Đuốc Lá Dừa

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương II

❊ ❊ ❊

Trên con đường rộng phẳng, ba viên võ quan Việt đang thong thả bước. Họ đi tuần tra việc canh phòng bảo vệ cho dân ăn tết yên ổn, e Tây có thể từ đồn Cây Mai bất thần thọc ra. Dầu đi bình thường chân họ theo nếp quen vẫn bước thẳng, đầy vẻ hùng dũng. Đi đầu là một con người vóc cao mà mảnh mai, gương mặt đầy, nước da trắng có vẻ một phong lưu công tử, nhưng lại lộ ra khí phách ngang tàng. Riêng vầng trán rộng và đôi mắt sáng nói lên tánh quyết đoán và đa mưu. Đó là viên Phó lãnh binh Trương Định, chỉ huy binh lính giữ đồn Trung.

Người thứ hai, cao lớn, khỏe mạnh, nước da bánh ít, gương mặt vuông, đôi mắt nhìn thẳng thắn, chân tay to bè bè và sần sùi. Đó là viên Quản cơ Nguyễn Văn Lịch1*, xuất thân dân chài, sau nhập ngũ, làm tùy tướng của Trương Định. Quản Lịch rất giỏi võ, lúc Lang-Sa mới sang, tại làng Bình Trinh huyện Thủ Thừa tỉnh Tân An có nhiều kẻ bất lương nổi lên làm trộm cướp. Nhưng khi ông tới, bọn chúng đều tan hết, dân làng liền cử ông làm chức Hương quản. Khi Trương Định lập đồn điền, ông cũng mộ dân phu tới góp sức khai khẩn và khi Định dấy nghĩa quân, ông cũng theo luôn. Ông có oai nên quân sĩ đều mến phục.

Người thứ ba thấp nhỏ, mắt lé, cằm nhọn nhưng trán dô chứng tỏ là một tay gan góc, táo tợn. Đó là viên Đội Huỳnh Tấn, người làng Phước Hậu, Chợ Lớn, cũng theo Trương Định làm lính đồn điền từ ban đầu nên được Định tin cậy.

Ba người cứ lầm lũi đi, không ai nói với ai một lời. Con đường vắng ngắt, đầu năm mới mà không người qua lại. Hai bên những căn nhà bằng gỗ, lợp ngói bị giặc đốt nham nhở. Trước đây, những nhà này vào bậc phong lưu với bộ cột gỗ danh mộc: gõ, cẩm lai, cây núi, nóc lợp ngói, vách có phong tô hẳn hoi, khiến người ta qua lại cũng phải dừng chân hít hà: “Hứ! Nhà gì cột bóng ngó thấy mặt, vách rờ mát tay!”. Vậy mà giờ đây chỉ thấy cột kèo đồ lỏng chỏng trên một đóng tro than bừa bãi.

Khỏi cầu Ông Lãnh bắc bằng cây danh mộc, ba người qua Cầu Muối. Chỗ này trước đây tấp nập những “ghe cửa”chở muối cập bến, kề sát những kho hàng lá dùng chứa muối. Bây giờ chỉ còn trơ trọi mấy dãy nhà xơ xác, mặc cho mưa sa nắng táp. Chỗ rạp hát bội xưa kia trống phách om xòm, giờ cũng im lìm nép bên ngôi đình rêu mốc.

Khỏi Cầu Muối đến Cầu Kho, mấy dãy nhà kho Cầm thảo của nhà vua xây để tích trữ lúa gạo của vùng lục tỉnh tải lên nộp cống, giờ đây cũng vách lỏ tường long. Trên một cổng gạch, có đắp ba chữ Hán “Tân Triêm Phường”. Đây là chỗ ở của ông Tú tài Nguyễn Đình Chiểu. Mấy tháng trước, Trương Định đã nhận lời ủy thác của ông Đỗ Trình Thoại, Tri phủ Tân Hòa, bạn đồng khoa của ông Tú, tới đưa ông Tú tạm lánh về Cần Giuộc vì ông nhất định không chịu rời khỏi vùng khói lửa. Bữa đó, Trương Định phải khẩn khoản nói, nếu ông Tú không chịu đi thì mình có lỗi với ông Huyện Thoại. Cuối cùng vì quá nể lời nên ông mới chịu để cho binh lính của Trương Định hộ tống ông về Cần Giuộc.

Đi qua chỗ ở của ông Tú, Trương Định nhớ lại bài thơ “Chạy giặc” ông đọc cho nghe hôm mới gặp:

Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây

Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng

Nỡ để dân đen mắc nạn này?

Hai câu cuối như mũi dùi nhọn nung đỏ xoáy sâu vào lòng Trương Định.

Quản Lịch bỗng đi gấp mấy bước cho kịp Trương Định, níu cánh tay Định:

- Bác Lãnh nè, tôi nghe nói chợ Tân Kiểng trước đây có nhà sư đánh cọp, có đúng vậy không?

Trương Định gật đầu:

- Phải. Nghe các cụ kể lại đầu năm Canh Dần2*đời chúa Định Vương, khi mọi người đang ngủ yên, có con cọp dữ vào nhà dân ở phía Nam chợ quấy phá. Dân chúng sợ hãi báo với Đồn dinh cho lính vây bắt. Phải dở nhà cửa làm nhiều lớp rào bao vây, nhưng con cọp rất hung tợn không ai dám động tới. Sang ngày thứ ba, có một vị thầy chùa tên là Hồng Ân cùng đồ đệ là Trí Năng đi quyên giáo qua, xin vào bắt giùm. Hồng Ân giao đấu với cọp một chặp lâu, cọp bị đánh đau, chạy núp trong lùm tre. Hồng Ân rượt theo, cọp bị khốn quay lại đấu với Ân. Ân bước lúi té xuống mương bị cọp vồ xé, nhờ có Trí Năng tiếp tay đánh trúng đầu cọp chết liền, nhưng Hồng Ân cũng từ trần vì vết thương quá nặng. Người quanh chợ cho là Ân có nghĩa khí đem chôn cất ngay tại đó. Chỗ có cái tháp kia kìa là mộ Hồng Ân đấy.

Quản Lịch nhìn theo tay Định chỉ, thấy một ngôi tháp vôi trắng mốc rêu vươn lên trời. Ông nói với Định:

- Cọp dữ không bằng giặc Lang–Sa bây giờ. Bác Lãnh giết được thằng tướng giặc Bác – bê cũng coi là trừ được một con cọp cứu nguy cho dân lành đó.

Đội Tấn muốn lấy lòng người trên, cũng vồn vã:

- Câu chuyện giết thằng Bác–bê ra sao, quan Phó lãnh binh kể cho bọn tôi nghe nhờ chút.

Trương Định khiêm tốn gạt đi nhưng Tấn cứ nài mãi nên ông đành kể lại đầu đuôi. Số là ở Gia Định có một phụ nữ thuộc dòng quyền quý tên là Thị Ba, bị cha mẹ ép duyên với viên lãnh binh Nguyễn Văn Sất. Khi giặc chiếm đóng Gia Định, Thị Ba phải lánh vòng khói lửa về ở làng Bình Lý. Ở đó, giữa cảnh đồng ruộng bao la, Thị Ba gặp một người bạn quen từ nhỏ hiện là Quản cơ, tên là Nguyễn Văn Tri. Giữa Tri và Ba nối lại mối tình đậm đà. Trong khi đó viên phụ tá của Quản Tri là Đội Dinh cũng rung động trước sắc đẹp của Thị Ba, nhưng bị Thị Ba khinh rẻ. Đội Dinh lấy làm hổ thẹn và tức tối, hắn bèn lập mưu gài bẫy Quản Tri và Thị Ba, khiến cả hai đều bị Lãnh binh Sất bắt trói và thả trôi sông.

Lúc này, tên quan ba Lang-Sa Bác-bê đang đóng tại chùa Khải Tường. Một bữa đang đi săn. Bác-bê thấy ở giữa sông Sài Gòn có chiếc thuyền trôi bềnh bồng, trên thuyền có hình người. Vì tò mò, Bác-bê kéo chiếc thuyền vô bờ thấy một người đàn ông và một người đàn bà bị cột lại với nhau. người đàn ông đã chết, còn người đàn bà thì hấp hối. Bác-bê bèn lấy dao cắt dây trói rồi cho khiêng người đàn bà về đồn. Người đàn bà khá xinh khiến Bác-bê ưa thích ngay từ lúc đầu, nhưng về đồn bị đau luôn trong hai tháng, may nhờ có thầy thuốc và Bác-bê chăm sóc, nên lần lần phục sức. Sau ba tháng tĩnh dưỡng tại đồn, người đàn bà xin phép viên quan đi thăm bà con, còn thề thốt sẽ trở lại.

Một đêm kia, có một người Việt tới kiếm Bác-bê và cho hay người bạn lòng của y là Thị Ba đau nặng sắp chết tại một ngôi chùa cách đồn của y hai tầm súng. Lập tức y lên ngựa ra đi. Khi đến một khúc quẹo cách chùa Khải Tường ba mươi thước thì quân mai phục của ta xông ra dùng giáo đâm y lộn nhào từ trên mình ngựa xuống chết.

Nghe xong, Quản Lịch hỏi gặng thêm:

- Sau bác Lãnh lại rõ chuyện Thị Ba mà dùng kế mai phục giết Bác-bê hay quá vậy?

- Có gì đâu. Ta bắt gặp Lãnh binh Sất đón đường trước chùa Khải Tường bắt Thị Ba, ta liền trói cả hai giam vào một nơi chờ nộp lên quan Tổng trị tội vì chuyện ghen tuông mà để hại việc nước. Rồi tương kế tựu kế, cho người tới báo với Bác-bê là Thị Ba đau nặng…

Đội Tấn reo lên;

- Quả là mưu Gia Cát! Một Bác- bê chớ mười Bác-bê cũng phải nộp mạng trước quan Phó Lãnh binh.

Miệng nói vậy nhưng bụng Tấn lại nghĩ khác. Từ lâu Tấn đã ngấm ngầm bất mãn vì Định đặt Lịch ở trên mình. Lại thêm từ ngày Lang- Sa chiếm thành tới nay quân triều thiếu lương thực tiếp tế, ăn uống kham khổ, lúc nào cũng gần kề nguy hiểm trước một bọn giặc súng ống tinh xảo hơn, Tấn đã ngã lòng cho rằng bên quân triều khó mà chống cự nổi. Mới đây tên cai mã tà Trần Bá Lộc ở bên đồn Lang-Sa đã cho người bí mật liên lạc với Tấn, rủ Tấn sang đầu Lang-Sa sẽ được trọng dụng. Nhưng Tấn thầm nghĩ bỏ chạy theo Lang-Sa lúc này chưa phải lúc. Ở đời nên giữ cái mẹo khôn: “Ăn cơm đi trước, lội nước đi sau” chờ tới lúc tình thế ngã ngũ hẳn sẽ hay. Vả lại muốn theo Lang-Sa thì thiếu chi cơ hội, mình cứ nằm trong hàng ngũ quân triều, kiếm cách leo cao bám sâu, có khi lại giúp được người Lang-Sa đắc lực hơn cũng chưa biết chừng.

Bỗng Tấn giật thót người vì một tiếng thét của Quản Lịch:

- Phải chém! Chém!

Tưởng Lịch đọc được những ý nghĩ thầm kín của mình, Tấn đã toát mồ hôi, nhưng định thần lại thì nghe thấy Lịch nói:

- Những tên Lãnh Sất, Quản Tri, Đội Dinh mang danh là quân nghĩa mà vì chuyện riêng tư tàn hại lẫn nhau thiệt là đáng giận! Đúng là con sâu bỏ rầu nồi canh!

Trương Địnhthong thả:

- Chú Quản nên nhớ rằng những người đó dầu sao cũng là quan quân trong cơ ngũ của triều đình, khi bình thời cái thói gian dâm bức hiếp dân lành đã quen mất nết đi rồi. Bây giờ bất đắc dĩ phải dùng họ đánh giặc ngoại xâm, những thói hư tật xấu của quan quyền trước đây đâu dễ gì đã gột bỏ được một lúc. Chỉ trừ phi bọn ta mộ một đội quân riêng gồm toàn những người ứng nghĩa, lúc đó mới nói chuyện được, còn cứ để lẫn lộn như hiện nay, có khi bọn gian tế của giặc trà trộn trong hàng ngũ ta cũng nên…

Tấn lại giật thót mình một lần nữa. May cho y lúc này Định mãi nhìn về phía khác nên không thấy mặt y đang tái dần.

Từ đằng xa thấy Trần Nhượng hộc tốc chạy lại thở hổn hển:

- Trời ơi! ông Phó lãnh binh, ông để tôi đi kiếm ông thiếu điều hụt hơi. Quan tổng có lệnh vời ông tới bản doanh có việc gấp.

Trương Định gật đầu với Nhượng rồi quay lại Lịch và Tấn:

- Các ngươi hãy về canh phòng đồn trại, ta phải vào hầu quan Tổng, coi người truyền dạy ra sao.

*

- Năm mới tiểu tướng xin kính chúc tướng công trường thọ, phước lộc song toàn, mã đáo thành công, kỳ khai đắc thắng3*

Nhìn viên tướng uy nghi trong chiếc áo dài màu lam, thắt lưng điều bỏ giọt, quấn khăn nhiễu tam giang, quần trắng nhét trong đôi ủng đen mũi cong, Nguyễn Tri Phương niềm nở tiếp lời:

- Không dám. Năm mới ta cũng chúc ông Phó lãnh binh giết được nhiều giặc, lập được nhiều công. Có tin gì mới không?

Lần nào gặp Trương Định, Nguyễn Tri Phương cũng bắt đầu bằng câu hỏi này. Đó là vì ông tin tưởng Định là người có trí, sáng suốt và rất thiết thực. Không những thế, Định còn rất dũng cảm, lần nào cũng đi tiên phong đánh giặc. Trong trận đánh đồn Kiểng Phước, nghĩa binh của Định đã giết được hàng trăm tên giặc, đồng thời ngăn chặn chúng phải ở nguyên trong phòng tuyến của chúng không ra đóng được ở mé Chí Hòa. Chiến công ấy cùng với việc giết chết tên Bác-bê vừa rồi, được Nguyễn Tri Phương hết sức khen ngợi, ông đã nhìn thấy trước ở Định tầm cỡ của một vị tướng thao lược, trí dũng kiêm toàn.

Sau khi nghe câu hỏi của quan Thống đốc quân vụ, Trương Định nhỏ giọng nói:

- Tôi mới được tin mật báo, cuộc giao tranh ở bên Tàu sắp chấm dứt nên quân Lang –Sa có thể về tiếp viện cho bọn quân ở Gia Định. Tình hình này ta phải xuất quân đánh đồn Cây Mai trước, cố tiêu hao bằng được một số lớn binh lực, cho chúng núng thế. Nếu để chậm, viện binh của giặc tới kịp, e rằng càng khó xoay sở. Chẳng hay ý tướng công ra sao?

Nguyễn Tri Phương trầm ngâm một hồi:

- Ta đã xin chúa thượng cho đánh từ khi giặc Phú mới rút bớt quân sang đánh nhau với Thanh triều, nhưng Ngài Ngự không quyết. Lần lữa đến nay, viện binh của chúng lại sắp kéo tới, chúng được tin tất cố sống cố chết chống giữ, việc quét sạch đồn giặc không phải dễ dàng. Không những thế, nếu đánh dốc toàn lực, e rằng Thánh thượng lại trách là cứng quá, làm lỡ mất cơ hội giảng hòa. Biết tính làm sao bây giờ?

Trương Định khoan thai nói:

- Tôi thường nghe nói: “Tướng ở ngoài có khi không phải tuân theo mệnh vua”. Hiện nay lòng dân đều hăm hở quyết đánh, cứ trù trừ chừng nào, chỉ càng thêm nhụt nhuệ khí chừng ấy…

Lòng dân… Thì mấy năm nay, Nguyễn Tri Phương đã được hiểu thêm nhiều. Mới ngày nào, khi nhìn những người dân thường hồn nhiên, vô tư, khi đứng coi đua ghe ngo, trên đường nước chùa Cây Mai, ông đã lo lắng: nếu giặc đến thì quân lính của ông làm thế nào mà bảo vệ được họ. Nhưng vượt trên cả sự lo lắng của ông, khi chiến thuyền nhỏ của giặc vào con rạch từ xóm Chiếu đi xóm Củi, nhổ cọc phá cảng, đem quân vào chiếm đóng chùa Cây Mai, chùa Khải Tường, đền Hiển Trung và chùa Chợ Rẫy thì chính những người dân thường kia đã xông ra chặn giặc từ bước đầu. Thành Gia Định thất thủ, quân triều đình bỏ chạy thì những đội hương dũng đã tự động đứng lên đánh giặc. Ngay từ khi thành chưa thất thủ, thì Trần Thiện Chánh, một cựu tri huyện đã bị triều đình cách chức, và Lê Huy, một quân nhân đã bị thải hồi, cấp tốc chiêu mộ được năm nghìn dân dũng, vận động dân chúng góp tiền góp lương, nổi lên ngăn địch, giúp cho Hộ đốc Trần Trí yên toan chạy về ụ Tây Thái, sau khi giặc bắn phá đồn lũy ở Gành Rái mà viện binh của Nguyễn Tri Phương chưa vào kịp. Giữa lúc ở Huế, quan Khâm thiên giám còn xem lịch chọn ngày làm lễ “Khởi mã” để vua Tự Đức đẩy xe tượng trưng cho đại tướng xuất quân, thì những đội nghĩa binh với dao phay, gậy tầm vông đã giết được bao nhiêu tên giặc cướp nước.

Không nói đâu xa, mới cách đây sáu tháng, hai ngàn dân dũng do Đinh Bình Tâm chỉ huy, đêm mồng ba rạng mồng bốn tháng bảy, đánh vào Chợ Rẫy, chùa này là yếu điểm trên phòng tuyến của địch từ chùa Cây Mai về Trường Thi, cũng là nơi mà, nếu bị vỡ, địch phải rút hết các căn cứ của nó ở Chợ Lớn. Thắng giặc rồi Đinh Bình Tâm đem một bộ phận lớn nghĩa dũng đến xin sáp nhập vào quân đội của ông. Chính những người này đã đánh tàu Primôghê của địch đậu trên sông Đồng Nai tháng trước.

Biết như vậy nhưng ông cứ hỏi lại cho thêm chắc chắn:

- Tình hình sĩ phu và bách tính hiện nay thế nào?

- Ngoài các thủ lĩnh nghĩa binh như Hồ Huân Nghiệp, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dõng, những văn thân như Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa, Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu đều đứng về phía kháng chiến. Còn Tôn Thọ Tường thì nghe đâu thường thậm thụt đi lại trong đồn Phú.

Chuyện Tôn Thọ Tường thì Nguyễn Tri Phương cũng đã biết. Vì Tường thường đi lại với giặc, bị mọi người khinh bỉ, nên y phải tìm cách che đậy, bào chữa cho hành động của mình. Nhân ra vào đồn Cây Mai, y nẩy ra ý làm thơ vịnh cây mai ở đó, để biện bạch cho tấm lòng “trong sạch” của mình, không ngờ gặp cảnh ngộ “cheo leo”:

Đau đớn cho mai cách dưới đèo,

Mười phần trong sạch phận cheo leo.

Sương in tuyết đóng nhành thưa thớt

Xuân đến thu về sãi quạnh hiu.

Lặng lẽ chuông quen con bóng xế,

Tò le kèn lạ mặt trời chiều,

Những tay rượu thánh thi thần cũ,

Trông cảnh bao nhiêu tiếc bấy nhiêu.

Nguyễn Tri Phương thầm nghĩ, nếu mai biết nói hẳn phải nguyền rủa cái tên trơ trẽn, mượn mai để che đậy cái tâm địa phản phúc của y. Lời lẽ mới thơn thớt giả dối làm sao! Những kẻ tự nhận là yêu hoa ấy thực ra là những kẻ phản bội lại sự trong trắng của hoa, đâu bằng những người dân thường kia yêu hoa một cách chất phác, bằng việc đem máu giữ từng tấc đất, dành chỗ cho hoa đua nở dưới không khí trong lành của một đất nước tự chủ, thanh bình.

Câu đồng dao mà ông thường được nghe: “Trời xanh bông cứng lá dai. Gió day mặc gió, chiều ai không chiều” phải chăng vừa nói được cây mai, vừa nói được tấm lòng của những người dân Nam kỳ quyết tâm chống giặc.

Nhìn về phía xa, cửa thành Sài Gòn với tòa Vọng lâu đồ sộ bị giặc bắn sập nằm trước, không còn kiêu hãnh nổi bật lên nền trời nữa. Phía trước mặt là Đồng Tập Trận và Mô súng, nằm im lìm như bãi tha ma. Những năm trước, cũng vào ngày này, Nguyễn Tri Phương đã cho phát ba tiếng súng, tiền hô hậu ủng, quân gia rầm rộ kéo ra ngả Phan Yên môn, từ đó xuống ngả Chợ Vải để trở lại đường Cửa Hữu và trực chỉ lên Đồng Tập Trận, ở đó, ông duyệt hết các cơ binh đóng trong lục tỉnh. Năm nay, vì giặc đóng ngay cạnh nách nên lễ “xuất binh” đành bãi bỏ. Lòng Nguyễn Tri Phương bỗng sôi lên một niềm phẫn nộ. Ông hỏi giật giọng:

- Ông phó lãnh binh có kế sách nào không, nói ngay cho ta rõ.

Trương Định ngẫm nghĩ, rồi nói:

- Hôm nay đang là mồng một Tết, giặc Lang-Sa tất cho là quân ta mải ăn Tết, chắc không có lòng nào đến đánh đồn trại của chúng. Chi bằng ta làm kế nghi binh, cứ cho quân sĩ vui chơi ăn uống, ngày bày trò đánh vật, tối bày cuộc hát bội, trống phách tưng bừng. Thừa lúc ấy, ta cho một toán quân cảm tử tiến sát đồn Cây Mai, ủng hộ cho các toán quân khác đào hầm và dựng đồn lũy sát gần phòng tuyến của chúng. Vòng vây đồn Cây Mai được khép chặt, vừa bóp nghẹt quân giặc, vừa cắt liên lạc với bên ngoài, không những tiêu hao được sức giặc mà còn tránh được phần nào đại bác của chúng bắn ra. Từ đấy, ta tăng cường thêm các đội du kích và thám sát ở các đồn lũy gần sát trại giặc, cứ đêm đến thì tiến đánh các điểm yếu của địch, đánh phá tàu thuyền, đốt các nhà ở gần đồn. Làm như vậy có thể làm cho sức giặc hao mòn, lương thực thiếu hụt, tinh thần rúng động, bức chúng phải đầu hàng trước khi viện binh kéo tới.

Nguyễn Tri Phương ngạc nhiên trước chiến thuật cơ động của Trương Định. Phải chăng cách bài binh bố trận của ông đã lỗi thời rồi.

Bỗng nhiên, ông thấy mình già đi một cách ghê gớm. Lưng còng xuống hình như không mang nổi gánh nặng.

Nhưng nhìn viên tướng trẻ, có nét mặt khôi ngô, cương nghị, có đôi mắt đầy tự tin, ông phần nào yên tâm. Như vậy, dầu ông có chết, cũng đã có người nối tiếp sứ mạng của mình. Lúc lật đật nắm lấy cánh tay người trẻ tuổi, ông thấy tay mình run run vì xúc động. Hai dòng máu trẻ già như hòa chung, chảy rần rật trong cơ thể. Ông có niềm vui của gốc mai già vừa nảy được một cành non.

Chị hai Thưởng đang khoanh tay nướng bánh phồng trên chiếc hỏa lò than đượm lửa. Tay chị thoăn thoắt như múa trên hỏa lò. Cái nghề nướng bánh mà không lật qua lật lại thì cái bánh bị lửa táp cháy đi mất. Chẳng thế mà có câu “tráo trở như nướng bánh phồng”

Thằng Huệ đang đốt pháo ở trước cửa, chạy vào bếp níu áo mẹ:

- Bánh phồng chín chưa má?

- Sắp chín rồi, con cứ ra ngoải chơi đi, lát nữa tía về cả nhà cùng ăn một thể mới vui chớ!

Thằng Huệ mới bảy tuổi mà rất ngoan ngoãn, dầu nó thèm ăn bánh phồng đến chết được, vậy mà nhắc đến chuyện đợi tía nó về cùng ăn, là nó thôi liền, không đòi nữa. Cái tên Huệ của nó cũng là do kỷ niệm mối tình của tía má nó mà có. Số là Trương Định có lần về Tân Hòa, Tân An chơi. Cậu ấm con quan Vệ úy Gia Định không những đã phải ngạc nhiên về cảnh đất đai ở vùng này rộng mênh mông mà còn bỏ hoang, còn ngạc nhiên hơn khi gặp một cô gái quê mùa rất xinh đẹp, nết na, ở tỉnh thành cũng không dễ mấy ai bì kịp. Sau khi trò chuyện một hồi, cảm vì sắc đẹp, vì sự thùy mị của cô, Trương Định về nói với cha xin cha cho mối lái đến hỏi cô về làm vợ. Cụ Vệ úy gạt đi, cho là không được môn đăng hộ đối. Thế là Trương Định bỏ dinh, về Tân Hòa cùng cô gái dựng một ngôi nhà gỗ, vợ chồng chung sống với nhau. Từ đấy, Trương Định bắt đầu cùng vợ khai khẩn đất hoang ở vùng này. Bàn tay búp măng xinh xắn của cô Hai Thưởng- tên cô gái- đã in những vết chai sạn khi cầm xuổng, cầm leng. Nhưng cô không bao giờ kêu ca nửa lời. Chỉ nửa năm sau, vợ chồng đã vỡ hoang được năm công đất, cứ kể ra hai vợ chồng trẻ từng ấy ruộng đất là đủ làm ăn sinh sống rồi. nhưng Trương Định chưa vừa lòng, ông muốn dân khắp vùng đều được no đủ như gia đình ông. Ông liền đi vận động dân chúng chung quanh đến cùng ông mở rộng đồn điền. Khi đồn điền đã mở rộng thênh thang, thẳng cánh cò bay thì lại gặp một khó khăn là thiếu giống. Ông liền về quê ở Quảng Ngãi lấy giống lúa mang vào. Ở Quảng Ngãi có bốn vụ cấy và gieo, tháng ba với ba loại giống: ba trăng, lúa trắng, lúa chiêm ngự, tháng tám, lúa tàu núc, tháng mười giống bông rinh và tháng chạp giống trì trì, trong đó bông rinh và trì trì là lúa gieo.

Lúc Trương Định mang giống lúa vào, một số bà con cho là trong này vốn có tập quán trồng lúa nước, e rằng giống lúa mang từ miền Trung vào không phù hợp với thổ ngơi ở đây, nên không ai chịu. Trương Định liền tự gieo ở ruộng riêng của mình. Chị Hai Thưởng lúc đó đang có bầu cũng vẫn ráng giúp chồng chăm bón cho lúa. Quả nhiên, giống lúa Quảng Ngãi bén duyên đất Tân An, mùa sau cho một vụ thu hoạch tăng gấp bội. Vừa lúc đó, chị Hai Thưởng cũng mãn nguyệt khai hoa, sinh một trai, Trương Định vui mừng vì mùa màng bội thu, liền đặt tên cho con trai là Huệ, nghĩa là bông lúa để kỷ niệm.

Bỗng thằng Huệ reo to từ ngoài ngõ:

- A! tía đã về! Tía về rồi đây nè, má ơi!

Thiệt là cực cho thằng nhỏ, đã hơn một năm nay, Trương Định mắc việc chống giặc ở Gia Định không có thì giờ về Tân An thăm vợ con. Tết này, Trương Định cũng báo tin cho vợ biết là không về đuợc. Thế là chị Hai Thưởng dẫn thằng Huệ lên tận trại quân để ăn Tết với chồng. Bắt đầu đặt chân tới Gia Định từ chiều ba mươi Tết, vậy mà hai mẹ con cũng chỉ được hàn huyên với Định từ chập tối đến giao thừa, còn từ giao thừa đến tận chiều mồng một, Trương Định cứ đi miết, tới giờ mới thấy ló mặt trở về. Thằng Huệ đã sắp sẵn bao nhiêu chuyện để nói với tía nó, nào chuyện con vịt béo mà má nó mang lên ăn Tết là do chính nó cho ăn nên mới béo được như vậy, nào chuyện con dế lửa của nó đã đá thắng con dế mọi của thằng Biên; nào chuyện con mèo hư quá đã ăn thịt mấy con chim gáy mà tía nó gởi chú Quản Lịch cũng quê ở Tân An, về thăm nhà ghé đưa cho nó. Nào chuyện ngoại nó rầy tía nó cứ đi hoài không săn sóc gì tới má con nó, và nói rằng ông sẽ lên kiện tận ông quan to nhất về tội tía nó không léo hánh về nhà, nó thấy cần phải báo trước cho tía nó biết mà trốn kỹ đi kẻo ngoại nó bắt về mất. Nó cũng biết là có chuyện lớn bằng trời tía nó mới phải bỏ má nó mà đi, nên nó không giận tía mà lại trách ngoại nó sao lại rầy tía nó như vậy. Nó tự cho nó và tía nó về cùng một phe, chống lại ngoại nó. Chỉ còn má nó không biết thế nào, liệu có đứng về phe nó với tía nó không?

Bao nhiêu chuyện quan trọng cần nói mà chưa nói được, tức ghê đi. Bây giờ tía nó về, hỏi nó không mừng sao đặng. Nó kéo tay tía nó vào tận trong bếp để trao trả vào tận tay má nó, đó cũng là một chiến công của nó trong ngày hôm nay.

Nhưng nó bỗng xịu mặt khi thấy tía nó nói:

- Tôi chỉ quẹo qua nhà chút xíu báo cho má con hay cứ ăn cơm trước đi, khỏi chờ tôi.

Chị hai Thưởng ngẩn người, chiếc đũa lật bánh rớt xuống mặt than, chị cũng không biết. Mãi khi thấy mùi khét, chị giật mình nhìn lại thì lửa đã bén vào chiếc đũa cháy thành ngọn lửa khiến lửa táp vào mặt bánh cháy đen một góc. Chị đâm ra cáu gắt với con:

- Chỉ tại cái thằng nhỏ kia ham ăn quá, bắt phải nướng bánh phồng trước cho nó, nếu không, em nấu xong món vịt tần cho anh ăn trước khi đi rồi.

Thằng nhỏ bị rầy, mặt càng chảy dài ra, nước mắt vòng quanh, Định vội bồng con nựng nó:

- Đừng rầy con nữa, cứ cho nó ăn bánh đi. Tía đi tới khuya tía về, con ở nhà ráng ngoan ngoãn đừng làm phiền má nghen.

Chị Hai Thưởng vào tận trong nhà ôm một cái thúng ra. Chị lật vỉ đậy thúng, lộ ra một con vịt béo núc ních. Chị đã chuẩn bị con vịt từ mấy tháng ròng, hằng ngày cho nó ăn lúa bắp đầy đủ cho nó béo căng, để chờ đến Tết sẽ luộc cho chồng con ăn. Con vịt xứ ruộng ăn ròng bông lúa, ăn lúa mới chín đòng đòng, ăn tôm tép và ăn cá ròng ròng nên béo mập, khi luộc lên cứ là mỡ tươm ra cả ngoài da, cắn một miếng thịt vịt luộcTân An thì lên Sài Gòn vẫn thèm và nhớ đến suốt đời. Ngoài con vịt, chị hai còn chuẩn bị mấy nồi thịt kho và các món dưa góp, nào dưa giá, dưa cải, dưa bông điên điển, dưa cọng môn. Lên tới Sài Gòn chị hai đi lùng mua khô nai Bình Dương cho chồng nhậu. Bên cạnh mấy chồng bánh tét nhưn dừa, giữa ruột chém một cục mỡ béo lền, chị còn trổ tài nữ công nướng thêm mớ bánh phồng, thứ bánh này ăn dính đóc giọng, khô họng và líu lưỡi. Vậy mà bao nhiêu công phu sửa soạn của chị, từ mấy tháng nay đến giờ bỗng hóa thành công dã tràng. Vừa về tới nhà ngồi chưa nóng chỗ, anh lại đòi đi rồi. nhìn nét mặt anh đầy vẻ nghiêm trọng, chị đã hiểu chuyến đi này vô cùng nguy hiểm. Nhưng sống với chồng bảy, tám năm nay, chị đã hiểu tính nết chồng. Chị chỉ còn biết nói một câu:

- Vâng, anh đi nhưng anh nhớ về sơm sớm chút kẻo món vịt luộc nguội hết, ăn mất ngon anh à…

Chân chị bước đi loạng choạng vấp vào cái thúng, con vịt bị động bỗng kêu mấy tiếng cạc cạc rồi im bặt.

Từ ngoài cửa đưa vào mùi khói pháo thơm thơm.

Nhận lịnh xong, Trương Định về đồn Trung chọn một số người cảm tử theo mình mở đường trước tới đồn Cây Mai của giặc.

Gần tới đồn địch, Trương Định ngạc nhiên trước cảnh biến đổi của khu này. Khúc sông bị lấp, nay giặc đã cho đào lại, từ cầu Nhiêu Lộc tới đồn Cây Mai, nối liền hai thôn Bình Tiên và Bình Tây, thông thẳng với sông Ruột Ngựa. Mặt lộ thì chỗ đường sá khuất khúc, chúng bắt dân phu nắn lại cho thẳng và rộng để cho xe ngựa dễ đi. Về việc sửa đường khơi sông, đoạn nào gặp phải dân cư, mồ mả, chùa chiền, chúng đều phá sạch. Một pho tượng Phật với nụ cười vô tư bị chặt cụt tay vứt bên đường.

Dưới kinh Tàu Hủ, chiếc khinh pháo hạm Giắc-ca-rô án ngữ, bên cạnh xúm xít mấy chiếc tàu nhiều dây neo và tàu máy bọc sắt nhỏ. Về phía ngã tư sông Rạch Cát cũng có một chiếc tàu máy lớn đậu để bảo vệ đồn Cây Mai.

Dọc hai bờ kinh Tàu Hủ là các cửa tiệm Hoa kiều buôn bán lúa gạo, với dãy chành dựng san sát. Từ điểm xóm Lá đến cầu Kinh có những ngôi nhà lụp xụp trong có gái điếm và giáo dân ở lẫn lộn.

Bỗng Trương Định nhìn lẹ thấy từ xa có hai bóng người, ông vội truyền cho mấy dũng sĩ nấp vào vệ đường theo dõi. Bóng người tới gần, té ra là một tên lính Ma-ní4*và một tên Mã- tà5*. Tên mã- tà cầm trong tay một cành mai lớn, trĩu hoa. Định bấm mấy người nhất tề xông ra ôm hai tên lính vật chúng té nhào. Định quát hỏi:

- Tụi bây đi đâu?

Tên mã- tà run sợ lắp bắp:

- Dạ…Dạ…tụi tôi…

Trương Định thét:

- Nói đi!

Tên mã-tà ấp úng:

- Dạ, tụi tôi được lệnh quan Tây mang cành mai vô Chợ Lớn chúc Tết ông chủ Sầm Tống Hếnh…

- Chúc tết để làm gì?

- Dạ …dạ…để cậy ông đứng ra mua giùm lúa gạo của “các chú” cho quan Tây ạ.

- Bay biết điều phải khai cho rõ địa thế đồn Cây Mai, nếu không thì mất đầu nghen!

Tên mã-tà sợ hãi vội khai hết đường lối vô đồn, chỗ nào đặt vọng gác, chỗ nào có súng ống gì, Định nhất nhất ghi nhớ.

Nhìn cành mai rớt xuống đất, cánh hoa trắng muốt bị lấm bụi, Định thấy xót xa. Hoa trên đất mình mà mình không được thưởng thức, lại bị giặc biến thành một món hàng đổi chác lấy lương thực cho chúng ăn để đánh lại dân mình…

*

Đêm ấy, Nguyễn Tri Phương dẫn ba ngàn dũng sĩ tới đánh đồn Cây Mai. Trước đó, bọn giặc trong đồn vẫn nghe tiếng trống hát bội từ phía đồn quân Việt vẳng lại cho là quân Việt đang mải ăn Tết nên chúng không phòng bị gì, lao vào cuộc rượu chè, đỏ đen sát phạt nhau. Quân ta tới đồn mà bọn chúng vẫn không hay. Tới nơi, Nguyễn Tri Phương hạ lệnh nổ súng. Những khẩu thần công, khóa sơn, đoản mã, khai pháo tới tấp bắn vào đồn giặc. Giặc luống cuống trở tay không kịp, nhiều tên gục ngã trước từng loạt súng của ta. Lợi dụng lúc đó, toán quân đào hầm đã tranh thủ thời gian đào gấp, ép sát phòng tuyến của giặc. Đào hầm tới đâu dựng tạm đồn tới đó. Lúc này hào lũy của ta đã nhích gần tiền đồn của giặc khoảng trăm trượng.

Quân ta sắp phá được cửa đồn, thì trái phá của tàu giặc trên kinh Tàu Hủ và sông Rạch Cát bắn ra như mưa. Một số người bị thương té nhào nhưng Nguyễn Tri Phương vẫn cứ tiến quân. Tiếng súng từ trên tàu liên tiếp nổ vang, miệng các khẩu đại bác phụ thêm, tiếp tục khạc lửa làm sáng cả một góc trời đêm. Nguyễn Tri Phương vẫn bình tĩnh xông xáo giữa trận địa. Cái chết của ông trong lúc này chỉ còn đếm từng ly, từng phút. Nhưng nếu ông lùi một bước ắt quân sĩ nao núng liền. Dầu nguy hiểm, ông cũng phải giữ vững khí thế ba quân.

Bỗng một trái pháo nổ tung làm mấy chiến sĩ đang hăm hở xông tới gục xuống chết liền. Lại một trái nữa rơi trước mặt ông Nguyễn. Trần Nhượng vội nhoài người ra che đỡ cho chủ tướng nên trúng đạn vào lưng và bắp chân, máu chảy lênh láng không đứng lên được. Quân sĩ vội xô lại, vực Nhượng dậy, lấy thuốc dấu buộc vết thương. Trước tình thế ấy, Nguyễn Tri Phương đành hạ lệnh án binh để kiếm cách đối phó với hỏa lực của giặc.

Nhưng sau đó đạn không bắn về phía quân sĩ của Nguyễn Tri Phương mà sau đồn Cây Mai lại thấy nhiều tiếng nổ dữ dội, ánh lửa đạn chói lòa giữa đêm tăm tối. Thừa lúc ấy, Nguyễn Tri Phương vội thúc quân ào ào xông vào cửa đồn, các dũng sĩ vung gươm chém lũ giặc canh gác như chém chuối.

Từ phía sau đồn bỗng Trương Định xuất hiện, lưng buộc chặt một cành bạch mai. Thì ra, sau khi bắt được hai tên lính địch, tra hỏi biết ở phía sau đồn chỉ để một vọng gác nhỏ với mươi tay súng vì ở đó có một mô đất xây đá bao quanh, đủ che cho vọng gác, Định liền cử hai dũng sĩ canh giữ hai tên giặc, còn mình cùng sáu dũng sĩ khác kiếm đường lọt vào phía sau đồn. Chờ lúc đêm tối, quân Định đi sát tới sau đồn, nhìn vào phía trong thấy trên mô đất có đá bao quanh, một gốc mai cằn cỗi, lá xanh già nhưng nở hoa lấm tấm. Xót thương cây mai ủ rũ như một tù nhân bị giam trong ngục, Định đạp cửa hậu xông vào, cùng anh em nhất tề ôm chặt lấy mấy tên lính vật xuống bóp cổ chết không kịp ngáp. Rồi mỗi người chặt một cành bạch mai cột vào lưng.

Thấy tiếng trái phá nổ dữ dội ở mặt tiền, Định biết là quân của chủ tướng đang lâm nguy. Để chia lửa, Định giương súng hỏa mai bắn lên trời một phát. Thấy tiếng súng phía sau đồn, quân giặc hốt hoảng đổ cả về phía ấy, cùng lúc súng giặc trên tàu cũng nhằm phía ấy mà trút đạn. Kế nghi binh đã thành, Định cùng sáu anh em rút về phía trước đồn, mặc cho lũ giặc cứ nhằm bắn vu vơ phí đạn. Tới trước chủ tướng, Trương Định nghiêm trang:

- Bẩm tướng công, chúng tôi xin dâng tướng công bảy cành bạch mai để làm phần thưởng cho những người lập công lớn nhất.

Nguyễn Tri Phương sững sờ nhìn mấy người. Bảy dũng sĩ với bảy cành mai trên lưng trông như bảy cây mai của “Thất mai khu” chụm lại…Một hòn núi cao của phong trào chống giặc đã mọc lên.

Chú Thich

1* Sau đổi tên là Nguyễn Trung Trực.

2* Năm 1770.

3* Ngựa đến công thành, cờ mở thắng lợi.

4* Ma ní bởi chữ Ma-ni, thủ đô Phi Luật Tân. Đây chỉ bọn lính người Phi Luật Tân (khi đó là thuộc địa của Y Pha Nho tức Tây Ban Nha). Lúc đầu Pháp liên minh với Tây Ban Nha sang đánh ta, nên Tây Ban Nha đưa lính Phi Luật Tân sang đánh thuê.

5* Mã-tà bởi chữ Matamata tiếng Mã Lai có nghĩa là cảnh sát. Cuối thế kỷ 19 dân ta dùng chữ mã-tà để gọi bọn lính ngụy.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hoài Anh