Trên bãi đất rộng cạnh chợ Trường Bình, bà con quây vòng trong vòng ngoài quanh một ông già mù hát dạo và đứa cháu gái nhỏ. Ông già mù vừa đàn độc huyền vừa nói thơ Vân Tiên. Tiếng thơ khi trầm bổng, khi ngân nga, hòa với tiếng đàn réo rắt. Trong tiếng đàn một dây chứa đựng muôn ngàn thứ tiếng: tiếng sóng reo trên sông Cần Giuộc, tiếng lá dừa nước xào xạc, tiếng hò man mác trên con thuyền nước chảy ngược dòng, tiếng giọt mưa đêm rơi tí tách trên chiếc thau đồng, tiếng chim chuyền ríu rít hót mừng mặt trời buổi sớm…
Hữu tình chi bấy Ngưu Lang,
Tấm lòng Chức Nữ vì chàng mà nghiêng.
Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê…
Tiếng xuýt xoa của các bà già. Tiếng cười rúc rích của các cô gái. Tiếng tấm tắc của các chàng trai. Tiếng những đồng kẽm Thiệu Trị, Tự Đức liệng rào rào vô lòng chậu thau cô gái nhỏ ôm trong tay. Trong khi đó, cô gái vẫn đưa mắt liếc nhìn về dãy đồn Lang-Sa bên kia chợ, ở tả ngạn rạch Cầu Tràm, nép cạnh một nhà dạy đạo. Về phía đó, vẳng lại tiếng tàu sắt nổ máy dưới sông, tiếng Tây la thét và tiếng lính mã-tà hô ắc ê bước chân đều nhịp.
Ông già mù lại chuyển sang đoạn ông quán. Giọng ông cất cao hẳn lên, chiếc cần cũng lướt nhanh trên dây đàn gợi hình ảnh đàn chim nhảy lách tách trên cành trúc la đà:
Quán rằng: Ghét việc tầm phào,
Ghét cay ghét đắng, ghét vào tới tâm.
Ghét đời Kiệt Trụ mê dâm,
Để dân đến nổi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U Lệ đa đoan,
Để dân luống chịu lầm than muôn phần…
Có tiếng xôn xao trong đám người nghe. Tiếng tiền kẽm lại reo loảng xoảng trong chậu. Bỗng từ phía đồn, có một toán lính mã tà đi tới chợ. Một tên reo:
- A, có người “nói thơ Vân Tiên”, tụi bây ơi!
Cả bọn xúm lại gần ông già hát dạo. Một tên lính nói:
- Ông già mần cái đoạn Bùi Kiệm máu dê cho tụi này nó nghe, nó khoái cái đoạn đó bất tử.
Một tên khác nói:
- Thôi khỏi, ông có rành mần tuồng thì mần lớp Nguyệt Nga cống Hồ cho tụi tôi nghe mới đã.
Muốn chiều lòng tụi lính, ông già chuyển sang mần tuồng, lần này ông sắm vai Nguyệt Nga còn cô gái nhỏ vai Kim Liên.
Nguyệt Nga cất tiếng than: “Kim Liên em nầy, cô nghĩ lại cô tủi cho phần cô lắm em. Đã vô duyên không trọn nghĩa với ngưòi thương, còn bạc phận phải lìa xa cha mẹ, nữa kìa. Dòng nước chảy đưa thuyền phới nhẹ, giọt sầu tuôn tấc dạ bâng khuâng, bóng trăng rằm vằng vặc một vừng, hồn cố quốc triều triều nửa túi”.
Kim Liên tiếp: “ Thưa cô, người có cơn thành bại, nước có lúc lớn ròng. Xin tiểu thư nén dạ an lòng, phú tạo hóa định phần may rủi”.
Nguyệt Nga nói: “Em ôi, mù mịt tương lai đầy cát bụi, phất phơ quá vãng luống bồi hồi. Cô cũng muốn làm lơ, nhắm mắt đưa chân lắm chớ. Ngặt vì: mầm ước mong một phút bỗng dứt chồi, gái trinh bạch hai lòng đâu đành chịu, cho được em. Kim Liên em ôi, nước bạc thà trao thân liễu yếu, đền vàng quyết chẳng để danh nhơ. Chữ ân tình cô khó nỗi làm ngơ, về Phiên quốc cô cậy em thay thế”.
Kim Liên nói: “Tiểu thư đừng có nghĩ như vậy, không nên đâu”
Nguyệt Nga làm điệu bộ mở bức tượng Vân Tiên ra nhìn:
“Ai ôi, nếu đó tưởng tình xin chứng chiếu, cho đây hiệp mặt với nhau cùng. Liều mất ngay cho vẹn vẻ thủy chung, để xú tiết thêm thẹn thùa cây cỏ…”
Bọn mã tà khoái quá, cầm những xâu tiền điếu liệng rào rào vô chậu. Ông già hát dạo cất tiếng:
- Cảm ơn mấy chú thương kẻ đui mù, ơn này nguyện ghi tạc.
- Ơn huệ gì? Tụi tôi muốn nghe ca cho đã, rủi có chết cũng hổng còn tiếc đời. Vì ba cái đồng xèng mang về nuôi vợ nuôi con, mà phải dấn thân vô vòng tên đạn, còn không biết, mất không hay đó ông già!
- Cữ này cứ đưa quân hoài hoài về miệt Biên Hòa, cái đồn bỏ trống lổng, nghĩ mà thấy ớn xương sống.
- Nghe nói ở Biên Hòa sắp đánh nhau lớn lắm, nên các ổng điều quân gắt. Hổng biết bao giờ tới phiên tụi mình đi làm bia đỡ đạn cho mấy ổng.
Cả bọn nhao nhao nói, rồi một tên bàn:
- Thôi đi kiếm vài be rượu nhậu lai rai chút cho nó quên cái sầu đời đi mày!
Bọn lính rủ nhau vô quán nhậu. Bà con từ khi thấy lính tới e xảy chuyện phiền phức cũng tản đi dần. Lúc này chỉ còn hai ông cháu người hát dạo. Ông hỏi nhỏ:
- Cháu nhìn rõ như vậy chớ?
- Cháu nhìn rõ ràng ràng mà. Tụi nó đưa quân đi tới bến ở mé tay trái, xuống tàu có bòng bong che trắng lốp, ông cũng nghe thấy đó thôi!
- Thôi ta về, cháu à.
Hai ông cháu cuộn chiếu rồi người mang đờn, kẻ ôm chậu quẹo sang phía con đường làng hướng đi Bình Chánh. Khỏi ao sen lớn đào cặp cổ một con đường nhỏ tới một cảnh chùa nằm lọt giữa mảnh vườn xanh um. Ngoài cổng có biển đề ba chữ: “Tôn Thạnh Tự”. Ông già gõ cửa, một chú tiểu chạy ra trông thấy, vội vào báo cho hòa thượng hay.
Hòa thượng cao lớn khỏe mạnh, tướng con nhà võ, tay lần tràng hạt ra đón. Vừa “Mô Phật” thiệt lớn, hòa thượng lại đổi sang nhỏ giọng:
- Thế nào có tin gì mới không. Ông đốc binh đang chờ.
- Bạch thầy có chớ.
- Nếu vậy ông theo tôi.
Vị hòa thượng dẫn hai ông cháu vô tận gian Đại Hùng bửu điện, vừa đẩy một pho tượng Phật lớn thì sau tượng có một cái cửa thông vào hậu liêu. Bên trong tranh tối tranh sáng, Đốc binh Là đang nóng ruột đi đi lại lại. Đôi lông mày mũi mác nhăn tít, những nếp nhăn trên trán nổi hằn. Đang bước những bước nặng chịch, đôi hài mũi cong ấn mạnh xuống mặt sàn, bỗng thấy ông già, nét mặt ông chợt tươi lên:
- Có tin mới phải không?
Ông già thưa:
- Dạ, có. Ông cháu tôi thấy bọn Lang-Sa chở đầy nhóc quân về miệt Biên Hoà, nghe bọn mã-tà kháo nhau thì ở đó sắp có đánh lớn, hiện giờ trong đồn chỉ còn bảy chục tên…
Đốc binh Là tay bưng trán suy nghĩ. Rồi ông bảo cô gái nhỏ:
- Cháu đi rước thầy Tú Chiểu tới đây cho ta. Lẹ chút, nghe!
Cô gái nhỏ vâng lời. Đốc binh Là lại hỏi ông già:
- Ông có chắc chắn là trong đồn còn ít quân không?
- Bẩm ông lớn, tôi xin cam đoan với ông lớn là quân trong đồn hiện còn rất ít. Bọn còn lại cũng đang hoang mang lo sợ phải đi tiếp ứng cho miệt Biên Hòa.
Đốc binh Là gật gù. Từ ngày theo Thống quân Bùi Quang Diệu dấy binh, nghĩa quân do Đốc binh Là cầm đầu đã hùng cứ một vùng Cần Giuộc, chặn đánh quân Lang-Sa nhiều trận khiến chúng không ra khỏi được Chợ Lớn, từ Chợ Lớn xuống Gò Công chúng chỉ có thể đi bằng đường thủy.
Mải suy nghĩ, Đốc binh Là không biết ông Tú Chiểu đã tới từ hồi nào. Mãi khi nghe tiếng chào ông mới giật mình quay lại, thấy Tú Chiểu, ông niềm nở:
- Ủa! Thầy Tú! Tôi trông thầy thiếu điều cháy gan cháy ruột.
Ông Tú điềm tĩnh:
- Có chuyện chi vậy, bác Đốc?
Đốc binh Là đem tin tức vừa nhận được, thuật lại. Tú Chiểu gật đầu:
- Bữa tôi về thăm chỗ dạy học cũ ở Bình Vị Biên Hòa cũng nghe thấy nói bọn Lang-Sa đang tính dốc toàn lực để đánh chiếm Biên Hòa, chặn đường giao thông của ta ra miền Trung. Đội quân thám thính của chúng ở Suối sâu bị đánh lui, lại một đội khác tới hai thôn Bình Thạnh, Bình Chuẩn bị phó đề đốc Lê Quang Tiến nhân đêm đánh úp, chúng phải thua chạy. Chắc vì ít quân nên bọn chúng phải đốc quân từ các đồn ở Gò Công, Cần Giuộc, Tân An để kéo về đánh Biên Hòa…
- Tôi cũng nghĩ vậy. Hiện nay trong đồn Cần Giuộc chúng chỉ để lại có ngót trăm quân, hay là nhân đêm nay ta đánh úp đồn…
Tú Chiểu ngẫm nghĩ một lúc, rồi thong thả:
- Việc dùng binh cũng như dùng thuốc, phải biết sắp đặt phương lược. Nếu không nhất tề nội ứng ngoại hợp, chỉ cốt nhổ lấy một đồn, nhổ xong nó lại dồn quân từ các nơi khác tới đàn áp thì mình khó lòng chống lại được. Nghĩa quân bị tổn thất đã đành mà giặc còn triệt hạ xóm làng, giết hại bà con là đằng khác nữa.
Giữa ngôi chùa tĩnh mịch, từng câu nói của Tú Chiểu vang lên như từng tiếng chuông ngân:
- Tôi thấy bác Đốc binh nên trình với ông Thống quân để ông sai người báo tin cho ông phó lãnh binh Trương Định ở Gò Công, và ông Quản cơ Nguyễn Văn Lịch ở Tân An cùng phối hợp với ta đánh úp bọn Lang-Sa ở tất cả các đồn trại, như vậy mới tăng thêm thanh thế cho quân ta và buộc giặc phải rút lui khỏi các đồn chúng chiếm đóng trong vùng này. Thế là vừa đánh được giặc lại vừa bảo vệ được dân, bà con sẽ càng nức lòng ủng hộ nghĩa quân. Cũng như dùng thuốc không chỉ ham dùng các vị công phạt để chữa khỏi bệnh liền tức khắc, mà phải tìm cách bồi bổ nguyên khí, cái gốc có mạnh mẽ thì mới mong dứt tuyệt được mầm bệnh…
Đốc binh Là nghe xong, vụt reo lên:
- Hay! Hay! Thầy Tú không chỉ là y tướng mà còn là chiến tướng nữa đó!
Xuyến mải miết chèo thuyền trên dòng sông. Nước sông trong xanh, hai bên bờ những rặng lá dừa nước cao đến một trượng tua tủa chen nhau như một bức tường thành che khuất cả tầm con mắt. Dài theo rặng lá nào là dây cốc kèn, bụi ô rô gai gốc um tùm, quấn quýt chằng chịt dưới chân những gốc dừa xum xuê tàu cao bóng cả. Bóng lá dừa gió đưa phe phẩy in xuống mặt nước quyện bóng từng mảng mây trời. Có tiếng kẽo kẹt rít lên từng hồi dài, đó là tiếng che ép mía. Thấp thoáng sau rặng lá dừa làn khói lò bay tỏa quyện với hơi đường ngào ngạt bốc lên. Trong không khí như có vị ngọt khiến bất giác người ta phải chảy nước miếng.
Nhưng bữa nay, Xuyến không còn lòng dạ nào ngắm cảnh sông nước, thở hít làn hơi ngọt đầy hai buồng phổi. Tiếng chèo khua nước rào rạt hòa với tiếng sóng bì bõm vỗ mạnh vào trong lòng cô.
Gần tới chỗ lò ấp vịt của Huân, dầu đang vội cô vẫn thấy có cái gì xốn xang trong lòng. Từ ngày gặp Huân tới nay, dòng sông không còn mênh mang như trước, những đêm trăng bóng thuyền cũng không thấy lẻ loi dưới ánh trăng dãi lạnh lùng và câu hò càng nồng nàn thiết tha hơn. Dòng sông như bỗng có hồn và cảnh làng mạc hai bên bờ cũng thấy ấm áp sinh khí…
Phải chăng mối tình trong lòng cô cũng là một hột vịt còn lẫn lộn lòng trắng, đỏ nhưng đang được ủ trong lò nồng hơi ấm để hiện hình dần thành chú vịt nhỏ có đủ đầu, đuôi, lông, cánh, đợi một ngày sẽ phá vỡ vỏ chui ra…
Bữa nay Huân vừa cho ấp xong lứa vịt mới, ra rửa tay ngoài bờ sông thì thấy thuyền của Xuyến đi qua. Nhưng lần này cô có dáng vội vã chỉ ghé sát thuyền vô bờ nói với anh một câu:
- Em phải đi có công chuyện gấp, bữa nào rảnh việc em sẽ ghé anh…
Rồi cô lại quày quả trở thuyền đi miết. Từng nhát mái chèo để lại từng vòng sóng loang rộng dần trên mặt nước. Những đám rong rêu bị mái chèo hất lên lại từ từ rớt xuống trôi lập lờ. Trên nền sông nước sáng trong có những hàng dừa soi bóng, nổi bật lên hình dáng mềm mại của Xuyến với chiếc áo bà ba trắng, chiếc quần đen nhánh dài chấm gót và vuông khăn xanh buộc trên mái tóc bỏ đuôi gà. Hai tay cô nắm lấy hai tay chèo, mình hơi nghiêng nghiêng duyên dáng nhún lên đưa tới cho mái chèo quạt nước. Con thuyền cất mũi rẽ nước lao đi thì một chân cô đong đưa theo đà lướt tới con thuyền, chân kia nhún lên một tí, toàn thân và cả tay chân cử động nhịp nhàng uyển chuyển đẹp như một điệu múa… Huân nhìn theo mãi đến khi bóng Xuyến khuất sau lùm dừa nước ở tít đằng xa mới buồn bã quay trở về nhà. Chưa lần nào bước chân anh thấy nặng nề bằng lần này.
Vừa tới nhà, Huân thấy bà Tú đang nắm một nắm cơm trong mo cau. Thấy Huân về, bà mừng rỡ:
- Chú về vừa may. Ông đốc binh cho người tới báo, tối nay mời chú tới hội với nghĩa binh ở chùa Tôn Thạnh. Tôi đoán là có công việc nên đã nắm sẵn cơm cho chú mang theo nè…
Huân xúc động trước cử chỉ chăm sóc của người chị dâu. Từ khi cả nhà dời về quê ở làng Thanh Ba, Cần Giuộc tới nay, bà càng thêm cực vì phải gánh đỡ công việc gia đình người anh là Hai Quýnh. Vợ Hai Quýnh chết sớm, nên sắp nhỏ lâm vào cảnh “sẩy mẹ bú dì”. Bà trông coi công việc cả nhà mình lẫn nhà anh, từ sáng chí tối, đầu tro mặt muội mà không hề thốt một lời than thở phàn nàn. Anh mình bị đui mà được một người vợ đảm như vậy cũng đủ đền bù cho sự bất hạnh của ông. Ngoài việc cửa nhà cơm nước, bà còn phải lo chép những vần thơ của ông, vì đứa con gái đầu lòng là con Hương còn nhỏ quá chưa cho phép. Hiện nay ông đang soạn cuốn Dương Từ Hà Mậu vạch tội ác của giặc lợi dụng đạo Gia Tô mê hoặc dân lành, tố cáo những kẻ đội lốt thầy tu làm tay sai cho chúng. Bọn đó ở Cần Giuộc này cũng có, chúng ở trong ngôi nhà dạy đạo ở kế bên đồn giặc. Chúng đem chuyện hỏa ngục thiên đường ra hù dọa, dụ dỗ người ta theo đạo, khi đã theo đạo rồi thì mượn kiểu xưng tội để ép người ta khai báo về tung tích, hoạt động của nghĩa quân. Cần phải tách bọn chúng ra khỏi những giáo dân lương thiện, đó là việc cần kíp trước mắt. Huân đã thấy nhiều đêm ông Tú ngồi suy nghĩ, nhẩm từng câu thơ vừa làm xong cho thuộc để sáng hôm sau đọc lại cho bà chép, vì thương bà, không muốn đánh thức bà dậy ban đêm. Huân càng thấy kính yêu đức độ của anh. Nhìn quanh không thấy ông, Huân hỏi:
- Thưa chị, anh đâu rồi ạ?
- À ổng đi hội với ông Đốc binh. Chưa chừng đêm nay sẽ có chuyện lớn. Thôi chú vô trỏng nghỉ chút, để đêm nay có sức mà theo đòi với anh em…
Đêm đó, nghĩa quân từ ba ngả lặng lẽ kéo tới vây đồn Cần Giuộc. Nửa đêm giữa lúc bọn lính trong đồn ngủ say mê mệt, Đốc binh Là rút gươm, chạy tới thét khẩu lệnh. Nghĩa quân dùng toàn gậy tầm vông vạt nhọn và giáo mác xông vào đạp hàng rào đồn giặc, vượt qua tường đất vào tận chỗ lính gác. Tên lính gác đang chống súng ngủ gật, giựt mình tỉnh dậy, còn mắt nhắm mắt mở, thì một ngọn giáo đâm ngược lên, lủng ngực hắn, hắn té nhào. Nghe tiếng hắn rú lên kinh khủng, bọn lính Lang-Sa, Ma-ní trong ngôi nhà ngói vách ván choàng tỉnh, dùng súng bắn ra, một vài nghĩa quân trúng đạn gục xuống, nhưng những người sau vẫn hò nhau phá cửa xông vào tận trại giặc, gặp tên nào chém chết tên đó.
- Sát! Sát!
Trăm người như một đồng thét lên tiếng căm hờn sôi máu ấy. Một tên lính Lang-Sa đang loay hoay điều khiển khẩu súng thì một nghĩa quân lao tới dùng mũi chĩa ba kết liễu đời hắn. Bọn lính Mã-tà đang hoang mang, hoảng hốt, thì nghĩa quân cho gọi loa khuyên chúng không nên chống cự, nếu đầu hàng thì khỏi chết, chúng đều vớt cả khí giới xin hàng. Khi nghĩa quân đã áp sát trại giặc, súng đạn của giặc mất tác dũng, nghĩa quân dùng dao phay mã tấu xông vào đánh xáp lá cà. Tên quan hai đồn trưởng Đuy-mông bị chém rớt đầu. Hơn hai chục tên Lang-Sa, Ma-ní khác bị chết và bị thương, nằm la liệt.
Thừa lúc ấy, một cánh nghĩa quân khác dùng hỏa mai bằng rơm con cúi phóng hỏa đốt nhà dạy đạo, để trừng trị bọn tay sai giặc đội lốt nhà tu.
Chiến thuyền giặc đậu dưới sông Cần Giuộc thấy động liền một mặt cho quân tiếp viện, một mặt dùng đại bác bắn lên. Nghĩa quân vẫn hăng hái tiến lên dưới làn mưa đạn, tiếng thét: Sát! Sát! vang dậy, át cả tiếng súng giặc nổ ran.
Huân đang hăm hở xông lên đâm chém quân giặc, vì đà chém mạnh quá mà lưỡi gươm vừa rèn xong, cán tra chưa được chắc nên bị long khiến lưỡi gươm văng đi. Huân chỉ còn tay không, mà phía trước là một tên giặc ngực lông lá xồm xoàm, người mập lù đang lừ lừ tiến lại. Huân nhanh trí túm ngay lấy xác một tên giặc dưới đất đập vào tên giặc kia. Bị đòn bất ngờ, nó tối mắt mũi té nhào. Huân lại nắm lấy cẳng nó dùng làm vũ khí đập vào tên giặc khác. Bọn giặc dưới tàu vẫn tiếp tục kéo lên cứu viện, Huân liền nhặt lấy lưỡi gươm cụt cán cầm vững trước ngực rồi lao thẳng vào bọn giặc. Giặc kinh hoàng tránh rạt cả sang bên không dám liều lĩnh chọi nhau tay đôi với Huân. Một tên lớ ngớ bị cả đà người của Huân lao tới, mũi gươm đâm lút ngực hắn xuyên thẳng qua bên kia… Giữa lúc đó, một viên đạn từ dưới tàu bắn lên thình lình trúng Huân. Huân té nhào xuống trận địa, bàn tay vẫn nắm chặt lưỡi gươm còn hoen đầy máu giặc.
Khi Xuyến trở về thì Huân không còn nữa mà chỉ còn trơ lại một nắm mồ chưa phủ cỏ xanh. Có thắp mấy nén nhang trước mộ rồi nức nở, kể chuyện cho Huân nghe… Một cơn gió lạnh thổi qua. Cô cởi chiếc áo dài đắp trên nấm mồ, rồi gục đầu xuống như muốn áp miệng mình vào nền đất để nói cho người dưới mồ nghe rõ:
- Anh có nghe chăng lời văn của thầy Tú thay mặt bà con soạn trong buổi điếu tế vừa rồi. lời than khóc của em không sao bì được lời văn rút ra từ tâm huyết thầy Tú, nên em chỉ xin mượn lời văn của thầy mà khóc anh, mong anh hiểu cho lòng em… Anh ơi! Khi dự lễ, được nghe câu: “Đau đớn thay mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều, não nùng thay vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ” em đã khóc òa nức nở vì đó chính là tâm sự của em. Anh và em dầu chưa cưới xin nhưng một lời hẹn ước cũng đã là nghĩa vợ chồng, em nguyền để tang anh đến trọn đời và xin phép anh được coi mình như dâu con trong gia đình anh. Chắc thầy Tú cũng thể tình mà vui lòng nhận đứa em dâu bạc phước…
Giữa lúc dó, Tú Chiểu cũng ra viếng mộ em, nghe lời nói thủy chung của cô gái, ông xúc động, lấy tay áo gạt nước mắt. Nghe động quay lại thấy ông Tú, cô thốt kêu:
- Trời! Thầy Tú… - Rồi cô tiếp lời. - Xin phép thầy cho em được kêu bằng trưởng huynh…
Ông Tú giọng chân thành:
- Thím… Tôi rất hân hạnh có được một người em dâu như thím… Nhờ thím mà chú ấy đã làm tròn bổn phận người trai lúc nước nhà hữu sự. Nhưng còn bổn phận của thím, không biết thím nghĩ sao?
Xuyến như bừng tỉnh, kêu lên:
- Thưa trưởng huynh, em đã hiểu… Em xin hứa với trưởng huynh, với vong hồn anh Huân sẽ ráng mà sống. Sống để trả thù cho chồng, trả thù cho nước…
Hàng cây bên mồ như bỗng rạt rào vì xúc động trước những lời nghĩa khí của cô gái. Những ngọn cỏ khẽ lay động, khói nhang cũng chập chờn tỏa rộng rồi lan dần trong khoảng trời xanh cao bát ngát. Con chim đậu trên cây từ nãy vẫn im lặng, giờ bỗng giật mình vỗ cánh bay vụt lên.
*
Về Phan Rí, nằm trên giường bệnh, thỉnh thoảng Nguyễn Tri Phương lại giở bổn Lục Vân Tiên ra ngâm nga. Cứ mỗi lần đọc đoạn:
Vân Tiên tả đột hữu xung,
Khác nào Triệu Triệu Tử vượt vòng Đương giang.
Lâu la bốn phía tan hoang,
Đều quăng gươm giáo kiếm đàng chạy ngay.
Ông lại thấy bừng bừng như sống lại những giờ khắc xông xáo ngoài chiến địa trước đây. Chiếc giường bệnh chẳng khác gì chiếc cùm đè nặng lên thân thể, ông chỉ muốn dứt phăng để xông ra trận tiền chém giặc. Ông nhớ lại vua Tự Đức trước đây chỉ biết than thở: “ Tướng võ tiêu sầu duy có rượu, Quan văn đuổi giăc lại không thơ”. Thơ Lục Vân Tiên không gọi là thơ đuổi giặc thì còn gọi là thơ gì? Ông chỉ mong sớm khỏi bệnh để mang sách về Huế sai thợ khắc in thành ngàn vạn bổn cho cả nước đều đọc, để càng tăng thêm chí khí chống giặc. Mỗi câu thơ quả có sức mạnh tựa muôn quân, nó thôi thúc người ta không chịu ngồi yên ở xó nhà, nó hun đốt bầu máu nóng người dân, nó cũng nuôi cháy hồn nước trong đêm tối.
Nhiều đoạn ông Nguyễn đọc lên cũng phải phì cười. Cái lão Thái sư muốn cống Nguyệt Nga cho Ô Qua chẳng giống hệt Phan Thanh Giản, Nguyễn Bá Nghi muốn dâng ba tỉnh Đông Nam Kỳ cho Lang-Sa hay sao? Còn Trịnh Hâm, Bùi Kiệm không phải Tôn Thọ Tường, Trần Bá Lộc thì còn ai vào đó nữa. Thằng Cốt Đột mắt hùm, râu đỏ, đúng là tướng giặc Lang-Sa rồi… Nhưng còn Vân Tiên, Tử Trực, Hớn Minh. Vân Tiên văn võ kiêm toàn lại bị mù mắt phải chăng là ký thác của Tú Chiểu? Hai người bạn kia cũng y như Trương Định và Nguyễn văn Lịch… Giờ đây, ông mới hiểu hết ý nghĩa câu nói của người xưa: “Văn chương là việc ngàn thuở, Được mất trong một tấc lòng”.
Nếu mỗi dòng thơ kia là một dòng nước mát tưới cho ông trong cơn hỏa kiệt, thì mỗi chiến công từ miền Nam đưa về lại như một thang thuốc hồi sức cho ông.
Gần đây, ông liên tiếp nhận được những tin vui:
Ngày 26 tháng 6 năm Tân Dậu1* , giặc Lang-Sa đánh thành Định Tường. Đội quân của Trương Định hợp với đội quân của Cử nhân Đỗ Trình Thoại, Tri huyện Tân Hòa, sẵn sàng nghênh chiến. Trúng kế nghi binh của ta, giặc bỏ tàu lên bộ sa vào ổ phục kích, quân ta thình lình đổ ra vây đánh, dùng toàn mã tấu. Tướng Ri-van bị đâm hai mũi giáo và bị hỏa hổ đánh lòi một con mắt. Thủy quân Lang-Sa ở dưới tàu phải dùng đại bác mới phá được vòng vây.
Sáng hôm sau, thừa lúc quân chúng ngủ say và mệt mỏi, cánh quân của ông Đỗ Trình Thoại trên sáu trăm người, phần lớn là dân chúng võ trang bằng giáo mác lại đổ ra đánh úp gây cho chúng nhiều thiệt hại. Hai ngày sau, viện binh Lang-Sa đổ bộ lên Rạch Lá. Ngay đêm ấy, Trương Định huy động toàn lực đến đánh úp. Quân Lang-Sa chết và bị trọng thương một số đông. Được tin thua trận, tướng giặc Bô-na phải đích thân từ Sài Gòn xuống. nhưng lại gặp nhiều trận phục kích và phải giao phong hai trận ác liệt ở Cửa Khâu và Trại Cá với đội quân của Trương Định, nên bị thiệt hại nặng.
Cũng vào dịp đó, tên trung tướng Pác-phe đem tàu Et-xpê-răng- xơ chở lính xuống đậu tại Vàm sông Nhật Tảo để chặn các đường giao thông đi lại Đồng Tháp Mười, Gò Công và Sài Gòn - Chợ Lớn. Được tin này, nghĩa quân của Nguyễn Văn Lịch bèn cho năm chiếc ghe giả làm dân thường, từ sông lớn đổ ra, tiến lại gần phía tàu. Khi lên đội Lang-Sa chồm ra boong tàu để xét giấy liền bị một người trong bọn họ lẹ làng rút đoản kiếm nhảy lên đâm chết tươi. Tức thì một đoàn dũng sĩ có đến một trăm năm chục người ở dưới ghe, đều một lượt nhảy tràn lên tàu ra sức chém giết bằng gươm giáo. Giăc không kịp chống đỡ, bị giết mất quá nửa, còn lại một số phải trốn xuống khoang tàu và hầm tàu. Nguyễn Văn Lịch hạ lệnh phóng hỏa. Chiếc tàu giặc nổ lên một tiếng rất lớn rồi bùng lên khói lửa ngất trời. Lửa cháy rất mau, chỉ trong chớp mắt đã tràn vào các khoang tàu và buồng tàu…
Nghe người đưa tin kể chuyện tới đó, Nguyễn Tri Phương nghĩ thầm: Lửa đã lan tràn khắp cả Nam kỳ, bọn giặc đừng mong gì dập tắt ngọn lửa căm thù hừng hực của người dân mang hào khí Đồng Nai. Chiếc tàu mang tên “Hy vọng” của chúng cháy rụi và chìm xuống đáy sông, vô hình trung đã trở thành một biểu tượng đậm nét.
Hôm sau, tin thắng trận ở Cần Giuộc lại dồn dập đưa tới. Lần này khiến ông Nguyễn sửng sốt. Trương Định, Nguyễn Văn Lịch thắng giặc điều đó không đáng lạ vì hai người này đều mưu trí, dũng cảm. Nhưng Đốc binh Là, người chỉ huy trận đánh Cần Giuộc, trước đây không lấy gì làm tài giỏi cho lắm. Nhưng mấy bữa nữa, Trần Nhượng trở về cho hay chính ông Tú Chiểu đã làm tham mưu cho Đốc binh Là, thì ông Nguyễn mới hết thắc mắc. Tú Chiểu đã hình dung ra được toàn bộ thế trận liên hoàn của ba xứ Gò Công, Tân An, Cần Giuộc nhất tề đánh địch ở khắp mọi nơi, khiến chúng lúng túng không thể cứu ứng lẫn nhau, mà lại còn bày được cả kế sách rõ rệt cho mọi trận đánh. Trần Nhượng còn dâng ông bổn chép tay bài: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của ông Tú Chiểu đọc trong buổi tế hương hồn những người đã hy sinh. Bất giác, ông Nguyễn cất giọng sang sảng đọc:
“Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ, trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Kẻ đâm ngang người chém dọc, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh; Bọn hè trước, lũ ló sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ”.
Đọc bài văn, ông Ngu ễn như nhìn thấy trận đánh diễn ra trước mắt, thật sống động. Khác xa với cái thứ văn bóng bẩy mà sáo rỗng hết viện dẫn đến điển tích lại tả cảnh gió, tuyết, trăng, hoa của nhiều ông nghè, ông cống. Khi đọc Lục Vân Tiên, ông Nguyễn đã khen Tú Chiểu nhưng đến khi đọc Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì phải nói là ông cảm phục. Dầu sao Lục Vân Tiên cũng vẫn là mượn chuyện xưa để nói nay, nhưng Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc thì tả một cảnh vừa mới xảy ra với những con người có thật, những con người “chỉ biết ruộng trâu” “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm” mà trước đây không mấy khi được miêu tả trong văn chương, nếu có chăng nữa thì cũng với một thái độ đứng trên cúi xuống thương hại cảnh khổ cực của họ. Ở đây những người ấy đã đóng vai trò chính và được hết lời ca ngợi.
Nhưng bên cạnh những lời ca ngợi ấy, ông Nguyễn cũng tìm thấy những lời trách móc quan lại triều đình:
“Tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng, trông tin quan như trời hạn trông mưa”.
Phải chăng lời trách móc này cũng nhằm cả vào mình. Ông Nguyễn nhớ lại khi giặc chiếm thành Gia Định, triều đình còn bàn lui bàn tới mãi xem nên đánh hay nên hòa. Cuối cùng mới chịu cử ông Nguyễn vào Gia Định. Giữa lúc ở Huế, quan Khâm thiên giám còn dềnh dàng xem lịch chọn ngày tốt làm lễ “khởi mã”, thì những đội nghĩa binh Nam Kỳ “trong tay cầm một ngọn tầm vông”, “hỏa mai đánh bằng rơm con cúi” đã tự động đứng lên chăn đánh giặc, giết được bao nhiêu tên cướp nước. Lần này, ông Nguyễn không thấy bực bội như lần trước đọc câu thơ “Biết ai thiên tử, biết ai thần” của Tú Chiểu. ông đã linh cảm thấy trước tình thế mới, địa vị chí tôn của nhà vua đã bắt đầu lung lay, và những người dân đứng lên đánh giặc không phải chỉ là để đền ơn vua mà để giữ nước, giữ lấy mồ mả ông cha:
Binh tướng nó đã đóng sông Bến Nghé, làm cho bốn phía mây đen; Ông cha ta còn ở đất Đồng Nai, ai cứu một phương con đỏ…
Từng câu từng mũi kim đâm nhói vào tim ông.
Và ông cảm thấy hết được sự trái ngược mỉa mai, ông một vị đại tướng cầm chục vạn quân nắm quyền bính trong tay lại đành nằm đây bất lực, trong khi một kẻ thư sinh áo vải, chân trắng, lại hiên ngang đứng ra hàng đầu trận tuyến chống giặc lúc này. Phải chăng vì trong con người Tú Chiểu đã kết tinh được sức mạnh của hàng triệu người “côi cút làm ăn lo toan nghèo khó” nhưng với bản chất trong sáng “ghét thói mọi như nha nông ghét cỏ” và lòng căm thù giặc “bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan. Ngày xem ống khói chạy đen sì muốn ra cắn cổ” nên dầu chưa phải là quân cơ quân vệ cũng chưa quen võ nghệ, binh thư đã hăng hái đứng lên đánh giặc. Chính vì nói lên tiếng nói của những người mến nghĩa xuất thân từ “dân ấp, dân lân” kia, nên Tú Chiểu mới có một uy lực tinh thần không những làm cho giặc khiếp sợ, mà còn khiến ông, một mệnh quan của triều đình phải kính nể.
Ông vụt cảm thấy ân hận đã không sớm biết tài Tú Chiểu để cất nhắc lên một chức quan trong thời kỳ ông đang giữ trọng trách ở Nam Kỳ. Nhưng sau một hồi suy tính, ông lại gạt ý nghĩ đó đi. Dầu Tú Chiểu có được làm quan chăng nữa, cũng chưa chắcvừa qua đã đắc dụng. Vì so với cái lối bố trí binh lực của ông, thu mình trong cái rọ vuông mỗi chiều mấy nghìn thước, nấp sau hào lũy phòng ngự cản giặc; thì lối đánh luân chuyển, dương Đông kích Tây tỉa dần từng toán quân nhỏ của giặc do Tú Chiểu bày ra, quả là mới mẻ.
Ông đọc lại bài văn một lần nữa, những câu văn vừa sảng khoái vừa trầm hùng, khiến tâm hồn ông phấn phát trở lại:
“Sống làm chi theo quân tà đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; Sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gậm bánh mì, nghe càng thêm hổ”.
Từng lời văn hào hùng của nhà thơ kiêm thầy lang Tú Chiểu như từng giọt thuốc cực bổ thấm vào gan ruột vị tướng già yêu nước đang lâm bệnh.
Ghi chú
1* Năm 1861.