Đuốc Lá Dừa

Lượt đọc: 29 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
Chương III

❊ ❊ ❊

Vừa nhìn Sầm Tống Hếnh bồng con gà nhạn ra trường, viên cai mã-tà Trần Bá Lộc đã giật mình. Con gà sắc trắng phau, cẳng vẩy trắng xen kẽ đỏ, mỏ trắng, con mắt bạc, nom thiệt quý tướng. Chừng liếc thấy cặp cựa lại càng hết hồn vì rõ là cặp siêu đao nhà nghề của tay thiện chiến. Nhưng vốn tánh thâm trầm, Lộc cứ thả con Ô của mình ra. Con gà này lông tuyền đen nên còn có tên là Ô truy. Con gà nhạn thấy gà địch, ngóc đầu lên cao, mắt liếc kêu: “Cà tót! Cà tót!” Quả là “ kỳ phùng địch thủ, tướng ngộ lương tài”1*không bên nào phải chạy mặt bên nào.

Tên gia nhân đo lại chiều dài đoạn lấy giấy dán bịt lên cây nhang chân đỏ để làm cữ rồi đốt lên. Một tên khác dò lại chậu nước để “làm nước” một lần chót. Sầm Tống Hếnh đằng hắng lấy giọng rồi hô to:

- Thả gà!

Hai gà so vẩy, đứng thủ thế, hai chân chùn xuống lấy bộ, hai đầu sát mặt đất, hai cặp mắt thôi miên nhau, như hai tướng dữ ngoài mặt trận. Suốt hiệp nhứt, hai con giữ thế lẫn nhau, thỉnh thoảng xáp lại đá một cái không trúng vào đâu. Qua hiệp nhì, gà nhạn vừa rút vào đĩa, chưa kịp phóng chân đã bị gà Ô đá té lăn ra ngoài, chót cựa gà Ô móc rách một đường trầy bên bắp vế gà nhạn, không sâu lắm. Con gà bị thương hơi nhót một chân, nhưng nó nổi xung lên xáp lá cà dữ dội.

Sầm khoái trá cứ chạy đi chạy lại theo sát con gà vừa nói những câu gọn lỏn:

- Vai nó đi con, ừ vai nó nữa đi con!

Gà nhạn nắm cắn vai gà địch mà đá. Gà Ô bị trúng cựa ở cổ, máu chảy một vệt, Ô vừa soi vẩy địch, vừa bị máu trào lên họng nghẹt thở nên “khẹt khẹt” hai tiếng nhỏ, mỗi lần rẩy một chút máu tươi điểm sân đất lốm đốm. Sầm lại reo lên:

- Thầy cai thấy chưa! Gà tôi xạ2*cái nào toàn là “cựa tử” không à!

Cai Lộc vừa thương con gà nòi vừa giận Sầm tím mặt nhưng vẫn cố trấn tĩnh. Miệng y thầm vái van Bà Cậu:

- Ưng ai! Phù hộ! May rủi cho tôi xin một cựa ngay chỗ nhược không dám xin nhiều.

Gà Ô chưa xạ lại được cái nào thì cây nhang cháy đến chỗ giấy bịt báo hiệu hết hiệp nhì. Tên gia nhân vội “làm nước” cho con gà nhạn. Ôm con gà bê bết máu lên, hắn kề môi ép miệng sát vào da gà, chỗ bị cựa mà hút máu. Kế đó,hắn phùng má ngậm hết vừa đầu vừa mỏ con gà rồi thổi hơi của mình vào phổi nó. Chưa hết, hắn còn hút cả hơi gà ra nữa! Trông thật ghê tởm. Nhưng hắn muốn có tiền thì có nề hà gì dơ bẩn.

“Làm nước” xong, gà nhạn lại sung sức, tấn công ngay bằng những đòn sỏ, đòn mé3*thật mạnh. Sầm nhìn con gà có “vẩy yểm lông” một cách khoái trá. Lão nghiêng đầu nói nhỏ với tên gia nhân rằng gà nhà sẽ thắng.

Bên kia, Cai Lộc cũng nhìn gà nhạn không chớp mắt và ngạc nhiên trước vẻ nhút nhát của con Ô truy cứ né tránh đòn không chịu phản công. Gà nhạn đá liền sáu lần thì gà Ô quay lưng hình như muốn chạy khiến Lộc hốt hoảnggần nhảy vào đấu trường! Sầm đắc ý nói to:

- Thôi chịu độ phứt đi cho rồi. chín hấu mại hơi4*làm chi thầy!

Gà Ô vừa xoay mình thì gà nhạn chồm theo cắn trên lưng đá với một cái nhưng không trúng vì gà Ô bước thêm bước nữa, đồng thời nó xoay trở lại đá vụt lên. Gà nhạn vừa mới đặt hai chân trên đất chưa kịp lấy thăng bằng nên không né tránh nổi. Cả hai đầu cựa nhọn của gà Ô đâm lút vào cổ. Gà nhạn ngã xuống giãy đành đạch.

Chợt Tôn Thọ Tường bước vào, trông thấy reo to:

- Trời ơi! Ngón Hồi mã thương5*của La Thành!

Nói xong, Tường nhếnh mép cười nham hiểm:

- Nè, “khôn ngoan đá đáp người ngoài, gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau” phải vậy không thầy Cai!

Lộc dư hiểu “mẹ”ở đây là Tường ám chỉ “nước mẹ”Phú Lang–Sa của hắn, nên cũng trả miếng lại:

- Cậu Ba Tường! Miệng cậu còn sắc hơn cả cựa con Ô truy của tui nữa đó.

Sầm đang ôm xác gà nhạn chảy nước mắt, không hiểu hết thâm ý câu ngạn ngữ Việt Nam, chỉ nghếch lên nhìn Tường ngơ ngác. Cai Lộc vội giới thiệu:

- Thưa cậu Ba, ông này là chủ hiệu lúa gạo lớn nhứt Chợ Lớn đó. Ông tính mở hẳn một cái chợ cho người Lang-Sa có chỗ mua bán lúa gạo thực phẩm, khỏi đi mua bòn vét khắp nơi. Tui rước cậu tới nhậu là để cậu hiến kế giùm ổng chớ có phải để cậu đá móc hậu ổng đâu, cậu Ba…

Tường thấy mối lợi, vội đổi giọng:

- Nói giỡn chơi chút xíu vậy thôi chớ đá gà là một cái thú tao nhã lắm chớ bộ. Rất đỗi như đức Tả quân Thượng công mà còn ham cái món này huống chi tụi mình. Có bữa ngài mắc coi đá gà, vô triều trễ, đức vua liền rầy: “Đá gà mà cần thiết hơn việc quân quốc hả”. Tả quân vẫn thản nhiên tâu: “Muôn tâu, nếu hạ thần đã giúp được bệ hạ việc quân quốc là bởi học con gà. Cứ theo sách thì gà đầu có mào như đội mão là Văn, chân có cựa nhọn là Võ, thấy kẻ địch trước mắt dám nhào vô là Dõng, thấy cái ăn thì kêu đồng loại tới cùng ăn gọi là Nhơn, ban đêm cứ tới giờ tới canh thì gáy là Tín. Đức vua mỉm cười ủy lạo mấy câu và hẹn Tả quân bữa sau đem hết gà vô cung đá dâng ngự lãm…

Cả bọn cùng cười ran, ngay cả Sầm không hiểu câu chuyện cũng nhe hàm răng vẩu cười hê hê… Cai Lộc nói:

- Năm đức đó hổng biết có học trọn được không, bữa nay chỉ xin học cái đức Nhơn của con gà thôi à. Ông chủ đây có mần mấy món nhậu rước cậu Ba tới nhậu chơi, tiện dịp viết giùm ổng đôi liễn…

- Tưởng cái chi chứ cái món chữ nghĩa thì khỏi lo. Tường này có dư cũng tỷ như ông chủ dư lúa dư bạc vậy. Tường chỉ cần xài mấy cọc chữ lẻ thôi còn cọc chữ chẵn Tường vẫn giắt lưng dùng trọn đời chưa hết, ông chủ à!

Sầm nắm cả hai tay Tường lắc mạnh:

- Ngộ pắt tay theo nối các quý quan như dầy, dăn minh chớ cậu Ba…

Bàn tay tháp bút của Tường bị mười ngón tay chuối mắn bóp mạnh khiến Tường nhăn nhó nhưng vẫn gượng xã giao:

- Mình cứ giữ cái món quốc hồn quốc túy mà hơn ông chủ à…

Sầm dẫn hai người vô nhà. Một thồi rượu thịnh soạn đã được bày. Thấy hai chai rượu Mai Quế Lộ, Ngũ Gia Bì, Lộc reo:

- Như vậy mới là mỹ tửu chớ. Hạp khẩu vị tui lắm mà!

Sầm cười;

- Cái nị mà hổng thích rượu Tàu thì đã có ắp-xanh, cỏ nhác6* hổng thiếu thứ gì hết trơn à.

Tường hỏi:

- Có rượu nếp Hốc Môn hay Gò Đen không ông chủ?

Lộc quay lại Sầm:

- Cậu Ba đây chỉ ham cái món quốc hồn quốc túy!

Tường cười:

- Thì phải xài cái món đó mới ra cái giống chữ nho chớ uống cô- nhắc nó lại lòi ra cái giống chữ Tây thì hư bột hư đường hết, phải vậy không ông chủ?

Sầm cũng cười:

- Hầy dà, thì cái món mở chợ, ngộ cũng phải lói với tồng chủ tồng pang là để tranh quyền nợi cho Huê kiều thì họ mới chịu, chớ biểu dâng chợ cho Tây thì chỉ có Tây ló mới nghe, hà hà… Nào ta cụng ly, rước cậu Ba, thầy Cai…

Nhấp một ngụm Mai Quế Lộc, Sầm chợt thấm thía nỗi đau mất con gà nhạn vừa rồi. lão quay hỏi Cai Lộc:

- Ngộ lói thiệt dới thầy Cai, gà của ngộ mua tận pên Tàu, đá thắng cả gà của vua Cao Miên, ló có cái dẩy yểm lông ở kẹt móng chưn, lổi tiếng “nhứt kê địch vạn”7*. Dậy sao lại chịu thua gà thầy Cai, thầy mách dùm ngộ dài pí quyết đi, thầy!

- Có gì mà lạ, gà tui là gà nòi Cao Lãnh, chánh hiệu con nai à. Trước hết nó có cái bớt đen ở lưỡi lại có lông voi mọc ở cánh, sau cùng là vẩy yểm lông mang tên “Nhơn đầu hổ” mọc ở chân, hội đủ ba điểm đặc sắc đó mới xứng danh thần kê, đủ gây sóng gió khắp các kê trường. Khi mua về, tui làm một cái chuồng riêng, cho ăn uống bằng lúa, bắp và nước lóng phèn cẩn thận. Lại phải cắt lông, hớt mồng và tích8*, xổ đúng cữ mười ngày một lần mà ít nhất phải bốn quầng mới cho ra trường. Nào vô nghệ, cho ăn lúa gút, đổ nước đêm, sáng quần sương ăn cỏ9*… Mới nói sơ sơ như vậy thôi, đến chuốt cựa, cho nước lại càng phải đầy thủ đoạn, tùy trường hợp gà đi trên, đi dưới, đá vỉa10*, đá vai hay xỏ mé… để áp dụng cho đúng chiến thuật, cho tới mánh lới bắt hay thả gà khi đến nước nhang. Tại trường, việc cáp độ hay cầm chạn11* lại còn phải so đo cẩn thận tỉ mỉ về cao thấp, lông cựa, nặng nhẹ… Tuy vậy gà cũng bán độ, phản độ như ngựa về ngược vậy, cho nên dầu Xích Mi Lão tổ cũng ra mồ hôi ướt áo, trút túi. Được cái con Ô truy này mỗi lần xổ, tui bịt cựa gà bằng miếng vỏ của trái dừa khô lại đem gà ra đồng vắng chỉ có tui và người nuôi xem thôi, để luyện cho nó những nước hay mà những chú gà khác không biết. Quả nhiên con Ô truy đá mỗi lần có một đòn khác nhau, mà đòn nào cũng ác liệt ra trò. Không có con nào chịu nổi nó ba hiệp. Nó tuy cụt đuôi, nét mặt lầm lì nhưng dáng đi chắc nịch, cựa dài và nhọn, nên nhiều con vừa gặp nó đã chạy mặt, nhứt là khi nó đập cánh vươn lên gáy…

Tường tấm tắc:

- Con gà này có thể sánh với con gà gỗ trông lù đù mà lợi hại nói trong sách của thầy Trang. Nghe câu chuyện về thuật nuôi gà đá, Tường này đã được một bài học về cách xử thế, xin đa tạ, đa tạ…

Lộc xua tay:

- Không sao không sao, giấu ai chứ tụi mình sắp cùng khuông phò một chúa, giấu làm chi! Để bữa nào tui sẽ thân đi lựa gà và luyện giùm ông chủ một con thiệt là vô địch!

- Lếu có gà như của thầy Cai thì ngộ dám cầm thế nhà đất để theo nắm à…

Tường cười:

- Tiền bạc để dùng vô đại sự chớ theo cái trò gà đá uổng lắm ông chủ à.- Vừa tợp một ngụm rượu nếp Gò Đen, Tường bèn nổi “hào khí” theo cái lối riêng của y.- Nè, lúc này đang có hứng bất tử đây muốn xin chữ xin nghĩa gì thì lẹ lẹ lên, kẻo “tửu nhập ngôn sơn sơn”12* chữ ra không kịp đó!

Sầm hối gia nhân mang tới hai tấm lụa trắng và nghiên bút. Tường nghĩ một hồi rồi dầm ngọn bút đại tự xuống nghiên đá viết hai hàng chữ nho… Lộc lẩm nhẩm đọc…

- Anh hùng hà xứ bất… Quân tử kiến cơ nhi… Câu này dường như còn thiêu thiếu chữ gì nữa phải không cậu Ba?

- Đủ rồi mà… - Tường xoa tay tủm tỉm.

- Anh hùng hà xứ bất gì thì tôi chưa rõ nhưng Quân tử kiến cơ nhi tác13* thì mới trọn vế chớ.

Tường phá lên cười:

- Thầy Cai thiệt thà quá, cái ngón xảo lộng thì chỉ vậy là dư hiểu rồi. Anh hùng hà xứ bất gợi lên câu Giang sơn hà xứ bất anh hùng, còn Quân tử kiến cơ nhi là đủ cho người ta đoán được chữ tác. Vậy mới thiệt là tài tình chớ viết đủ chữ thì còn ra cái mẹ gì!

Chừng ngà ngà say, Tường lộ hẳn chân tướng:

- Tôi viết hai câu đó là có ý muốn nói giang sơn nào chẳng có anh hùng. Chỉ cần có thời cơ là a-lê, hấp! Cống-hỉ, mét xì thằng Tường này đều thuộc nằm lòng, ha ha…

Lộc biểu đồng tình:

- Phải đó, ta bàn vô công việc cho lẹ lẹ chút, kẻo Nguyễn Tri Phương thì lỡ mất cơ hội ngàn vàng. Bữa nay sẽ có một qúy quan tới bàn với ông chủ việc mua trữ lúa gạo cho Lang- Sa… À ông chủ đã sửa soạn các món ăn Tây chưa?

- Hầy, món Tây, món Tàu, món A-lam, ngộ có hết à…

Tường vờ giựt mình đứng phắt dậy:

- Có người Lang-Sa à? Sao thầy Cai không cho tôi hay trước?

- Người Lang-Sa thì cũng là người, cần chi cậu Ba hoảng hốt như gặp ma vậy?

- Mình người Nam vô cớ gặp người Tây, thầy Tú Chiểu, thầy Cử Trị hay được chuyện này họ chửi cho mất mặt! – Nói rồi, Tường nhấp nhổm tính đường chuồn…

Biết Tường chỉ vờ chứ thiệt tình đã muốn ngả sang bên Lang-Sa từ lâu rồi, Lộc nắm lấy cánh tay Tường giữ lại:

- Tiệc rượu đang vui bỏ đi sao tiện cậu Ba. Sách có chữ “Tứ hải giai huynh đệ”14* có người Tây vô luôn càng vui chứ sao? Nếu tôi nói trước với cậu thì làm sao có chuyện Đông Tây hạnnh ngộ như vầy…

- Thì ra cuộc gặp gỡ này có xếp đặt trước, tôi thiệt thấp cơ thua trí thầy Cai. Thôi đã ngồi lỡ phải ngồi luôn, vậy là tôi lại mang tiếng là “tư thông địch quốc” đó…

Có tiếng gõ cửa. Một sĩ quan Lang-Sa bước vô, chân cứng đơ khiến người tưởng y không có đầu gối. Khuôn mặt dài nhỏ với đôi mắt màu vàng đầy vẻ tinh quái. Y đội mũ sĩ quan thủy quân cầu vai đeo lon một sao một vạch. Đó là thiếu úy Phơ- răng-xi Gạc- nhe, sĩ quan tùy tùng của đô đốc Sác-ne. Y nói tiếng Việt khá sõi vì đã từng theo đoàn thám hiểm sông Cửu Long từ lâu.

Vừa thấy Gạc-nhe, Sầm Tống Hếnh buột miệng chào:

- Cống hỉ quý quan! Bông dua me-sừ!

Gác-nhe hơi cau mặt trước cái cổ đầy mỡ và cáu ghét của Sầm, nhưng vẫn ráng giữ phép lịch sự;

- Chào ông chủ, chúc ông chủ mạnh giỏi…Y quay sang Tường. – Còn ông, tôi chưa được hân hạnh…

Lộc vội giới thiệu:

- Bẩm quý quan, đây là ông Tôn Thọ Tường, một học giả bổn xứ mà tôi từng được vinh dự giới thiệu với ông!

Gạc-nhe giơ tay bắt tay Tường:

- A! ông Tôn Thọ Tường! Thiệt là hân hạnh được làm quen với một học giả nổi tiếng xứ này… Ông thứ lỗi cho nha, lẽ ra con nhà văn chúng ta phải gặp nhau ở một nơi khác, với bộ y phục khác để đàm đạo với nhau về văn chương triết lý Á Đông mới phải. Nhưng tôi thì mắc thi hành công vụ, xin ông cảm phiền sẽ có dịp khác tới thăm ông riêng tại tư thất. Xin tự giới thiệu, tôi Phơ-răng-xi Gạc-nhe, sĩ quan và là nhà văn Lang-Sa.

Tôn Thọ Tường rút tay ra khỏi tay Gác-nhe chắp lại xá:

- Kính chào quý quan, được nghênh tiếp ngài tại đây quả là duyên trời run rủi.

Gạc-nhe cười:

- Người nhà cả, ta khỏi cần khách sáo với nhau. Theo sự giới thiệu của ông Trần Bá Lộc, nếu được ông Sầm nhận lời giúp người Lang-Sa về mặt kinh tế, ông Tường nhận lời giúp về mặt chính trị, thì việc bình định xứ này sẽ dễ như trở bàn tay. Trước mắt là nhờ ông Sầm đây mua giùm cho một số lúa gạo…

Sầm Tống Hếnh híp mắt, vẻ xảo quyệt:

- Bẩm quý quan, ngộ xin hết lòng giúp dùm quý quan nhưng cái lày ngộ còn phải pàn với tồng chủng tồng pang, nên xin quý quan cho giá trước à…

Gạc-nhe dư hiểu tâm lý dân “các chú” nên nói liền:

- Thôi, mười quan tiền Tây một tạ, chúng tôi không để các ông thiệt…

- Xin quý quan cho mười lăm, hè hè …

- Ừ thì mười lăm! Tôi chịu thua các ông rồi đó!

- Dạ để ngộ pàn với pà con rồi sẽ trả lời quý quan sau à!

Sầm nhẩm tính, sáng mai mình sẽ ra giá với các chủ hiệu khác. Có mối rồi mình cứ ra giá mười hai nếu ai ra giá mười bảy thì mình sẽ bán hết số lúa gạo của mình cho người đó, không cần bán cho Lang-Sa nữa. Còn nếu mọi người chịu giá mười hai thì mình sẽ mua vét tất cả để bán cho Lang-Sa, như vậy có lời mỗi tạ ba quan. Đằng nào mình cũng nắm đằng chuôi!

Gạc-nhe gật đầu:

- Được ngày mốt tôi sẽ trở lại gặp ông chủ. À, ông Lý Hồng Chương vừa ký với chúng tôi một điều ước ở Thiên Tân, từ nay người Tàu và người Lang-Sa là anh em với nhau, ở đây các ông cũng phải coi chúng tôi như là anh em mới phải chớ!

Trần Bá Lộc reo lên:

- Hay! Hay! Hồi nãy tôi đã nói vậy mà giờ trúng phóc! Tứ hải giai huynh đệ mà!

Một tràng cười vang đánh dấu phút khai trương ngôi hàng chung lưng buôn bán của một bọn mạt cưa mướp đắng.

Từ nhỏ Gạc-nhe đã nuôi mộng trở thành một nhà văn. Sau khi cuốn Salammbo với phong vị exotic15*được xuất bản, cả Pa-ri ngưỡng mộ danh tiếng nhà văn Guýt-xta-vơ Flô-be vi đã viết về Phương Đông huyền bí đầy quyến rũ.

Thấy Phương Đông là một đề tài ăn khách với nhà văn, nên Gác-nhe xin sang Nam kỳ, làm nhân viên trong đoàn thám hiểm của Đu-đa đơ La-grê đi khảo sát sự lưu thông hai sông Cửu Long, Nhĩ Hà. Sau khi Đu-đa chết, lại tìm đến đầu quân dưới trướng tên cáo già Đuy-pơ-rê. Đuy-pơ-rê sai y mở con đường thông Bắc kỳ với Vân Nam.

Một hôm bài đăng trên báo “Monde Illustré” đã làm cho Gác-nhe phải chú ý. Tác giả bài báo, một danh tướng trong cơ binh Lang –Sa viết: Thấy phương pháp dụng binh của Nguyễn Tri Phương, người ta phải tin rằng vị nguyên soái anh hùng của nước Nam đã biết phương lược xây dựng lối pháo đài tạm thời như Tô-lê-ben ở Xê-bát-xtô-pôn, Đăng-phe Rô-sơ-rô ở Ben-pho, quân Phổ đánh Pa-ri, Ốt -măng Pa-sa trong trận Plơ-na16*

Vừa đọc bài đó, Gạc-nhe nhún vai tỏ vẻ không tin. Chính lòng tò mò muốn biết những pháo đài đó ra sao đã thúc đẩy Gác-nhe xin chuyển sang nhà binh. Sau chiến dịch bột hải ở Trung Quốc, bị quáng lòa trước vinh quang của tên phó đô đốc năm sao Sác-ne xuất thân trường thủy quân Tu-lông hiện đang thống quản tất cả lực lượng binh bị của Lang-Sa ở Viễn Đông, y liền xin chuyển qua thủy quân, vì cho là ngành này có tương lai hơn cả. Thấy Gác-nhe là người có học, Sác-ne dùng y làm sĩ quan tùy tùng, và cho y đóng lon thiếu úy.

Khi được chứng kiến cảnh Đại đồn, chính Gác-nhe cũng phải khâm phục. Y đã viết ngay trên chiếc kỳ hạm Anh-pê-ra-tri-xơ một bài báo, sau được đăng ở Pa-ri. Trong bài báo, y viết:

“Những chiến lũy mà người Việt Nam dựng lên rất kiên cố, đều bằng đất sét, cốt tre; họ làm một đêm gần được 400 mét bề dài và ban đêm, một khi quân Lang-Sa triệt hạ chiến lũy đó thì tảng sáng, ta lại ngạc nhiên thấy nhiều chiến lũy mọc lên, cách tiền quân của ta chỉ 500 mét. Quân Việt Nam rất can đảm, và về dũng cảm, cũng như lòng khinh thường trước cái chết, chỉ xem một việc dùng chiến khí sau này của họ thì sẽ rõ lời nói của tôi không phải là không xác đáng. Trong khi giáp chiến, họ dùng giáo; thứ khí giới này chỉ đâm được quân địch cách bốn mét, đó là một lối tự vệ rất can đảm, đến quân Tàu cũng chưa bao giờ nghĩ đến”.

Gạc-nhe tin rằng bài báo sẽ mở ra con đường văn chương cho y sau này. Nhưng đồng thời y cũng cảm thấy Phương Đông ở đây không huyền bí đầy quyến rũ như Flô-be tưởng tượng mà là một thực tế tàn khốc đầy đe dọa.

Sau khi được phổ biến lệnh đánh Đại đồn, y rất hồi hộp. Phen này y quyết lập được chiến công, chí ít cũng viết được một bài báo tả cảnh tấn công Đại đồn, một bài báo mà y tin rằng sẽ mang lại vinh quang cho y. Tay gươm tay bút, y quyết giành lấy vòng nguyệt quế đội lên đầu để cho càng thêm xứng hợp với cái dáng điệu cố làm ra bơ phờ của một nhà văn và khuôn mặt lạnh lùng bắt chước pho tượng cẩm thạch của một danh tướng La Mã thời xưa.

Ít lâu sau, ở trang nhất của các báo xuất hiện ở Pa-ri đều in bằng tít lớn dòng chữ: K’I HOA17*, MỘT PÔN-TA-VA MỚI. Nguyên văn như sau:

“4 giờ sáng ngày 24-2, liên quân Phú-Y khởi hành tại đồn Cây Mai, đạo bên hữu (bộ thuộc thủy binh) do thiếu tá An-li-dês- đơ Ma-ti-nhi-cua chỉ huy, đạo bên tả do trung tá Đê-vô và đại úy Ga-li-na dốc sức hiệp với đạo binh của Sác-ne và Vác-xoa-nhơ tiến về phía Đồng Tập Trận. Quân Phú Lang-Sa đưa vào trận đánh có trên 3000 người”.

Trời mờ sáng, pháo binh bắn đại bác 12 mi-li-mét dọn đường, quân lính tiến rất chậm.

Ban đầu, quân Phú Lang-Sa chạm trán một đoàn quân Việt ẩn trong đám rừng chồi ở Hòa Hưng. Hai bên xả súng bắn nhau. Sau quân Phú Lang-Sa dùng đại bác mới đánh lui được toán người kia. Qua khỏi đám rừng này quân Phú Lang-Sa gặp đám rừng khác. Quân Việt đã núp sẵn trong đó, xả súng công kích đoàn lính đi đầu, đồng thời súng đồng trong đồn KỳHòa bắn ra ầm ầm. Quân Phú Lang-Sa phải dùng toàn lực mới giải tán được toán quân này và tiến dần đến gần đồn Trung.

Khi đến sát đồn, mặc dầu đạn bắn ra rào rào, một tốp quân Phú Lang-Sa cầm đầu là thiếu úy Giô-re hùng hổ tiến tới hãm đồn. Quân Phú Lang-Sa bắc thang leo lên mặt thành, quân Việt nấp sau các ụ đất và các mồ mả bắn ra và ở trên thành ném đá xuống. trong trận này 300 người Phú Lang-Sa tử trận mất hai viên sĩ quan là Te-xta và Giô-ha-nô, bị thương 30 trong số đó có thiếu úy Lơ-xe-blơ và viên quản Tê-ly, tổn phí hết 204 trái phá và 36 thùng đạn.

Qua ngày sau 25-2, quân Phú-Y hạ được đồn Trung và công hãm đồn hậu rồi tiến tới đồn chính Kì Hòa do Nguyễn Tri Phương án ngữ. Bấy giờ là lúc phó đô đốc Sác-ne tự chỉ huy liên quân hãm thành. Pháo binh của trung tá Cru-da đóng ở giữa cánh hữu do đại tá thủy quân La-pơ-lanh chỉ huy. Cánh tả là do đội bộ binh và công binh. Đội kỵ mã chuyên giữ việc do thám và thông tin. Ở cánh hữu, một chi đội pháo thủ nã đại bác vào đồn quân Việt. Pháo binh của quân Việt bắn trả lại và dần dần núng thế, người Phú Lang-Sa tiến đến cách quân Việt 250 thước mà bắn lên mặt hào, yểm hộ cho tiền quân hãm thành. Ba người đi đầu trúng đạn, một người tử trận, hai người bị thương. Ở cánh trung ương, quân của Ma-ti-nhi-cua đông nhất và súng ống nhiều nhất, tấn công rất dữ dội, trong khi cánh tả liên đội thứ ba lữ đoàn thứ tư và quân tình nguyện bản xứ liều chết xông vào. Quân Việt chạy lui về cố thủ trong đồn. Quân Phú Lang-Sa đuổi theo và đặt thang trèo lên cửa thành. Quân Việt lấy gươm giáo phá hủy thang, quăng đồ dẫn hỏa xuống và nã súng hỏa mai giết hại quân Phú Lang-Sa. Tình thế lúc này trở nên nghiêm trọng. Đô đốc Sác-ne đem thêm quân cứu viện cho hai cánh quân tả hữu. Đội quân phía hữu được nhiều liên đội thủy binh và quân Y-Pha-Nho giúp, đội phía tả làm theo hai liên đội bộ binh. Đến quá trưa, cửa đồn bị phá thủng, quân Phú Lang-Sa lên được mặt đồn. Quân Việt vừa bắn vừa lui ra cổng hậu. Trận ấy Phú Lang-Sa chết 100 người, bị thương 125 trong đó có các sĩ quan tử trận là trung tá Tet-xta, hai đại úy Đờ Phô-côn và Rô-đen-léc Duy-pu-dích, trung úy Bec-giê, hai thiếu úy Nô-en và Phrốt-xtanh, hai sĩ quan bị thương nặng là lục quân thiếu tướng Vát-xoa-nhơ và đại tá Pa-lăng-ca.Thắng lợi của chúng ta hoàn toàn nhưng chúng ta đã trả giá thắng lợi ấy rất đắt.

Đây là một trận Pôn-ta-va mới của phương Đông. Phương Đông quyến rũ chúng ta bằng vẻ đẹp huyền bí man rợ của đêm trung cổ, phương Đông càng quyến rũ chúng ta hơn bằng những kho vàng chôn giấu trong lòng đất đầy bí ẩn.

Hãy tiến lên, những người con của đất nước Phú Lang-Sa, xứ sở đầu tiên của tự do, bình đẳng, bác ái!

Vinh quang đang chờ đợi những con người phiêu lưu và mạo hiểm, những Cơ-rít-xtốp Cô-lông phát hiện lại cựu Thế Giới”.

Cuối cùng là cái tên ký sau này sẽ đi vào lịch sử - nhưng không vinh quang - Phrăng-xi Gạc-nhe.

Ghi chú

1* Cờ gặp đối thủ, tướng gặp đối phương tài giỏi.

2* Đá hai bên phóng tới, mỏ không cắn gà kia.

3* Đá sỏ, đá mé là nắm cắn mé (mép môi) hay sỏ(mồng)mà đá.

4* Danh từ dùng trong trò chơi bài cảo hâu(cửu chảo)của người Triều Châu. Các tay con khi chia bài rồi thấy bài không liền thì hô lên “Mại”(không), nếu có hai ngưoời nữa cũng hô như vậy thì xóa bài chia lớp khác. Ttrong khi ấy người cầm bài tốt không chịu sẽ xin đánh và nếu thua sẽ chung tiền gấp hai. Có người tuy bài tốt mà vẫn vờ “mại hơi” để dụ đối phương.

5* La Thành là một tướng giỏi đời Đường có mẹo vờ quay ngựa chạy rồi lừa dịp phóng lại mũi thương vào người mải rượt theo.

6* Tiếng bồi chỉ rượu áp-xanh (Absinthe), cô nhắc (Cognac).

7* Một con gà địch nổi vạn con gà khác.

8* Hớt tích là cắt hai miếng da lòng thòng hai bên tai cũng như hai tai gà để tránh gà địch khỏi nắm, cắn nơi đó. Hớt mồng là xén bớt cái mồng lớn bản xòe ra cho gọn.

9* Vô nghệ là om bóp gà bằng nghệ mài sẵn cho da gà đỏ au trông săn cứng. Quần sương là thả cho gà hứng sương sớm mát mẻ.

10* Đi trên là chỉ nhắm vào bộ trên con gà địch mà đá. Đi dưới là chỉ chui luồn phía dưới gà địch, dội ngược cho té rồi xạ mạnh hoặc nhắm bộ dưới mà đấm đá. Đá vỉa là chuyên luồn vào nách gà địch, luồn đầu lên nắm cổ nắm vai, nắm lông trên lưng đá thốc lên.

11* Cáp gà là xem xét cân nhắc từ lông, thịt, cựa, xương, lựa cho hai gà vừa chạn mới cho đá với nhau.

12* Hai chữ sơn là chữ xuất. Tửu nhập ngôn xuất là rượu vào lời ra.

13* Quân tử nhân thời cơ mà hành động.

14* Bốn bể đều là anh em.

15* Hương xa.

16* Những chiến lũy nổi tiếng trên thế giới.

17* Pháp phiên âm chữ Chí Hòa là K’i HOA, do đó các nhà viết sử trước đây lầm là Kỳ Hòa

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 6 năm 2026

2 Trong Tổng Số 3 tác phẩm của Hoài Anh