Đuốc Lá Dừa

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương VII

❊ ❊ ❊

Ngôi nhà lá ba căn hai chái, nằm phía sau làng An Bình Đông, tổng Bảo An, phủ Hoàng Trị, tỉnh Bến Tre. Mặt tiền là con lộ dẫn thẳng tới chợ Ba Tri. Tú Chiểu dựng nha ở đây để tiện việc hốt thuốc cho những người dân đi chợ ghé qua.

Từ khi dời Cần Giuộc về Bến Tre, Tú Chiểu nhận thấy dân quê ở đây còn mê tín dị đoan. Mỗi khi bị nóng lạnh, nhức đầu, ói mửa, họ cho là bị thánh thần quở phạt, nếu ngày đó đi ngang qua miếu hoặc cây cổ thụ nào mà họ tỏ ra vô lễ. Nếu họ ngang qua bãi tha ma hay những nơi nổi tiếng nhiều cô hồn quỷ dữ thì họ bảo là ma quỷ bắt nạt. Họ rất tin nơi thầy bùa, thầy pháp, thầy bói. Nếu các thầy này nói họ bị thần thánh quở phạt, họ sẽ đến am miếu cầu xin thần thánh tha lỗi cho hết bệnh. Nếu ma quỷ giở trò bắt nạt, họ sẽ nhờ đến các thầy pháp, thầy bùa. Lợi dụng sự mê tín này, thầy pháp lập đàn trấn ếm ma quỷ và cho bệnh nhân uống tàn hương nước lã, thầy bùa thì cho họ uống bùa hoặc ngải. Vì quá mê tín dị đoan và tin nơi lời của người chữa bệnh, bệnh nhân cũng có khi khỏi. Rủi có chết họ lại cho là số trời bắt vậy nên đành cam chịu.

Ba Tri là đất giồng nên oi bức, mưa thì trễ, mùa nắng kéo dài nên thường hay phát sinh bệnh dịch tả. Trước ngày Tú Chiểu về Ba Tri mười ba năm, ở đây đã xảy ra một trận dịch tả lớn, vì thiếu thuốc thang lại ăn ở thiếu sạch sẽ nên đã có đến bốn phần mười dân số thiệt mạng. Ký ức của người dân ở đây vẫn chưa quên những cảnh tượng rùng rợn: suốt đêm những bó đuốc leo lắt đưa những xác người bó chiếu hở đầu, hở chân đi chôn kìn kìn, những ngôi nhà hoang vắng vô chủ, cỏ mọc lan tới giữa nhà. Ruồi nhặng bu đen đặc khắp nơi, mùi vôi bột nồng hắc vẫn không xua bạt được được mùi tanh thối của xác chết. Đâu đâu cũng vang lên những tiếng la thét của những thầy pháp trổ tài trị ma tróc quỷ, những đạo bùa ngoằn ngoèo dấu son đỏ ối dán la liệt khắp nơi…

Trước cảnh dân nghèo chết oan, Tú chiểu rất đau lòng, nên khi về tới đây, việc đầu tiên của ông là chữa bệnh cho dân nghèo không lấy tiền. Nghe có người bệnh là ông lần mò tới tận nhà thăm và tình nguyện chữa dùm. Vậy mà cũng có người không tin thuốc của ông, họ miễn cưỡng nhận thang thuốc ông hốt cho, sắc xong rồi lén đổ đi, họ quen uống tàn hương nước lã rồi. Nhưng cũng có người cứ liều uống xem sao, cuối cùng khỏi bệnh, từ đó một đồn mười, mười đồn trăm ông thầy Ba Tri mát tay có tài chữa mọi bệnh. Vì vậy, bọn thầy pháp thầy bùa hết sức tức tối gièm pha ông, cho là ông cướp mất mối làm ăn của chúng. Chúng phao tin là sẽ bỏ bùa, bỏ ngải cho ông bị ma quỷ vật chết. Nghe thấy chuyện đó, ông chỉ cười. Những anh chàng kiểu đạo sĩ Trà Hương thôn trong Lục Vân Tiên này, ở đâu mà chẳng có. Ông vẫn tiếp tục chữa bệnh cho dân làng như cũ. Người nghèo, ông cho thuốc không lấy tiền. Người khá giả, ông chỉ lấy đủ tiền thuốc và tiền công cho toa. Vì bệnh nhân được chữa lành nên tiếng tăm ông vang dội khắp vùng. Người ta kháo nhau ông học thuốc từ chính truyền dòng ngự y, hèn nào chẳng giỏi. Đúng là ông thầy Trung ở Quảng Nam dạy ông học nghề thuốc thuộc dòng ngự y thiệt. Nhiều người tới xin ông cho theo học nghề thuốc. Ông nhận lời và từ đó bắt đầu mở lớp dạy nghề thuốc bên cạnh lớp dạy chữ nho chữ nôm. Thấy dạy theo các sách thuốc bằng chữ nho, học trò khó thuộc khó nhớ, ông nghĩ cách soạn một cuốn sách tên là Ngư tiều Y thuật vấn đáp, mượn hình thức một câu chuyện có liên quan đến thời thế để gắn vào đó những phần y lý cội gốc, nêu một cách tóm tắt, cô đọng từ trên tám ngàn loại sách thuốc của Đông y cơ bản vạn môn, nhiều ít đều có vết tích trong đó. Có những cuốn sách quý hiếm như Linh Khu, Nạn Kinh, Tố Vấn mà nhiều thầy còn không biết tên, lựa chi là nói đến gnhĩa trong đó. Ngoài những quy tắc về vệ sinh ăn uống, những cách bài trừ bệnh hoa liễu, những cách phòng ngừa bệnh lao cho tới cách đỡ đẻ thực hành đều được đề cập tới, không những thế, còn nói tới cả khoa phòng bệnh Đau hay cầu thuốc, chi bằng ngừa đau, và nhắc nhở lương tâm nhà nghề của người thầy thuốc.

Bên cạnh đó còn có một cốt truyện với những câu thơ nói lên tấm lòng yêu nước, yêu dân, ý chí kiên cường chống giặc cướp nước. Vì có cốt truyện hấp dẫn lại thêm lời thơ lưu, loát, nên những điều thuần chuyên môn trong sách được học trò thấm hiểu mau lẹ. Tú Chiểu lại bảo học trò đi kiếm cây thuốc Nam ở quanh vùng về gây một vườn thuốc trước nhà. Trong vườn có đủ loại: cây thuốc dấu để cầm máu, ngải bông đỏ trị nóng lạnh, đinh lăng vàng bạc trong bài thuốc thông thường, trái tắc, cúc rau dừa trị ho… rồi bồ đề, dền kiểng, mì kiểng lá ăn được. Ông hương giáo Phan Ngọc Tòng tới chơi nhà ra thăm vườn, đã phải khen:

- Thầy Tú quả là thiết thực, trồng những cây vừa là cây kiểng vừa để dành năm đói có cái ăn… Cũng tựa như thầy học nho nhưng không ham từ chương mà đi sâu vào nghề thuốc để cứu nhân độ thế…

Tú Chiểu cười:

- Đâu phải tôi chỉ vụ thực đến khô khan, bác coi nè, kế bên mấy cây đó tôi cũng cho trồng cả hoa kiểng, có cả cây mai chiếu thủy ở góc vườn kia. Cũng như ngoài làm thuốc tôi vẫn làm thơ đó chứ.

- Thơ của thầy thì còn phải nói, đúng là xuất khẩu thành chương, hay mà cứ tự nhiên như không chẳng hề gò bó chút chi hết. Bữa nào tôi phải bầy một tiệc rượu mời thầy, để cậy thầy làm giùm cho một bài thơ…

- Tôi cũng còn nợ bác một bài thơ cảm tạ bác đã giúp đỡ cho việc mở trường mà nghĩ hoài chưa ra đó chớ…

Khi Tú Chiểu mới về Ba Tri, tính mở trường dạy học thì bị viên Hương cả làm khó dễ. Tên này đã mời ông Lê Đình Lượng ngụ sử về hưu tới mở trường ở kế bên chợ Ba Tri, để mong dựa vào thần thế con ông ngự sử đang làm tri phủ sở tại. Viên Hương cả sợ rằng nếu Tú Chiểu mở thêm trường thi sẽ thu hút hết một số học trò của ông ngự sử, nên không cho phép Tú Chiểu mở.

Thấy sự bất bình, viên Hương giáo Phan Ngọc Tòng bèn can thiệp. Ông tới nói với tên hương cả:

- Có câu: Đất lành chim đậu, nay thầy Tú Chiểu đã mến cảnh làng mình mà tới xin mở trường dạy học, sao ông không cho phép. Làng ta là đất ít học, nay có người thông chữ tới dạy là phước lớn cho con cháu mình chớ sao!

Viên Hương cả lắc đầu:

- Đã có trường của quan Ngự sử rồi cần gì phải thêm trường nữa. Vả lại thầy Chiểu chỉ đậu tú tài sao sánh được với quan ngự sử là hàng tiến sĩ xuất thân…

- Dầu thầy Chiểu mới có tú tài chăng nữa thì sắp nhỏ nhà mình đâu dễ gì đã học hết được chữ của thầy. Dạy học cốt yếu là phải xem dạy có giỏi hay không chớ khoa bảng cao thì có ăn nhằm gì tới chuyện này. Thầy Tú Chiểu mở trường ở Bến Nghé còn có bao nhiêu học trò tới học huống hồ về đất Ba Tri mình. Có thầy về dạy là vinh hạnh cho cả làng sao ông lại ngăn cản bất tử vậy cà?

Viên Hương cả vẫn một mực không chịu. Phan Ngọc Tòng lại tới gặp viên Cai tổng Bảo An nhờ nói giùm với tên Hương cả. Nhưng viên Cai tổng cũng sợ thế quan phủ không dám nói. Thế là Tòng lên thẳng phủ xin vào hầu quan phủ và thưa:

- Bẩm quan lớn, dân cử tui làm Hương giáo cốt để có người dạy dân theo đúng luật lệ của triều đình. Nay triều đình có chiếu chỉ “đại chấn tư văn”1* không bắt mỗi lúc mở trường phải xin phép, vậy mà thầy Hương cả lại ngăn cản không cho. Tui nghe người ta nói sở dĩ thầy Hương cả không cho mở vì sợ có hại cho trường của cụ cố nhà. Lời đồn đại hổng biết có đúng không, nhưng như vậy e tổn thương đến thanh danh của quan lớn trước hết, vì như vậy là ngài cầm cân nẩy mực chưa thiệt công bằng. Thấy sự như vậy, muốn tránh điều không hay cho quan lớn, nên tui buộc lòng phải lên thưa trước với ngài, nếu là chuyện loan truyền tầm bậy thì xin quan lớn tìm ra kẻ phao ngôn để trị tội.

Thấy Phan Ngọc Tòng ăn nói thẳng thắn không hề kiêng sợ oai mình, viên Tri phủ chột dạ phải bảo viên Hương cả đừng ngăn cản việc mở trường của Tú Chiểu. Lại một lần nữa, Tú Chiểu tin vào lòng tốt và tính cương trực của những người bình thường sống bên cạnh mình, chứng tỏ câu thơ trong Lục Vân Tiên: “Mấy ai ở đặng hảo tâm, nắng đun: nón chóp, mưa dầm: áo tơi” chỉ là sự nghi ngờ và lo xa mà thôi.

Tú Chiểu còn đang mải ôn lại chuyện cũ thì đã nghe thấy cái giọng ồm ồm của Hương giáo Tòng cất lên:

- Bữa nào mời thầy sang tôi, ta làm một bữa nhậu rượu đế Phú Lễ với gỏi da cá đuối thì ngon tuyệt trần đời!

Gỏi da cá đuối là món đặc sản của Ba Tri. Da cá đuối phơi khô, đem đốt cho xém da rồi cạo rửa. Xong nấu nước phèn chua ngâm một đêm cho mềm. Sau đó rửa lại bằng nước nguội cho sạch rồi dùng dao thái mỏng. Nếu ăn liền thì trộn với đu đủ xắt nhỏ hoặc cải nồi thêm vỏ tôm khô, đậu phộng rang và rau thơm, vậy là có một món nhậu tuyệt diệu…

Tú Chiểu vui vẻ:

- Vậy thì còn gì bằng. Để bữa nào ông Cử Trị tới tôi sẽ rủ ổng sang thăm bác luôn thể, ta cùng vui…

- Ông Cử Trị hả! Tôi được nghe thơ của ổng đã lâu, vẫn khao khát được diện kiến mà chưa có dịp. Khi nào ổng tới, thầy cho tôi được gặp ổng để bày tỏ lòng ngưỡng mộ a thầy.

*

Đang tưới nước cho mấy cây thuốc, Tú Chiểu bỗng dừng tay lại. Có tiếng chim trau trảu kêu ríu rít trên cây khiến ông lắng tai nghe chăm chú. Xen vào tiếng chim lại có tiếng con sóc vừa kêu tục tục vừa chuyền sột soạt trên ngọn dừa. Đã bao nhiêu ngày nay, chỉ lắng nghe âm thanh là Tú Chiểu đoán được thời khắc trong ngày. Bây giờ chắc mới cuối giờ Thìn, hãy còn sớm lắm. Bữa nay ông cho học trò tạm nghỉ học vì ông mắc lo thuốc thang cho bà mẹ ông Hương giáo Tòng, gọi là cũng để đền ơn ông đã giúp đỡ cho mình trong việc mở trường. Hốt xong thang thuốc cho bà cụ, ông ra tưới vườn để chờ tới trưa lại sang thăm bệnh coi thuốc thang công phạt thế nào.

Tưới xong, Tú Chiểu ra chỗ hồ bán nguyệt thành xây bằng gạch, để thăm lại mấy bông sen. Khi thả sen vào hồ thì đã hết mùa hạ, sang mùa thu. Ông cúi xuống mặt hồ, lấy tay nâng niu từng bông sen và cảm thấy hết cả cái mềm mại láng mướt của từng cánh. Một mùi hương thoang thoảng mơ hồ lan tỏa trong không gian.

Ông nảy hứng muốn làm một bài thơ vịnh hoa sen mùa thu nhưng lại cảm thấy khó khăn. Từ khi bị mù, mỗi khi tả một cảnh gì ông không thể nhìn thấy cảnh ấy trước mắt mà chỉ có thể tưởng tượng ra qua những cảnh tương tự mà ông từng nhìn thấy. Mà khi mắt sáng thì người ta lại hay khinh thường, không mấy khi ngắm cảnh vật thật tỉ mỉ kỹ càng. Khi đặt thơ Vân Tiên ông đã phải chật vật với những đoạn tả cảnh, nhiều khi chỉ tả được những màu sắc lạt lạt như trong một bức tranh thủy mặc:

Hai bên bờ bụi rậm ri,

Đêm khuya vắng vẻ gặp khi trăng lờ.

Trông chừng đường sá bơ vơ,

Có đàn đom đóm mờ mờ đi theo…

Bù vào chỗ nghèo nàn về màu sắc, ông phải tăng cường thêm về mặt cảm thụ âm thanh:

Buồn trông dặm liễu đường hòe

Tiếng chim gọi thảm, tiếng ve kêu sầu

… Thác ghềnh lên xuống trải bao

Trên ghềnh chim hót, dưới ao cá cười…

Lúc này Tú Chiểu chỉ hận không được nhìn thấy một bông sen cụ thể trước mắt để miêu tả thành thơ, ông đành phải làm một bài thơ nói lên ý niệm về hoa sen. Thiệt là đáng tiếc. Ông bùi ngùi tức cảnh ngâm:

Sen hỡi là sen tiếng chẳng hèn

Thấy sen lỡ vận, tiếc cho sen

Ngậm cười trước hạ, hèn cùng thưởng.

Đua nở mùa thu, tốt mấy khen.

Gương mặt bất phàm đâu biết đặng.

Bèo tai vô dụng gọi rằng quen…

Tú Chiểu đang ngâm nga, thì bên ngoài có tiếng cười nói:

- Hay lắm! Thầy Tú ví mình với hoa sen, còn tôi thì liệu thầy có cho vào hạng bèo vô dụng gọi rằng quen không đấy?

Tú Chiểu lắng nghe, rồi hỏi:

- Tiếng ai như tiếng anh Nhiêu Thang Trông thì phải.

Người đó cười:

- Giỏi! Giỏi! Đã lâu không gặp mà thầy vẫn nhận ra giọng tôi thì tài thiệt đó!

Thì ra người đó là Lê Bổn, người miền Trung vào ngồi dạy học ở Thang Trông thuộc tỉnh Mỹ Tho. Lần trước, Cử Trị cử ông cùng đi thăm ông Tri huyện Âu Dương Lân đã có gặp thủ khoa Huân và Nhiêu Bổn trong một cuộc họp bạn bình thơ. Bữa đó, Nhiêu Bổn đã đọc cho mọi người nghe mười bài Tự Thuật của Tôn Thọ Tường và thách các bạn họa lại. Rượu ngà ngà say, Cử Trị đã nhận lời thách của Bổn và chỉ vài ngày sau mười bài họa đã xong. Nhiêu Bổn và Huyện Lân lại sai học trò chép lại nhiều bổn truyền đi khắp nơi.

Tú Chiểu vui mừng:

- Huynh mới ở Mỹ Tho lên phải không? Thủ khoa Tịnh Hà và Tri huyện Thang Trông cữ này có được mạnh không?

- Các ổng vẫn mạnh và có lời kính thăm thầy.

Tú Chiểu vồn vã:

- Huynh vô trong nhà, ta nói chuyện.

Hai người vô nhà ngồi xuống bộ ván giữa nhà. Tú Chiểu kêu học trò châm trà nhưng Bổn gạt đi rồi khẽ giọng:

- Thầy có biết ở đâu bán con Hồ da tử không?

Tú Chiểu giựt mình. Đúng là câu ám hiệu ông đã từng dặn phó Lãnh binh Trương Định khi cử người đến kiếm ông thì nói như vậy. Hồ da tử là con đuôn sống trong củ hủ chà là, một món ăn quý ở Bến Tre. Hay Bổn là người của Trương Định. Đoán được ý Tú Chiểu, Bổn nói thêm:

- Tôi vừa ở chỗ ông Trương tới đây.

Tú Chiểu mừng rỡ:

- Thiệt à? Tình hình nghĩa quân của ông Trương hồi này ra sao, huynh?

Nhiêu Bổn chậm rãi:

- Triều đình vừa ký hòa ước Nhâm Tuất, sau đó hạ lệnh bãi binh giao cho Lang-Sa ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, triệu khâm phái quân vụ Nguyễn Túc Trưng về kinh. Túc Trưng vốn sợ giặc bấy lâu nay không dám tiến quân chỉ ngồi yên cố giữ đất Gò Công. Giờ được lênh triệu hồi khác nào được chiếu đại xá, vội vàng lĩnh chỉ. Triều đình lại có chỉ thăng chức lãnh binh cho ông Trương, bắt phải giải tán nghĩa quân, rồi đi nhậm chức ở An Giang. Ông Trương nhớ lời hẹn trước,nên cử tôi đến hỏi ý thầy có nên về An Giang hay không?

Thiệt là một câu hỏi hóc búa đối với Tú Chiểu. Có nên đường đột khuyên Trương Định đừng về An Giang hay không. Dầu sao Trương Định cũng là một vị quan khá lớn, liệu đã tới mức công nhiên chống lại triều đình hay chưa. Nếu mình nói không khéo khiến Định khó chấp nhận thì có hại cho việc lớn. Không chừng lại làm phật ý ông ta thì càng thêm rắc rối về sau. Bởi vậy ông phải lựa dần:

- Nhưng ý ông Trương ra sao đã chớ?

- Ông đã cho gia quyến về An Giang trước, còn ổng ở lại kiểm điểm quân lính lương thảo rồi sẽ đi sau. Nhưng nghĩa quân không muốn giải tán, ráng giữ ổng lại nên ổng còn phân vân…

Tú Chiểu thử đưa đà:

- Theo ý tôi, tình thế này, ông Trương đi cũng hay mà ở lại càng hay…

- Thầy nói như thế nghĩa là thế nào?

- Tôi nói ông Trương đi cũng hay vì nếu đi thì vừa không mang tiếng trái lệnh triều đình, vừa được thăng chức lương cao bổng hậu, công danh ai dứt lối nào cho qua, như vậy chẳng phải là điều hay cho ông Trương sao. Ngặt vì, bọn Tây bị dân ta nhiều lần đánh lui, nay chúng được triều đình giảng hòa, tất chúng sẽ trả thù giết hại dân ta. Vả lại, bọn Tây lấy binh lực ăn hiếp triều đình bắt hòa, nhưng chúng không thành thực, nay triều đình giảng hòa với chúng, nghĩa quân tất không nơi nương tựa, ông Trương nỡ bỏ mặc họ như con mất mẹ mà đành lòng ư? Chi bằng ở lại hợp sức với nghĩa quân và dân chúng chống giặc, giữ đất, như vậy chẳng phải là vừa trọn trung với đất nước vừa trọn nghĩa với mọi người ư? Cho nên tôi nói ở lại càng hay là như vậy…

Ngừng một lát, Tú Chiểu lại tiếp:

- Sỡ dĩ, ngày nay nghĩa quân khắp nơi đều quy phục ông Trương, thế lực chẳng những ở Gò Công, Tân An,Mỹ tho mà cả Chợ Lớn, Gia Định. lan rộng ra hai con sông Vàm Cỏ, từ biển Đông chí địa giới Cao Miên, gồm cả Tháp Mười. Nay ông Trương bỏ đi An Giang thì các đầu mục nghĩa binh ở khắp nơi như rắn mất đầu, đất cũ còn mong gì có cơ khôi phục. Bởi đó, ở lại không chỉ là cái nghĩa nhỏ với thuộc hạ mình mà còn vì nghĩa lớn với nghĩa binh và dân chúng khắp lục tỉnh nữa.

Nghe xong, Nhiêu Bổn vỗ tay cười:

- Đúng là “anh hùng thiên hạ, sở kiến lược đồng”2*. Tôi vừa qua Tân Long gặp anh Phạm Tuấn Phát, ảnh cũng nói tương tự như thầy. Anh còn tính kéo nghĩa binh và dân chúng khắp nơi đến tận Tân Hòà giữ đầu ngựa Trương tướng quân lại.

Tú Chiểu ngậm ngùi:

- Tôi vì mắt kém nên không thể tới tận nơi hội bàn với ông Trương và toàn thể nghĩa binh, mong ông Trương và anh em thể tất cho. Vậy nhờ huynh thưa giùm với ông Trương mấy lời tâm huyết của Chiểu này. Có việc gì cần, ông Trương cứ cho người đến liên lạc, nêu giúp được gì cho nghĩa quân, Chiểu này không dám tiếc thân hèn.

Nhiêu Bổn cười:

- Có lẽ bữa nào phải đến nhờ thầy thảo giùm một bài hịch.

Tú Chiểu khiêm tốn:

- Bên cạnh ông Trương đã có ông Huyện Thoại là bậc văn chương hơn đời, tôi đâu dám múa rìu qua mắt thợ.

Nhiêu Bổn sửng sốt:

- Ủa, vậy ra thầy chưa hay tin gì à?

- Tin gì vậy huynh?

- Ông huyện Thoại đã tử tiết trong trận đánh đồn Sơn Qui rồi còn đâu nữa.

Tú Chiểu kinh ngạc:

- Sao? Huynh nói sao ông Huyện Thoại tử tiết?...Trời hỡi trời!

Nhiêu Bổn trầm giọng:

- Ông Huyện Thoại là quan văn mà luôn đi đầu trong các trận đánh. Bữa đó giăc Lang-Sa mang tàu chiến đánh lên Gò Công. Nghĩa quân đợi giặc ở dưới tàu đổ bộ lên là xông vào đánh ráo riết. Mọi người chỉ dùng mũi độc lao tới. Bọn giặc nổ súng. Tên tham biện Lang-Sa cùng một toán lính thủy chạy tới, bên ta tạm dừng lại. Tên tham biện vội thối lui về bãi chợ vì thấy lối tiến đã bị chặn. Vừa lúc ấy ông Huyện Thoại dẫn quân xuất hiện ở đầu đường. Giặc nhả đạn trúng những người đi đầu, nhưng những người khác được ông huyện đôn đốcvẫn tiếp tục nhào vô đánh xáp lá cà với giặc. Nếu không có một tên lính thủy Lang-Sa kịp điều súng dưới tàu bắn lên thì cả bọn chúng đã bị diệt hết. Tên tham biện trúng hai mũi độc bị thương nặng, nhiều tên khác nằm la liệt. Nhưng rủi ông Huyện trúng một phát đạn nên đã…

Tú Chiểu nghẹn ngào:

- Ông Huyện chết như vậy cũng là cái chết xứng đáng…Chỉ tiếc tôi còn mấy người bạn đồng khoa thì lần lữa cứ mòn mỏi hết. Thiệt đáng buồn!

Tú Chiểu nước mắt giàn giụa cứ để nguyên thế không lau. Biết ông muốn ngồi một mình để tưỏng niệm người bạn thân thiết, Nhiêu Bổn xin cáo từ. Tú Chiểu tiễn ra cửa nắm lấy tay Bổn:

- Xin tạm biệt huynh, mong có phen hậu hội…

Tiễn khách ra về, Tú Chiểu lại ngồi lặng lẽ. Mới năm trước em ruột ông hy sinh thì tới năm nay người bạn đồng khoa thân thiết nhất lại qua đời. Phải chi còn mắt sáng ông đã xông ra chiến trường trả thù cho bạn, cho em, cho bao nhiêu bà con bị giặc giết hại…

Vừa lúc ấy, bà Tú cắp thúng từ chợ về. Bà lại gần đứng nhìn ông vừa kính yêu vừa thương cảm. Quanh năm ông chỉ vận quần áo vải bố trắng giặt bằng nước tro. Bà lục thúng, lấy một cây lụa đen đặt lên ván rồi nói với ông:

- Bữa nay tôi đi chợ mua được cây lụa đen, tính may cho ông bộ đồ, quần áo ông cũ hết rồi. ông thử sờ coi hàng có mịn mặt không?

Bà trìu mến cầm bàn tay trắng xanh với những ngón thon ngòi viết của ông đặt vào cây lụa. Nhưng ông buồn rầu:

- Tôi cảm ơn nhà đã nghĩ đến tôi. Nhưng nhà không biết tính tôi chỉ ưng vận vải bố màu trắng hay sao? Tôi đâu có ham lụa là gấm vóc. Thôi đã lỡ mua rồi thì để may hai bộ đồ cho hai con chưng diện Tết. Còn tôi thì ăn vận như thế này, hạp với ý tôi hơn…

- Tôi nghĩ rằng trước thì không nói làm chi còn giờ nhà mình làm thuốc cũng được dư dả nên mới tính may bộ đồ mới cho ông. Vậy mà không ngờ lại trái ý ông, biết vậy thì tôi đã không dám…

- Tôi vận đồ trắng để nhắc nhở mình luôn giữ lòng trắng trong tinh khiết, và cũng để tang cho dân nước bị giặc Tây giết hại. Nhà có hay tin ông Huyện Thoại vừa tử tiết hay không?

- Vậy hả ông? Trời! Thiệt là…

Càng chứng kiến tấm lòng trung hậu của ông, bà lại càng cảm phục ông hơn và càng sung sướng có một người chồng xứng đáng. Bà nhớ lại hồi mình còn là cô Năm Điền, một cô gái trẻ mới mười tám tuổi đã đem lòng thầm yêu trộm nhớ thầy đồ dạy anh mình, nhân một lần anh Hai Quýnh rước thầy về Thanh Ba Cần Giuộc chơi. Bà đã van vỉ cha mẹ xin được kết duyên với ông cũng như đã gác ngoài tai mọi lời dèm pha của chúng bạn mặc dầu ông đui mù lại hơn bà cả chục tuổi. Bà trông tướng ông bây giờ vẫn như hồi trẻ, chỏm tóc đen mướt chưa điểm qua sợi bạc. Nếu thêm đôi mắt sáng thì trông ông đẹp đẽ biết bao! Bà xúc động:

- Ông huyện qua đời cũng là vì nước, ông chớ nên vì quá thương cảm mà để hại cho sức khỏe…

- Thì tôi vẫn ráng chịu đựng đó chớ, nhưng nhiều lúc cũng thấy ruột dường như muốn đứt…

- Ông cũng phải ráng ăn uống tẩm bổ mới được. Hồi này ông ăn uống đạm bạc quá, rủi bịnh thì…

Thấy bà quá lo lắng về mình, ông nói vui cho bà yên lòng:

- Tôi chỉ ưa mỗi cái món mắm cá lóc thôi. Nhà đi chợ không mua mắm về, là tôi giận bỏ ăn thiệt đó!

- Tánh ông in hệt ông Cử Trị, bữa nào tới ổng cũng hỏi:

“ Chị có mắm dồng cho tôi ăn không?Ăn ba cái mắm Ba Tri ngon thiệt là ngon, về Gò Vấp nhớ hoài, chịu hết nổi!”…

Bà vừa cười vừa quay đi làm công việc.

Tú Chiểu nhớ lần trước Cử Trị từ Gò Vấp xuống thăm ông, ông biểu bà kiếm mắm ngon đãi bạn. Nhân nhắc đến Tôn Thọ Tường, ông Trị bĩu môi mà biểu:

- Đúng, thằng Tường theo Tây nên không dám ăn cái món này, rủi Tây ngửi thấy khác mùi, nó đá đít cho thì chết! Không biết nó khôn tới chừng nào chớ không được ăn mắm ngon là dại trước đã. Bởi vậy thơ nó có câu biếm nhẽ những người yêu nước: “Khoe khoang sức giỏi lại tài khôn. Bán dạng mua môi cũng một phồn” tôi họa lại rằng: “Khoe khoang việc phải mới rằng khôn. Kẻ vạy người ngay há một phồn”. Bác không biết chớ, vừa rồi nó còn cả gan tới thăm chùa Cây Mai làm thơ vịnh mai ngụ ý mình trong trắng như hoa mai, mà bị người đời hiểu lầm. Tôi nghĩ nếu bạch mai mà biết nói thì phải nguyền rủa cái thằng mặt dày trơ trẽn nấp bóng mai mà lừa bịp người đời!...

Nghĩ đến chuyện phải vạch rõ bộ mặt bán nước của bọn Tường, Tú Chiểu lại nhớ tới việc soạn bổn Ngư tiều y thuật vấn đáp còn đang dang dở. Ông quay lại nói với bà:

- Con Hương “thơ ký”của tôi chưa về, bà hãy tạm thế chân nó chép giùm tôi đoạn này chút. Tôi đang có hứng.

Bà Tú đang nhanh tay rắc dâu cho tằm ăn vội dừng tay lại. Từ khi về Ba Tri, bà cũng học theo bà con ở đây trồng mấy luống dâu và gây mấy nong tằm, kéo tơ đem bán đi lấy tiền đỡ đần sinh kế trong gia đình. Bà chọn nuôi loại tằm sẻ, cho loại kén vàng, nhỏ mà dễ gỡ, cho một loại tơ sống và rất chắc. Tằm được nuôi trên những liếp tre chồng lên nhau, đặt trên một cái kệ dài. Nuôi tằm rất bận rộn, khi tằm mới nở phải đặt trên nong có giăng mùng, để bảo vệ tằm không bị côn trùng khác phá hoại. Khi tằm ăn rỗi phải rắc dâu đúng bữa không được để tằm đói…Cũng vì vậy nên vừa đi chợ bán tơ về, bà lại sấp ngửa thái dâu và cho tằm ăn.

Bà rắc tiếp cho đủ một lượt rồi vội vã rửa tay, ngồi ngay ngắn trước ván viết, cầm tập bản thảo lật trang chép dở rồi vê vê ngọn bút lông trên nghiên mực, chờ đợi. Ông hỏi:

- Nhà đọc tôi nghe coi hôm qua chép tới đâu rồi.

- Dạ thưa ông, mới chép tới câu:

Hai chử cang thường dằn các nước,

Một câu trung hiếu dựng muôn nhà.

Ông gật đầu rồi ngẫm nghĩ hồi lâu. Khi đặt thơ Vân Tiên ông thấy xuôi chảy hơn không khúc mắc bằng bổn Ngư Tiều lần này. Đó là vì câu chuyện trong thơ Vân Tiên hầu hết là chuyện chính ông đã trải qua, chuyện theo thầy đèn sách, chuyện đi thi, chuyện nghe tin mẹ chết khóc mẹ đến nỗi mù, chuyện bị hối hôn, chuyện gặp mối lương duyên, chuyện căm ghét bọn gian thần bán nước, chuyện muốn xông ra trận dẹp giặc…đều là cảnh thực của ông. Nhưng soạn bổn Ngư tiều ngoài chuyện dẫn giải y thuật ra, về cốt truyện cũng giản đơn hơn không có nhiều thứ lớp éo le như Vân Tiên, lại cần có nhiều đoạn thơ hay nói về thời thế lúc này nhằm khích động người dân chống giặc. Lời thơ phải vừa lâm ly vừa hùng hồn như là lời hịch mới là đắc thể.

Tú Chiểu xúc động nhớ lại niềm mến mộ của bà con đối với bổn thơ Vân Tiên của ông. Lúc đặt thơ ông chỉ mượn cớ trút bầu tâm sự không ngờ sau khi ra đời nó lại được bà con yêu chuộng đến thế. Bữa ông chạy về Cần Giuộc, bạn ông là Lê Quang Thịnh đi mướn thuyền giùm, nhưng thuyền nào cũng không chịu chở, lấy cớ đang lúc loạn lạc có mướn tới mấy nén vàng một chuyến cũng không muốn chở, rủi tên bay đạn lạc thì sao. Lúc giặc giã mạng người là quý nhứt, tiền bạc mà làm gì. Nhưng tới khi ông Thịnh kêu tên ông lên là thầy Tú Chiểu, mọi người tíu tít hỏi: “ Có phải thầy Tú Chiểu đặt thơ Vân Tiên không?”. Khi biết con người đặt thơ Vân Tiên bằng xương bằng thịt ở trước mặt họ, họ tranh nhau tình nguyện chở gia quyến ông đi. Người lái thuyền bữa đó vừa đưa chèo vừa chuyện vãn với ông suốt chặng đường. Anh ta phải chịu rằng: Những người trong thơ Vân Tiên chép để, đúng là dân Nam kỳ thứ thiệt! Khoái nhất đoạn Hớn Minh trị tội con quan Phủ bẻ luôn một giò và đoạn Tiểu đồng treo Trịnh Hâm lên cây mà đánh. Anh còn nói rất thâm thúy: Tôi thấy ở đời, già thì phải như ông Tiều ông Ngư, ông Quán, trẻ thì phải như Vân Tiên, Hớn Minh, Tử Trực, gái thì phải như Nguyệt Nga, tớ thì phải như Tiểu đồng…còn bọn gian thì đích là cái giống Thái sư, Trịnh Hâm, Bùi Kiệm, Bùi ông rồi…

Nhớ chuyện cũ, ông bỗng liên tưởng tới bọn gian trước mắt. Thằng Ba Tường theo giặc không biết nhục còn mượn thơ văn để bào chữa cho cái tội bán nước, chẳng những thế còn hù dọa những ai dám chống giặc. Thằng Trần Bá Lộc, thằng Đỗ Hữu Phương, đứa xuất thân mã tà, đứa xuất thân hộ trưởng mà sau khi theo Tây một bước leo lên tới Tri huyện Tri phủ…Những quân cẩu trệ ấy đáng băm vằm nguyền rủa. Mình không thể đích thân cầm khí giới diệt chúng thì phải dùng ngọn bút vạch mặt chúng trước mọi người. Chợt nghĩ ra một ý, ông cất giọng đọc:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,

Đâm mấy thằng gian…

Ông ngừng lại nghĩ. Bà Tú ngước lên chờ đợi. Mực thấm đẫm đầu bút rỏ một giọt xuống ván viết.

Trong im lặng nghe cả tiếng ong bay…Có tiếng con nhồng con sáo hót líu lo, ngoài xa tiếng cúc cù cu của mấy con cu cườm cu đất và tiếng gió rì rào trong những rặng dừa lão cao lênh khênh, thứ” dừa hụt sào”.

Gần trưa rồi, ánh nắng lọc qua nền lá cây xanh từ bên ngoài ánh vào bộ đồ trắng của ông một màu xanh như ngọc thạch. Một màu xanh của áo quan Tư mã đất Giang Châu3* nhưng không chỉ bận lòng vì một cuộc đời ca kỹ bên khoang thuyền ven sông mà cho cả trăm họ trong vòng nước lửa. Phải chi ông dùng một mũi gươm của Trương Định vừa đâm suốt ngực tên bá hộ Huy phản bội bán đứng chủ soái cho Tây. Hào khí bốc lên, ông vụt cất tiếng đọc to:

…bút chẳng tà!

Câu thơ nhặm lẹ như một đường gươm vừa đâm trúng đích. Rồi ông đọc liền hai câu kết:

Căm bấy lòng nhơ mang thói bạc

Trời gần chẳng gánh gánh trời xa

Ngọn bút lông lại bay trên nền giấy bản. Chép xong bà Tú ngước lên chờ ông đọc tiếp. Nhưng lần này bà thấy đôi mắt đục lờ của ông như nhìn đi đâu xa lắm…

Ghi chú

1* Mở mang sự học.

2* Anh hùng thiên hạ ý kiến đại lược giống nhau.

3* Chỉ Bạch Cư Dị, nhà thơ đời Đường, tác giả bài Tỳ bà hành.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hoài Anh