Khỏi cầu đá xanh ngang qua dãy hào hình cánh cung, chiếc võng trần màu hồng điều đi lọt vào cửa tiền ngôi thành đá ong đỏ tỉnh Biên Hòa, giữa hai khẩu đại bác giàn hai bên. Viên chánh quản cơ đi đầu nạt đường rồi đến hai quân sĩ nón chóp, áo dấu cầm hai tấm biển gỗ sơn khắc chữ “Tĩnh túc” và “Hồi tỵ”1*. Dẫn kế là lá cờ đuôi nheo, tiếp đến đoàn quân và các đồ nghi trượng.
Qua khỏi khuôn cửa, hai lính vệ khiêng đòn võng vội trở vai cho đỡ mỏi. Chiếc mành mành cánh sáo được vén lên, người ta thấy quan Tổng thống quân vụ ngồi xếp bằng tròn trên võng, nét mặt đầy ưu tư. Trên con đường thênh thang, đoàn nghi vệ đi qua vọng cung, hai bên có lầu chuông trống rồi đến tòa công dinh rộng lớn.
Một hồi trống báo, quan Tuần phủ Nguyễn Đức Hoan lật đật ra đón quan Tổng vào dinh giữa. Sau một tuần trà nước, quan Tuần phủ hỏi:
- Kính bẩm tướng công, tình thế nguy cấp lắm có phải không ạ?
Nguyễn Tri Phương chậm rãi:
- Giặc Phú Lang-Sa hạ được Đại đồn, ta cùng quan Tham tán Tôn Thất Cáp và Phạm Thế Hiển phải rút về thôn Tân Lạc phủ Tân Bình. Chúng lại rượt theo, quân ta đành rút về đây. – Ông lau nước mắt. – Chỉ thương cho Phạm tham tri, bị thương nặng không biết mệnh hệ ra sao…
- Dạ… còn quan Tán lý… - Nguyễn Đức Hoan ngập ngừng.
- Em ta bị trúng một trái đại bác giặc, thi thể không còn mảnh nào nguyên vẹn…
Ông nghẹn ngào nhớ lại cảnh tượng trong lúc giao chiến… đại bác ầm ầm thụi vào tường thành chỉ trong nháy mắt có thể san phẳng tất cả hào lũy… Quân ta từ trên quăng đá xuống nhưng vì hoảng hốt nên không trúng một tên Lang-Sa nào. Quân giặc vẫn lừng lững tiến lên, và khẩu đại bác như con quái vật há cái miệng đen sì của nó ngoạm từng mảng thành.
Giữa lúc đó, Tán lý Nguyễn Duy xông ra. Vừa ra tới nơi thì bị ngay một trái đạn bắn sạt đầu. Nhưng Nguyễn Duy vẫn dũng cảm xông tới. Một tên Lang-Sa vác một chiếc thang chạy tới định đặt để trèo lên cửa thành thì bị Nguyễn Duy chém một nhát. Tên giặc ngã lăn trên mặt đất. Lại một tên, rồi tên nữa. Nguyễn Duy đang đà hăng cứ vung gươm chém lia lịa hết tên này đến tên khác. Máu giặc bắn vào nhuộm đỏ chiếc áo ông đang mặc. Thấy nhiều đồng bọn gục ngã, đoàn quân Lang-Sa hốt hoảng lùi lại… Đạn đại bác lại nổ ầm ầm yểm hộ cho đoàn tiền quân giặc. Nguyễn Duy đang xông xáo như giữa chốn không người thì một trái đạn đại bác nổ trúng người ông. Thân thể ông tan ra như xác pháo không còn mảnh nào nguyên vẹn. Quân sĩ xông ra cứu ông chỉ còn lượm được một mảnh áo là dấu hiệu duy nhất để nhận ra ông.
Quan Tổng thống quân vụ đang đứng đốc chiến ở cửa Tả hậu, thì nhận được tin dữ. Vừa cầm lấy mảnh áo đẫm máu… nóng hổi trên tay ông như một quả tim thì người võ tướng thân cận quan Tham tán quân vụ Phạm Thế Hiển đã ngã gục dưới chân ông…
Hiểu nỗi đau đớn của quan Tổng, Nguyễn Đức Hoan an ủi:
- Ty chức xin có lời phân ưu cùng tướng công. Xin tướng công chớ quá lo buồn mà tổn hao ngọc thể. Hiện giờ người là trụ cột của xã tắc, tính mạng của ba quân, nếu có bề nào thì tai hại cho đất nước không nhỏ…
- Em ta có chết nhưng là cái chết vì nước như vậy ta cũng vui lòng rồi…
Ngừng một lát, ông Nguyễn tiếp:
- Vả chăng, quân ta cũng còn nhiều thương binh, tử sĩ lẽ nào ta lại chỉ riêng nghĩ đến người em ruột. Quan lớn cho binh lính đi chôn cất tử sĩ và săn sóc thương binh…
Bỗng thấy quan Tổng hơi nhăn mặt, viên tuần phủ giật mình:
- Hình như cụ lớn cũng bị thương, xin rước người vào hậu đường tĩnh dưỡng đã…
Nguyễn Tri Phương lắc đầu:
- Giặc đã lấy được toàn thành Gia Định, chắc sẽ kéo tới Biên Hòa, ta phải lo đi sửa sang hào lũy, doanh trại, để sẵn sàng đối phó. Lúc này không phải là lúc nghỉ ngơi…
Rồi ngay hôm đó, Nguyễn Tri Phương thân hành đi đôn đốc việc bảo vệ tỉnh thành. Ông còn cho đắp- lại các hào lũy Tân Hoa, Trúc Giang, Trảo Trảo, Sông Ký, rào thêm tre gai ở lũy Đông Giang, Phước Tứ và năm đồn Đồng Môn. Ở bảo Phước Thắng túc Vũng Tàu và cửa Cần Giờ, ông cũng cho đóng hêm đồn quân canh giữ mặt biển.
Đang say sưa trong công việc thì triều đình Huế sai Khâm sai Nguyễn Bá Nghi điều bốn ngàn binh sĩ vào Biên Hòa. Tới nơi việc đầu tiên của Nghi làm là lập hội đồng nghị tội những người thua trận. Hội đồng tâu xin giải chức Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Cáp và xử trảm giam hậu2* các thuộc quan khác.
Mấy hôm sau có sắc chỉ của nhà vua tới nơi, nói vì xét công, cho hưởng trường hợp giảm khinh giáng Phương xuống chức Tham tri, Cáp Viên ngoại, còn Hiển đã qua đời, được miễn tội. Các thuộc quan cũng được ân giảm theo.
Nguyễn Tri Phương đang sửa soạn về Phan Rí chạy chữa vết thương thì được tin Nguyễn Bá Nghi đã gửi thư nghị hòa với đô đốc Lang-Sa Sác-ne. Cuộc hội đàm được mở trên tàu Pri-mô-ghê.
Nắm được thóp của Nghi, Tôn Thọ Tường khuyên Sác-ne nên làm căng. Phái viên của Sác - ne dự hội nghị hòa liền đòi mười hai khoản trong đó có hai việc chuyển nhượng thành Gia Định, hai tỉnh Định Tường, Thủ Dầu Một và bồi thường bốn triệu nguyên bạc là nặng nhứt.
Không thể chịu được cảnh ấy, ông Nguyễn mặc dầu đang bệnh nặng vẫn nhờ người dìu tới chỗ Nghi khuyên Nghi đừng làm chuyện bán nước. Nghi không nghe, lấy lý nếu không nghị hòa mà Tây đánh, đòi thêm đất, bấy giờ công chẳng được, thủ không xong mà hòa cũng không được vẹn.
Giữa lúc ấy, Trương Định,Nguyễn Văn Lịch vừa hộ tống các quan tỉnh Gia Định rút về Biên Hòa. Tới nơi, hai người vội đến tận giường bệnh thăm hỏi vị chủ tướng và một hai xin ông đứng ra cầm đầu các sĩ phu nghĩa dũng đứng lên chống giặc.
Nghe xong, ông Nguyễn cảm khái:
- Lòng dân như vậy, ta dầu có chết cũng nhắm được mắt.
Trương Định vội thưa:
- Sao tướng công lại nói gở như vậy? Hiện nay tướng công là sinh mệnh của cả trăm họ, tiêu biểu cho công cuộc chống giặc. Tiểu tướng biết có một nơi hiểm yếu là Đám Lá- Tối Trời ở Gò Công, xin rước tướng công về đó tĩnh dưỡng để rồi tính kế lâu dài. Người chớ về Phan Rí để rồi chui vào bẫy của bọn Nguyễn Bá Nghi…
Ông Nguyễn chưa kịp trả lời thì Trần Nhượng vào báo:
- Kính bẩm tướng công, có hai cậu Phan Liêm, Phan Tôn, xin vào vấn an…
Quản Lịch cau mày:
- Phan Liêm, Phan Tôn con ông Phan Thanh Giản. Ông này cũng một duộc chủ hòa như Nguyễn Bá Nghi. Hay là vô đây để dò xét tướng công chăng?
Trương Định lắc đầu:
- Không, tôi nghe nói hai cậu Phan Liêm, Phan Tôn tính tình trung hậu, lại rất ghét giặc Tây, chưa chắc đã có chuyện đó đâu. Xin tướng công cứ cho hai cậu vô để hỏi coi ra sao đã…
Nghe lời Trương Định, ông Nguyễn cho mời hai anh em họ Phan vào. Đó là hai chàng trẻ tuổi mặt mũi khôi ngô, nước da trắng trẻo, mình mặt áo gấm lam nổi hoa chữ thọ, đầu chít khăn nhiễu tím, chân dận hài đỏ, tỏ ra người sinh trưởng trong chốn cao sang. Tuy vậy nét mặt đầy vẻ hòa nhã của kẻ có học thức.
Tới nơi, Phan Tôn vái chào rồi nói:
- Bẩm, bá phụ thọ thương, chúng cháu tới thăm trễ, thiệt là đắc tội.
Phan Liêm cũng nói:
- Chắc bá phụ không được hài lòng về việc làm của phụ thân cháu…Xin bá phụ hiểu cho, chúng cháu cũng rất khổ tâm về chuyện đó, nay tới đây để giãi tỏ lòng thành…
Ông Nguyễn ôn tồn:
- Từ lâu ta đã hay hai cháu không phải người cạn nghĩ. Cách biệt mấy năm, hai cháu đã trưởng thành cả rồi, bác rất vui mừng…
Trương Định cũng vồn vã hỏi han hai anh em họ Phan, riêng Lịch vẫn đứng yên một góc, nét mặt đầy vẻ ngờ vực. Bỗng Phan Tôn sực nhớ thưa với ông Nguyễn:
- Bẩm bá phụ, có gia sư là Nguyễn Đình Chiểu muốn vô vấn an, nhưng vì chưa được diện kiến bá phụ lần nào nên e rằng đường đột…
- Nguyễn Đình Chiểu nào? Có phải thầy tú tài Chiểu nổi tiếng thơ hay đó không?
- Bẩm, chính phải. Khi ông mở trường ở Tân Thuận, chúng cháu có tới tập văn một độ. Nay ông về Bình Vị Biên Hòa thăm nơi dạy học cũ, gặp chúng cháu nên chúng cháu dẫn ông tới đây…
- Ta nghe danh thầy Tú Chiểu từ lâu, vẫn có lòng khao khát. Cháu ra mời thầy vô và xin lỗi giùm ta vì thọ thương nên không ra đón được, nghe!
Anh em họ Phan ra mời Tú Chiểu vào. Trương Định nghe nói mừng ra mặt vì Định cũng mong gặp lại người bạn mới quen.
Lát sau, ông Nguyễn nhìn thấy một người cao lớn, nước da trắng trẻo, tuy mù nhưng dáng điệu hết sức trang nhã, với chiếc áo trắng dài vải thô sạch sẽ không một nếp nhăn. Chiếc búi tóc giắt lược sừng nhô cao lên vành khăn nhiễu tím. Thoạt trông, ông Nguyễn đã sinh lòng kính nể, gượng đau đứng dậy đón. Tú Chiểu biết ý vội thưa:
- Xin tướng công chớ bận lòng vì kẻ hàn sĩ này. Người cứ an tọa để tiểu sinh đứng hầu là đủ rồi…
Nguyễn Tri Phương không nghe, một hai ép ông Tú phải ngồi lên giường cạnh ông. Tú Chiểu khoan thai vén áo ngồi ghé một bên, rồi kính cẩn:
- Bẩm, tiểu sinh có biết chút ít về y lý, nghe nói tướng công thọ thương nên mạn phép đến vấn an, coi có thể góp phần điều trị được chút nào chăng?
Ông Nguyễn cảm kích:
- Thầy có lòng, ta rất cảm ơn. Từ lâu ta đã nghe danh thầy, thuốc đã giỏi mà thơ cũng hay, nên thường ao ước có phen gặp gỡ, ai ngờ không hẹn mà nên. Nhưng vết thương của ta có đáng kể gì so với vết thương của đất nước. Trước khi điều trị cho ta, thầy hãy cho ta biết ý thầy về thời cuộc đã…
Tú Chiểu điềm tĩnh:
- Bẩm, tiểu sinh trộm nghĩ đất nước như con bệnh trầm kha3* muốn chữa lành chốc lát không phải là chuyện dễ. Trước hết phải dùng thang công phạt để khu trừ cho hết âm độc, sau mới dùng sâm nhung để bồi bổ nguyên khí. Như người các mạch bị uất kết, phải khai thông các mạch bằng phép châm cứu, thì ở đây phải cổ vũ lòng dân căm hờn lũ giặc, vì nước hiến thân. Sau tới việc khu tà giải độc từng ăn sâu vào tạng phủ, phải dùng vị thuốc có tính nhiệt tính cấp, thì ở đây phải nhóm họp nghĩa sĩ, chọn nơi đóng quân, sắp sẵn khí giới đánh giặc. Nếu cây cỏ cũng đều trở thành vị thuốc được, thì một ngọn tầm vông cũng có thể làm binh khí giết giặc, một bó rơm con cúi cũng có thể làm hỏa mai đốt tàu, một lưỡi dao phay, một thanh kiếm sắt đều là quân nhu, một chiếc chiêng đồng, một thớt mõ gỗ đều là hiệu lệnh. Sách có chữ “gươm gỗ giáo sào” cũng là lẽ ấy. Nếu như trăm họ đều là quân binh, khắp đất đều là chiến lũy thì giặc không thể thoát khỏi lớp thiên la địa võng4* như loài trùng bệnh khi có các loại thuốc khắc chế đưa vào, sẽ hết cách hoành hành.
Ông Nguyễn vui mừng:
- Lời thầy nói về căn bệnh đất nước mà lại làm thuyên giảm tâm bệnh của ta. Xin thầy nhận xét giùm về sở trường sở đoản của ta trong việc cầm quân vừa qua, để còn bồi bổ cho lần sau…
Tú Chiểu nghiêm trang:
- Bẩm, sở trường của tướng công là dựa vào thành lũy…
- Còn sở đoản?
- Sở đoản của tướng công cũng là dựa vào thành lũy…
- Sao? Sở trường sở đoản cũng là thành lũy, vậy là nghĩa thế nào?
Tú Chiểu bình tĩnh:
- Bẩm, thành lũy có cái hay là cố thủ được ít lâu để có thời giờ tập trung binh lực khởi thế công, nhưng cũng có cái dở là chỉ chống cự được với những đoàn quân dùng gươm giáo hay súng thần công kiểu xưa, chớ khi đem chọi với một đội quân có súng ống tối tân đủ sức san phẳng hào lũy thì lại phơi ra nhiều chỗ yếu, chẳng khác nào giơ lưng ra cho người ta thụi.
Ông Nguyễn nhíu đôi lông mày bạc như cước, nét mặt căng thẳng tỏ vẻ hết sức quan tâm:
- Theo ý thầy thì nên làm thế nào?
Nghe giọng nói ông Nguyễn, Tú Chiểu biết ông hiện đang hết sức đau khổ vì Tú Chiểu đã chọc đúng vào vết thương trong lòng ông. Muốn ông Nguyễn tâm thần đỡ bị chấn động, Tú Chiểu không vội nói ngay cốt cho cơn nóng nảy của ông qua đi đã. Giây lát đợi ông bình tĩnh trở lại, Tú Chiểu mới nói, giọng điềm đạm như một thầy thuốc chẩn bệnh:
- Muốn đưa được thuốc vào phải biết cách dẫn kinh, chớ nếu uống đủ các vị hàn nhiệt vào một lúc sẽ công phạt lẫn nhau rồi mắc chứng trệ, hay ứ huyết, rối loạn kinh mạch. Cũng như ở đây phải biết chia quân đi đóng các nơi hiểm yếu, nằm trên các đường trục giao thông để có thể cứu ứng lẫn nhau. Cứ ý ngu của tiểu sinh thì Trương Lãnh binh nên lui về giữ đất Gò Công, Nguyễn Quản cơ nên về giữ đất Rạch Giá, còn Cần Giuộc thì tôi sẽ nói với Đốc binh Là mang quân về đóng chốt. Ngoài ra như các nơi Đồng Tháp, Mỹ Tho cũng nên chia người đóng giữ. Còn tướng công là linh hồn của cuộc chiến đấu, nên tĩnh trấn một nơi để dóng dả mọi người, cũng như là vị thuốc chủ để bổ hư ích khí5* vậy.
Nghe xong lời Tú Chiểu, Định và Lịch đều gật gù khen phải. Phan Tôn gặng hỏi:
- Sao từ nãy tới giờ tôn sư không nhắc tới bọn tiểu đồ, hay tôn sư cho rằng…
Tú Chiểu vội gạt đi:
- Đâu phải vậy, chỉ hiềm vì quan Phan đứng đầu phe chủ hòa, nếu hai cậu đứng ra xướng nghĩa, e có người nghi ngờ cho là giống như vị thuốc “dẫn khấu nhập đình”6* thì nguy! Như vậy, hai cậu hãy tạm lui về Bến Tre, chỉnh bị lực lượng, khi nào thời cơ thuận lợi hãy nổi dậy cũng chưa muộn. Đó cũng là vị thuốc bổ âm phối hiệp với vị thuốc tráng dương của các vị này. Nếu như thang thuốc phải có “quân thần tá xứ”7*, thì mọi người trên dưới phải một lòng mới có công hiệu.
Nguyễn Tri Phương ngẫm nghĩ rồi nói:
- Thầy nói vậy quả là đạt lý, nhưng chết nỗi triều đình lại truyền cho ta phải về Phan Rí dưỡng bệnh. Vậy ta nên ở lại hay về Phan Rí theo lệnh triều đình?
Tú Chiểu đắn đo. Lúc này khuyên ông Nguyễn bất tuân lệnh triều đình là chưa phải lúc. Dầu sao hai chữ trung quân đã ăn sâu vào trong tâm óc ông Nguyễn rồi. Mình đòi hỏi ở ông điều vượt quá sức ông là không thể được. Nghĩ vậy, ông thận trọng;
- Tướng công là mệnh quan của triều đình, nếu không về, bọn quan lại chủ hòa sẽ vin vào đó buộc tội tướng công chống lại nhà vua rồi kiếm cách giết haị, khi đó trăm họ mất kẻ cầm đầu, ắt ngơ ngác như gà con lạc mẹ. Tướng công hẳn không lạ gì cái tội “mạc tu hữu”8* mà Tần Cối khép cho Nhạc Phi thời xưa.
Nguyễn Tri Phương lắc đầu:
- Mình ta dầu chết cũng có nghĩa lý gì. Trong thiên hạ, thiếu chi người đức hơn ta. – Ông chỉ mấy người trẻ tuổi. – Như các tướng quân đây chẳng hạn.
Tú Chiểu giọng từng trải:
- Nếp quen chuộng người có danh vọng cầm đầu của dân ta có từ ngàn năm nay, đâu phải một sớm một chiều mà thay đổi được. Nói gì thì nói chứ các tướng quân đây tuy thừa nghĩa khí nhưng danh vọng còn thấp, chưa thể đứng làm tiêu biểu cho công cuộc chống giặc. Chi bằng tướng công cứ về Phan Rí, mượn danh nghĩa triều đình mà cổ vũ trăm họ một lòng chống giặc, để mọi người cùng hướng về ngọn cờ đại nghĩa. Nhiệm vụ của tướng công lúc này là phải sống, để đứng làm cột đá ngăn chặn dòng nước xoáy, cứu vớt muôn dân.
- Lời ông nói thấm vào ruột gan ta chẳng khác nào thang thuốc bổ, về y lý thì như vậy nhưng trước mắt ông có phương thuốc nào hay giúp ta không?
Tú Chiểu mở khăn gói lấy ra một cuốn sách giấy bản bìa phất cậy dâng lên:
- Kính bẩm tướng công, tiểu sinh cảm thương thời thế, thao thức suy nghĩ gần một năm ròng mới soạn thảo nên một bổn Lục Vân Tiên để góp phần làm chiếc thuyền chở đạo, và dùng ngọn bút đâm mấy thằng gian. Xin dâng tướng công đọc và chỉ dạy cho.
Ông lật qua mấy trang:
- “Trước đèn xem chuyện Tây Minh”… Chẳng hay ông diễn ca truyện Tây Minh hay viết theo ý bài Tây Minh của Trương Tải?
Tú Chiểu mỉm cười, nụ cười hóm hỉnh mà đôn hậu:
- Bẩm, đây là bổn thơ do tiểu sinh nghĩ soạn ra, không dựa vào cuốn truyện xưa nào, cũng không muợn ý của bài Tây Minh của Trương Tải. Sở dĩ kêu là Tây Minh là ngụ ý chuyện có liên quan đến giặc Tây bắt đầu thời vua Minh Mạng. Bởi ám chỉ giặc Tây nên mới gán cho nó cái tên rợ Ô Qua ở ngoài cửa biển…
Nguyễn Tri Phương đọc thử mấy dòng rồi gật gù:
- Cứ đọc câu “Nhớ câu kiến ngã bất vi. Làm người thế ấy cũng phi anh hùng” cũng đủ làm cho người ta sôi bầu nghĩa khí rồi. Ý đã cao mà thơ lại hay… - Ông lại đọc tiếp:
Dời chân ra chốn hoa đình,
Xem trăng rồi lại chạnh tình cố nhơn.
Than rằng: Lưu thủy cao sơn,
Ngày nào nghe đặng tiếng đàn tri âm…
Ông xúc động đặt sách xuống:
- Đọc câu này ta lại nhớ đời ta chỉ có một người bạn tri âm là ông Phan Thanh Giản, đời ta cũng chỉ có một lần làm thơ bài thơ tiễn ông Phan về Nam: “Cá lại Long Giang hai ngả nước. Nhạn về Du Hợp một phương trời”. Bây giờ ta với ông Phan không chỉ là hai cá rẽ dòng nước mà vĩnh viễn thành đôi nhạn lạc bầy…
Mọi người chung quanh đều bùi ngùi. Anh em họ Phan đưa vạt áo lên chấm nước mắt. Nhưng Tú Chiểu cương nghị:
- Bẩm tướng công. Cá lại Long Giang nếu vượt qua ba lớp sóng sẽ hóa rồng, nếu không thì chỉ là loại cá thường mà thôi. Làm thân cá sao chẳng mong có lần vượt được Vũ môn.9*
Như một phấn phát, ông Nguyễn lại say sưa đọc. Ông cảm thấy không phải là thơ trong truyện nữa mà là những lời tâm sự của chính ông…
Quan sơn ngàn dặm đăng trình,
Lãnh cờ bình tặc phá thành Ô Qua.
Ông càng đọc càng hào hùng. Giọng vị tướng già sang sảng như đọc một bài hịch cứu nước.
Ghi chú
1* “Giữ yên lặng” và “tránh ra”
2* Xử chém nhưng còn tạm giam lại
3* Bệnh đau lâu khó chữa.
4* Lưới trời, lưới đất.
5* Bồi bổ chổ yếu, có lơị cho khí huyết.
6* Dẫn giặc vô nhà
7* Thuốc có các vị chính phụ như vua tôi họp nhau.
[8] Nhạc Phi đang chống giặc Kim thì bị tên gian thần Tần Cối giả chiếu vua đòi về triều rồi giết hại. Có người hỏi: “Nhạc Phi có tội gì mà bị giết?” – Cối trả lời: “Cần gì phải có tội” (Mạc tu hữu) ý nói không có tội cũng buộc thành tội.
[9] Theo truyền thuyềt, cứ đến thánh tám có cuộc thi giữa các loài sống dưới nước, con nào nhảy vượt được qua cửa Vũ (Vũ môn) thì sẽ hóa rồng.