Đuốc Lá Dừa

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương IX

❊ ❊ ❊

Phan Thanh Giản giở đạo mật chỉ của Tự Đức ra đọc lại một lần nữa. Trên nền giấy màu vàng lợt, rành rành thủ bút của nhà vua truyền bắt Quản đạo Võ Duy Dương nôp cho Lang-Sa hoặc báo cho Lang-Sa tự bắt lấy.

Ông cúi đầu suy nghĩ. Dầu sao ông cũng không thể làm cái việc trái với lương tâm ấy. Trước đây ông vâng lệnh triều đình viết thư dụ Trương Định bãi binh, Định không những từ chối mà còn cho đề cờ tám chữ “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân”1*. Lúc đầu ông giận dữ cho đó là một sự xúc phạm quá đáng. Nhưng sau nhgĩ lại, ông cho rằng chẳng qua người ta không hiểu tâm sự ông mới vội vàng kết tội. Ông không giận Trương Định mà chỉ buồn lòng vì những người trẻ có cái máu sôi nổi thường không thông cảm với những người già vốn chín chắn, điềm đạm. Ông đâu có bán nước mà chỉ muốn tránh cho dân lành khỏi đổ máu vô ích. Mình chống lại với khí giới tinh xảo của Tây chỉ là trứng chọi với đá. Trong tất cả các điều tai hại, chọn lấy cái hại nhỏ nhất vậy mới là sáng suốt. Đáng buồn nhất là cả hai con trai ông cũng không hiểu ông. Phan Liêm, Phan Tôn đã ra mặt chống lại cha. Đúng là chúng nghe lời xúi giục của Tú Chiểu chớ không sai. Mới đây, hai đứa lại bỏ dinh đi đâu mất tiêu. Nếu chúng lại đi liên lạc với các nhóm nghĩa binh thì ông tất mắc tội với triều đình là không biết dạy con. Thế mới biết dao sắc không gọt được chuôi. Mình đi chiêu dụ các nhóm nghĩa binh giải giáp thì chính con mình lại đi theo nghĩa binh. Nếu quả vậy thì chẳng những lời mình nói đã không đắt, mà người ta còn chê cười biếm nhẽ không ít. Đó chẳng qua vì hồi đóng ở Sài Gòn, mình yêu thích thơ văn, thường hay mời Tú Chiểu tới dinh đàm đạo nên Tú Chiểu mới có dịp kết thân với hai con mình, bày vẽ cho chúng những điều kia khác.

Nhắc tới Sài Gòn ông lại nhớ chuyện Lang-Sa mời ông tới dự cuộc đấu xảo canh nông và công nghệ. Các gian hàng cất dọc theo con đường từ chỗ nền nhà hát bội của quan lớn Thượng trước tới đầu cầu Thị Nghè, trưng bày nào loại gạo Tân An, Gò Công, đậu xanh Bà Rịa, tơ Biên Hòa, đồ chạm trổ bằng ngà, sừng, cẩn xà cừ của Nam kỳ, đáng kể nhất là đồ nữ trang vàng bạc do thợ khéo Sa Đéc làm, quế, trầm, hồ tiêu, sáp, mật ong, chiếu lác cạp điều, nón lông, quạt lông. Ngoài ra còn có một số mỹ phẩm đem từ Tây sang. Lại có trưng bày trâu, bò, heo, cừu,gà, vịt. Giữa sân máy xay lúa, máy tỉa bông vải, máy lọc đường, máy ép dầu chạy ầm ầm suốt ngày cho dân chúng xem. Đúng là bọn Tây muốn khoe khoang sự giàu có tinh xảo của chúng trên mảnh đất ba tỉnh miền Đông do chúng cai quản. Nhưng cuộc hội chợ cũng lại trưng bày thêm bao cảnh lố lăng: những thằng Tây bụng phệ ngồi trên cỗ xe song mã, phía trên cao có tên xà ích cầm cương đầu đội mũ cao màu nâu, hóa trang theo Chà Và, để bộ râu ngạnh trê vuốt nhọn bằng sáp dẻo. Những mụ đầm váy bùng rền quét đất, đội nón giắt lông chim. Xốn mắt nhất là mấy mụ vợ Tây, quấn chuỗi hột vàng gần gẫy cổ, đeo kiềng vàng, mặc áo mớ ba mớ bảy, tóc xức dầu thơm. Phan Thanh Giản gặp ở đây tên soái Đờ la Gờ-răng-đi-e, lại cả hoành thân nước Cao Miên. Bọn Tây muốn ve vãn anh Nặc-ông-lân2* tính đưa lên làm vua Cao Miên để nước này dễ thần phục chúng đây mà. Cái anh chàng Ba Tường vô hạnh mà trước đây theo sứ bộ sang Tây, cũng nghinh ngang xe ngựa vì y mớí được Tây cho làm tri phủ Tân Bình. Gặp Phan Thanh Giản, y làm ra vẻ vồn vã nhưng ông lờ đi như không quen biết. Cả viên thông ngôn Trương Vĩnh Ký trước đi theo sứ bộ, giờ cũng được Tây ban chức Đốc trường thông ngôn. Thấy bọn chỉ đáng là thuộc hạ của ông mà bây giờ dựa thế Tây nghinh ngang coi như bằng vai phải lứa với ông khiến ông không khỏi tủi. Hèn chi thầy Tú Chiểu có câu thơ: Lổm xổm giường cao thấy chó ngồi, thiệt là đúng lắm!

Nghĩ lại chuyện ấy, ông thấy bớt giận Tú Chiểu. Nếu mình không phải là mệnh quan của triều đình mà chỉ là một thầy đồ, biết đâu mình không nghĩ như Tú Chiểu. Nhiều lúc ông thầm nghĩ ước gì mình được từ quan về Gảnh Mù ở quê nhà, để được nghe sóng biển ầm ầm vỗ vào đụn cát bên rặng bần mọc um tùm, ngắm những con nghêu nằm sắp lớp ở ven nước cạn, vùi trong cát từng lớp từng lớp. Nhớ lại hồi nhỏ cầm cây gậy nhọn xăm xuống đất là đụng nghêu lách cách. Mấy anh em bạn bắt nghêu trên bãi cát rồi ngồi chờ đến lúc nước lớn dâng lên ngập gốc những cây mù u trổ bông trắng xóa… Lúc này ông bỗng thấy sống lại cái cảm giác vị thịt nghêu đậm đà trên đầu lưỡi… Nhưng trọng trách triều đình biết phó thác cho ai? Người bạn thân thiết nhất đời ông là Nguyễn Tri Phương đã bỏ ông ở lại một mình gánh vác cái trách nhiệm nặng nề này, vậy mà còn không hiểu ông, cho là ông hèn nhát sợ giặc. Nhưng sở dĩ ông chủ hòa chỉ vì muốn cho dân được yên. Nhớ lại câu thơ Nguyễn Tri Phương tặng ông ngày trước: Cá lại Long Giang hai ngả nước, bây giờ không phải chỉ là cái chuyện chia đôi ngả đường đời mà còn là chia đôi ngả trên con đường chính kiến, chuyện ấy phải chăng đã báo hiệu từ ngày cùng thưởng mai ở chùa Cây Mai?

Sáng tinh sương, ông chợt nghe dưới sông dường như rộn rịp, dân tình gọi nhau ơi ới, tàu của Tây dường như nổ máy khi xa khi gần. Ông giựt mình.

Bỗng tên lính hầu vào dâng một bức thư gắn xi. Ông giở ra đọc thì đó là thư của tên nguyên soái Lang-Sa mời ông xuống tàu của chúng để thương thuyết. Ông cau mày, truyền:

- Bay ra mời các quan hàng tỉnh tới nghị sự, nghe!

Lát sau, Tổng đốc Trương Văn Uyển, Án sát Võ Doãn Thanh và lãnh binh Huỳnh Chiêu đã tề tựu. Đợi mọi người yên vị, Phan Thanh Giản trịnh trọng:

- Nay tên nguyên soái Phú Lang-Sa mời ta xuống tàu thương thuyết, vậy ý các đại nhân ra sao?

Trương Văn Uyển dè dặt:

- Bẩm quan Kinh lược, ty chức trộm nghĩ người Tây là giống khác, tâm địa của họ ắt khó lường, ta không nên khinh xuất xuống tàu của chúng, e xảy ra điều bất trắc.

Võ Doãn Thanh mềm mỏng:

- Bẩm, triều đình vẫn căn dặn chúng ta hãy ráng giữ mối giao hảo với người Tây. Nay họ mời mà không tới, ắt họ kiếm cớ trách được ta. Chi bằng cứ gặp họ nói phải trái, hỏi sao lại vô cớ đem thêm tàu chở khí giới tới trước thành ta. Nếu họ không nghe thì phần lỗi là về họ.

Huỳnh Chiêu uất ức:

- Bẩm quan Kinh lược và các quan, giặc đem tàu chở khí giới tới uy hiếp thành trì, vậy là dã tâm của chúng đã lộ ra rồi. Ta không cần thương thuyết mà nên sẵn sàng phòng bị nếu chúng giở trò gì là đối phó được liền. Thành Vĩnh Long này hào lũy vững chắc, địa thế rất dễ phòng thủ. Lần trước giặc đánh thành ta đã cầm cự rất mạnh mẽ. Lần này ta đã có kinh nghiệm, ắt chúng không dễ dàng chiếm được thành như lần trước.

Trương Văn Uyển phụ họa:

- Quan Lãnh nói rất đúng. Xin cho lũ tôi được đi xem xét việc củng cố hào lũy chỉnh bị khí giới để phòng khi nguy cấp.

Phan Thanh Giản đang ngần ngừ thì Bố chánh Nguyễn Văn Nhã từ ngoài chạy vào nói lớn:

- Bẩm, ty chức đã ra quan sát thấy hạm đội Lang-Sa gồm mười sáu thuyền chiến chở ngót hai ngàn lính thủy và pháo thủ cùng mấy trăm phu phen đã mai phục trước cửa thành rồi. Họ dùng cách tiên lễ hậu binh3* nếu mình không chịu thương thuyết, họ nã đại bác vào thì tan nát hết. Xin cấp báo! Cấp báo!

Phan Thanh Giản đứng dậy:

- Tình thế này ta đành phải xuống tàu tranh biện với họ mới xong. Quan Án đi với tôi, còn các quan ở lại giữ thành, chờ tôi về sẽ có cách khu sử.

Rồi Phan Thanh Giản vào phòng riêng thay phẩm phục, mũ văn công, mãng bào thêu rồng ba móng, thắt đai ngọc, đi hia đỏ, cùng Võ Doãn Thanh xuống tàu thương thuyết.

Hai chiếc cáng che mành mành cánh sáo tiến ra lối cửa hậu qua cây cầu bắc ngang hào ra ngoài thành. Tới đây có một con đường đất gọi là “đường yểm” có đào hồ phía bờ sông và dùng để vận chuyển binh lương giữa thành Vĩnh Long và đồn Vàm Tuần hoặc mau lẹ tiếp cứu nhau khi nguy cấp. Tới bờ sông Cổ Chiên, Phan Thanh Giản vén mành mành nhìn ra thấy mười sáu tàu chiến Lang-Sa đậu giăng hàng trên sông. Phan sai một tên lính hầu tới gần chiếc tàu đậu gần nhất báo cho phía Lang-Sa biết sứ giả Nam triều đã tới.

Bỗng một hồi kèn dưới tàu lanh lảnh cất lên. Một chiếc ca –nô từ tàu ghé vào bờ, đón hai quan Nam triều xuống rồi chở ghé sát mạn tàu lớn nhất. Cầu tàu được hạ xuống cho hai người trèo lên. Một toán lính hầu sắp hai hàng trên boong tàu, bồng súng chào trong tiếng kèn la vầy inh ỏi.

Tới gần khoang chỉ huy trên soái hạm, tên trung úy hầu cận ra dấu cho hai quan Nam triều dừng lại. Từ trong khoang, tên Đờ la Gờ-răng-đi-e tươi cười bước tới, ngả mũ chìa ra chào, Phan Thanh Giản và Võ Doãn Thanh chắp tay vái đáp lễ.

Đờ la Gờ-răng-đi-e là tên nguyên soái Lang-Sa mới sang thay Bô-na. Quan thầy của y là Ri-gô đơ Giơ-nui-y kẻ đã từng chỉ huy đánh Đà Nẵng và Gia Định trước đây, mới được thăng làm thượng thơ Bộ Hải quân và Thuộc địa Lang-Sa, hết sức ủng hộ y trong kế hoạch đánh chiếm toàn bộ Nam Kỳ. Được sự hậu thuẫn lớn lao ở chánh quốc, y càng vững tâm hơn trong việc bắt ép triều đình Huế giao nốt ba tỉnh.

Đờ la Gờ-răng-đi-e có hai nạm râu bạc ở hai bên má lại một chòm dưới cằm nên được kêu là đô đốc bạc má. Y mặc binh phục bằng nỉ xanh đậm, giữa có một hàng nút áo, hai bên hai ngù vai vàng, ngực đeo bội tinh, huy chương, lưng thắt dây đeo kiến có tua kim tuyến. Nét mặt đầy vẻ ngông nghênh tự đắc, y nheo cặp mắt xoi mói ranh mãnh nhìn hai vị quan Nam triều như để đo lường thái độ rồi nói:

- Bữa nay, bản chức thay mặt cho Soái phủ Nam Kỳ mời các ngài tới bàn về việc giao tỉnh Vĩnh Long cho người Lang-Sa.

Phan Thanh Giản ngạc nhiên:

- Thưa ngài, trong hòa nghị Nhâm Tuất mà hai nước Tây Nam ký kết làm gì có điều khoản ấy.

Đờ la Gờ-răng-đi-e giọng đe dọa:

- Tôi không hiểu sao đã ký hòa ước rồi mà các ông vẫn dung túng cho bọn làm nghịch chống lại người Lang-Sa.

Võ Doãn Thanh nói:

- Xin các ngài cho biết chứng cớ?

Đờ la Gờ-răng-đi-e cười nhạt.

- Chứng cớ gì? Thì mới đây Thiên Hộ Dương ở Tháp Mười vừa đánh vào Cái Bè, Mỹ Quý, Cái Thia? Nguyễn Hữu Huân sau khi đánh vào Thuộc Nhiêu lại chạy về Châu Đốc và hà Tiên. Các ông không những không ngăn cản lại còn ngấm ngầm trợ giúp cho bọn chúng.

Vừa nói Đờ la Gờ-răng-đi-e vừa giương cặp mắt xanh lè nhìn thẳng vào hai vị quan Nam triều để uy hiếp. Y đã biết thóp các vị quan này cứ đánh đòn phủ đầu thiệt mạnh là họ phải chùn. Thấy đối phương hơi biến sắc, y lại càng làm già:

- Hiện nay, bọn làm nghịch cứ đem quân đánh thọc vào ba tỉnh miền Đông xong lại rút ba tỉnh miền Tây một cách an toàn.- Y xoè rộng hai bàn tay ra hai bên. Cứ để nguyên cho các ông cai quản ba tỉnh miền Tây có khác nào nuôi cái nhọt bọc hay không. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải trừ bỏ mối họa ở cạnh nách để để đảm bảo sự an toàn cho những miền đất thuộc quyền người Phú Lang-Sa.

Phan Thanh Giản bực bội:

- Các ông chỉ viện cớ để vi phạm hòa ước Nhâm Tuất mà thôi. Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình trong việc ra lệnh cho nghĩa binh không được xâm phạm đến ba tỉnh miền Đông, để giữ mối tình giao hảo vời người Phú Lang-Sa. Đến các ông có binh lực hùng hậu trong tay mà không ngăn cản được họ, huống hồ là chúng tôi. Ngay cả công việc của hoàng gia nước Cao Miên mà các ông cũng trách cứ ở chúng tôi thì lạ thiệt!

Đờ la Gờ-răng-đi-e vừa nói vừa đưa mắt nhìn lên boong tàu:

- Người Phú Lang-Sa có toàn quyền trong việc tự bảo vệ lấy mình. Chính các ông mới là người vi pham hòa ước Nhâm Tuất.

Phan Thanh Giản gay gắt:

- Thì chính việc các ông đem tàu chở khí giới đến trước thành Vĩnh Long này là chứng cớ sờ sờ của việc vi phạm hòa ước…

Bỗng Đờ la Gờ-răng-đi-e nhìn thấy các tàu chiến khác của Lang-Sa đã tiến nhanh về phía bờ thành và nhanh nhẹn đổ quân lên bờ. Những khẩu trọng pháo được kéo tay dàn cả trước mặt thành.

Rồi một đoàn quân Lang-Sa từ hai bên khoang tàu tiến vào bao vây lấy phía trước và phía sau Phan Thanh Giản cùng Võ Doãn Thanh, súng ống lăm lăm trong tay. Giữa lúc đó Đờ la Gờ-răng-đi-e trở mặt, giọng đe dọa:

- Cuộc thương thuyết dưới tàu không thành xin mời hai ngày vào thành ta sẽ bàn tiếp.

Đờ la Gờ-răng-đi-e vừa dứt lời, một võ quan Lang-Sa nắm lấy cánh tay Phan Thanh Giản ra vẻ như để dìu ông già hơn bảy mươi tuổi bước qua bậc cầu lên bờ. Võ Doãn Thanh cũng bị một võ quan xốc nách như thế. Tất cả bọn chúng quan và quân, võ trang đầy đủ, đi theo sau lưng Phan Thanh Giản và hai quan Nam triều, tiến vào thành như tổ ong và chia từng toán trấn giữa các nơi.

Trương Văn Uyển và Huỳnh Chiêu đang chờ phái bộ trở về xem cuộc thương thuyết dưới tàu ra sao rồi mới tìm biện pháp đối phó. Lúc này họ đang đứng trên vọng lâu quan sát thấy dường như hai quan ta đã bị bắt làm tù binh và tên soái Lang-Sa dẫn họ vào thành cùng với quân đội chúng. Biết xử trí ra sao khi thấy phái bộ cùng đi vào với quân Lang-Sa? Nếu nổ súng ngăn chặn lại e thiệt mạng lây đến hai vị quan ta. Phan Thanh Giản là viên quan cao cấp nhất, có tất cả mọi quyền hành. Mà họ cũng chưa biết kết quả cuộc thương thuyết! Thế là Trương Văn Uyển đành thiêu hủy tất cả mọi tài liệu mật rồi ra cửa thành xem tình thế.

Vào tới trong thành, sau khi quân Lang-Sa đã canh gác bên ngoài, Đờ la Gờ-răng-đi-e hạ lệnh cho Phan Thanh Giản nộp thành. Một khi giặc đã lọt vào nhà, kháng cự làm sao được. Thế là Phan Thanh Giản đành phải nhận lời tạm giao thành trì, nhưng chỉ xin Tây đừng quấy nhiễu dân chúng, đừng vội chiếm kho tàng để ông tạm quản, đặng ông tính trả một năm bồi thường chiến phí.

Đờ la Gờ-răng-đi-e vờ nhận lời. Nhưng bắt ông phải viết thư cho các quan hai tỉnh An Giang, Hà Tiên cũng nộp thành, gọi là để tránh sự đổ máu vô ích.

Lúc này Phan Thanh Giản mới hối hận, biết mắc mưu kẻ địch thì đã muộn. Nước cờ đã lỡ, từ nay ông chỉ còn là một quân cờ trong tay kẻ địch! Thành Vĩnh Long đã mất, còn biết ăn nói làm sao với triều đình. Ông lờ mờ cảm thấy cái tội của mình quá đỗi lớn lao, không phải chỉ với hôm nay mà hình như với cả hậu thế…

Viết xong bức thư cho hai tỉnh An, Hà ông quăng vội bút, không dám nhìn lại tờ giấy ác hại kia nữa. Có phải đó là bức văn tự bán đứng sự nghiệp, danh dự, tương lai mà ông đã thò bút ký tên hay không. Ông thấy chóng mặt, ù tai, hai mắt đổ đồng quang nhìn thấy trời đất quay cuồng rồi tối sầm trước mặt.

Về phía Đờ la Gờ-răng-đi-e thì cứ đắc chí cười mãi. Thế là không tốn một viên đạn mà chúng lấy được phần lớn của cải vùng Hậu Giang tập trung tại thành Vĩnh Long.

*

Vừa nghĩ tới Huỳnh Tấn, Trần Bá Lộc vội đập tay xuống bàn:

- Đ. hỏa! Vậy mà chút nữa mình không nghĩ ra.

Từ khi mang ơn nhà nước Lang-Sa thăng chức Tri phủ, Trần Bá Lộc đã tự nhủ mình phải ráng giữ phép lịch sự, vậy mà những lúc xuất kỳ bất ý, vẫn cứ lộ ra cái bản sắc của một chú mã-tà như thường. May phước những lúc đó không có mặt các “quý quan”.

Tự mình là một con chiên ngoan đạo với cái tên thánh Ăm-ma-nu-en, không biết Lộc xưng tội với Chúa thế nào khi phạm tội với y là chuyện thường như cơm bữa. Đối với những nghĩa binh không chịu ra đầu thú và thường ẩn mình nơi thâm sơn cùng cốc, Lộc sai bắt cha mẹ vợ con người ấy đóng gông cầm tù. Một mặt bố cáo trong ngoài kỳ hạn bao nhiêu ngày phải ra nạp mạng, bằng không thì: cha mẹ và vợ sẽ bị bêu đầu làm lịnh, trẻ con thì bỏ vào lòng cối giã gạo, sai lính dùng chày lớn quết như quết nem. Y chém nguười như chém chuối không chừa đứa con nít đỏ hỏn…

Được nhà nước Lang-Sa cử đi tiễu cái loạn ở Hòn Chông, Lộc cảm thấy gian nan hơn mọi lần. Chỉ biết người cầm đầu là viên thành thủ úy Hà Tiên, còn lai lịch ra sao, vẫn chưa rõ.

Khi mới tới Hà Tiên, Lộc đã cho thám thính biết Hòn Chông là một dãy núi thấp ở phía nam tỉnh lỵ, trông xéo ra hòn đảo Phú Quốc. Phía trước là vịnh Xiêm La, phía sau là dãy đồi thấp. Thừa lúc người Lang-Sa còn mắc thiết lập các ban hội tề ở những nơi mới chiếm được, viên thành thủ úy Hà tiên liền cướp lấy thời gian thu thập tất cả những quân sĩ triều đình ở vùng Hòn Chông để dấy lên cuộc khởi nghĩa và một mặt ông chiêu mộ các dân đinh nhập ngũ. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã có một đội quân khá đông. Ông biết rằng không lâu thể nào quân Lang-Sa cũng kéo xuống miền này nên cho bố trí nghĩa quân làm ba mặt, một mặt ở vùng Cây Dương để ngăn chặn quân Lang-Sa đi theo đường thủy từ Kiên Giang kéo lên, một mặt ở phía tây Hòn Chông để ngăn giặc từ Hà Tiên đổ xuống, và một mặt ở dãy đồi để tránh bộ binh giặc.

Từ đó ông thường phóng các cuộc tập kích vào các nơi có quân Lang-Sa đóng ở chung quanh tỉnh lỵ Hà Tiên. Các ban hội tề Lang-Sa dựng lên ở nhiều nơi thường bị giải tán bất thình lình.

Với tài đánh hơi của giống chó săn, khi mới được Đờ la Gờ-răng-đi-e cử về đây, Lộc đêm ngày sục sạo và không bao lâu y dò ra được Nguyễn Trung Trực chỉ là một cái tên giả của viên thành thủ úy Hà Tiên mà chính tên ông là Quản Chơn. Quản Chơn! Cái tên nghe cũng lạ hoắc. Lộc kiên nhẫn cho đi điều tra tiếp và cuối cùng y được biết Quản Chơn cũng là một tên giả nốt. Mà tên thiệt của người đó, úy châu ôi, không phải ai xa lạ mà chính là Quản Lịch, người đã đốt cháy chiếc tàu Êt-xpê-răng-xơ trên sông Nhật Tảo ngày trước.

Thiệt đúng là oan gia gặp nhau, hẳn có ma dẫn lối quỷ đưa đường chớ chẳng không. Với Quản Lịch, nếu đường đường đem quân vây quét thì sẽ nhiều chật vật khó khăn, âu là kiếm cách dụ hàng tiện hơn. Lộc nhớ trước đây Huỳnh Tấn là bạn cùng cơ ngũ với Lịch, vai vế lại suýt soát nhau, đứng ra dụ hàng thì chắc ăn. Biết đâu họ chẳng có tình thân từ trước. Lộc cũng từng chứng kiến Định và Lịch đi đâu cũng có Tấn đi theo. Tấn từng thổ lộ dầu mình hơn tuổi Lịch mặc lòng nhưng vẫn kính trọng Lịch như bậc anh. Tấn đã từng thành công trong việc lừa mưu hạ sát Định thì sao lại không có thể thành công trong việc dụ hàng Lịch?

Nhận được thư mời của Lộc, Tấn tới ngay Hà Tiên. Vừa gặp nhau, Tấn đã hỏi ngay:

- Có chuyện chi mà huynh kêu tôi tới vậy?

Lộc cười lấy lòng:

- Thì hãy cứ ngồi chơi đã, đi đâu mà vội. Cố nhơn bao lâu nay mới hội ngộ, ta hãy hàn huyên cho bõ những ngày xa cách. Hà hà… Đại ca cữ này ngọc thể có được khang cường chăng?

Tấn sốt ruột:

- Có gì thì nói phứt cho rồi, cà kê dê ngỗng hoài, nóng ruột thấy bà!

Lộc mơn trớn:

-Thầy đội, chết xin lỗi, đệ trót quen miệng, quan Lãnh, đệ mời đại ca tới coi cuộc đá cá thia lia, đệ tính xổ ngày mai. Đệ mới lựa được con cá Rạch ở miệt U Minh, con này hay lắm, giỏi chịu đòn, không chạy bậy, lại biết đánh đòn “hồi mã thương”, biết chơi “cú đờ tết”4*, biết “câu nước hàm trên, câu nước hàm dưới”5* lại vừa giỏi nín hơi…

Tấn ngắt lời:

- Tôi không ham loại cá ấy mà thích loại cá răng thiệt bén, cắn dữ, để nếu có bị cắn bị đòn rát quá thì chạy ngay, chớ những miếng “hồi mã thương”, “câu hàm”, “bỏ chạy dụ địch”đều có phần nguy hiểm vì trong khi “chạy dụ địch” nếu có một bóng lạ, một tiếng động thình lình, cá chạy luôn không chừng…

- Cũng bởi cái tánh đó mà khi làm việc quan, đại ca dùng cái chánh sách dữ dằn, bắn gãy xương sống Lãnh Định chớ không dụ hàng mất công, phải không?

- Trương Định thì đến vua, đến quan kinh lược họ Phan cũng không dụ được, huống hồ là tôi…

Viên thư ký của Lộc từ ngoài vô cúi đầu chào Tấn rồi lại gần bẩm khẽ điều gì khiến nét mặt Lộc đang đăm chiêu bỗng tươi lên. Đợi viên thư ký lui ra. Tấn hỏi Lộc:

- Lạ thiệt, tôi trông thầy này quen quen, in tuồng đã gặp ở đâu rồi. Ai vậy huynh?

Lộc đáp:

- À đó là thầy Ký Hườn, giúp việc cho đệ, thầy ấy trước dạy học ở Thang Trông…

Tấn lắc đầu:

- Tôi nhớ đã từng gặp người này ở một nơi khác chớ không phải ở Thang Trông…

Thì ra viên thư ký của Lộc chính là Nhiêu Bổn. Tấn đã gặp Nhiêu Bổn ở đại bản doanh của Trương Định một lần nên hơi ngờ ngợ. Tuy vậy y vẫn chưa nhận ra vì Bổn vốn là người liên lạc bí mật cho Trương Định, nên các nghĩa quân khác ít khi gặp giáp mặt. Từ ngày có cô Xuyến đảm nhiệm thay việc liên lạc, Bổn lại đi lo chuyên chở khí giới từ các thuyền buôn nên Tấn càng không có dịp gặp…

Thấy Tấn mãi nhíu mày nghĩ ngợi, Lộc nóng ruột:

- Đại ca nghĩ chi hoài cho mất công. Thầy đó là viên thơ ký đắc lực nhất của đệ. Đệ đã có dịp thử thách lòng trung thành của thầy rồi. thầy vừa nhận lịnh tới nhà Đỗ Hữu Phương ở Chợ Lớn coi thủ khoa Huân có yên phận dạy học ở đó không hay lại mưu chuyện khác. Phủ Phương cho hay Huân thực tâm quy thuận tân trào. Cũng vì vậy đệ càng thêm tin vào chính sách dụ hàng bọn làm nghịch. Lúc này, mình không đánh có bài bản mà cứ làm tùm lum thì hư hết công chuyện. Đệ muốn nhờ dại ca lấy tình thân dụ dùm Quản Lịch không biết đại ca có chịu không?

Tấn kêu lên:

- Biết ngay mà! Tôi biết huynh kêu tôi tới không phải để coi đá cá đá gà gì hết trơn mà có việc cần đến tôi. Sao không nói phứt cho rồi còn vòng vo Tam quốc hoài! Mệt dữ ha!

- Thì muốn đá cá rồi có đá cá, khỏi lo. Đệ nhờ đại ca viết giùm một lá thơ dụ Quản Lịch ra đầu hàng, công ấy thiệt không nhỏ. Người Lang-Sa đã hứa thưởng 18 vạn đồng bạc con cò6* cho ai dụ hàng hay bắt sống được Quản Lịch.

- Sao huynh không làm mà lại nhờ tôi?

Lộc cười xòa:

- Thì đệ nhớ lời Phủ Ba Tường nói ngày trước, con gà có đủ năm đức trong đó có đức Nhơn, có cái ăn thì kêu đồng loại tới, nên không dám hưởng một mình mà muốn chia ngọt sẻ bùi với cố nhơn đó chớ!

Tấn dịu nét mặt, cũng cười theo:

- Không biết trời đi vắng hay sao mà Phủ Lộc lại thảo với anh em quá xá! Bộ tình thiệt không phải đòn “hồi mã thượng” chớ cha!

- Đệ mà nói dối huynh thì cứ cho là Thiên Lôi đánh chết tươi không kịp ngáp…

- Nói giỡn chơi vậy thôi, chớ kẻ nào dám qua mặt Tấn này thì đời kẻ đó coi như mạt…

Lộc tâng bốc:

- Đệ vẫn biết huynh chơi ngon mà.

Tấn đắc ý:

- Thôi đi cha nội. À, lâu nay không gặp Phủ Ba Tường, không biết hồi này dả ở đâu.

- Dả đang ngồi chủ quận Vũng Liêm. Để đối phó với những thơ văn xách động chống người Lang-Sa của bọn Tú Chiểu, Cử Trị, đệ cũng mới cậy dả soạn giùm một bổn Lời truyền thị cho rao khắp mọi nơi.

Tấn vội hỏi:

- Đâu? Đâu? Huynh đưa tôi coi. Tôi cũng muốn sao một bổn đem về rao ở Gò Công.

Lộc giở hồ sơ lấy ra một tờ giấy:

- Vậy là đại ca chưa giúp đệ, mà đệ đã giúp đại ca rồi đó nha.

Tấn cầm giấy đọc:

Xứ Gia Định là đầu sáu tỉnh

Sau những Đại đồn Lãnh Định

Cùng là Mỹ Quý Tháp Mười

Có lương có súng sẵn đông người

Làm hết sức cũng không nên dáng.

Chẳng những là thiên mạng

Cũng hiệp với nhơn mưu

Nên triều đình trước đã hòa hưu

Sau kinh lược cũng đành giao cát

Có chăng phường đạo kiếp

Bày ra việc mộ quyên

Ấy là chước kiếm tiền

Ấy là mưu trốn nợ

Kiêm chỗ vắng mà bắt lính đòi lương tở mở

Khoe tài trong rừng bụi

Khen cho hay múa gậy vườn hoang

Lừa hở cơ mà phất cơ dống trống nhộn nhàng

Muốn địch với quan binh

Ví chẳng khác bắc cầu qua biển cả.

Thấy Tấn có vẻ trầm ngâm, Lộc hỏi:

- Đại ca thấy bài văn này ra sao?

Tấn lắc đầu:

- Tôi tuy ít chữ nhưng thấy lời lẽ như vậy không tài nào địch nổi những bài văn xúi dân làm nghịch của Tú Chiểu.

- Đệ cũng thấy như vậy. Không những chưa sánh kịp Tú Chiểu mà còn thua xa Cử Trị…

Với Cử Trị, Lộc có một mối hận thấu xương tủy, Lộc mê đá gà nhưng từ ngày làm quan, đi đâu không tiện ôm gà đi theo, nên chuyển sang chơi đá cá thia thia cho “thanh nhã” hơn. Một lần y về Cần Thơ tổ chức cuộc thi đá cá thia thia với bọn quan lại tay sai của Lang-Sa. Ngay hôm sau, ở ngoài cổng dinh quan tỉnh có dán một bài thơ như sau:

Đồng loại sau ngươi chẳng ngỡ ngàng,

Hay là một lúc phải nung gan!

Trương vi so đọ vài gang nước,

Đấu miệng hơn thua nửa tấc nhang

Ráng sức giây lâu đà trốc vẩy,

Nín hơi trót buổi lại phùng mang.

Ra tài cửa võ không nên mặt

Cắc cớ khen ai khéo nhộn nhàng!

Bài thơ được người qua lại tranh nhau đọc và được truyền bá ngay tức khắc. Bị một phen ê mặt ngay chiều hôm đó Lộc phải cuốn gói khỏi Cần Thơ. Từ đó mỗi lần nhớ tới bài thơ là bất giác Lộc lại thấy mặt mình nóng ran như bị một cái tát.

Đợi Tấn viết thư dụ hàng Nguyễn Văn Lịch xong, Lộc rủ y đi coi đá cá thia thia. Không biết “tổ trác” hay sao mà cuộc đá độ bữa nay y bị thảm bại. Giữa lúc cá y đang liến thoắng đảo bên này rồi đảo bên kia lội tung tăng theo địch thủ, hết lội sau rồi bọc ra phía trước mặt, giương kỳ, xòe đuôi, khoe mã, giáp thì lẹ như chớp, con cá bên địch vừa lúc cá y uốn mình trước mặt khoe bộ vẩy óng ánh như sao, nó bỗng phóng hết mình tới trước, cắn một miếng thật mạnh vào bụng bở, mạnh cho đến đỗi bọt nước văng tung té và nghe rõ ràng một tiếng “bóc” rung rinh mặt nước hồi lâu. Rồi một sự bất ngờ diễn ra như điện chớp, cá y bị một vố đau quá, giựt mình chạy xếp đuôi cuốn giáp không còn dám trở đầu nghinh chiến.

Hôm sau, đang ngồi coi hồ sơ tù nhân, thì lính hầu mang vào một bức thư. Y vội giở ra coi. Thì ra là phúc thư Nguyễn Văn Lịch, vỏn vẹn có mấy hàng chữ ngang tàng:

“Bao giờ Tháp Mười hết cỏ thì nước Nam mới hết người chống Tây. Các người đừng giở trò dụ hàng vô ích”.

Đọc xong thư, y cảm thấy trên thân thể mình bỗng đau nhói, hệt như cái đau của con cá bị cắn đến nỗi lòi thịt gần thấu xương ngó thấy bên kia, phải vội vàng hát bài “tẩu mã”.

Ghi chú

1* Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp bán nước, triều đình bỏ dân.

2* Tức Nô-rô-đôm.

3* Trước dùng lễ, sau dùng binh.

4* Biết quay mình dùng đầu đánh trái lại đầu con cá kia khi chưa đề phòng.

5* Cắn ngay hàm trên hay dưới của con cá kia ngậm chắc và trì sát xuống tận đáy.

6* Hồi đó Pháp cho tiêu tiền Mễ Tây Cơ đúc hình con ó, ta thường gọi là đồng bạc con cò. 18 vạn đồng bạc con cò hồi đó trị giá ba ngàn lượng vàng.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hoài Anh