Tới trước cửa dinh đô đốc Bô-na tục gọi “Lầu ông Thượng”, viên đội Huỳnh Tấn cẩn thận coi lại đồng hồ trên đỉnh tháp. Người Lang-Sa rất đúng giờ, mình tới trước giờ thì họ la mà trễ thì họ đá đít không thèm tiếp.
Lầu ông Thượng là một tòa lầu làm bằng cây phía trước có cái tháp trên đỉnh gắn một mặt đồng hồ rất lớn để báo giờ.
Mỗi buổi trưa, tàu Đuy-pe-rê bắn một phát súng báo hiệu 12 giờ. Chánh sở Bưu Điện - Sở này nằm trước tháp đồng hồ, lo điều chỉnh giờ mỗi ngày. Đội Tấn nhớ ngay mấy câu vè làm để ca ngợi sự tinh xảo của người Lang-Sa:
Có chỗ ghi giờ nhựt trung,
Trên lầu ông Thượng đăt vòng địa la.
Còn năm ba phút vậy mà,
Đem đồ hiệu lệnh kéo qua cột cờ.
Đợi đến đúng mười hai giờ
Đồ kia rớt xuống, súng hờ giật dầy,
Nổ lên một tiếng vang đầy,
Châu thành bốn phía sum vầy giấc trưa.
Có lần theo hầu quan Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương tới viếng thăm Kinh lược Phan Thanh Giản, Tấn đã phải trầm trồ trước chiếc đồng hồ “tự minh chung” mà ngươi Lang-Sa tặng quan Kinh lược khi ngài sang sứ Tây kinh. Đồng hồ cao một thước, trên có nắp đậy hình lá sen. Khi chiếc kim trên mặt đồng lá chỉ chữ Gián chẳng hạn thì chuông gõ năm tiếng. Nhưng so với cái đồng hồ trên này thì chiếc “tự minh chung” ấy không thấm tháp gì. Hèn chi quan Kinh lược cũng phải khen người Lang-Sa. Nay mình bỏ ông Trương Định qua đầu Lang-Sa thệt là thức thời. Ở đời trâu chậm uống nước đục. Cái anh Trần Bá Lộc lẹ chân, giờ đã leo lên đến chức Tri phủ “tân trào” rồi. Vậy mà mấy năm trước Lộc hãy còn là một tên lính mã-tà. Sự may rủi ở đời không biết thế nào mà nói.
Trong khi chờ lính vào thông báo, Tấn đưa mắt nhìn lên. Sườn tòa lầu làm toàn bằng cây nghe nói khi Bô-na mới từ Tây sang, tàu ghé Tân Gia Ba, Bô-na đặt thợ làm và chở qua Sài Gòn dựng ở gần xóm Hàng Đinh1* .
Bô-na ngồi sau bàn giấy thấy Tấn vô liền đứng dậy bắt tay chỉ ghế mời ngồi. Tấn khép nép không dám ngồi nhưng Bô-na cứ ấn y xuống ghế. Tấn lại khúm núm kéo ghế dịch ra bên.
Bô-na có mái tóc vàng hung xõa trước trán và hai nạm râu hung hung hai bên má, mặt hơi dài, cặp mắt sâu xanh lè tinh quái, mũi lõ, cặp môi mỏng mím chặt và chiếc cằm nhọn ở giữa có hõm sâu. Y mặc y phục nỉ xanh đậm, trước ngực choàng dải băng tam tài, vai đeo lon vàng và ngù thêu kim tuyến, lưng thắt dây vải vàng đeo bao kiếm ngắn. Ưỡn bộ ngục đầy mề đay, bội tinh, y ngồi phịch xuống ghế bành với vẻ thỏa mãn về cái mà y cho là một chiến thắng lớn của Lang-Sa: chiêu dụ được một thủ hạ thân tín của Quản Định.
Mấy năm nay Bô-na đã phải vất vả đối phó với Trương Định. từ cuối năm 1862, quân Định luôn luôn nhằm vào các đồn tiền tiêu Lang-Sa ở Phú Lâm, Bà Hom, Gò Công, Bến Lức, Cây Mai. Tại đồn Rạch Tra, quan ba Ta-bun-lơ cũng bị vây đánh khốn đốn. Bô-na phải xin viện binh của quan sáu Giô-rét đang đóng tận bên Tàu. Sau đó một tiểu đoàn bộ binh An-giê-ri đánh chiếm chiến lũy Đồng Sơn cách Gò Công 11 cây số về phí tây bắc. Đại tá hải quân A-ri-e mang quân từ Mỹ Tho sang Chợ Gạo án ngữ quân Định về phía tây và nam. Lại cho thông báo hạm Phoóc-banh án ngữ sông Vàm Cỏ ở chỗ vào Rạch lá. Pháo hạm A-va-lăng-xơ, Đra-gon-nơ và một pháo hạm nữa án ngữ ở sông cửa Tiểu, nhiều pháo hạm khác và xuồng làm nút chặn ở phía Tây, tổng hạm hạng nhẹ Y Pha Nho La-Xia-rơ án ngữ từ Xoài Rạp đến Cửa Tiểu ở phía đông. Đóng 30 thuyền bọc sắt, mỗi cái chở 6 người để cùng với các cánh quân vượt qua sình lầy và ruộng ngập nước. Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ để vượt sông, phá cảng. Pháo hạm A-lac-mơ sẽ ngược kinh Gò Công để yểm trợ cho các nỗ lực chính. Cánh quân trên bộ cũng tiến dọc theo con kinh này, do thiếu tướng Sô-mông và Đại tá Tây Ban Nha Đa-lăng-ca chỉ huy, ngày 22-1-1863 từ Sài Gòn kéo xuống. Ngày 26-2, đại binh Lang-Sa theo hai đường thủy bộ tiến về trại cá (Bến Chùa).
Vậy mà cũng chậtt vật mới chiếm được đất Gò Công. Phải dùng mười lăm chiếc xuồng đôi mới đổ bộ lên được. Lính Lang-Sa phải vịn theo be xuồng để đẩy xuồng đi. Lại phải dùng tấm thớt bằng gỗ nối liền hai chiếc xuồng để chống xuồng đi khi gặp nước sâu. Giá gỗ có súng đại bác đăt ở giữa, hai bên là hai cái móc sắt để bảo vệ cho lính ngồi trên xuồng. Bốn chiếc xuồng đôi hoặc nhiều hơn để khít nhau sẽ kết thành một cầu phao chắc chắn, khi qua bưng biền hay ruộng rẫy thì cứ sáu người khiêng một chiếc xuồng đi theo bộ binh.
Dầu Lang-Sa đã tấn công bằng xuồng và nhiều pháo hạm, nhưng Định lọt lưới rất dễ dàng, sau đó vẫn tiếp tục cho quân đánh úp và rao hễ ai giết được một người Lang-Sa đem đầu đến dâng sẽ được trọng thưởng. Thấy vậy, Bô-na quay sang trách Phan Thanh Giản cho là triều đình Huế đã bí mật giúp Trương Định chống Lang-Sa, không thành thực tôn trọng hoà ước Nhâm Tuất.
Phan Thanh Giản trả lời:
- Trương Định mạo nhận chức tước của triều đình, xin nguyên soái cứ bắt y mà giết.
Bô-na không tin, Phan Thanh Giản liền đưa ra một bức thư của Trương Định trả lời bức thư Phan khuyên giải giáp. Thư Định có mấy dòng như sau:
“Dân chúng ba tỉnh không muốn nước nhà bị nạn qua phân, nên họ suy tôn chúng tôi cầm đầu. Chúng tôi không biết làm cách nào hơn là đảm đương lấy trách nhiệm. Cho nên chúng tôi sẵn sàng tử chiến, lôi địch đàng đông kéo địch đằng tây, chống trả tới cùng và quyết giành phần thắng. Nếu ngài còn nói đến hòa nghị cắt đất cho giặc thì chúng tôi quyết không tuân theo mệnh triều đình, và không đời nào có chuyện ngài với chúng tôi hòa thuận, ngài cũng chớ lấy làm lạ”.
Cánh chủ chiến triều đình ở Bình Thuận và ba tỉnh miền Tây không ngớt ủng hộ Trương Định. Khi Bô-na đi sứ ra Huế về, Định gởi thư cho Bô-na ký tên Bình Tây đại nguyên soái, thóa mạ Tây giết nhiều người lầm đường ra đầu thú và đòi Tây nhất thiết phải trả ba tỉnh miền đông cho nước Nam.
Đúng là ngày nào Trương Định còn thì người Tây chưa yên được. Định vẫn hoạt động mạnh và chắp nối với các nhà buôn để mua súng đạn đổi bằng lúa gạo. Chiến thuyền Lang-Sa khó bề phong tỏa được suốt dải bờ biển Nam Kỳ.
Bô-na đã nhiều lần treo giải lấy đầu Trương Định nhưng chưa có kết quả. Vì vậy nên khi nghe tin tên quan ba Gu-giơ- a ở Gò Công báo tin mới thu phục được đội Tấn, một thủ hạ của Trương Định là Bô-na mừng rỡ lịnh cho Gu-giơ-a mời Tấn lên đích thân gặp mình để bàn sách lược bắt Trương Định.
Bô-na nói với Tấn, giọng mơn trớn:
- Ta thay mặt nước Lang-Sa rất vui mừng khi thấy chú đã sớm biết đường ra thú. Ta nói thiệt cho chú hay, binh lực Lang-Sa rất lớn, bọn làm nghịch sớm chày sẽ bị quét sạch. Ra đầu với người Tây sớm ngày nào có lợi ngày ấy. Nói ta nghe, chú có kế sách gì trong việc bắt Quản Định trừ mối họa cho dân chúng?
Viên thông ngôn dịch lại, Tấn thưa:
- Bẩm quan Nguyên soái, vừa có tin đồn Định đã ra Huế lĩnh mệnh của Nam triều sau lại có tin Định ở Bình Thuận rồi tin Định ở gần Sài Gòn. Nhưng tôi cho đó là mưu mô của Định thường khéo léo tạo nên để người Tây không nghỉ ngơi yên ổn được mà thôi. Bởi chắc chắn Định vẫn lẩn quẩn ở vùng Gò Công nên tôi đã để tâm theo dõi…
Bô-na nóng ruột:
- Kế của chú thế nào, nói ngay đi.
Tấn làm vẻ quan trọng để Bô-na phải chú ý:
- Bẩm, tôi đã xin với quan ba cho các làng quanh vùng Gò Công mượn tiền không ăn lời nhưng buộc phải mách chỗ Định trú nếu Định có về. Tôi lại hứa với vợ con những tên làm nghịch đang bị giam, sẽ bảo lãnh cho chồng con họ được tha nếu họ chịu mách chỗ Định. Kế đó coi mòi có công hiệu. Được mật báo Định về cù lao Lý Nhơn ở rừng Sác, tôi bèn dẫn quân Lang-Sa về lùng bắt. Vùng này ở gần sông Xoài rạp và Đồng Tranh, tục kêu là Đám Lá Tối Trời, gồm bảy cụm cù lao nhỏ ở trên những cánh bùn lầy có dừa nước mọc lên như rừng rủ lá quanh năm che kín mặt trời. Địa thế hiểm yếu lại có nhiều đường thông ra biển và một con đường thông ra Bình Thuận. Định lấy đó làm căn cứ, một mặt điều quân đánh xuống các đồn Lang-Sa, một mặt cho binh lính cải trang làm thương thuyền đi theo đường biển ra miền Trung mua sắm súng đạn, lương thảo…
Bô-na ngắt lời:
- Hèn chi ta bắt được giấy tờ về việc một nhà buôn ngoài Phan Rí nhận mua khí giới từ Hồng Kông, An Độ đem về cho Định.
- Bẩm đúng vậy. Chúng tôi đã mở cuộc bao vây khu vực Lý Nhơn. Quân lính phải lội sình tới đầu gối và dùng đạn lửa mở đường mới qua được những chặng rào canh phòng của quân Định. Tuy họ chống trả kịch liệt, rốt cuộc ta cũng vào lọt căn cứ nhưng không bắt được Quản Định. Bù vào đó, chúng tôi đã bắt được một con nhỏ tên Xuyến là người chuyên đi đưa tin cho quân Định. Quan ba Gu-giơ-a đã xuống lịnh tra khảo buộc con nhỏ khai chỗ Định trốn tránh, nhưng dùng đủ mọi cực hình mà nó vẫn không chịu hé nữa lời…
- Các chú đã dùng đủ mọi kiểu tra tấn rồi chứ?
- Vâng, chúng tôi đã dùng hết cách, nào dùng kim đâm vô đầu ngón tay, nào treo ngược chân lên xà nhà mà đổ nước mắm vô hai lỗ mũi lộn chiều, nào mền xếp lót lên ngực trên lót ván dùng chày mổ giã xuống, nào trói chân rút ngược giữa treo hai bao cát kéo dang ra rồi buông cho nhập lại lấy người làm trái độn… Vậy mà vẫn đành thua gan con nữ tặc.
Bô-na cười:
- Những hình phạt kiểu Trung cổ đó lỗi thời rồi. Ở nhà hành hình Gò Vấp người ta mới phát minh ra nhiều kiểu tra tấn mới theo khoa học tinh vi mà giản tiện lắm. Để ta giới thiệu chú tới đó học kinh nghiệm, chắc chắn sẽ được việc cho các chú.
- Xin đội ơn quan nguyên soái. Dạ, ông Gu-giơ-a còn muốn xin ngài cho thêm viện binh…
- Được ta sẽ gởi thêm sau. Ta cho quyền các chú đi tới đâu cứ việc bắt bớ, chém giết, đốt phá nếu dân chúng ở đấy không chịu chỉ chỗ ở của Trương Định. - Đôi mắt Bô-na ánh lên những tia xanh lè ma quái. - Giết sạch, đốt sạch, phá sạch, các chú nghe rõ chưa. Nếu kẻ nào chỉ chỗ Trương Định sẽ được thưởng hai mươi lạng vàng và phong chức Cai tổng.
- Dạ, nhờ chánh sách cho vay tiền không lấy lời mà nhiều điền chủ làm được mùa màng, trong năm hạn hán lúa lại bán được cao giá nên họ thành giàu lớn, chắc chắn họ sẽ trả ơn bằng cách chỉ chỗ Trương Định cho ta… Dạ, tôi còn một chuyện nữa muốn lập bô với ngài…
Bô-na sốt sắng:
- Chuyện chi, chú cứ nói.
Tấn khôn khéo:
- Bẩm, sở dĩ dân chúng tin ở Trương Định nay ở Bình Thuận, mai ở sát bên Sài Gòn vì bất cứ ở đâu cũng thấy nhan nhản những tờ hịch mang ấn Bình Tây đại nguyên soái. Như vậy không phải chỉ riêng Trương Định phát ra những tờ hịch ấy mà có nhiều kẻ bí mật sao chép truyền đi khắp nơi. Tôi đã dò ra người soạn hịch là Nguyễn Đình Chiểu, hiện ở Ba Tri…
Bô-na chăm chú:
- Nguyễn Đình Chiểu nào? Có phải Tú Chiểu người soạn bổn Lục Vân Tiên không?
- Chính ổng, thưa ngài.
Bô-na đứng lên đi đi lại lại suy nghĩ hồi lâu. Lông mày nhíu lại khiến mu mắt che bớt đôi mắt sâu, ánh lên những tia nham hiểm. Đôi môi mím chặt hằn đường rãnh hai bên mép. Lỗ mũi phập phồng như một con thú đánh hơi thấy mồi. Bỗng y quay phắt lại:
- Về Tú Chiểu thì ông Đổng lý Nội vụ đã nhận được một xấp cáo mật dày về những hành động chống đối người Lang-Sa, còn xếp đầy hồ sơ kia. Ông Đổng lý cũng đã yêu cầu cho lịnh bắt Tú Chiểu. Ta có đem bàn với ngài Ô-ba-rê, đại sứ mới từ bên Tây sang, ngài khuyên nên chưa bắt vội. Hiện nay tầng lớp sĩ phu vẫn còn những người lãnh đạo tinh thần ở xứ này có uy tín lớn trong dân chúng, ta không nên bắt ổng mà kiếm cách thu phục có lợi hơn. Để tạo điều kiện dễ dàng thuyết phục, ngài Ô-ba-rê đang khởi công dịch bản Lục Vân Tiên của ổng in ở bên Tây. Vả lại, theo lời ngài Ô-ba-rê, việc dịch đó còn có lợi là cung cấp một tài liệu quý báu về tâm lý phong tục dân bổn xứ, giúp người Tây tìm chánh sách cai trị cho thích hợp. Vậy trong khi chưa có lệnh của ta, các chú không được đụng tới Tú Chiểu.
- Nhưng thưa ngài, chúng tôi ức lắm hết chịu nổi, trong hịch, Tú Chiểu chửi chúng tôi như vầy nè:
Bớ những người tai mắt
Thử xem loài thú cầm
Trâu ngựa còn điếc câm
Mà biết đến ơn cho nhà chủ
Muông gà loài gáy sủa
Còn biết đáp ngãi cho chủ nuôi
Huống hồ người chân đạp đất, đầu đội trời
Ở chi thói sâu dân mọt nước…
Vậy là ổng so sánh những người theo Lang-Sa hổng bằng giống chó ngựa rồi còn gì!
Bô-na gãi đầu, vẻ khó chịu. Rồi y an ủi:
- Theo lời Trương Vĩnh Ký nói với ta, thì bài hịch này chưa chắc đã do Tú Chiểu soạn ra. Dầu sao trong khi chờ đợi kết quả việc thu phục Tú Chiểu, tạm thời chưa nên đụng tới ổng. Ta hãy dốc toàn lực vào việc trừ diệt Quản Định đã. Mất Định thì Tú Chiểu dầu muốn chống ta cũng không làm gì đặng. – Y cười.- Nếu trừ xong Quản Định thì cái chức Lãnh binh sẽ nằm gọn trong tay chú. Nước Lang-Sa rất biết ơn những người phục vụ trung thành của mình. Chú ráng sức đừng để phụ lòng trông cậy của Soái phủ Nam kỳ.
Đội Tấn lắp bắp:
- Dạ… Dạ…
Bô-na quay sang viên thông ngôn:
- Thầy Thông Hiền! Hãy đi kiếm cho chú Tấn một nơi cư ngụ thiệt sang trọng trong khi chú là khách của tôi ở Sài Gòn. Thầy còn có nhiệm vụ dẫn chú đi thăm viếng khắp nơi, sao cho chú thấy hết được sự giàu mạnh và văn minh của người Lang-Sa.
Đội Tấn và Thông ngôn Lê Quang Hiền dừng chân trước xóm Hàng Đinh. Nơi này khi Tấn còn ở Sài Gòn, có đường trải đá ong với những dãy nhà lợp ngói phía sau cau dừa um tùm. Nhưng đến nay nhà cửa của dân đều bị giặc phá hết chỉ còn sót lại một ngôi nhà ngói ba căn hai chái và ngôi miếu là chưa bị phá.
Dưới mé sông, một chiếc tàu chạy hơi nước với bánh xe quạt nước bên hông đang đậu, thân tàu đề chữ Catinat. Trên đường tấp nập những toán dân phu gánh gạch đá để xây cất tòa dinh thự cho tên Đổng lý nội vụ, tục gọi là Dinh Thượng thơ. Bọn lính mã tà đứng coi phu, nếu chậm trễ hay làm không hợp ý chúng, chúng lại cầm roi quất lia lịa. Mấy chòm cây cau rũ bóng xuống một ngôi chùa cổ mái cong vắt như cặp sừng, cạnh bên có một quán rượu Tây, che màn trắng phếu. Thông Hiền rủ:
- Ta vô quán nhậu chút, thầy đội.
Đội Tấn theo Thông Hiền vô quán. Trong quán, một bọn lính Tây vừa nhậu vừa chửi thề inh ỏi. Đội Tấn kêu rượu nếp nhưng quán chỉ độc có rượu Tây, Thông Hiền an ủi:
- Thầy đội cứ dùng ly rượu chát cho nó biết mùi đời.
Tên dọn bàn mặc quần lục soạn trắng, lưng quần xổ ra kéo phủ lên dây nịt, tay bưng một khay trên có hai ly rượu vang và hai đĩa bít tết. Đội Tấn tợp một ngụm vang thấy cũng không đến nỗi khó uống lắm. Thông Hiền lại nháy mắt:
- Thầy đội cần món chi cứ biểu. Tửu rồi còn cái món sắc thì để tôi dẫn thầy tới xóm Cầu Muối.
Ở quán ra, hai người đi tới Bồn Kèn. Rạch Cầu Sấu và kinh Chợ Vải đang bị lấp từng chặng để cho một con đường mới mọc lên. Ở ngã tư xây một cái bệ hình tam giác, trên đó mấy tên lính sơn đá đang nỗi nhạc Tây cho dân chúng nghe. Thông Hiền tấm tắc:
- Thầy đội nghe tiếng kèn “mu dích” này thiệt đã con ráy. Cái điệu của người Tây phổ vào bài nào bản nấy, hễ nghe đến thì nó bắt nhảy trồi, nhảy phách, chí khí hung hăng, dầu cảnh nào buồn cho mấy đi nữa mà nghe đến tiếng nhạc nó cũng khuây liền. Nhứt là quân lính đội ngũ, khi nghe tiếng nhạc nó xung xăng nhảy nhót, cầm cái nặng cũng quên, đường bao dài không mỏi, vậy mới đúng là tiếng nhạc của người văn minh chớ!
Văn minh đâu không biết chứ đội Tấn nghe thứ nhạc này cảm thấy lố lăng thế nào. Tuy vậy, y cũng ráng đứng nghe trọn bài kèn kẻo tên thông ngôn khinh mình là quê mùa. Thông Hiền nói:
- Thế này vẫn chưa khoái bằng đi coi gánh hát mới ở Tây sang. Tối nay tôi sẽ dẫn thầy tới nhà cây ở kế bên Lầu Ông Thượng coi. Họ hát nhiều tuồng Tây hay hơn hát bội ở rạp Cầu Quan nhiều lắm đa!
Mấy tên du côn từ xa tiến lại, dáng điệu tên nào tên ấy đều có vẻ bậm trợn, dữ dằn. Trông thấy hai người đi tới, chúng tính xông lại ăn hiếp. Nhưng khi nhìn thấy người mặc áo “u-hoe”2*, thắt nơ đen, chúng biết đây là loại có thần thế, nên bấm nhau lảng đi không dám léo lánh tới chỗ đó nữa. Thông Hiền nhìn theo, vênh vang nói với Đội Tấn:
- Toàn là tay tổ đó. Họ nói chuyện với nhau chỉ bằng củ chì, roi gân bò với dao tu không à, ai vô phước gặp họ sơ sơ cũng phải ăn thẹo trên mặt. Hù chơi cũng mất mấy ngày mới tỉnh. Nhưng với ai chứ với Thông Hiền này thì mấy chả im re, đâu có dám múa gậy vườn hoang…
Đội Tấn thầm nghĩ: Thời loạn mới là lúc đám giang hồ trổ sanh nghề lạ. Hồi trước mà dám đi nghinh ngang giữa lộ như vầy thì chẳng đóng trăng, đưa ra pháp trường gần chợ Vải cho tả đao dùng mả tấu chặt đầu à. Ngay cả mình cũng vậy thôi, gặp thời buổi Tây Tàu mới hòng leo lên Lãnh binh Đề đốc chứ bình thời thì có khi đóng đội mãn đời! Đời cũng tỷ như canh bạc đen đỏ, tội chi không thử thời vận!
Hai người đi ra phía bờ sông. Qua xóm thủy trại, nơi có Xưởng Thủy của “đàng cựu”, Đội Tấn thấy một xưởng mới mà Thông Hiền giới thiệu là xưởng Ba Son chuyên sửa chữa tàu cho thủy quân Lang-Sa. Từng đám thợ mặt mũi nhem nhuốc, hốc hác đang ăn cơm trong những quán lụp xụp ven đường. Gần đó một con kinh nhỏ, mấy người Tây đang thảnh thơi câu cá.
Chỗ sông Bến Nghé giáp với rạch Vàm Bến Nghé, nơi có Sở Thủ Ngữ để thâu thuế thời đàng cựu, mới bắc một chiếc cầu bằng cây loại cầu quay để cho ghe buồm có thể ra vào, nối liền hai bờ rạch. Đó là Cầu Quây dẫn vào bến cảng Sài Gòn. Đội Tấn nhìn thấy một ngôi nhà nguy nga hai từng kiểu Tây, nhưng trên nóc lại là một mái ngói cong theo kiểu đình của Việt Nam. bốn cạnh mái là bốn con rồng nghếch đầu ra tứ phía. Trên đỉnh là hai con rồng uốn khúc, châu đầu vào hình mặt trăng, theo cung cách “lưỡng long chầu nguyệt”. Tất cả đều bằng gốm men xanh, tạo thành một bờ viền mềm mại và đậm đà quanh mái ngói đỏ au, nổi bật lên nền trời vần vụ. Thông Hiền cho biết đó là Nhà Rồng, hãng chuyên chở tàu biển của Tây. Đội Tấn nhận ra mái Nhà Rồng đúng là mái Văn Thánh miếu ở chỗ rạch Văn Thánh, chắc Tây đã phá miếu và lấy mái lắp cho Nhà Rồng.
Ngày hôm sau, Thông Hiền dẫn Đội Tấn tới nhà hành hình ở Gò Vấp. Giữa phòng, có đặt một cáo nồi hơi bằng thiếc, miệng túm lại, đót lên như quản bút thau. Nồi đựng đầy dầu lửa, bắc trên lò than đước đỏ hườm. Sau khi bị bắt uống một bụng đầy dầu lửa, một tù nhân phải ngồi lên trên nồi cho miệng nồi chui vào hậu môn. Một lính Tây quạt chừng cho lửa đỏ, cho dầu sôi.
Hơi dầu sôi, nhẹ, bốc lên chun vô ruột người tù. Dầu nguội nặng trong ruột lọt xuống lò, cháy thành ngọn, đun dầu trong lò thêm sôi. Dầu sôi nhẹ, bốc lên choán chỗ; dầu nguội nặng lọt xuống cháy phừng; hai luồng xuống lên xuôi ngược mãi khiến người chịu hình, nghe hơi dầu nóng trong lòng, có cái ảo giác rằng dầu cháy gan cháy ruột…
Người Tây coi nhà hành hình cười:
- Còn hơn thế nữa kia. Mày biết không, tao mới phát minh ra một cái hình giản tiện hơn nhiều. Chỉ cần một khúc roi mây, một sợi dây gai, muốn nói cho đúng sức kỹ nữa, thời thêm vào hai bàn tay cầm roi. Để tù nhân nằm sấp, tay treo trên lưng, hai ngón tay cái cột dính lại, hai ngón chân cái cũng cột dính lại. Hai tay chân lại cột dúm lại, rồi a-lê cho lính cầm roi đánh vào hai bàn tay trần. Muốn đánh vào trong sọ không lẽ bửa óc ra mà đánh cho nên phải đánh vào bàn chân để truyền đau nhức vào óc non. Đánh vào bàn chân chỉ là đánh vào ngoài da mà kích thích đầu thần kinh. Dây thần kinh bị kích thích, là tủy, là óc bị kích thích. Óc mà bị kích thích thời các dây thần kinh đều bị kích thích, sự đau nhức mới lên tới độ tột cùng. Tao phải nghiên cứu cả khoa sanh lý học và giải phẫu học mới phát minh ra cái hình này chớ bộ.
Đội Tấn hết lời cảm ơn người Tây vì nhà hành hình đã cung cấp cho y một kinh nghiệm vô giá. Thế là chỉ trong hai ngày ở Sài Gòn đã hiểu rõ thế nào là sự giàu mạnh và văn minh của người Lang-Sa.
*
Về tới Gò Công, việc đầu tiên của Tấn là mang Xuyến ra tra khảo để ôn lại bài học vỡ lòng mà y mới được quan thầy truyền thụ. Sau khi cho trói chân tay Xuyến lại như trói heo, y cho lính cầm roi đánh lia lịa vào hai bàn chân trần không giẫy giụa nhúc nhích được. Đánh …đánh riết một hồi lâu, y hô cho lính nghỉ một lát. Nghỉ rồi đánh. Đánh rồi nghỉ. Nghỉ cho khỏe tay cầm roi, cho ê chân chịu đòn. Chân ê mà bị đánh nữa mới thấm đầu, mới thốn nhức…
Những lằn roi quất vào làn da non ở bàn chân Xuyến làm cô đau nhức không bút nào tả xiết. Tưởng chừng như có từng nhát búa khảo vào trong óc. Toàn thân lúc đầu còn tê tê như có kiến bò nhưng lần lần buốt nhói và giật từng cơn. Nhưng cô nghiến răng không kêu một tiếng. Trước mắt cô hiện lên hình ảnh cha mẹ cô ngực lủng vết lưỡi lê nằm co quắp trên vũng máu… Hình ảnh nấm mồ của Huân nằm trơ trọi ở miếng đất bên cạnh ngã ba sông… những hình ảnh đau thương đó làm cô nung sôi máu căm thù, quyết không chịu khuất phục kẻ thù.
Đầu óc lần lần tê dại đi nhưng trước mắt cô vẫn chập chờn hình ảnh chủ soái Trương Định đứng trên đài cao nhận lá cờ đề chữ “Bình Tây đại nguyên soái” của nghĩa quân và bà con trao. Những đôi mắt thiết tha trông cậy hướng về vị chủ soái dáng hiên ngang dưới lá cờ nghĩa tung bay phần phật. Không! Xuyến không thể bán rẻ vị chủ soái để làm phụ lòng bà con trăm họ. Xuyến như cảm thấy đôi mắt đục lờ của ông Tú Chiểu nhìn xoáy vào mình, đôi mắt không có ánh sáng mà vẫn có một sức gì mãnh liệt như xoáy vào tận gan ruột, đọc được hết những ý nghĩ thầm kín của người ta và ngăn cản không cho làm những điều xằng bậy.
Xuyến rú lên một tiếng rồi xỉu.
Khi tỉnh dậy trong căn phòng giam chật chội, tanh tưởi, cô thấy toàn thân rêm nhức như có hàng trăm con rắn cắn truyền nọc độc vào cơ thể. Mùi nước tiểu trên nền đất nhầy nhụa khiến cô muốn ói mửa. Phòng giam là một gian buồng hẹp, chiều ngang lối bảy thước ta, chiều dài mười lăm thước ta. Ba bức tường kín và một tấm cửa sắt đóng bịt bùng. Trên một phía tường có “cửa sổ”: miếng sắt đục lỗ li ti. Phòng giam tối như bưng, suốt ngày thắp một đèn đỏ đòng đọc, lại nóng vô chừng, như trong một lò lửa.
Một lát sau, có lệnh đòi Xuyến lên hỏi cung. Lần này, cô gái phải bò lết không đi đứng được. Mái tóc bù rối, đôi mắt sáng quắc, trông cô như hiện thân của vị thần Trừng phạt. Đội Tấn không dám nhìn thẳng vào cô nữa. Nhưng y vẫn thử cố gắng một lần cuối cùng. Y quát hỏi nhưng lạc cả giọng:
- Tao hỏi mày một lần cuối cùng, mày có biết Quản Định hiện ở đâu không?
Cô gái thản nhiên:
- Biết chớ!
Đội Tấn mừng rỡ lắp bắp:
- Đâu?... Ở đâu?
Xuyến cất tiếng dõng dạc:
- Trương tướng quân ở trong lòng dạ tao đây nè! Muốn kiếm, cứ việc moi tim tao ra mà kiếm!
Đôi mắt cô gái tóe lửa căm hờn, nhìn xoáy vào mắt tên phản bội. Tấn cảm thấy như đôi mắt của Trương Định đang nhìn mình nghiêm nghị…
Trời không nóng lắm… nhưng Tấn bỗng thấy trán vã mồ hôi.
Ghi chú
1* Nay là góc đường Hai Bà Trưng.
2* Bởi chữ vétxtông u-ve áo lớn hở ngực.