tin mấy bữa trước Lang-Sa đem một số quân hùng hậu đánh phá Vũng Tàu và cửa Cần Giờ, Võ Duy Ninh một mặt báo về Huế việc đó, một mặt thông tư đi các tỉnh lấy thêm quân tăng cường cho Gia Định. Nhưng quân các tỉnh chưa về kịp thì giặc đã nổ súng. Vì thiếu chuẩn bị, nên quân ta đối phó rất lúng túng. Đại bác ta bắn phần nhiều rớt ra ngoài đích, chỉ trúng cột buồm, không bắn chìm được tàu địch. Trái lại địch đóng vai chủ động, tha hồ ngắm kỹ các mục tiêu, đạn của chúng phá hủy được rất nhiều cơ sở quan trọng của ta trong thành.

Hỏa lực của giặc mỗi lúc mạnh thêm thì bên ta mỗi lúc yếu dần. Chẳng bao lâu, súng trong thành im bặt, riêng pháo đài phía Nam còn tiếp tục. Tuy vậy trọn một ngày đầu giao chiến, giặc vẫn chưa hiểu lực lượng ta ra sao nên chưa dám hãm thành. Nhưng hôm sau, nhờ sự do thám của tên Giô-rê-ghi-be-ry và sự chỉ dẫn của tên Lơ-phép-vrơ, Ri-gô nắm vững được tình thế Gia Định.

Rạng ngày hôm sau, Ri-gô để một số quân giữ tàu còn bao nhiêu cho đổ bộ hết. Cánh bên trái gồm hai đạo thủy quân lục chiến và những đại đội của tàu Phlê-giê-tông, Pri-mô-ghê và En-ca- nô đánh vào mặt Nam là nơi bên ta bố trí nhiều đại bác vì gần bến tàu nhất. Tên đại úy Ga-li-ma và toán công binh đi theo cánh quân này để nổ mìn các cửa thành, mở lối tiến quân. Một đội lính Y Pha Nho do tên trung tá Pa-lăng-ca chỉ huy cũng được cử làm lực lượng dự bị cho cánh quân này.

Cánh bên phải do tên đại tá Lăng-da-rốt-tơ chỉ huy gồm đơn vị còn lại lính Y Pha Nho và nửa tiểu đoàn lính thủy phải xuống bộ tiến vào chân thành cửa Bắc, phía rạch Thị Nghè.

Một tiểu đoàn còn lại để dự bị ở bờ sông do tên trung tá Rây-bô chỉ huy.

Cùng một lúc, súng đồng từ trên tàu và ô-buy của các toán đổ bộ bắn rất rát. Thành Gia Định mù mịt dưới làn mưa đạn, nhiều chỗ bị sụp đổ.

Một tiểu đội cảm tử do tên thiếu tá Đờ Pa-li-rơ chỉ huy liền kéo đến pháo đài và bắn vào đó dữ dội. Giặc nhân những chỗ thành bị phá, cố đặt thang leo lên. Chúng vượt được mặt thành, hò reo ầm ĩ: Hoàng đế vạn tuế2*.

Võ Duy Ninh đứng trên mặt thành đích thân chỉ huy cuộc kháng cự, hò hét ba quân một cách tuyệt vọng.

Quân ta phản công mạnh vào cánh phải của địch tiến dọc theo rạch Thị Nghè. Nhờ có lực lượng tiếp viện đông, giặc đã đẩy quân ta về phía bên kia rạch.

Thủy quân lục chiến Lang-Sa mở được cửa thành, theo lệnh của tên thiếu tá Bờ-rét-xanh, đoàn này liên lạc với đội quân tiên phong tiến vào hồi mười giờ sáng. Thấy tình hình nguy ngập, Võ Duy Ninh ra lệnh rút quân, bỏ lại trong thành hai trăm súng đại bác bằng đồng, bằng gang, hai mươi ngàn súng tay, giáo, gươm, tám mươi lăm tấn thuốc súng và một số lúa gạo đủ nuôi hàng vạn quân trong cả năm, chín chiến thuyền đã và đương đóng ở ụ đóng tàu trên rạch Thị nghè. Tính tất cả theo thời giá là hai mươi triệu quan.

Bước vào xưởng thủy quân trong thành là nơi đặt tổng hành dinh, Ri-gô thầm nghĩ: chủ trương đem quân đánh úp Gia Định trong lúc người Việt không phòng bị là rất đúng. Lần trước Ri-gô đem tàu chiến đánh cửa Đà Nẵng đã từng bị Nguyễn Tri Phương đem quân bao vây đánh tỉa, tiêu diệt được khá nhiều lính Lang-Sa, đến nỗi suốt năm tháng giao tranh, Ri-gô không dám kéo quân lên đánh kinh đô Huế và đành lủi thủi rút tàn quân về. Trong bản tường trình gởi về chính quốc, Ri-gô đã bắt buộc phải nói lên một phần sự thật: “Chính phủ bị lừa về bản chất của cuộc đi lấy nước Nam Kỳ, người ta trình bày rằng cuộc viễn chinh này chỉ là một việc dễ dàng thôi, nhỏ bé thôi! Thật ra nó không dễ, cũng không nhỏ… Người ta mật báo rằng quân đội Việt Nam không có gì, sự thật thì quân chính quy rất đông, còn dân quân thì gồm tất cả những người dân nào không đau ốm và không tàn tật”.

Nhìn lá cờ ba sắc bay phấp phới trên nóc cột cờ, Ri-gô xoa tay đắc ý. Phải chăng ngôi sao chiếu mệnh của y đã bắt đầu sáng tỏ từ trên bầu trời thành Gia Định này?

Nghe tiếng súng Tây nổ dữ dội phía thành, bà Tú Chiểu hớt hải từ chợ Cầu Kho chạy về, nói với ông Tú:

- Ông ơi, chợ đang đông thì có tin Tây nó đánh thành, thế là ở chợ, người ta dẫm lên nhau mà chạy, quang gánh thúng mủng đổ tung toé cả. Bây giờ già trẻ lớn bé đang bồng bế, dắt dìu nhau chạy loạn, còn nhà ta thì ông tính thế nào?

Ông Tú Chiểu ngẫm nghĩ một hồi:

- Nhà hãy cho sắp nhỏ chạy về quê ngoại bên Cần Giuộc để tạm tránh tên bay đạn lạc đi đã…

- Thế còn ông?

Đôi mắt đục lờ của ông Tú như nhìn về xa xăm:

- Còn tôi thì phải ở lại cùng trai tráng chặn giặc. Lúc đất nước nguy vong mà trốn tránh nghĩa vụ, bỏ đi nơi khác yên thân, sao cho phải!

Bà Tú nằn nì:

- Giá như người ta mắt sáng thì không nói làm gì, đằng này ông…

Lời ông Tú vang lên rắn rỏi như át cả tiếng súng vẫn nổ rền từng chặp:

- Tôi mắt kém thật nhưng sức vẫn còn mạnh, có ở lại cũng không sao. Hỏng mắt nhưng còn miệng, vẫn có thể dóng dả bà con đứng lên chống giặc. Nhà cứ yên tâm mà đi không phải lo chi hết. Đã có bọn học trò lớn tuổi chăm nom săn sóc tôi là đủ rồi. nhà và sắp nhỏ mới cần tạm lánh chớ!

Bà Tú kiên quyết:

- Nếu ông không đi thì tôi cũng nhất quyết ở lại đây, có chết thì cũng chết chớ không đi đâu hết!

Ông Tú ôn tồn:

- Nhà nên nhớ là nhà đang mang bầu, ở lại rủi tiếng súng đạn làm kinh động đến thai nhi! Ý tôi đã quyết rồi! Nhà phải nghe tôi một chút chớ!

Bà Tú ngồi xệp xuống ván, không chịu đi. Ông Tú khuyên.

- Nhà còn có tránh nhiệm lớn trong việc nuôi dạy các con nên người, không phải vì một lúc vụng suy mà tính chuyện liều lĩnh được. Cứ thu xếp cho các con đi trước, tôi ở lại ít bữa coi tình thế ra sao rồi sẽ sang bên ấy với nhà và các con.

Bà Tú gạt nước mắt:

- Nếu vậy tôi đi trước, sang tới bển tôi sẽ cậy anh Hai tới rước ông cùng sang luôn.

Bà Tú đưa các con đi rồi, ông Tú sai học trò dẫn đi thăm những người tai mắt trong vùng hỏi thăm tin tức. Ông được biết khi chiến thuyền nhỏ của giặc vào con rạch từ Xóm Chiếu đi Xóm Củi, chúng nhổ cọc, phá cản rồi đem quân vào chiếm đóng chùa Cây Mai, tại Gia Định, chúng lập đồn ở gần sông. Chiếm xong Trường Thi,, chúng lập một phòng tuyến ngoại vi từ chùa Khải Tường gần Trường Thi vào tới chùa Cây Mai, đền Hiển Trung ở Chợ Đũi và chùa Chợ Rẫy. Giặc vừa chiếm chùa Chợ Rẫy thì một ngàn quân ta do Đinh Bình Tâm cầm đầu xung phong đánh địch suốt đêm mồng ba rạng mùng bốn tháng bảy. Những người chí sĩ như Trần Thiện Chính trước là tri huyện bị triều đình cách chức và Lê Huy trước là quan võ bị thải hồi, tụ họp dân cũng được ngót sáu ngàn người, vận động bà con góp tiền, góp gạo cương quyết dánh giặc. Nhờ đạo nghĩa quân này yểm hộ mà Đề đốc Trần Trí đã an toàn rút quân về ụ Tây Thái. Dân chúng đã tự động đứng lên chống giặc, trong khi đó thì các quan lớn như Bố chánh Vũ Thục, Lãnh binh Tôn Thất Năng bỏ thành chạy dài. Hộ đốc Võ Duy Ninh chạy vào huyện Phước Lộc thắt cổ ở thôn Phước Lý, An sát Lê Từ cũng tự vẫn ở đó…

Chứng kiến một chuỗi tự sát của những bầy tôi bất lực của triều đình bất lực, Tú Chiểu ngậm ngùi:

- Thiệt là mỉa mai! Bầy tôi chỉ biết lấy cái chết để chuộc tội với vua, mà không thấy trách nhiệm với dân với nước. Trong khi đó những người dân thường không được hưởng lộc vua, thì lại biết đem thân ra giữ nước! Nghe nói trong triều lúc này chỉ có quan kinh lược Nguyễn Tri Phương là người khá, không hiểu ngài có phương cách gì cứu nguy cho đất nước không?

*

Tiếng pháo giao thừa nổ lẹt đẹt như chiếu lệ rồi đứt quãng, thỉnh thoảng lại dội lên vài tiếng lạch tạch lạc lõng. Năm nay vì quân Lang-Sa đang đóng trong thành Gia Định, nên mùa xuân chừng như cũng ngại ngùng không muốn bước sang.

Ánh bạch lạp lấp lánh trên những đồ lộ bộ3* rọi leo lét trên mặt án, trải rộng tờ sắc chỉ màu vàng lợt nổi hàng chữ son phê của vua Tự Đức: “Khanh cứ cố thủ, chờ giặc mệt mỏi tất phải giảng hòa. Đừng nên khinh động e sinh nhiều chuyện”.

Những dòng chữ bỗng như nhạt nhòa rồi chập chờn nhảy múa trước đôi mắt già của quan Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương. Cố thủ! Thì lúc nào ông chẳng lo thủ, nhưng thủ là để chờ cơ hội chiến, chứ không phải là hòa.

Được cử vào Gia Định, việc đầu tiên của ông là củng cố lại đồn lũy cũ của Tham tán quân vụ Tôn Thất Hiệp dựng lên sau khi thành mất. Ngoài đồn Tiền, đồn Tả, đồn Hữu do Tôn Thất Hiệp lập ở phần đất làng Phú Thọ, ông Nguyễn còn xây dựng cả một hệ thống Đại đồn, đắp lũy đất dày cỡ bảy thước rưỡi ta, cao cỡ bảy thước ta, ngang hơn hai trăm trượng, dài bảy trăm năm mươi trượng từ Chí Hòa xuống Bình Thới, từ Chí Hòa xuống khỏi Phú Nhuận, án ngữ phía tây thành Gia Định. Đồn tiền duyên cách các đồn mới Lang-Sa từ hai trăm năm mươi đến bốn trăm năm mươi trượng, để tránh nỗi nguy hiểm của đại bác từ tàu giặc bắn vào. Doanh trại lớn, nơi ông Nguyễn trú đóng, gọi là đồn Trung, lại có xây thêm đồn Tả Hậu, Hữu Hậu. Trong đồn chia làm năm khu, khu này ngăn cách với khu kia bằng đường đất, vách đá có cửa, phòng địch vào tới nơi này thì nơi kia vẫn giao chiến được. Mặt Đông Bắc tức mặt tiền cách đồn giặc tám dặm, thì chắc hơn là mặt hậu, phía Tây Nam.

Từ Đại đồn xuống, hướng về vị trí đồn Cây Mai của địch, ông cho đào đắp một dải chiến hào, chiến lũy và xây đồn trại làm chỗ dựa. Lại một dải chiến hào, chiến lũy khác đi từ Đại đồn hướng về phía sông Thị Nghè, nơi tàu chiến giặc đậu.

Cách Đại đồn gần tám trăm trượng về phía đằng sau thì có đồn Thuận Kiều là nơi chứa quân lương, quân dụng trên con đường đi Hốc Môn, Tây Ninh.

Bên cạnh những pháo đài kiên cố ấy còn có những đường hầm dài hơn hai mươi dặm, pháo đài nào, hầm lũy ấy, đủ binh lính canh phòng, đủ chỗ ẩn nấp cho họ. Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hễ chỗ nào có một lối đi là có ngay một chiến lũy ngăn cản. Chỗ nào quân ông đến thì thành lũy liền sẵn sàng để quân ông núp bắn. Muốn cắt đứt đường giao thông của Lang-Sa, ông không quên những điểm then chốt trên các đường đi Cao Miên, về Huế, sang Định Tường và dọc theo sông Đồng Nai,

Mới chiều nay, Nguyễn Tri Phương cùng viên tùy tướng Trần Nhượng cưỡi ngựa đi thị sát chung quanh khu vực trung tâm của Đại đồn trên phần đất làng Chí Hòa. Dọc theo lũy, rải rác nhiều chòi trông xa cất cheo leo trên ngọn cây cổ thụ giống như những tổ chim đại bàng. Vách thành làm bằng đất sét và đá ong, cao chín thước ta, dày năm thước ta, có lỗ châu mai nằm khít nhau để nã súng đại bác, ném đá hoặc phóng các chất dẫn hỏa. Đại bác nhiều cỡ lớn nhỏ, súng bắn đá, súng trường lớn được đặt ở đây. Ngoài vách thành có rào tre nhọn, chướng ngại vật treo ngang dọc, từng bụi gai bao trùm tất cả bề dài các bức tường, những cây tre được gài khéo léo để khi cần có thể bật thẳng vào quân địch. Nào hố chữ phẩm cắm chông tre, nào ụ đất, nào hào đầy nước, những cạm bẫy đó rải hàng mấy trăm thước từ chân thành trở ra. Nhìn cảnh tượng hùng vĩ trước mắt, Nguyễn Tri Phương hứng khởi nói với Trần Nhượng:

- Ngươi nhìn coi, hình thế Đại đồn có phải giống như cái thân của một lực sĩ mà hai dải chiến hào như hai cánh tay dang ra ôm lấy Sài Gòn hay không? Với cái thế này, thừa sức hất giặc đổ xuống sông Bến Nghé.

Lúc này, ông đang tính toán một nước cờ quyết định. Vì biết quân Lang-Sa phải chia một số binh lực sang hợp sức với quân Hồng mao4* đánh nhau với nhà Thanh, ông Nguyễn đã dâng sớ xin vua cho đánh dốc một trận, quét sạch quân Lang-Sa trong các đồn Cây Mai, chùa Kiến Khương, đền Hiển Trung. Nhưng Tự Đức chần chừ không chịu quyết, cuối cùng ban lệnh cho ông không được đánh, phải cố thủ để chờ dịp điều đình.

Nguyễn Tri Phương thở dài. Lang-Sa đang phân tán quân sang Tàu, cơ hội nghìn năm có một, không thừa dịp nắm lấy, thật uổng. Ông buồn rầu, khi thấy trong số những kẻ chủ hòa lại có cả người bạn thân nhất của ông: Phan Thanh Giản. Không ai chối cãi được rằng Phan là một người ngay thẳng và trong sạch. Ông Nguyễn còn mến Phan ở chỗ trung hậu, chí tình với bạn, nhất là thơ rất hay. Nhiều bài thơ của Phan, ông Nguyễn thuộc lòng, thỉnh thoảng lại ngâm nga và nhiều lúc phải buột miệng khen vì lời thơ tự nhiên thanh thoát mà đầy tình cảm chân thành. Người làm sao thì thơ làm vậy. Phan lên bảy tuổi thì mất mẹ. Cha Phan – Phan Văn Ngạn, tức ông thầy ở Gảnh Mù U – cưới vợ khác. Phan đối xử với bà mẹ mẹ ghẻ rất hiếu thuận, khiến mẹ ghẻ cũng phải động lòng thương. Khi Phan tới học với ông thầy chùa ở làng Phú Ngãi, một tháng bà mẹ ghẻ phát cho Phan ba chục tô gạo và ba chục con mắm, thì Phan cũng giữ để ăn cho đủ mà học.

Vì có tính cương cường, ngay thẳng, không tham lam của dân, lại chẳng hay bợ đỡ quan trên nên cha Phan khi làm thủ hạp tại nhà tơ tỉnh Vĩnh Long, bị quan trên kiếm chuyện nói là để dân thiếu thuế mà không thâu, bị bắt giam tới ba năm, rồi bị cách chức và bị phạt tù một năm. Khi cha Phan bị tù ở Vĩnh Long, thì Phan được hai mươi tuổi, nhà nghèo lắm, song một mình Phan ngoài lo nuôi cha- mỗi ngày vào nhà giam làm thế công việc cho cha – xong lại coi sóc việc gia đình. Lúc cha Phan đau yếu thì ngày đêm Phan lại ở trong khám hầu hạ cơm thuốc, quên sự đói lạnh. Lòng hiếu của Phan đã khiến quan Hiệp trấn Lương phải cảm thương, can thiệp cho cha Phan được sớm mãn hạn tù, lại cho Phan vào trường tỉnh học và cho sách vở, dạy Phan học thêm. Khoa Ất Dậu, Minh Mạng thứ sáu, Phan đậu cử nhân ở trường thi Gia Định, rồi cưới vợ họ Lê ở làng Long Hồ, Vĩnh Long để ở nhà hầu hạ cha, cho mình yên lòng ra Huế thi Hội. Không phải chỉ khi chưa đậu nhà mới nghèo khó, mà sau khi đậu tiến sĩ, làm quan đến tột phẩm, nhà Phan vẫn thanh bạch như lúc hàn vi. Một người tài năng, đạo đức như vậy, kể trên đời cũng hiếm. Vậy mà đứng trước những giờ khắc gay go nhất của lịch sử, Phan lại có những nhận định mơ hồ, lầm lẫn. Trong bản điều trần dâng vua, Phan viết:

“Súng đạn và chiến hạm của Tây rất tinh xảo. Họ lại thạo về môn thủy chiến. Vì vậy, ta không mong thắng được họ lúc này. Ta phải dốc toàn lực vào công cuộc phòng thủ bờ cõi. Bao giờ ta đầy đủ về mọi mặt, chừng ấy ta hãy bàn nên chiến hay nên hòa. Nếu ta không đủ lực lượng phòng bị thì đừng mong khai chiến hay nghị hòa với họ”.

Ngay buổi chầu hôm đó, ông Nguyễn đã công kích kịch liệt chủ trương của bạn nói là phải chờ đợi chuẩn bị lực lượng, nhưng kỳ thực là để che giấu ý định cầu hòa, lùi bước trước lũ giặc. Bị mất mặt trước vua và các đình thần, Phan sinh ra bất hòa với Nguyễn Tri Phương, dù sao trong thâm tâm ông Nguyễn vẫn lấy làm tiếc về chuyện đó.

Tiếng trống cầm canh ở vọng lâu khiến Nguyễn Tri Phương giật mình ngước nhìn lên. Chiếc độc bình lớn giữa nhà vẫn trống trơn. Mọi năm trước, mỗi lần đón xuân, ông lại sai chặt một cành bạch mai ở trong chùa Cây Mai đem về cắm bình. Ông không thích hoàng mai vì hoàng mai sắc đẹp nhưng không có hương thơm như bạch mai.

Ở Gia Định, bạch mai chỉ chùa Cây Mai và chùa Gò mới có, mà hai nơi ấy đều nằm trong vùng giặc đóng, thì lấy đâu ra bạch mai thưởng xuân này. Thật đau lòng khi thấy không những dân lành bị hãm trong lưới giặc mà cả bạch mai cũng bị giam cầm, xuân này lại phải nở hoa trong tầm súng giặc.

Nhớ lại lần cùng Phan Thanh Giản tới thăm chùa Cây Mai, thấy bảy cây bạch mai đẹp quá, ông Nguyễn đã truyền dựng một tòa lương đình có gác cao, để ngồi trên đó thưởng mai. Tòa lương đình, mái ngói ống xanh, hai đầu cong như đuôi én, dưới có lan can chạm vẽ, cửa sổ chấn song con tiện, có thể nhìn ra ngoài. Trên bức hoành trước mặt, có đề hai chữ Mai đình, nét chữ xương kính, do chính tay Phan Thanh Giản đề.

Khi khánh thành lương đài, cũng vào dịp đầu xuân Đinh Tỵ5* Nguyễn Tri Phương mời Phan Thanh Giản tới thưởng mai. Chưa vội bước lên đài, ông Nguyễn tới bên gò đất cao ngắm kỹ từng gốc mai. Mấy cội bạch mai cành lá sum suê, đâm những bông trắng muốt, cạnh đó là những nụ hoa vừa hé, đầy vẻ e ấp. Ông cười, nói với bạn:

- Tôi suốt một đời long đong lật đật, không có lúc nào thanh nhàn mà thưởng hoa, nên sáu chục tuổi đầu mới có thì giờ ngắm kỹ một gốc mai. Cứ nhìn qua, ngoài màu sắc ra, khó mà phân biệt được bạch mai khác hoàng mai chỗ nào.

Phan Thanh Giản lắc đầu:

- Khác nhau nhiều chớ. Hoàng mai có từ mười cánh hoa, bạch mai chỉ có bốn cánh và hai tai hoa. Bạch mai hoa không lớn bằng hoàng mai, chỉ nhỏ bằng hột nút áo, nụ hoa tròn như hạt tiêu. Hoàng mai đâm bông phần nhiều ở ngọn và cuối cành, còn bạch mai thì đâm bông ngay thân cây, ở nách cây hoặc ở những u. Lá hoàng mai mỏng, lá bạch mai dày, trơn láng và xanh hơn…

Nguyễn Tri Phương gật gù:

- Bác hiểu về mai, hẳn là yêu mai lắm, hèn chi bác lấy hiệu là Mai Khê cũng phải.

Phan Thanh Giản cười:

- Ấy nhiều người cứ quen với chữ: cúc, trúc, lan, mai nên ngỡ hiệu Mai Khê của tôi lấy chữ mai trong mai hoa. Nhưng Mai Khê đây lại có nghĩa là Gảnh Mù U. cây mù u vì thân sần sùi giống cây mai nên người ta kêu là nam mai. Quê tôi ở Gảnh Mù U nên mới lấy hiệu Mai Khê, có vậy thôi.

Nguyễn Tri Phương chợt nhớ:

- Hèn nào hồi tôi ở Kinh tới thăm Tùng Thiện Vương, Vương có đọc cho tôi nghe câu thơ của viên hành tẩu Cao Bá Quát: “Ngoảnh lại Hải Vân không với tới, ròng ròng nhỏ lệ nhớ nam mai” và khen người làm thơ là từng trải, biết cả tên cây mù u trong Nam. Còn tôi thú thực không phân biệt được các giống mai khác nhau thế nào…

Phan Thanh Giản khẽ vuốt chòm râu bạc, từ tốn:

- Bác nửa đời ở Kinh lại ra Bắc, mà ngoài Bắc chỉ có giống Bắc mai, hoa cũng trắng nhưng nhỏ lại nở thành trái mơ, không giống bạch mai ở trong này, nên ít khi được ngắm bạch mai cũng phải. Ngay ở trong Nam cũng chỉ mấy nơi có bạch mai, như Bình San Hà Tiên, núi Điện Bà Tây Ninh, đình Phú Tự Bến Tre, còn ở Gia Định thì chỉ riêng chùa Gò và chùa Cây Mai. Cũng may quê tôi ở Bến Tre, nên từ nhỏ đã được ngắm bạch mai ở đình Phú Tự. Còn mai ở chùa Cây Mai tôi đã nhiều dịp thưởng thức cùng các danh sĩ trong Bạch mai thi xã…

- Bạch mai thi xã… Họp mặt các thi nhân uống rượu thưởng mai rồi vịnh thơ cũng là cái thú tao nhã. Chỉ tiếc tôi không lúc nào nhàn rỗi để tiêu khiển, di dưỡng tính tình…Trong Thi xã có những ai vậy bác?

- Trong số quan thì có ông Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa, ông Án sát Huỳnh Mẫn Đạt, ông Hàn lâm Nguyễn Thông… còn những người trẻ tuổi thì có cử nhân Phan Văn Trị, Ấm sinh Tôn Thọ Tường…

Nguyễn Tri Phương hơi cau mày:

- Tôn Thọ Tường nào? Có phải con trai ông Tuần phủ Thuận Khánh Tôn Thọ Đức không?

- Chính đó. Hồi nhỏ Tường mới xuất thân, đã bị triều đình bắt tội vì làm bài mướn cho học trò đi thi. Tường bị giải vô kinh, khi đó tôi đang ngồi Bộ Lại, Tường cậy người chuyển tới dinh một bài thơ trần tình, trong có câu: “Vì nhà túng rối nên quyền biến. Phép nước răn he há dám khinh. Gió bụi đất từng quen với mặt, Nắng mưa trời có thấu cho mình”. Thấy Tường thơ hay, tôi thương tình xin Ngài Ngự tha cho y.

- Quyền biến… Làm chuyện phi pháp mà cũng là quyền biến à? Thơ hay nhưng khí cục tầm thường… Trong Thi xã còn có ai nữa?

- Có lần tôi thấy một ông thầy ở Bình Dương, tên Nguyễn Đình Chiểu thì phải, sở dĩ tôi chú ý bởi ông đui mà làm thơ rất hay, tuy so với người khác thì ổng ở bậc thấp bởi đậu có tú tài. Có điều ông chỉ chuyên làm thơ nôm mà tôi thì ưa nôm nên có cảm tình ngay khi mới gặp. Mấy câu lục bát vịnh mai của Tú Chiểu có cái khí rất mạnh, tôi còn nhớ tới bây giờ:

Hữu tình thay ngọn gió đông.

Cành mai nở nhụy, lá tòng reo vang.

Nguyễn Tri Phương gật gù:

- Nghe được cả tiếng lá tòng reo vang, đúng là người sức nhìn kém thì sức nghe càng mạnh. Đành rằng nếu thầy Chiểu không bị đui thì không phải chỉ đậu có tú tài mà bảng nhỡn thám hoa cũng nên. Nhưng khoa bảng mà làm gì nếu con người không có kiến thức sâu rộng cũng như từng trải sự đời. Gia thế thầy Tú Chiểu thế nào, bác?

- Thân sinh thầy Chiểu là ông Nguyễn Đình Huy, gốc ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên…

- Ủa, vậy ra cũng đồng hương với tôi…

- Vâng, ông Huy được bổ làm thơ lại ở văn hàn ty, theo Lê Tả quân6* vô Sài Gòn, lấy bà thứ ở làng Tân Thới sinh thầy Chiểu. Tới khi Ngụy Khôi nổi lên đánh chiếm Gia Định, thầy Chiểu theo cha về Thừa Thiên và được gửi trọ học với người bạn của cha làm chức Thái phó suốt tám năm. Năm hăm hai tuổi, thầy Chiểu trở về quê mẹ và thi đậu tú tài tại trường Gia Định. Năm sau, thầy lên Kinh chờ khoa thi hội, gần tới kỳ thi thì được tin mẹ chết từ tháng chạp năm trước. Thầy vội rời kinh trở về Gia Định. Lúc ấy mới cuối tháng giêng mà tới tháng tư mới có chuyến ghe bầu về Nam nên thầy đành phải đi bộ. Đường trường vất vả lại nhân nỗi đau thương, thầy tự nhiên nhuốm bịnh. Bịnh mỗi ngày một trầm trọng nên thầy phải ở đậu tại Quảng Nam để kiếm thầy chạy thuốc. Bị buộc chân ở đó, không trở về thủ hiếu được mà tiền lương cạn dần, thầy đâm ra buồn bực, càng động đến mối thương tâm, nên đêm ngày than khóc vì cớ đó sinh ra đau mắt nặng rồi đui. May sao khi đó gặp được ông thầy Trung vốn dòng ngự y, thương tình nuôi nấng và dạy cho nghề thuốc. Học xong, thầy Chiểu được người nhà đưa về Gia Định cư tang rồi sống trong cảnh trơ vơ thiếu thốn. Mãn tang, thầy mở trường dạy học để khuây khỏa tháng ngày, cũng để kiếm kế nuôi thân…

- Cảnh ngộ thầy Chiểu éo le thiệt! Mà sao bác biết rành về thầy Chiểu như vậy?

- Tôi bình sinh trót mắc cái tật mê thơ, nên bất kỳ ai dầu quan hay dân mà thơ hay là tôi đều làm quen hết! Thơ thầy Chiểu có cái lạ là đã khí phách mà viết cái chi cũng ngụ ý đui mù ở trong. Ngoài những câu đôn hậu như: “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt. Lòng đạo xin tròn một tấm gương” có cả những câu ngược ngạo: “Xe ngựa lao xao giữa cõi trần. Biết ai thiên tử biết ai thần”.

Nguyễn Tri Phương hơi nhăn mặt vì lời lẽ phạm thượng của Tú Chiểu nhưng rồi lại cúi đầu ngẫm nghĩ. Ông nhớ lại bữa ông duyệt binh qua Đồng Tập Trận, còn nhìn thấy đất chỗ Mả ngụy sau mấy chục năm vẫn còn sình lên sụp xuống. Đó là nơi vua Minh Mạng sai chặt đầu ném thây chôn chung một huyệt cả thảy một ngàn một trăm ba mươi bảy người già trẻ lớn bé, đàn ông, đàn bà lộn lạo, khép vào tội theo giặc Khôi làm phản chống lại triều đình. Một người như thầy Chiểu đã từng chứng kiến việc Lê Văn Khôi nổi dậy giết Tổng đốc Nguyễn Văn Quế, bắt Bố chánh Bạch Xuân Nguyên đốt làm đuốc sống tế tả quân Duyệt, chiếm giữ thành Phiên An trong ba năm…hẳn có ý nghĩ khác ông về vua quan nhà Nguyễn, điều đó không lấy gì làm lạ. Nhưng dầu sao đi nữa những lời lẽ xẵng bạo ấy vẫn khó thể lọt tai một vị đại thần vốn rất mực trung quân.

Bỗng một luồng gió ấm phảng phất. Một làn hương nhẹ thoảng qua, mơ hồ như có như không. Phan Thanh Giản hít một hơi dài như muốn thu lấy hương mai vào trong lòng, rồi đưa mắt nhìn xa như theo dõi áng hương tan loãng vào trong không gian:

- Bác có cảm thấy hết mùi hương của bạch mai không? Mùi hương mai mơ hồ phảng phất nên người ta gọi là ám hương. Cũng vì trời càng lạnh thì càng thơm, nên còn gọi là lãnh hương. Tôi rất thích hai câu thơ của Lâm Bô đời Tống vịnh mai:

Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,

Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn7*

Thật không ai sướng hơn Lâm Bô, ông ấy về ẩn dật ở núi Cô Sơn tại Tây Hồ, thường tự cười mình cưới mai làm vợ, nuôi hạc làm con. Tôi chỉ ước sao sớm được hưu quan, lui về ẩn dật “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người quen” như câu thơ của quan Cần chánh Nguyễn Du, đề vào cái đĩa sứ “mai hạc” cho lò gốm Hàng Châu, năm ngài đi sứ…

Nguyễn Tri Phương cười:

- Cái ông Lâm Bô nhà bác yêu mai dễ đã bằng cụ Lục Du chưa. Cụ ấy còn muốn hóa thân ra làm ngàn vạn để mỗi cây mai có một Phóng Ông kia mà…

Hai người cùng cười. Phan Thanh Giản cất tiếng ngâm nga hai câu thơ Lục Du: “Hà phương khả hóa thân thiên vạn. Nhất thụ mai hoa nhất Phóng Ông”. Giữa lúc đó nhà chùa cũng dâng lên hai ly trà nấu bằng gỗ mai. Nguyễn Tri Phương nhấp một ngụm. Hương sắc của hoa, vị thanh đạm của trà, quyện với tiếng ngâm thơ trong trẻo của người bạn, khiến ông thấy tâm trí lâng lâng.

Ông tưởng như sống ngược lại với thời xưa, khi ấy trời đất mênh mông hơn bây giờ, những kẻ sĩ đi ngàn dặm chỉ cốt ghé thăm bạn trong một túp lều tranh, uống với nhau một tuần trà, hưởng cái thú “đối diện đàm tâm”8* để rồi sớm mai lại phất áo ra đi không hẹn ngày trở lại.

Ly trà hồng mai đã thấm đượm một mùi vị triết lý, lại thêm tiếng kinh mõ đều đều từ Phật điện vẳng lên, càng gợi một không khí thoát tục. Tất cả như nhắc nhủ người ta không gì quý bằng chữ nhàn, tội gì lăn lộn trong đám hồng trần cho mệt. Ở đời đã mấy khi có dịp họp bạn thưởng hoa, không biết tận hưởng cái thú thanh cao này thật uổng. Dường như không chịu nổi cái không khí thanh tĩnh vô vi ấy, Nguyễn Tri Phương vụt cất tiếng nói to lên như là nói với chính mình:

- Nhưng cụ Lục Du yêu mai đâu phải chỉ vì mùi hương mơ hồ phảng phất, mà yêu mai chính là khí tiết cương cường của nó. Tôi rất thích bài thơ mai của Lục Du:

Tuyết ngược phong hào dũ lẫm nhiên,

Hoa trung khí tiết tối cao kiên.

Quá thì tự hợp phiêu linh khứ,

Sỉ hướng Đông quân cánh khất liên.

Túy chiết tàn mai nhất lưỡng chi,

Bất phương đào lý tự phùng thì.

Hướng lai băng tuyết ngưng nghiêm địa,

Liệu cán xuân hồi cánh thị thùy,9*

Giữa mùa đông khi trăm hoa đều tàn lụi thì chỉ có mai dám ngạo cùng gió tuyết, ra sức kéo mùa xuân sang, đến khi xuân sang, mặc cho đào lý gặp thời, mai thà rơi rụng chứ không chịu đến van nài chúa Xuân rủ lòng thuơng. Mai tượng trưng cho khí phách của người anh hùng, đúng như câu thơ của cụ Ức Trai Nguyễn Trãi đã vịnh: “ Càng thuở già càng cốt cách. Một phen giá một tinh thần”. Cái chí của tôi là muốn noi gương Ức Trai, mưu sự yên vui cho trăm họ, dân chưa yên thì không lòng nào lui về ẩn dật cho được.

Phan Thanh Giản cười:

- Hôm nay, chúng ta không uống rượu thanh mai, hà tất phải bắt chước Lưu Bị, Tào Tháo luận anh hùng. Nhưng bác nghĩ coi, nhiều khi cương cường quá chỉ tổ bị người đời ghét ghen, hãm hại. Như bác có công mộ dân khai khẩn đồn điền, cho phép các phạm nhân được ra thú tội, để đưa họ về con đường làm ăn lương thiện, vậy mà viên An sát Định Tường Vương Sĩ Kiệt còn mật tấu về kinh, nói tha tù nhân, mở mang hoang địa là sanh trộm cướp, giúp chúng có cơ hội trốn lánh, chờ dịp làm loạn sau nầy. Bác suýt mất đầu vì vụ đó, chưa tỉnh ngộ hay sao mà còn hăm hở ganh đua trong trường vật lộn như vậy?

Nguyễn Tri Phương lắc đầu:

- Không phải tôi chỉ nghĩ vì Nam Kỳ còn nhiều đất hoang, mà dân còn nghèo nên phải tính kế khai khẩn đồn điền, còn một ý khác là muốn dùng chánh sách ngụ binh ư nông, đưa cả binh lính tại ngũ về cùng dân làm ruộng, để khi tĩnh là dân, khi động là binh. Khai khẩn đồn điền cũng nhằm có lương thực nuôi quân sau nầy. Bác hẳn chẳng lạ gì, mùa thu vừa rồi, chiến hạm Tây đã cập bến Đà Nẵng và cửa Thuận An, ném lên bãi cát một bó thư, đòi cho chúng được tự do thông thương và truyền đạo.

Đó chẳng qua là cái cớ để xâm chiếm nước ta mà thôi. Tôi chắc là cuộc giao tranh sắp sửa châm ngòi rồi. Sớm muộn thế nào những chiến hạm của chúng cũng còn kéo tới cửa biển nước ta lần nữa…

Nguyễn Tri Phương như nóng ruột, đứng thẳng lên. Nhìn những chiếc ghe ngo đua thoăn thoắt từ đường nước quanh chùa ra kinh Vòng Thành rồi đổ ra Chợ Lớn, Nguyễn Tri Phương cảm khái:

- Rồi đây đến cả những chiếc ghe kia cũng phải được huy động ra chặn tàu sắt vỏ đồng của giặc.

Tầm mắt chiến lược cửa một vị tướng đã giúp Nguyễn Tri Phương nhìn thấy trước, từ đường nước này có thể thông ra rạch Bến Nghé và sông Thị Nghè bằng kinh Ruột Ngựa và rạch Lò Gốm. Chiến hạm Tây có thể từ cửa sông vào đến sát chùa Cây Mai nơi ông đang ngồi thưởng mai hôm nay. Từ trên đài cao, ông đưa mắt nhìn bốn chung quanh. Trên con đường rẽ vào cổng chùa, đàn ông áo the thâm, khăn nhiễu, dép da trâu, đàn bà áo tứ thân xẻ vạt, thắt lưng xanh, dép cong, tấp nập đi lễ chùa. Dưới dòng kinh, trên chiếc ghe, đoàn thủy trạo mình trần, vận khố, đồng loạt bỏ dầm xuống bơi xốc lên, cho ghe lướt bay trên mặt nước, trong những tiếng hô “ Hè”, “ bon”, tiếng phèng la cầm nhịp. Các mái dầm cùng lúc bổ xuống, móc nước lên trắng xóa, chói lòa dưới ánh mặt trời. Trên bờ, dân chúng đầu bới tóc, vấn khăn mỏ rìu, mình mặc áo vải ngắn tả nhiệm10*, cổ bâu cao, vận quần xô, thắt lưng xanh lớn bản, dùng để cuốn giữ trầu cau, thuốc rê, giấy bản bọc theo, chân trần, đứng chen chúc reo hò cổ vũ mỗi khi trông thấy ghe vượt mặt nhau. Nét mặt họ đầy vẻ hồn nhiên vô tư, chưa biết rằng một tai họa lớn lao sắp giáng xuống đầu họ, giặc Phú sớm muộn cũng kéo tới. Ở cương vị một đại tướng, Nguyễn Tri Phương phải nhìn thấy trước điều ấy, cũng như phải chịu trách nhiệm về sự yên nguy của trăm họ. Cũng như đứng trên đài cao có thể nhìn xa trông rộng, từ làn khói nhẹ bốc lên ở lò gốm bên rạch, lớp bụi đường cuốn theo bánh xe trâu, hình những người đánh đu ở chợ Tân Kiểng in trên nền trời xanh, ngọn cờ vàng lợt thêu rồng xanh trên nóc cột cờ thành Gia Định uốn éo trong gió xuân, cho tới đường nước trắng xóa như bạc dưới ánh mặt trời, từ đấy ăn thông ra biển, nơi chứa chất những bí mật, những tai họa khủng khiếp sắp nổ bùng ra. Nguyễn Tri Phương đã nhìn thấy trước từ phía ấy những đám mây vần vũ, những đám khói tàu chiến sắp bôi đen ngòm nền trời trắng đục.

Gió thổi qua gốc mai khiến những chấm trắng rập rờn nghiêng ngả. Quyện với ánh nắng, hương mai càng nồng nàn hơn, ngây ngất hơn, nhưng Nguyễn Tri Phương tưởng chừng như phảng phất cả mùi thuốc súng khét lẹt. Buổi thưởng mai đầu xuân trở thành nặng nề vì không khí căng thẳng của quốc sự. Phan Thanh Giản cúi đầu lặng lẽ.

Nguyễn Tri Phương tế nhị, an ủi bạn:

- Bác cứ yên lòng, dù đầu chúng ta có bạc trắng như hoa mai, nhưng trong đời chắc còn nhiều lần được cùng nhau thưởng mai, bác hà tất phải quá ưu tư phiền muộn.

Thế nhưng, chỉ một năm sau buổi thưởng mai, Nguyễn Tri Phương đã được triệu ra ngăn cản chiến hạm Tây khi chúng kéo vào đánh cửa Đà Nẵng. Hết Đà Nẵng lại đến Gia Định, cứ lao đao lo việc chống giặc mấy năm nay. Chùa Cây Mai, nơi hai người đến thưởng mai đã trở thành đất giặc từ khi giặc mới đặt chân lên đất Gia Định. Người bạn cùng thưởng mai đã trở thành kẻ đối lập về chính kiến. Phải chăng cái chí của hai người đã bộc lộ ra từ trong buổi thưởng mai năm trước.

Bảo vệ tình bạn khỏi sứt mẻ sau những xung đột vì quốc sự có lẽ cũng khó khăn như bảo vệ những cây mai khỏi bị hủy hoại trong tầm súng đạn. Không biết bao giờ lại có dịp cùng bạn thưởng mai. Xuân này đã đành không có bạch mai, xuân sau biết có còn bạch mai nguyên vẹn ở chốn xưa chăng?

Bỗng bên ngoài có một người bước vào. Và một giọng trong trẻo cất lên:

- Năm mới xin kính chúc trưởng huynh xuân sắc mãn đường11*

Nguyễn Tri Phương nhìn lên. Thì ra ông mải suy nghĩ, trời đã sáng lúc nào không biết. Ông niềm nở đáp lời người em ruột:

- Cảm ơn chú Ba. Năm mới, anh cũng chúc chú giết được nhiều giặc và làm được nhiều thơ hay. Thế nào, đầu năm đã khai bút chưa?

Nguyễn Duy - vì người đó chính là Tán lý quân vụ Nguyễn Duy, em ruột ông- khoan thai đáp:

- Thưa huynh trưởng, sớm nay em định khai bút, chợt nhớ đến bài thơ của ông bạn Hy Tăng ở trong kinh gởi vào, trong có câu: “Cử mục Mai sơn thiên lý viễn, Kim triêu xuân sắc cánh hà như”12* bất giác xúc động quá, không đề nổi thơ, nên đến mừng tuổi trưởng huynh trước đã…- Nhìn chiếc độc bình không, Nguyễn Duy tiếp lời, giọng cảm khái- Thì ra cũng vì Mai sơn nằm trong tay giặc mà trưởng huynh năm nay không có bạch mai thưởng xuân…

Nguyễn Tri Phương nhạy cảm, muốn xua đuổi cái buồn của Nguyễn Duy trong buổi tân xuân, ông cố kiếm một chuyện vui:

- À chú Ba này, chú có biết tại sao ở Nam kỳ người ta lại ưa dùng mai để thưởng xuân không?

Nguyễn Duy ngẫm nghĩ:

- Hình như người ta theo phong tục Hàn Dũ tầm mai từ đời Đường thì phải…

Nguyễn Tri Phương cười to:

- Các ông nghè, ông cống như chú hễ nói là lại dẫn điển tích. Anh cho là nó không phải có nguồn gốc xa xưa như thế đâu. Tại người trong này nói đớt rồi lầm lộn “Mai” và “May”, “cây mai” và “cây lộc cầu may”. Anh đã từng nghe thấy một ông cử ưa nói: “May quá chừng!” “Mai phước cho tôi quá”. Kỳ thật ý ông muốn nói: “may quá chừng” và “May phước cho tôi quá”. Chính vì sự nói đớt đó mà người ta tin rằng nếu cắm cành mai thì sẽ rước vận may tới nhà. Hồi anh đi kinh lý ở Bến Tre, gặp dịp đầu xuân, một hương chức đã đem dâng một bó bông mù u còn búp, lá trụi lủi, bông trắng xóa, bảo đây là bông nam mai, cũng đem tới vận may như bạch mai!

Hai người cùng cười, tiếng cười giòn tang như pháo Tết. Trong phút chốc, Nguyễn Duy như thấy mình sống lại cái thời thơ ấu, mặc áo dài hàng lam, quần đào xẻ đũng, đi hài đỏ, cổ đeo khánh bạc, làm nũng anh, bắt anh dẫn đi mừng tuổi họ hàng, để được những tấm phong bao giấy hồng điều…Chợt nhìn mái tóc bạc của người anh, Nguyễn Duy chợt nhớ đến thực tế, tuổi thơ đầy hoa bướm ấy đã một đi không trở lại. Ông hỏi anh:

- Thưa trưởng huynh, cháu nó vào Kinh, chẳng hay việc tứ hôn của Ngài Ngự ra sao, xin trưởng huynh cho em biết…

Nguyễn Tri Phương hơi nghiêm sắc mặt:

- Ngài Ngự có lòng thương gả công chúa Đồng Xuân cho thằng Lâm nhà này. Nhưng vì Thái hậu Từ Dũ quá yêu con gái chưa muốn xa rời, lại thêm tuổi già lắm bệnh, muốn có công chúa hầu dưới gối. Vì vậy mà Tết này, cháu Lâm vẫn chưa thể vô Nam, vì ngài Ngự muốn đợi cho đến lúc yên bình mới cho công chúa 1àm lễ quy ninh…

- Chắc cũng là ý Thái hậu sợ trong này đang giặc giã nên không muốn cho công chúa vô, Ngài Ngự vốn chí hiếu, Thái hậu dạy sao ngài chẳng tuân lời. Ngay cả việc nước mà Ngài Ngự còn chiều theo ý Thái hậu nữa là. Em từng được nghe quan Thượng Phan kể chuyện, chính Thái hậu đã nói với những người chủ chiến trong triều rằng: “Các ngươi muốn đánh, đánh rồi thì các ngươi định để mẹ con ta vào đâu?”. Thái hậu sợ nhất là đánh giặc Tây nó giận nó sẽ hủy hoại lăng mộ dòng họ Phạm nhà Ngài ở Gò Công và lăng mộ dòng họ Hồ của đức Thái hoàng Thái hậu ở Thủ Đức, nên mới khuyên Ngài Ngự cầm chân trưởng huynh không cho đánh đấy thôi. Muốn lấy lòng trưởng huynh và đánh lạc hướng chuyện chủ hòa, Thái hậu mới bày ra chuyện tứ hôn để che mắt thiên hạ…

Nguyễn Tri Phương nhìn quanh, rồi vội suỵt:

- Chú đừng nói như vậy, anh em ta ăn lộc triều đình đã lâu chớ nghĩ điều mạn thượng. Anh chỉ ái ngại cho chú, là quan văn trói gà không chặt, mà đến khi động dụng cũng đành phải “xếp bút nghiên theo việc đao cung”…

- Thì chẳng qua vì mọi người cứ lấy nê là thời thái bình nên mới quen thói trọng văn khinh võ. Anh có nhớ câu thơ truyền là của một ông vua đứng ra phân xử giữa hai bên văn võ tranh giành nhau không nhỉ. Vua nhận là: “bên văn sang, bên võ cũng sang”, nhưng lại kết luận đầy thiên lệch: “Gặp lúc thái bình văn trước võ, võ đâu được sánh khách văn chương”…

Hai anh em lại cùng cười, đầy vẻ tương đắc. Nguyễn Tri Phương chậm rãi:

- Không chỉ mình chú “thừa văn quá võ” mà chính anh xuất thân ở văn hàn ty cũng phải đi đánh giặc như thường, riết rồi thành nghề võ luôn. À, chú biết không, cụ Thượng Trứ năm tám mươi hai tuổi, về hưu đã hơn mười năm rồi, mà khi giặc Tây đánh phá Đà Nẵng, các quan trong triều vẫn dâng sớ đề cử cụ ra đánh. Cụ khảng khái dâng sớ xin đi đánh giặc, sớ rằng: “Thân già này còn thở ngày nào thì xin hiến thân cho nước ngày đó”. Không may, sau đó cụ từ trần chứ không thì cụ cũng đã có mặt bên anh em ta ở cửa Đà Nẵng ba năm trước rồi.

Nguyễn Duy gạt nước mắt:

- Những người trai trẻ để đâu mà phải phiền đến người già như cụ Thượng Trứ đi đánh giặc? Chỉ cần đọc mấy câu cụ để lại:

“Cũng có lúc mây tuôn sóng vỗ

Quyết ra tay buồm lái với cuồng phong

Chí những toan xẻ núi lấp sông,

Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ”.

Cũng có bao nhiêu người sôi nổi tráng tâm hùng khí mà đi theo bước cụ rồi…

Nguyễn Tri Phương trầm ngâm hồi lâu, rồi nói:

- Anh thì anh nghĩ thế này, những người như cụ Thượng Trứ và cả anh nữa dù có chí khí, nhưng cũng là người thuộcvề một thế hệ già nua rồi. Muốn chống giặc thành công, phải trông cậy vào lớp người trai trẻ. Sách có chữ “hậu sinh khả úy”. À, chú đã biết viên phó lãnh binh Trương Định chưa?

Nguyễn Duy khẽ lắc đầu:

- Em mới vô Nam, chưa biết người ấy, xin trưởng huynh vui lòng kể chuyện cho em nghe.

Nguyễn Tri Phương uống một ngụm trà nhấp giọng rồi ung dung kể chuyện. Vốn là con quan Vệ úy vệ Gia Định, nhưng Trương Định không theo nghiệp cha thi cử võ để làm quan, lại có chí khẩn đất đai, mộ dân làm đồn diền. Năm Giáp Dần13*, Nguyễn Tri Phương vào nam điều chỉnh chính sách, đồn điền thì Trương Định tự xuất tiền chiêu mộ dân nghèo ở Nam, Ngãi, Bình, Phú vào khẩn hoang lập ấp. Lúc bấy giờ có 21 liên đội ở Nam Kỳ, viên chỉ huy liên đội gọi là Quản cơ, dưới quyền có viên ấp trưởng. Quản cơ kiêm luôn Cai tổng, trong tổng có đồn điền chừng bốn trăm lính. Cứ mười lính có một súng, còn toàn cầm giáo, mỗi liên đội có một đại bác nhỏ. Có võ giỏi có cơ nghiệp, được tín nhiệm vì đã giúp cho một số nông dân có cơm ăn áo mặc, nên Trương Định được bổ chức Quản cơ kiêm Cai tổng ở huyện Tân Hòa. Quản Định đã hết lòng lo cho dân có nhà cửa, ruộng cày. Con cái họ được học hành do Định có sáng kiến mời các thầy đồ ở miền Trung vào dạy.

Ngày 15 tháng giêng năm Kỷ Tị14*, giặc Tây chiếm thành Gia Định. Trương Định đứng lên mộ nghĩa binh đánh giặc. So với những văn thân cầm đầu các toán nghĩa binh khác như tuần phủ Đỗ Quang, tri phủ Nguyễn Thành Ý, tri huyện Đỗ Trình Thoại, Âu Dương Lân, Trần Thiện Chánh, Lưu Tấn Thiện, thủ khoa Nguyễn Hữu Huân… thì địa vị xã hội của Định ở vào các bậc chót. Tuy vậy, cũng có cái thuận lợi là Định đứng sẵn vào địa vị Quản cơ của một tổ chức dân quân khá lớn. Hơn nữa, giữa các quản cơ với nhau, nghĩa binh của Định đông hơn cả, đến một ngàn người, vừa có quy củ lại vừa thiện chiến. Riêng Định lại tiên phong gan dạ, lập đưọc nhiều chiến công trong những ngày đầu đánh giặc, sau đó được các Quản cơ trong Gia Định chọn làm người đứng đầu. Dần dần số nghĩa binh thuộc quyền chỉ huy của Trương Định lên tới sáu ngàn người. Danh vọng và uy tín của Định đưa ông lên địa vị cao vượt hơn cả những án sát, tri phủ, tri huyện và các văn thân chống giặc.

Khi Nguyễn Tri Phương vô Nam nhận chức Tổng thống quân vụ, cho mời thủ lãnh các nghĩa binh đến hội, sau đó mới phân nơi đóng quân. Riêng Định đem cơ binh đến đóng trước ở cửa Thuận Kiều rồi mới tới ra mắt Nguyễn Tri Phương. Quan Tổng thống quân vụ nổi giận, cho là Định có ý coi thường mình. Định thản nhiên trả lời:

- Tôi xem cách bố trí binh lực của tướng công còn để hở một mặt Thuận Kiều. Đó là đường đi Hốc Môn, Tây Ninh, phía có nhiều rừng rậm, có thể làm căn cứ chống giặc lâu dài. Vạn nhất Đại đồn có vỡ thì quân ta cũng còn đường rút. Nếu ta không chiếm ngay thì giặc Tây cũng chiếm mất. Nên tôi trộm phép tướng công đóng đồn trước rồi mới tới hội. Chắc tướng công cũng không câu nệ tiểu tiết mà thứ lỗi cho.

Nguyễn Tri Phương nghe xong, lật đật mời Định ngồi lên ghế, rồi nói:

- Trước đây, khi thấy ông vừa mở đồn điền đã nghĩ ngay đến việc đón thầy về dạy học, ta đã thầm khen nhưng chưa nói ra. Đến lần này ông đến đóng chẹn nơi hiểm yếu rồi mới tới hội, quả thật là có tầm mắt nhìn xa trông rộng. Cảm ơn ông đã sớm liệu trước dùm ta mặt sơ hở đó…

Vừa nghe kể đến đây, không kìm được, Nguyễn Duy đã vụt reo to:

- Có phải ông Phó lãnh binh này cũng cao cờ lắm phải không anh? Kiểu này là kiểu vào pháo đầu thắng luôn bình phong mã của bên địch… Hà hà…

Nguyễn Duy ngoài thơ phú, trận mạc ra chỉ có một cái thú duy nhất là chơi cờ. Nhưng chơi cờ cũng chỉ để luyện trí óc, gíp ích cho việc thơ phú, trận mạc mà thôi. Nguyễn Duy thường ví làm một câu thơ tìm được chữ hay cũng chẳng khác gì đi được một quân cờ vào đúng chỗ. Còn những chiến thuật đánh cờ đem áp dụng vào việc binh thì tuyệt diệu vô cùng. Nguyễn Duy từng đọc mười ba thiên binh pháp của Tôn Võ Tử, lọc ra đuợc mười nguyên lý chiến thắng dùng vào việc đánh cờ. Thứ nhất là nguyên lý tiên tri, trước khi đấu cờ ta phải biết rõ nội tình thực lực của đối phương rồi mới quyết định kế sách hành động như Tôn Võ Tử đã nói: “Biết mình biết người, trăm trận không bại; chỉ biết mình mà không biết người, một thắng một bại; không biết mình cũng không biết người, mỗi chiến mỗi bại”. Hai là nguyên lý kế hoạch, khi đánh cờ ta phải nghiên cứu và định trước xem nên công hay thủ như lời Tôn Võ Tử: “Kế hoạch càng chu đáo, mật nhiệm bao nhiêu thì cờ thắng bấy nhiêu”. Ba là nguyên lý tự nhiên, ta phải tập trung lực lượng và nhằm vào chỗ hở ít phòng thủ của đối phương tấn công thì phần thắng chắc về ta như lời Tôn Võ Tử: “Hình thể của nước là tránh chỗ cao mà đổ xuống thấp, cũng như hình thể của cuộc hành binh là tránh chỗ thực mà đánh chỗ hư”. Bốn là nguyên lý cầu kỷ, phải tạo cho mình một ưu thế hơn đối phương, tránh không để thất bại về mình, như lời Tôn Võ Tử: “Kẻ thiện chiến biết đứng trước trên vị trí không thể bị bại mà không mất phần thắng”. Rồi nguyên lý toàn tồn, nguyên lý chủ động, nguyên lý lợi động… cũng đều rút từ binh pháp ra cả. Trước khi xuất trận, Nguyễn Duy thường bày bàn cờ ra nghiên cứu các nước đi để lát nữa áp dụng vào trận đánh. Như theo nguyên lý cấp tốc “Việc binh cần phải nhanh như gió, động như sấm sét, xâm chiếm như lửa cháy”, hai xa phải ra thật sớm, tung hoành sát quân, lấn nước, dọn đường cho pháo mã tấn công chớp nhoáng. Như thế mỗi quân cờ hạ xuống bàn là phải có một thế hăm dọa đối phương, hoặc sát quân hoặc chiếm lợi địa và làm tê liệt sức chiến đấu của đối phương. Nghiên cứu địa hình trên bàn cờ, Nguyễn Duy phát hiện ra đường nào chướng ngại vật, đường nào tiến quân ngắn nhất để tiến tới mục tiêu. Nhiều trận đánh thắng giặc, Nguyễn Duy đã thắng trước từ trên bàn cờ rồi.

Biết tính em Nguyễn Tri Phương tủm tỉm cười:

- Cái chú này! Ai đời nhân danh một ông Tán Lý mà vẫn cái thói con nít, hễ nghe nói đến ai cao cờ là cứ y như ếch vồ hoa ấy.

- Tán tàn gì cũng không bằng cái món cờ. Để hôm nào em phải mời ông Phó lãnh binh đến giao đấu một trận mới được.

- Chú chơi cờ mới sạch nước cản thôi, đã cao gì cho lắm mà bạ ai cũng đòi đấu. Cái nước mã ngọa tào15*hôm nọ của tôi chú đã phá được chưa nào!

- Còn ngón đòn song tiên16* của em, anh cũng có chọi được đâu!

- Sau này tôi đi cái nước lão mã hồi hương17*, chú chả chịu thua là gì!

- Em nóng tánh không thể chơi cái kiểu cù cưa đó được. Cùng lắm em dám chơi cái nước liều “Triệu Tử Long nhứt thân đô thị đởm”18* là anh phải chịu hàng liền thôi hà.

Tiếng cười lại nổi lên giòn giã, bất chấp cái không khí đầy đe dọa của một thành trấn, giặc đã chiếm đóng quá nửa. Hình như sau câu chuyện về chiến lược, chiến thuật, hào khí đã dâng tràn ngập căn phòng tranh tối tranh sáng này.

Bỗng khuôn cửa được mở rộng để lộ một khung trời trắng ngà màu giấy bản. Viên tùy tướng Trần Nhượng bước vào cùng với một làn gió lạnh ập vào phòng.

- Bẩm tướng công, giữa giao thừa đêm qua, tên lính Trần Bá Lộc bỏ phiên canh, trốn mất tiêu. Theo tiểu tướng biết thì tên này đã chạy vào đồn Cây Mai đầu hàng giặc.

Nguyễn Tri Phương chăm chú:

- Sao ngươi biết?

Trần Nhượng rụt rè:

- Không dám giấu tướng công, Trần Bá Lộc với tiểu tướng vốn có tình anh họ. Nhưng vì mới đăng lính nên chỉ là lính trơn, chưa có chức tước gì. Thấy tiểu tướng vừa là phận em vừa ít tuổi hơn mà lại đóng quản vệ binh, chỉ huy cả cơ binh của Lộc, bên Lộc tỏ ý bất phục. Nhiều khi Lộc bực bội thốt ra lời: Phải đứng trên đầu trên cổ tiểu tướng chớ không chịu kém. Ít lâu nay, thấy Lộc thường đi lại với tên Sầm Tống Hếnh, chủ hiệu buôn gạo ở Chợ Lớn, tiểu tướng có khuyên can nhưng Lộc không chịu nghe. Tiểu tướng vì nể tình họ hàng nên không làm ngặt. Lộc thừa lúc sơ hở đã chạy sang trại gịặc, tiểu tướng xin chịu tội thất sát.

Nguyễn Tri Phương im lặng hồi lâu. Trần Bá Lộc là vệ binh ở đại bản doanh, thế tất phải biết những đường hầm từ Đại Đồn ăn thông với phía dưới đồn trại của giặc. Nguyễn Duy bỗng lẩm bẩm:

- Nhất tốt độ hà, bán xa chỉ lực!19*

Chú Thich

1* Cuối thế kỷ 19, ta phiên âm chữ France (nước Pháp) là Phú Lãng- Sa tục gọi là Lang- Sa.

2* Hoàng đế, tức Nã Phá Luân đệ tam (Napoléon III) nước Pháp.

3* Lộ bộ: dàn binh khí nghi trượng trong dinh vị vương.

4* Tóc đỏ, tiếng dân ta -cuối thế kỷ 19- gọi người Anh.

5* Năm 1857.

6* Tức Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định thành.

7* Bóng lưa thưa xiên ngang bên dòng nước trong và nông.

Hương thơm thoang thoảng nhẹ dưới trăng lúc hoàng hôn.

Hai câu thơ trong bài Sơn viên tiểu mai thi của Lâm Bô, tự Quân Phục, một thi sĩ đời Tống.

8* Nhìn mặt nhau nói chuyện bằng tiếng thầm trong lòng.

9* Tuyết dữ gió gào lại càng lẫm liệt. Trong các loài hoa, mai thanh cao kiên cường nhất. Hết mùa kệ cho rơi rụng. Thẹn đến với chúa Xuân xin rủ lòng thương. Say bẻ mai tàn một vài cành. Mặc cho đào mận cứ gặp thì. Trước đây trong lúc băng tuyết đóng cứng mặt đất. Cây hoa nào cố sức kéo Xuân sang. Hai bài thơ Lạc mai (mai rụng) của Lục Du tự Phóng Ông, nhà thơ yêu nước đời Nam Tống từng phản đối triều đình đầu hàng trước quân Kim xâm lược.

10* Áo gài nút phía bên trái.

11* Sắc xuân đầy nhà.

12* Non Mai nghìn dặm xa vời, Sớm nay biết có xuân tươi thế nào. Thơ Trần Bích San, tự Hy Tăng.

13* Năm 1854.

14* Năm 1859.

15* Mã ngọa tào: mã nằm tàu.

16* Ngón đòn song tiên: hai bên đánh xe lật như hai ngọn roi cùng quật.

17* Lão mã hồi hương: con mã từ bên này sang đất địch sau mươi nước chiếu mới về nhà thành quân giữ nhà, nếu về được thì bên kia thua.

18* Một bên 16 quân đỏ, một bên còn 4,5 quân có một con mã ngòi, nhảy đi nhảy lại, bên kia cứ phải đấm quân, cho nó ăn đến hết quân.

19* Một tốt qua sông, bằng sức nửa xe.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hoài Anh